Tro Tàn Của Angela

Lượt đọc: 932 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

Có những thứ Năm bố tôi đi lĩnh tiền trợ cấp thất nghiệp ở Trung tâm Lao động và người quen trông thấy rủ bố tôi ra quán. Bố tôi bảo sẽ chỉ uống một vại thôi nhưng bao giờ cũng vậy trước khi các quán đóng cửa tất cả số tiền trợ cấp đã đi đời nhà ma và bố tôi về nhà trong tình trạng say mèm, bước không vững và gào chúng tôi dậy, bắt chúng tôi đứng xếp hàng và bắt chúng tôi thề chết cho Ailen ngay từ cơ hội đầu tiên. Bố tôi nói như vậy đấy, cơ hội đầu tiên. Tôi chín tuổi còn Malachy tám tuổi và chúng tôi thuộc tất cả các bài hát phản kháng bố tôi vẫn hát. Chúng tôi hát những đoạn trong bài hát về Kevin Barry và Roddy McCorley, bài hát Phương Tây ngủ yên, bài O’Donnell Abu, bài Những chàng trai Wexford. Chúng tôi hát và hứa chết cho Ailen bởi vì bạn không bao giờ biết được khi nào thì trong túi bố tôi còn một hoặc hai xu và nếu bố tôi cho chúng tôi một hoặc hai xu đó thì ngày hôm sau chúng tôi có thể chạy đến cửa hàng Kathleen O’Connell mua kẹo ăn. Có những đêm Michael là ca sĩ xuất sắc nhất và tiền thuộc về nó. Malachy và tôi không biết chúng tôi lên tám lên chín và thuộc tất cả các bài hát và hứa chết cho Ailen để làm gì khi mà tiền lại rơi vào tay Michael để rồi ngày hôm sau nó hí hửng nhai kẹo. Nó mới ba tuổi bọ nên có ai khiến nó chết cho Ailen đâu cơ chứ,

không ai hết, ngay cả Padraig Pease, người đã bị quân Anh bắn ở Dublin vào năm 1916 và trước khi chết đã hy vọng cả thế giới chết cùng với mình. Hơn nữa, bố của Mikey Molley nói rằng ai muốn chết cho Ailen đều là đồ con lừa. Bao nhiêu người đã chết cho Ailen từ thời kỳ đầu đến giờ và giờ đây thực trạng đất nước tốt đẹp như thế này đây.

Thật là tệ khi bố tôi tìm được việc gì cũng đánh mất nó trong ba tuần nhưng cứ một tháng bố tôi lại uống hết tiền trợ cấp một lần. Mẹ tôi chán ngán và sáng ra mẹ tôi giữ vẻ mặt khổ sở và không thèm nói với bố tôi. Bố tôi uống trà và ra ngoài đi dạo đến tận tối. Khi bố tôi trở về mẹ tôi vẫn không nói với bố tôi và không pha trà cho bố. Nếu bếp không còn lửa vì nhà hết than và không có cách gì để đun nước pha trà thì bố tôi rên mấy tiếng rồi đi lấy nước lạnh ở bình uống và chép miệng như thể ông đang uống bia. Bố tôi nói rằng nước uống tử tế là tất cả những gì một người đàn ông cần và mẹ tôi nghe thấy thế liền khịt mũi một cái. Khi mẹ tôi không nói với bố tôi không khí trong nhà thật nặng nề và lạnh lẽo và chúng tôi biết chúng tôi cũng không nên nói với bố tôi vì nếu chúng tôi mà nói với bố tôi thì thế nào mẹ tôi cũng lườm chúng tôi. Chúng tôi biết bố đã làm chuyện tồi tệ và chúng tôi biết bạn có thể làm cho một người khổ sở bằng cách không nói với người đó. Ngay cả Michael mới tí tuổi đầu cũng biết rằng khi bố tôi làm chuyện tồi tệ thì nó không nói với bố từ thứ Sáu đến thứ Hai và khi bố tôi cố ôm nó thì nó vùng ra và chạy sang với mẹ.

Tôi chín tuổi và tôi có một người bạn, Mikey Spellacy, cậu con trai có những người thân lần lượt từ bỏ cõi đời vì lao phổi. Tôi ghen tị với cậu ta bởi vì cứ mỗi khi nhà cậu ta có người chết là cậu ta lại được nghỉ học một tuần và được mẹ đính lên áo một dải băng đen để cậu ta có thể đi hết ngõ này đến ngõ khác và hết phố này đến phố khác và mọi người biết cậu ta đang có tang nên xoa đầu cậu ta và cho cậu ta tiền và kẹo.

Nhưng mùa hè này Mikey đang ở trong tâm trạng lo lắng. Chị gái Brenda của cậu ta đang vật vã với bệnh lao và mới có là tháng Tám thôi và nếu chị cậu ta chết trước tháng Chín thì cậu ta sẽ không có một tuần nghỉ học bởi vì bạn không thể được miễn học một tuần khi mà năm học đã kết thúc. Cậu ta đến tìm Billy Campbell và tôi để nhờ chúng tôi đến nhà thờ thánh Joseph cầu nguyện cho chị Brenda của cậu ta cầm cự được cho tới tháng Chín.

