Hai cây đoạn đang ra hoa trước nhà tỏa ra một mùi hương dịu ngọt, hòa quyện một cách hoàn hảo với tiết trời gay gắt của tháng Sáu. May mắn là nó không liên tục, Mila nghĩ thầm, chứ nếu không sẽ rất ghê. Thật dễ chịu khi bị bất ngờ bởi một luồng gió đột ngột thổi vào qua một khung cửa sổ mở, nếm trải mùi hương ấy trước khi gió cuốn đi mất.
Lúc này đang là một trong những buổi sáng đầu tiên của mùa hè. Mặt hồ yên ả với bảng màu xung quanh nó được thiên nhiên phối trộn một cách hài hòa. Từ khi kết thúc năm học, sáng nào Alice cũng ngủ nướng, hôm nay cũng không ngoại lệ. Về phần mình, Mila dậy sớm và nướng những chiếc bánh cho bữa tiệc nhẹ được cô tổ chức vào chiều nay.
Hai mẹ con đã mời đám bạn của Alice đến chơi cùng với mẹ chúng.
Mila cảm thấy khá kỳ lạ: đây là lần đầu tiên đối với hai mẹ con. Những bà mẹ khác luôn nhìn cô với một ánh mắt e dè khi chạm mặt nhau ở trường, trong các buổi họp phụ huynh, tư vấn tại lớp và biểu diễn văn nghệ cuối năm. Trước đây, điều đó không làm cô bận lòng: cô là “cựu cảnh sát đến từ thành phố”, một chủ đề hay ho để phá vỡ sự nhàm chán của các bà nội trợ, thế nên cô mặc kệ. Nhưng dạo gần đây, cô nhận ra rằng đối với Alice, thật không đơn giản khi phải làm con gái của một người mẹ thiếu thân thiện, người luôn tự hào về tính khí tồi tệ của mình. Dần dà con bé sẽ phải trả giá cho điều đó bằng việc bị cô lập trong lớp.
Tiến sĩ Lorn ngay lập tức ủng hộ ý tưởng tổ chức bữa tiệc. Sự tư vấn của nữ chuyên gia tâm lý đã tạo ra những thay đổi nhỏ trong nhịp sống hằng ngày của họ. Alice đi gặp bà hai lần mỗi tuần. Lạ một điều là con bé tỏ ra không hề bị sang chấn gì sau vụ bắt cóc vừa rồi. Lẽ ra Mila phải cảm ơn trời đất, nhưng sự trơ lì ấy lại khiến cô phải nhờ tiến sĩ Lorn tìm hiểu nguyên nhân nơi con gái mình. Dù sao thì cô cũng rất nóng lòng muốn biết nguồn cơn nỗi ám ảnh của Alice về người bố mà con bé chưa thực sự biết rõ.
Thật không dễ dàng gì khi làm con của một quái vật, cô nghĩ thầm. Sớm muộn rồi Alice cũng sẽ tự hỏi có bao nhiêu phần trong nó được thừa hưởng từ ông ta. Mila cũng sợ phải phát hiện ra điều đó, nhưng có lẽ làm vậy chỉ vô ích.
Không hiểu sao mỗi lần Mila nghĩ đến bố của Alice, Raul Morgan lại xuất hiện trong đầu cô. Ông ta cũng là người đã gây ra một thảm kịch khủng khiếp và không thể sửa chữa. Khác biệt duy nhất nằm ở chỗ đối với Pascal, đó là một sơ suất, một sự đãng trí không thể tha thứ khiến con trai ông mất mạng. Mila thậm chí không thể căm ghét Pascal vì những điều ông ta đã làm với cô, bởi dù sao thì ông ta cũng đang chịu một bản án vĩnh viễn, được đưa ra bởi vị quan tòa khủng khiếp nhất: lương tâm của chính ông ta.