Nếu chúng tớ đi cầu nguyện cho chị của cậu thì cậu thuê chúng tớ gì nào? Ô, nếu chị tớ sống được tới tháng Chín và tớ được nghỉ học một tuần thì tớ sẽ cho các cậu đến dự bữa wake và các cậu có thể ăn giâm bông, pho mát, bánh và được uống rượu cherry và nước chanh rồi được nghe hát và nghe kể chuyện cả đêm. Ai có thể nói không với những thứ hấp dẫn ấy kia chứ? Chẳng có sự vui vẻ nào giống như sự vui vẻ của một bữa wake, bữa ăn của đêm thức canh người chết. Chúng tôi chạy đến nhà thờ nơi có tượng thánh Joseph, tượng Trái tim thiêng của Jésus, tượng Đức Mẹ Đồng Trinh và tượng thánh Therese, tượng thánh Little Flower. Tôi cầu nguyện trước tượng thánh Little Flower bởi vì thánh cũng chết vì bệnh lao và như thê thánh sẽ cảm thông.

Chắc chắn một trong những lời cầu nguyện của chúng tôi đã linh nghiệm bởi vì Brenda sống đến tận ngày thứ hai của năm học mới. Chúng tôi bảo với Mickey rằng chúng tôi rất tiếc trước mất mát của gia đình cậu ta nhưng cậu ta tỏ ra rất vui mừng vì cậu ta lại được nghỉ học một tuần và lại được đeo băng tang để nhận tiền và kẹo của mọi người.

Nghĩ đến bữa ăn của đêm thức canh thi hài Brenda tôi thấy ứa nước miếng. Billy gõ cửa nhà Mickey và cô của Mickey thò đầu ra cửa hỏi:

- Gì?

Chúng cháu đến để cầu nguyện cho chị Brenda và Mickey bảo chúng cháu có thể dự bữa wake ạ. Cô của Mickey gọi với vào trong nhà:

Mickey! Gì ạ? Ra đây. Mày bảo những thằng du côn này đến đây dự bữa wake của chị mày sao? Không ạ. Nhưng Mickey, cậu đã hứa... Cô của cậu ta đóng sầm cửa ngay trước mặt chúng tôi. Chúng tôi không biết phải làm gì nhưng rồi Billy Campbell bảo tôi:

Chúng ta quay lại nhà thờ thánh Joseph và cầu nguyện cho từ nay trở đi những người trong gia đình của Mickey Spellacy sẽ chết vào giữa kỳ nghỉ hè của nó và cả đời nó sẽ không bao giờ được nghỉ học một ngày nào nữa. Chắc chắn một trong những lời cầu nguyện của chúng tôi lại linh nghiệm bởi vì mùa hè sau đó chính Mickey bị nhiễm lao và cậu ta không được nghỉ học một ngày nào và chắc hẳn chuyện đó dạy cho cậu ta một bài học.

Bà tôi nói với mẹ tôi:

Anh Pat của chị, chân nó không được ổn, lại phải đi bán báo khắp thành phố này từ năm lên tám đến giờ thế mà thằng Frank nhà anh chị lớn thế rồi mà chẳng làm việc gì hết. Nhưng nó mới có chín tuổi và vẫn còn đi học mà mẹ. Đi học. Cái trường đó chỉ dạy nó cãi lại và làm cho nó vác cái mồm to và cái tính kỳ quặc giống bố nó đi lêu lổng mà thôi. Nó có thể sang giúp bác Pat nó vào các tối thứ Sáu khi người ta ra hàng tấn báo Limerick Leader. Nó có thể đưa báo đến những nhà giàu có cổng dài hàng dặm để cho cái chân bác Pat nó được nghỉ ngơi và nó cũng kiếm được vài xu. Tối thứ Sáu Frank còn phải đến hội Hữu ái. Quên cái hội Hữu ái đó đi. Trong giáo lý có thấy đả động gì đến mấy cái hội đó đâu. Tôi gặp bác Pat để lấy Limerick Leader vào năm giờ chiều thứ Sáu. Người đàn ông giao báo càu nhàu rằng tay tôi như ống sậy thế thì cầm hai cái tem chưa chắc đã nổi nói gì đến một đống báo nhưng bác Pat bắt tôi phải ôm tám tờ báo trên mỗi cánh tay. Bác ấy nói trời đang mưa và nếu tôi đánh rơi báo xuống đường thì bác ấy sẽ giết tôi. Bác ấy bảo tôi men theo tường đi lèn phố ƠConnell để báo khỏi bị ướt. Tôi phải chạy thật nhanh vào một điểm đặt mua báo, trèo lên bậc, chạy vào cửa, chạy lên gác, kêu “Báo đây”, đưa tiền cho bác Pat rồi khẩn trương đi đến điểm đặt báo khác. Những người đặt báo bồi dưỡng cho bác Pat vì sự vất vả của bác ấy, và bác ấy không cho tôi sơ múi gì đến số tiền đó.

Chúng tôi đi lên đại lộ O’Connell, đến Barrington, vào đường Nam Circular, xuống phố Henry và quay lại văn phòng lấy thêm báo. Bác Pat đội một cái mũ lưỡi chai và một cái áo giống như áo ponsô của một anh chàng cao bồi để giữ cho báo khỏi bị ướt nhưng bác ấy luôn miệng kêu ca rằng cái chân đau của bác ấy sẽ giết chết bác ấy và chúng tôi ghé vào một quán bia để bác ấy làm một vại đền cho cái chân đau của bác ấy. Bác Pa Keating đang ở trong quán toàn thân đen nhẻm như mọi khi và bác ấy nói với bác Pat:

Cậu Pat này, cậu cứ để thằng bé đứng thần mặt ra ở ngoài kia vì thèm nước chanh sao? Bác Pat ngơ ngác:

Gì? Gì cơ? Bác Pa mất hết kiên nhẫn:

Lạy Chúa, thằng bé vác cả đống báo chết tiệt của cậu đi khắp thành phố và cậu không thể - Ôi, thôi, quên đi. Timmy, lấy cho thằng bé này một chai nước chanh nào. Frankie, cháu không có cái áo mưa nào sao? Không, thưa bác Pa. Cháu không việc gì phải ra mưa ra gió như thế này. Cháu ướt sũng rồi đấy. Ai bắt cháu phải làm cái việc chết tiệt này hả? Bà nói là cháu phải giúp bác Pat bởi vì chân bác ấy đau. Cái bà già ấy hả, đồ chó cái, nhưng mà này cháu đừng có nói với họ là bác đã rủa bà mẹ vợ của bác đấy. Bác Pat vịn bàn đứng dậy, vơ tập báo lên tay và giục tôi:

Đi thôi, trời sắp tối rồi. Bác ấy bước tập tễnh trên đường, vừa đi vừa rao mấy tiếng chẳng giống tên tờ báo bác ấy đang bán tí nào và thế cũng chẳng sao bởi vì ở thành phố này ai mà chả biết Ab Sheehan bị tật ở đầu. Chúng tôi đang đi thì có người gọi: “Ab, bán cho tôi một tờ, tội nghiệp cái chân khốn khổ của anh, cầm lấy vài xu mà mua thuốc lá này, đúng là phải đi bán báo vào hôm mưa như thế này thì khổ thật”.

Bác Pat tôi lúng búng Cán ơn, Cán ơn, cán ơn và mặc dầu chân bác ấy tội nghiệp như người ta nói, tôi vẫn phải rất vất vả mới theo kịp bác ấy qua các phố. Bác ấy hỏi tôi:

Mày còn mấy tờ? Một, thưa bác Pat. Mang đến cho ông Timoney. Ông ấy nợ tiền nửa tháng báo. Lấy tiền nợ và tiền bổi dưỡng nữa. Ông ấy bồi dưỡng nhiều đấy và đừng có ăn bớt như thằng Gerry. Bớt tiền bỏ túi nó, thằng chó chết. Tôi gõ cửa nhà ông Timoney và nghe thấy tiếng sủa vang của một con chó to. Một giọng đàn ông cất lên đe con chó: “Macushla, đừng sủa ầm lên như thế nếu không tao phết vào đít đấy”. Con chó ngừng sủa, cánh cửa bật mở và một người đàn ông đứng đó với mái tóc trắng, cặp kính dày, chiếc áo len trắng, và một cây gậy chống trên tay. Ông ấy hỏi:

Ai đấy? Chúng tôi được đón ai thế này? Báo, thưa ông Timoney. Không phải là Ab Sheehan đấy chứ? Cháu là cháu của bác ấy, thưa ông. Gerry à? Không, thưa ông. Cháu là Frank McCourt. Một đứa cháu khác à? Anh ta nặn ra nhiều cháu thế nhỉ? Anh ta có một nhà máy nặn ra cháu trai ở sân sau chăng? Tiền ta trả nợ đây và bán cho ta một tờ hay là cứ giữ lấy cũng được. ích gì đâu nhỉ? Ta có đọc được nữa đâu còn cái bà Minihan đọc giúp ta thì chẳng thấy đến gì cả. Bà ấy cụt chân. Tên cậu là gì nhỉ? Frank, thưa ông. Cậu biết đọc không? Có, thưa ông. Cậu có muốn kiếm sáu xu không? Có, thưa ông. Vậy thì mai cậu hãy đến đây. Tên cậu là Francis, đúng không nhỉ? Frank, thưa ông. Tên cậu là Francis. Làm gì có thánh nào tên là Frank. Đó là tên của bọn găngtơ và bọn chính trị gia. Mai hãy đến và đọc cho ta. Cháu sẽ đến, thưa ông. Cậu có chắc là cậu biết đọc không? Cháu chắc ạ, thưa ông. Cậu có thể gọi ta là ông Timoney. Vâng, thưa ông Timoney. Bác Pat vừa xoa chân vừa càu nhàu: “Tiền của tao đâu, mà... mà mày không được nói chuyện với khách hàng rồi bỏ tao ở ngoài chờ với cái chân đau muốn chết như thế đâu đấy”. Bác ấy phải ghé vào quán bia ở gần ngã ba Punch để uống một vại cho chân đỡ đau. Sau khi uống xong bác ấy bảo bác ấy không bước nổi một bước nào nữa và thế là chúng tôi bắt xe buýt về nhà. Người soát vé xe buýt hỏi tiền vé nhưng bác Pat nhăn nhó bảo ông ta để cho bác ấy và cái chân đau của bác ấy được yên. Và người soát vé đành chào thua bác ấy.