Sau những biến cố hồi tháng Hai, cô rất muốn khẳng định rằng mọi chuyện đã nhanh chóng trở lại bình thường. Nhưng không phải vậy. Cô bị mất ngủ trầm trọng và đau nửa đầu dữ dội mỗi khi thức dậy.
- Gần như không thể mua được báo trong khu vực này. - Berish phàn nàn khi bước vào căn bếp và ném một tờ nhật báo lên bàn. - Anh phải lái xe cả giờ mới tìm được một quầy báo đấy.
Berish mặc một chiếc quần short kaki với áo sơ mi màu xanh da trời và đi giày lười. Ngay cả trong phong cách thoải mái, anh vẫn chỉn chu không chê vào đâu được. Bên cạnh anh, Mila luôn cảm thấy mình lạc lõng với chiếc quần chạy bộ và giày thể thao.
- Anh là một trong số ít người còn thấy được giá trị của báo giấy đấy. - Cô nói đùa trong lúc rót cà phê cho Berish.
- Người ta cứ nghĩ sẽ cứu được mấy cái cây bởi ngành công nghệ số đã gieo tư tưởng đó vào đầu họ. Nhưng ai đó cần phải cho họ biết rằng cây cối vẫn đang được trồng chính vì lý do ấy. Không có sách in và báo giấy, chúng ta sẽ chỉ còn thấy những cánh rừng trên màn hình máy tính mà thôi.
Mila mỉm cười lắc đầu.
- Em cứ cười đi! Khi nào Alice dậy, anh sẽ dẫn con bé đi câu.
- Anh thực sự không thể chấp nhận việc mẹ con em ăn chay à?
- Em có biết bao nhiêu con côn trùng đã bị xay nát cùng với những hạt bột bánh của em không? - Berish giơ tay chỉ vào lò nướng. - Chúc em ngon miệng, cô nàng ăn chay.
- Anh không thể nghĩ được rằng đó là một lựa chọn có đạo đức à?
- Những người không thể bẻ gãy quan điểm của người khác bằng sự độc đoán của mình luôn cố triệt tiêu nó bằng kiểu ăn nói phải đạo.
Với câu nói này, Berish chấm dứt cuộc tranh cãi và bỏ ra ngoài uống cà phê đọc báo một cách bình yên dưới gốc cây đoạn.
Berish đã đến ở chơi với mẹ con cô được vài ngày. Mila rất hài lòng khi có anh ở đây. Anh cảnh sát hiện đang bị treo thẻ vô thời hạn. Hai người đã tiến hành một cuộc điều tra bất hợp pháp, thứ có thể khiến họ bị buộc tội giết người, phi tang xác chết và cản trở công lý. Tuy vậy, dù đã bốn tháng trôi qua, hội đồng kỷ luật vẫn chưa ban hành quyết định chính thức nào.
Hậu quả duy nhất của những gì hai người đã làm là Minh Phủ sẽ bị đóng cửa, và các quyền hạn của nó sẽ được phân bổ cho những đơn vị khác. Những tấm ảnh người mất tích sẽ bị gỡ khỏi bức tường trong sảnh những bước chân thất lạc, để việc lãng quên chúng trở nên dễ dàng hơn. Xét cho cùng, việc truy lùng bóng tối chẳng mang lại hào quang gì.
Đó chính là sự trả thù của Thẩm phán.
Sự gia tăng đột ngột và không thể lý giải của số lượng tội ác đã đánh dấu chấm hết cho “phương pháp Shutton”. Thế nên Berish và Mila tin rằng Thẩm phán đang tránh trút giận xuống đầu họ, để không làm hỏng kết quả điều tra đã giúp chị ta giữ lại chức vụ cảnh sát trưởng: Enigma.
Cáo buộc duy nhất chống lại kẻ nhắc tuồng là xúi giục Karl Anderson thực hiện cuộc thảm sát. Nó quá mỏng để biện minh cho hình phạt tù chung thân tại Cái Hố. Một cuộc thanh tra của ban kỷ luật sẽ phơi bày sự thật, và cùng với nó là mọi thiếu sót của sở cảnh sát trong quá trình buộc tội.