Xe buýt dừng lại gần đài kỷ niệm ƠConnell và bác Pat đi vào quán cá tẩm bột chiên Monument nơi tỏa ra mùi thức ăn thơm phức khiến tôi đói cồn cào. Bác Pat mua một shilling cá tẩm bột chiên và trông thấy gói thức ăn tôi ứa cả nước miếng nhưng khi chúng tôi về đến cửa nhà bà tôi bác Pat đưa cho tôi ba xu và hẹn gặp tôi vào thứ Sáu và cầm gói cá tẩm bột chiên đi vào trong nhà.

Con chó Macushla đang nằm duỗi dài bên ngoài cửa nhà ông Timoney và khi tôi đưa tay mở cánh cửa vườn để đi vào lối dẫn tới cửa con chó chạy xồ ra và vật tôi ngã uỵch xuống đất và chắc chắn nếu ông Timoney mà không quát nó kịp thời thì nó đã ăn sống nuốt tươi tôi rồi.

Cậu không sao chứ, Francis? Vào đi. Con chó là một tín đồ Hindu, ta tìm thấy mẹ của nó lang thang ở Bangalore. Đọc tờ Limerick Leader ạ? Không, không phải tờ Limerick Leader. Ta sẽ không để cái tờ báo chết tiệt đó làm bẩn cái mông của ta. Có một cuốn sách ở trên bàn ấy, cuốn Những chuyến đi của Gullỉver. Dưới cuốn đó có một cuốn khác. Cuốn Một lời đề nghị khiêm tốn. Đọc cho ta nghe cuốn đó. Cậu thấy nó chưa? Ta thuộc cả cuốn đó rồi nhưng ta vẫn muốn cậu đọc cho ta nghe. Tôi cứ đọc được hai hoặc ba trang ông ấy lại bảo tôi dừng lại. Ông ấy hỏi: “Cậu đọc tốt đấy. Này, cậu nghĩ gì về cái đó, về chuyện thằng bé mới một tuổi mà được cho ăn đủ thứ, nào là thịt hầm, bánh mì, bánh nướng, bánh hấp, đủ thứ, hả? Macushla muốn bữa trưa của nó là một đứa bé Ailen bụ bẫm đúng không, Macushla?

Ông ấy đưa cho tôi sáu xu và hẹn tối thứ Bảy tới quay lại.

Mẹ tôi mừng ra mặt vì tôi kiếm được sáu xu từ việc đọc thuê cho ông Timoney. Mẹ tôi muốn biết tôi đã đọc gì cho ông ấy nghe. Tôi nói rằng tôi phải đọc cuốn Một lời đề nghị khiêm tốn và mẹ tôi gật gù: “Không vấn đề gì, đó chỉ là một cuốn sách thiếu nhi thôi. Ý thích của ông ấy chắc hẳn là phải kỳ cục một chút vì đầu óc của ông ấy không còn được bình thường sau nhiều năm phục vụ cho quân đội Anh ở Ân Độ và người ta nói rằng ông ấy đã cưới một phụ nữ Ân Độ và bà ấy không may đã bị một tên lính gây rối bắn chết. Vì thế ông ấy mới bảo con đọc sách thiếu nhi chứ”. Mẹ tôi biết tất cả những điều đó qua lời kể của bà Minihan, một người hàng xóm trước đây đã từng đến dọn nhà thuê cho ông Timoney nhưng rồi không chịu được cái cách ông ấy cười nhạo đạo Thiên Chúa. Bà ấy có thể chịu được việc uống cherry vào Chủ nhật nhưng bà ấy không thể chịu đựng được việc ông ấy cố tình lôi kéo bà ấy theo đạo Phật và không chịu đựng nổi khi ông ấy bảo rằng người Ailen sẽ sung sướng hơn nhiều nếu họ ngồi dưới một gốc cây và nhìn Mười điều răn của Chúa cùng Bảy trọng tội nổi lềnh bềnh trên sông Shannon và trôi ra biển.

Thứ Sáu của tuần tiếp theo Declan Collopy ở hội Hữu ái gặp tôi đang đi bán báo trên đường cùng với bác Pat. Cậu ta gọi to:

Này, Frankie McCourt, mày làm gì với Ab Sheehan đấy? Bác ấy là bác của em. Mày phải có mặt ở hội cơ mà. Em phải đi làm, anh Declan ạ. Mày không phải đi làm. Mày đã mười tuổi quái đâu mà làm với lụng và mày làm ảnh hưởng đến sĩ số của chi hội đấy. Nếu thứ Sáu tới mày không đến hội thì tao sẽ đập vỡ mõm mày ra, nghe rõ chưa? Bác Pat nói:

Cút ngay, cút, nếu không tao giẵm bẹp bây giờ. o, câm ngay, ông Đần Độn. Declan đẩy bác Pat vào một bức tường gần đó. Tôi bỏ tập báo xuống và lao vào nó nhưng nó tránh sang bên và túm gáy tôi đập mặt tôi vào tường và tôi nổi điên đến nỗi tôi không còn nhìn thấy nó nữa. Tôi lao vào nó dùng tay và dùng chân đánh lại nó và nếu như tôi có thể dùng răng cắn nát mặt nó ra thì tôi cũng làm nhưng tay nó dài như tay tinh tinh và nó chỉ cần dùng tay đẩy thôi tôi cũng không thể đụng đến người nó được. Nó nói: “Mày điên rồi con ạ. Mày đến hội mà xem, tao sẽ xử lý mày” và nó chạy đi.

Bác Pat lẩm bẩm: “Mày không nên đánh nhau như thế, mày để báo của tao xuống đất làm ướt mấy tờ rồi, tao bán làm sao được, tao cũng muốn lao vào đánh nhau với thằng đó lắm, nếu không vì báo thì tao đã đánh nhau với nó rồi”.

Bác ấy cho tôi một ít khoai tây chiên và thay vì đưa cho tôi ba xu bác ấy đưa cho tôi sáu xu. Bác ấy giải thích rằng vì mẹ tôi cứ đến cằn nhằn với bà tôi về việc bác ấy trả công cho tôi ít nên bác ấy phải đưa thêm cho tôi chứ bác ấy đâu có kiếm được nhiều nhặn gì.

Mẹ tôi rất vui vì giờ đây mỗi thứ Sáu tôi kiếm được sáu xu từ bác Pat và sáu xu từ ông Timoney. Một shilling mỗi tuần tạo ra một sự khác biệt lớn và mẹ tôi cho tôi hai xu để đi xem phim ở rạp Lyric mỗi khi tôi đọc thuê cho ông Timoney xong.

Sáng thứ Bảy ông Timoney nói:

Đợi đó, chúng ta lấy cuốn Gulliver. Cậu sẽ biết Jonathan Swift là nhà văn vĩ đại nhất của Ailen, không nói đúng hơn ông là người viết trên giấy da tài giỏi nhất. Một người đàn ông vĩ đại, Francis ạ. Ông Timoney cười trong khi nghe tôi đọc cuốn Một lời đề nghị khiêm tốn và chắc bạn sẽ thắc mắc là ông ấy buồn cười vì cái gì chứ khi mà cuốn sách đó chỉ toàn nói đên chuyện hành hạ những đứa trẻ Ailen. Ông ấy nói:

Khi nào cậu lớn cậu sẽ thấy nó buồn cười, Francis ạ. Bạn không được phép cãi lại người lớn nhưng ông Timoney thì khác, ông ấy không bực mình khi tôi nói:

Ông Timoney, người lớn luôn nói với chúng cháu: “Khi nào cậu lớn cậu sẽ cười. Khi nào cậu lớn cậu sẽ hiểu. Tất cả sẽ đến khi cậu lớn”. Ông ấy cười phá lên tưởng chừng sắp rơi khỏi ghế và nói:

Ôi, trời ạ, Francis. Cậu là một kho báu. Cậu sao vậy chứ? Cậu bị ong đốt vào mông hay sao thế? Hãy nói cho ta biết câu sao thế. Không sao, thưa ông Timoney. Ta nghĩ cậu có một cái miệng rộng, Francis ạ, và ta ước gì ta có thể nhìn thấy cái miệng của cậu. Hãy tới soi vào cái gương Tuyết Trắng ở tường ấy, rồi nói cho ta biết có phải miệng cậu rộng thật không. Đừng sợ. Hãy nói cho ta biết cậu sao thế. Tối qua cháu gặp Declan Collopy và cháu đã dính vào một vụ đánh lộn. Ông Timoney làm thế nào mà khiến tôi kể với ông về hội Hữu ái, về Declan và về bác Pat bị tật ở đầu của tôi, rồi ông ấy bảo với tôi rằng ông ấy biết bác Pa Keating, người bị nhiễm khí gas trong chiến tranh. Ông ấy nói: “Pa Keating là một người đáng quý. Ta sẽ cho cậu biết ta sẽ làm gì, Francis ạ. Ta sẽ nói chuyện với Pa Keating và bọn ta sẽ tới tìm những gã hỗn láo ở hội Hữu ái đó. Ta là người theo đạo Phật và ta không ủng hộ việc đánh nhau nhưng ta không làm ngơ đâu. Bọn chúng không thể bắt nạt người đọc sách bé nhỏ của ta được, vì Chúa Jésus, không thể để như thế được”.

Ông Timoney là một ông già nhưng ông ấy nói chuyện như một người bạn và tôi có thể nói với ông những cảm giác của mình. Bố tôi chẳng bao giờ nói chuyện với tôi giống như ông Timoney. Bố tôi luôn than: “Chao ôi” rồi bố tôi đi biến ra đường.

Bác Pat nói với bà tôi rằng bác ấy không muốn tôi giúp bác ấy đưa báo nữa, bác ấy muốn thuê một thằng bé khác làm việc đó với tiền công ít hơn và bác ấy nghĩ là tôi phải chia cho bác số tiền sáu xu tôi kiếm được nhờ việc đọc sách thuê bởi vì nếu không có bác ấy thì tôi làm sao có được công việc đó.