Những lần hiếm hoi Mila ngủ được, cô luôn mơ thấy mình quay lại Nơi khác . Cụ thể là căn hộ của gia đình Anderson, nơi cô đã chứng kiến cái chết của Frida và hai đứa bé sinh đôi, Eugenia và Carla. Cô không thể quên được rằng Karl Anderson đã đến Nơi khác để thực hiện ảo tưởng tiêu diệt gia đình của chính mình. Cô cũng không thể xóa khỏi ký ức điều đã thấy qua chiếc gương của cái bàn phấn màu hồng trong phòng ngủ bọn trẻ, khi mà theo lời khuyên của hồn ma, cô đã soi vào đó để xem khuôn mặt của thủ phạm và nhận ra đó chính là người cha.
Hãy nhìn mình đi...
Mila thường tự hỏi liệu Frida có nhận ra điều không ổn nơi chồng mình. Có thể lắm, vì chị ta đã nghe theo quyết định của chồng và từ bỏ các tiện nghi công nghệ để quay về sống ở nông thôn. Nhưng Mila không thể trách người phụ nữ ấy được, vì cô cũng vậy: mười năm trước, cô đã lờ đi các dấu hiệu nơi bố của con gái mình.
Trái tim thấy những điều nó muốn thấy.
Mila gạt bỏ những suy nghĩ độc hại và quan sát Simon Berish qua cửa sổ. Hitch đang chạy quanh anh đòi được vuốt ve. Cô cảm thấy vô cùng cảm kích khi được có cả hai trong đời. Alice rất gắn bó với chú chó, con bé dường như đã quên hẳn con mèo Finz bỏ đi mất biệt từ mấy tháng trước.
Tốt thôi , Mila nghĩ thầm. Con gái cô mạnh mẽ hơn mẹ nó trong chuyện này. Cần phải để lại phía sau những người đã nhận được sự chăm sóc của chúng ta để rồi bỏ rơi chúng ta .
Bữa tiệc ngoài trời bên hồ được sắp đặt trong điều kiện tốt nhất. Mila đã đặt một cái bàn dài dưới bóng những cây đoạn. Trên đó cô bày bánh ngọt, bánh mặn và các món ăn vặt đủ màu sắc với rau củ và kem phô mai. Những viên đá lấp lánh trong các bình nước chanh và trà lạnh, khăn trải bàn bay nhè nhẹ theo những cơn gió từ trên núi thổi xuống.
Hitch đứng chực sẵn cạnh đó, với hy vọng sẽ kiếm được chút gì bỏ bụng.
Mila đã thuyết phục thành công để Alice mặc một chiếc váy. Dạo gần đây con gái cô đã tăng vài ký và tỏ ra mặc cảm vì cân nặng của mình. Chuyện này báo trước những gì đang chờ đợi hai mẹ con khi nó bước vào tuổi dậy thì. Tuy nhiên, sự thiếu tự tin của con bé cũng có thể là do một chuyện khác: Mila đã phát hiện ra ở trường đám bạn cùng lớp gọi Alice là “lập dị”, nhiều khả năng vì con bé chẳng bao giờ tỏ ra bất ngờ và luôn quan sát mọi thứ với một vẻ tò mò khiến người khác hoảng sợ.
Đám bạn của Alice kéo đến đông đủ vào khoảng 4 giờ chiều. Đó là một sự nhẹ nhõm lớn đối với cô bé đang sợ rằng mình không được yêu thích. Nó nhận được nhiều món quà và mở chúng ra với đôi mắt lấp lánh niềm vui.
Các bà mẹ tranh nhau kết thân với cô “cựu cảnh sát đến từ thành phố”, với hy vọng được nghe cô tiết lộ những chi tiết thú vị về nghề nghiệp trước đây của mình.
Bữa tiệc diễn ra rất vui. Mọi người ăn uống và nghe nhạc Elvis Presley, thời gian trôi đi giữa những tiếng cười nói vô lo.
Berish bận rộn bày trò chơi tập thể cho các cô bé. Anh tỏ ra là một hoạt náo viên tuyệt vời. Buổi chiều trôi qua trong yên bình cho đến lúc bọn trẻ chơi trò đi tìm kho báu.
Mọi chuyện diễn ra rất nhanh, nhưng trong những năm sau đó, Mila vẫn thường xuyên nhớ lại diễn biến của sự việc.
Các cô bé phải tìm manh mối thứ ba được Berish giấu ở đâu đó. Mật thư đề cập đến một vị trí nằm gần hồ nước. Một bé gái bị tách nhóm, và khi không ai để ý, nó đã đi đến tận bờ hồ, nơi có một nhà thuyền cũ bỏ không.
Sau khi mải mê tán gẫu với người khác, mẹ con bé chợt nhận ra sự vắng mặt của con gái mình. Lúc đó Mila đang pha nước chanh, nhưng qua cửa sổ căn bếp cô có thể nhận thấy ánh mắt âu lo của người mẹ và cảm giác gai gai quen thuộc sau gáy. Cô vội lao ra ngoài.
Không tìm được con, người mẹ hốt hoảng gọi tên nó. Chất giọng của chị ta càng lúc càng lanh lảnh dưới tác động của nỗi lo lắng.
Sự vui vẻ tan biến trong nháy mắt. Mọi người im bặt.
Berish và Mila nhìn nhau trước khi anh thả con Hitch ra. Rất mau chóng, mọi người bắt đầu gọi tên bé gái.
Cho đến khi một tiếng thét thất thanh kéo dài vang lên từ phía xa, phá tan bầu không khí trầm lắng.
Berish lao qua cửa nhà thuyền trước tiên cùng với Hitch, Mila bám theo sau. Trước tiên, họ nhận thấy cô bé không bị sao cả: nó không hề hấn gì dù đang rất hoảng sợ. Thế rồi, khi phát hiện ra thứ nằm phía sau con bé, họ chỉ có thể bàng hoàng. Đáng tiếc thay, những người đến sau cũng trông thấy mọi chuyện, nhất là các bà mẹ, điều này sẽ đè nặng lên mối quan hệ trong tương lai giữa Alice và các bạn. Tất cả đều đứng chết lặng trong vài giây trước cảnh tượng khó hiểu, nhưng những gì họ không giải thích được bằng lời vẫn quá hiển nhiên đối với các giác quan của họ.
Trên vách gỗ của nhà thuyền có một quả tim lớn đỏ au, với một bầy ruồi xanh vo ve xung quanh. Con dao vấy bẩn nằm dưới đất cho thấy nó đã được vẽ bằng máu.
Trong lúc mọi người quan sát bức tranh tường rùng rợn, Mila đưa mắt nhìn quanh. Chính lúc đó cô mới chú ý đến Alice, và điều trông thấy khiến cô lạnh gáy.
Con gái cô là người duy nhất có vẻ mặt tỉnh bơ.
Con dao là của nhà cô. Mila thậm chí đã không nhận ra nó biến mất khỏi ngăn kéo cất đồ trong bếp.
“Cô có thể thoát khỏi bóng tối. Nhưng cô không thể ngăn bóng tối tìm đến mình,” gã tâm thần hoang tưởng tóc đen để ria mép kia đã nói như thế.
Thế nhưng, cho đến lúc ấy, Mila đã không tưởng tượng nổi Raul Morgan có thể đúng đến thế nào.
Trong sự thinh lặng của buổi tối, khi các khách khứa đã ra về và hai bác cháu đã ngủ, cô cựu cảnh sát ngồi trên giường, thần người nhìn cái tủ áo trước mặt, tự hỏi mình nên làm gì.