Bà hàng xóm của ông Timoney bảo tôi rằng tôi đừng có phí thời gian gõ cửa nhà ông ấy, con chó Macushla đã cắn người đưa thư, người đưa sữa và một bà xơ tình cờ đi ngang qua trong cùng một ngày. Và, ông Timoney không thể nhịn cười mặc dù sau đó khi con chó bị mang đi xử phạt ông ấy kêu khóc: “Mày có thể cắn người đưa thư và người đưa sữa tùy thích nhưng cắn một xơ đang đi đến gặp giám mục thì không thể được nhất là khi chủ của mày lại là một tín đồ theo đạo Phật, một mối đe dọa đối với những người theo đạo Thiên Chúa sống xung quanh”. ông Timoney vừa cười vừa khóc ghê quá đến nỗi bác sĩ nói ông ấy bị loạn thần kinh và họ đưa ông ấy đến City Home nơi dành cho những người già lẩn thẩn vô gia cư.

Công việc sáu xu ngày thứ Bảy của tôi chấm dứt như vậy đó. Nhưng tôi vẫn sẽ đọc cho ông Timoney nghe cho dù được tiền hay là không. Tôi đợi ở dưới phố cho tới khi người hàng xóm đó vào nhà bà ta, rồi tôi trèo qua cửa sổ nhà ông Timoney để lấy cuốn Những chuyến du hành của Gulliver và đi bộ suốt mấy cây số tới City Home để ông Timoney không bị mất buổi nghe truyện. Người đàn ông tôi gặp ở cổng trừng mắt nhìn tôi và sẵng giọng:

Chuyện gì? Mày muốn vào đó đọc sách cho một ông già điên nghe sao? Mày định lừa tao sao? Biến khỏi đây mau trước khi tao gọi bảo vệ tới. Cháu gửi lại cuốn sách để người khác đọc cho ông ấy nghe được không ạ? Muốn thì cứ việc. Chúa đọc cho ông ta nghe tao cũng chẳng quan tâm. Tao sẽ đưa cho ông ta. Và người đó phá lên cười.

Mẹ tôi hỏi:

Con sao thế? Sao con nhăn nhó thế? Và thế là tôi kể cho mẹ tôi nghe việc bác Pat không muốn thuê tôi nữa, việc người ta đưa ông Timoney vào City Home vì ông ấy cười khi con Macushla cắn người đưa thư, người đưa sữa và xơ đi ngang qua. Mẹ tôi cũng phá lên cười. Cười xong mẹ tôi nói:

Ôi, mẹ rất tiếc, thật tội nghiệp liền một lúc con mất cả hai công việc. Có lẽ con nên tới hội Hữu ái để đội vũ trang khỏi sờ đến con, và để tránh cha Gorey hỏi thăm tới. Declan bắt tôi ngồi trước mặt nó và nếu tôi nhúc nhích thì nó sẽ bẻ gãy cổ tôi vì nó sẽ ngồi đó để theo dõi tôi.

Mẹ tôi nói mẹ tôi lại không leo cầu thang được và thế là mẹ chuyển giường xuống bếp nằm. Mẹ tôi cười: “Mẹ sẽ lên Sorrento khi nào tường ẩm và nước mưa tràn vào đến cửa”. Năm học đã kết thúc và mẹ tôi có thể ngủ muộn đến chừng nào mẹ tôi muốn vì mẹ không phải dậy lo đồ ăn cho chúng tôi đi học nữa. Bố tôi nhóm lò, pha trà, cắt bánh mì, nhắc chúng tôi rửa mặt và bảo chúng tôi đi chơi. Bố tôi để chúng tôi ngủ nếu chúng tôi muốn nhưng khi không phải đi học thì bạn chẳng bao giờ muốn nằm trên giường hết. Hễ mở mắt dậy thì chúng tôi muốn chạy ra ngõ chơi ngay.

Rồi một ngày vào tháng Bảy bố tôi nói chúng tôi không được phép xuống dưới nhà. Chúng tôi phải ở trên gác chơi.

Bố, tại sao chứ? Đừng hỏi, hãy ở trên ấy chơi với Malachy và Michael, khi nào bố nói xuống được hãy xuống. Bố tôi đứng ở cửa canh chừng không cho anh em tôi bén mảng tới nửa bậc thang. Chúng tôi lấy chân nâng chăn lên giả vờ là chúng tôi đang ở trong lều, giả vờ làm Robin Hood. Chúng tôi săn tìm bọn bọ chét và lấy móng tay giết chúng.

Rồi chúng tôi nghe thấy tiếng trẻ con khóc ở dưới nhà và Malachy hỏi:

Bố, mẹ có em bé mới phải không? Đúng, con trai ạ. Tôi lớn hơn vì vậy tôi bảo với Malachy rằng mẹ chuyển giường xuống bếp để thiên thần có thể bay xuống và đặt em bé ở bậc thứ bảy nhưng Malachy không hiểu bởi nó mới chỉ tám tuổi sắp lên chín còn tôi một tháng nữa là tròn mười tuổi.

Mẹ nằm trên giường với em bé mới. Em bé mới có cái mặt bụ bẫm và toàn thân nó đỏ hỏn. Có một người đàn bà ở trong bếp cùng một y tá mặc áo choàng trắng và chúng tôi biết cô y tá có nhiệm vụ tắm cho các em bé vì những em bé luôn bẩn thỉu sau một hành trình dài cùng với thiên thần. Chúng tôi muốn cù em bé nhưng cô y tá nói: “Không, không, các cháu có thể nhìn em bé nhưng không được chạm một ngón tay lên người nó đâu”.

Không được chạm một ngón tay. Cò y tá đã nói vậy đấy.

Chúng tôi ngồi bên bàn vừa uống trà và ăn bánh mì vừa nhìn em trai mới của chúng tôi nhưng nhìn chán nó vẫn không mở mắt nhìn lại vì thế chúng tôi bỏ ra ngoài chơi.

Mấy ngày sau mẹ tôi ra khỏi giường bế em bé đến bên bếp lò. Em bé mở mắt và khi chúng tôi cù nó nó phát ra những tiếng ọ ẹ, bụng nó rung rung khiến chúng tôi cười như nắc nẻ. Bố tôi cù nó và hát một bài hát Scottish.

Bố tôi kiếm được việc làm vì vậy Bridey Hannon có thể đến chơi với mẹ và em bé bất cứ lúc nào cô ấy muốn và có lần mẹ tôi không đuổi chúng tôi ra ngoài chơi để họ nói chuyện bí mật. Họ ngồi bên bếp hút thuốc và nói về những cái tên. Mẹ tôi nói mẹ thích những cái tên như Kevin và Sean nhưng cô Bridey lại nói: “Ôi, không, ở Limerick này có quá nhiều người mang những cái tên đó rồi. Lạy Chúa, Angela, nếu chị thò đầu ra cửa gọi, “Kevin hay Sean, về uống trà đi” thì một nửa dân cư ở Limerick sẽ đổ xô vào cửa nhà chị cho mà xem.

Cô Bridey nói nếu Chúa nhân từ cho cô ấy có một đứa con trai thì cô ấy sẽ gọi nó là Ronald bởi cô ấy phát điên vì cái anh Ronald Colman mà cô ấy thấy trong một bộ phim ở rạp Coliseum. Cô ấy còn gợi ý một cái tên khác, Errol Flynn.

Mẹ tôi nói:

Cô đừng có dính vào chuyện này, Bridey. Tôi sẽ không bao giờ thò đầu ra cửa mà gọi “Errol, Errol, về uống trà đi”. Chắc chắn con tôi sẽ thành trò cười cho người ta nếu nó mang cái tên đó. Ronald - Cô Bridey nói - Vậy thì Ronald. Thằng bé xinh lắm mà. Không - Mẹ tôi phản đối - Nó phải là người Ailen. Chẳng phải bao nhiêu năm nay chúng ta đấu tranh vì điều đó hay sao? Nếu gọi con mình là Ronald thì bao thế kỷ nay chúng ta đấu tranh với người Anh làm gì cơ chứ? Lạy Chúa, Angela, chị nói cứ như là chính thằng bé phân biệt Ailen và Anh không bằng. Đúng đấy, Bridey ạ. Đột nhiên cô Bridey há hốc miệng:

Lạy Chúa, Angela, thằng bé làm sao ấy. Mẹ đứng dậy khỏi ghế, ôm chặt em bé trong tay, rên rỉ:

Ôi, lạy Chúa, nó khó thở. Cò Bridey luống cuống nói:

Tôi sẽ về tìm mẹ tôi sang. Cô ấy chạy đi và chỉ một phút sau cô ấy đã quay trở lại cùng với bà Hannon.

Lấy dầu ra đây - Bà Hannon nói. - Cô có dầu không? Dầu ấy. Dầu gan cá, có không? Được, dầu ấy được. Bà Hannon đổ dầu vào miệng em bé, lật nghiêng nó, vuốt lưng nó, đưa cái thìa vào họng nó và lấy ra một cục màu trắng.

Được rồi - Bà ấy nói - Sữa đây mà. Nó đọng lại và chèn họng thằng bé vây nên cô phải cho dầu vào để cục sữa long ra. Mẹ tôi khóc: “Lạy Chúa, con suýt mất thằng bé. Ôi, nếu nó có chuyện gì thì làm sao con sống nổi”.

Mẹ tôi ôm em bé, vừa khóc vừa cố cảm ơn bà Hannon.

Được rồi, được rồi, cô đừng nói nữa. Hãy đưa thằng bé lên giường nghỉ ngơi đi, hai mẹ con bị một phen hú vía rồi còn gì. Trong khi bà Hannon và cô Bridey đưa mẹ tôi về giường tôi để ý thấy trên ghế mẹ tôi vừa ngồi có một vết máu. Mẹ tôi bị chảy máu như vậy mẹ sẽ chết ư? Liệu tôi có nên bảo để mọi người biết không. Không, mày không thể nói gì hết bởi vì người lớn luôn có những bí mật, tôi tự bảo mình. Tôi biết nếu tôi nói điều gì đó thì thế nào người lớn cũng bảo: “Đừng có lo, cậu thì chuyện gì cũng tò mò, không phải việc của cậu, đi ra ngoài chơi đi”.

Tôi phải giữ bí mật đó trong lòng hoặc có thể nói chuyện với thiên thần. Đợi bà Hannon và cô Bridey ra về tôi ngồi xuống bậc thang thứ bảy. Tôi cố nói với thiên thần rằng mẹ tôi đang bị chảy máu đến chết mất. Tôi muốn thiên thần nói bảo tôi đừng sợ nhưng bậc thang thì lạnh, không có ánh sáng và chẳng có giọng nói nào cất lên với tôi cả. Tôi chắc là thiên thần đã bỏ đi mãi mãi rồi.