Đây là lần đầu tiên cô không có câu trả lời. Không có lập luận nào của bố đẻ con gái cô hiện lên. Mối nghi ngờ giày vò cô, và Mila cảm thấy lời kêu gọi mạnh mẽ của lưỡi lam. Cảm giác lo lắng trong cô đang tìm kiếm một cách thức để thoát ra ngoài. Một vết cắt đau đớn sẽ rất lý tưởng cho việc đó.
Sau vài giây trăn trở với những suy nghĩ vô ích, cô tiến về phía tủ áo. Cô mở nó và lấy ra cái thùng mà cô dùng để cất các món trang phục của cuộc sống trước đây. Cô tìm chiếc áo khoác dài đã mặc trong vụ Enigma. Trong túi của nó, có một thứ mà cô không bao giờ quên. Lẽ ra cô phải vứt nó đi, nhưng trong thâm tâm cô đã sợ một thời khắc như thế này sẽ đến.
Tấm ảnh chụp kẻ nhắc tuồng không có hình xăm. Khuôn mặt của một người đàn ông bình thường.
Mila quan sát hình ảnh đó trong bóng tối, một lần nữa tự hỏi con người này là ai. Đôi khi chúng ta quên rằng những con quái vật không phải lúc nào cũng ghê rợn, cô tự nhủ. Chính vì lý do đó mà cô giữ lại tấm ảnh này.
Trái tim thấy những điều nó muốn thấy. Và có lẽ chính Mila cũng đã tự để cho mình bị lừa. Nhưng đã đến lúc sửa chữa điều đó.
Cô xuống cầu thang và tìm thấy Hitch đang nằm trên sofa cạnh lò sưởi đã tắt. Cô gọi con chó dậy, rồi họ cùng nhau rời khỏi nhà qua cửa hậu. Mila bật đèn pin. Cô cho con chó đánh hơi con dao dính máu cô cầm theo.
- Tìm đi. - Cô ra lệnh.
Hitch rà mõm sát đất, rồi tiến về phía khu rừng. Mila bám theo nhưng con chó nhanh chóng biến mất sau những cái cây. Trong sự lộn xộn của thảm thực vật, cô không còn xác định được mình đang ở đâu. Cô gọi con chó nhưng vô hiệu. Rồi cô nghe thấy tiếng lạo xạo dưới đất ở cách đó chừng chục mét, về phía bên phải. Cô tiến lại gần.
Hitch đã rúc vào trong một bụi rậm và đang đào một cái hố. Mila soi đèn và thấy có thứ gì đó ló lên từ bên dưới.
Không khó để nhận ra bộ lông của Finz. Xác của con vật cho thấy những vết thương sâu do bị đâm bởi một hung khí sắc nhọn.
Trái tim không thấy những điều nó không muốn thấy . Giờ đây cô đã có lời khẳng định cho mình.
Tạm kết luận đây là tác phẩm của con gái mình, một câu hỏi khủng khiếp len lỏi vào trong đầu Mila: con mèo đã nằm đây được bao lâu rồi? Chuyện đó diễn ra trước hay sau khi Alice bị bắt cóc? Bởi vì sự khác biệt là rất lớn. Trong trường hợp đầu, nguồn gốc của hành vi bạo lực có thể do di truyền, được thừa hưởng từ kẻ hiện đang chìm trong hôn mê. Còn ở trường hợp thứ hai, chắc chắn một điều gì đó đã xảy ra trong khoảng thời gian con gái cô bị bắt cóc.
Mila không biết mình thích giả thiết nào hơn. Cả hai đều khó chấp nhận như nhau.
Nhưng cô phải biết. Cô không thể sống nốt phần đời còn lại với thắc mắc này.
Chỉ duy nhất một người có thể cho cô câu trả lời và giúp cô khỏi phải chịu sự dằn vặt đến mãn kiếp.