Mẹ tôi không bị chảy máu đến chết. Hôm sau mẹ bế em bé dậy chuẩn bị cho lễ rửa tội, mẹ bảo với cô Bridey rằng mẹ sẽ không thể tha thứ cho mình nếu em bé chết phải xuống địa ngục nơi dành cho những đứa trẻ chưa được rửa tội, một nơi có lẽ là đẹp và ấm áp nhưng vĩnh viễn chỉ có bóng tối và không có cơ hội thoát ra thậm chí ngay cả vào ngày Phán Quyết.

Bà tôi ở đó giúp mẹ, nghe thấy thế bèn nói:

Phải đấy, những đứa trẻ không qua lễ rửa tội sẽ chẳng được lên thiên đường. Cô Bridey bảo trong những trường hợp như vậy Chúa nghiêm khắc quá.

Họ mặc cho em bé chiếc váy may bằng ren Limerick, chiếc váy mà tất cả chúng tôi đã mặc khi chịu lễ rửa tội. Mẹ tôi bảo anh em tôi được phép cùng đi đến nhà thờ thánh Joseph và chúng tôi rất thích bởi chúng tôi biết sau lễ rửa tội sẽ có bánh nhân sữa và nước chanh.

Malachy hỏi mẹ tôi:

Mẹ ơi, em bé tên là gì? Anphonsus Joseph. Tôi không ngậm miệng được nữa bèn nói:

Đó là một cái tên ngớ ngẩn. Không phải một cái tên Ailen. Bà tôi lườm tôi bằng đôi mắt đỏ đục. Bà nói:

Thằng ranh này đáng bị khâu mồm lại. Mẹ tôi giơ tay tát vào mặt tôi một cái khiến tôi loạng choạng. Tim tôi như đang vỡ và tôi muốn khóc nhưng tôi không thể bởi bố tôi không có mặt ở đó nên tôi là người đàn ông trong nhà. Mẹ tôi quát: Mang cái miệng rộng lên gác ngay và không đựợc bước chân ra khỏi phòng. Tôi dừng lại ở bậc thang thứ bảy nhưng nó lạnh lẽo làm sao, tối tãm làm sao và ắng thinh chẳng có một tiếng nói nào.

Mọi người đi đến lễ rửa tội hết chỉ còn lại mình tôi. Tôi ngồi ở trên gác vừa chờ đợi vừa dùng tay và chân giết bọ chét. Tôi ước gì bố tôi ở nhà với tôi và tôi nghĩ tới đứa em trai bé bỏng với cái tên lạ lùng, Alphonsus, một cái tên khốn khổ.

Hồi lâu sau tôi nghe thấy tiếng mọi người ở nhà thờ về đang nói về trà, rượu vang, bánh nhân sữa, mứt chanh và nhắc lại những lời họ đã nghe ở lễ rửa tội rằng thằng bé là đứa trẻ đáng yêu nhất trên đời, Alphie, một cái tên lạ nhưng không hề gì, Chúa sẽ che chở cho nó và nó sẽ mãi sống và là bản sao của bố mẹ, bà và những người anh bé bỏng đã chết.

Tiếng bà tôi vọng lên từ chân cầu thang:

Frank, xuống mà ăn bánh và mứt này. Cháu không muốn ăn. Bà cứ giữ lấy. Bà nói xuống là xuống, nếu để bà phải leo lên đó thì bà sẽ cho mấy cái phát vào mông và đừng có mà ân hận đấy. Ân hận ư? Ân hận là gì? Đừng hỏi ân hận là gì. Xuống đây ngay. Giọng bà tôi nghe rất đanh và từ “ân hận” nghe có vẻ nguy hiểm. Tôi xuống.

Đứng trong bếp bà tôi nói vọng ra:

Nhìn cái mồm rộng của nó mà xem. Đừng nghĩ nó vui khi có em trai mới trừ khi một thằng bé sắp lên mười luôn bị đau ở mông. Mứt chanh và bánh sữa rất ngon còn Alphie thì ọ ẹ vui vẻ hưởng ngày lễ rửa tội của nó mà không biết rằng cái tên nó mang là một cái họa.

Ông nội tôi ở miền Bắc gửi bưu điện cho em Alphonsus năm bảng. Mẹ tôi muốn đích thân đi lĩnh nhưng mẹ không thể đi bộ xa được. Bố tôi nói bố sẽ đi lĩnh. Mẹ tôi bảo tôi và Malachy đi cùng bố. Bố tôi lĩnh tiền xong liền bảo với chúng tôi:

Được rồi, các chàng trai, hãy về nhà nói với mẹ rằng lát nữa bố sẽ về. Malachy nói:

Bố, bố không được đi uống rượu đâu. Mẹ bảo bố phải mang tiền về nhà. Bố không được uống rượu. Thôi, thôi, các con, về nhà với mẹ đi. Bố đưa tiền cho chúng con cầm về. Đó là tiền ông cho em bé. Nào, Francis, đừng hỗn như vậy. Hãy nghe lời bố, về nhà đi. Bố tôi nói rồi bỏ chúng tôi ở đó và đi thẳng vào quán South.

Mẹ tôi ngồi bên bếp bế Alphie. Thấy chúng tôi về mẹ lắc đầu:

Bố lại vào quán rồi phải không? Vâng. Các con hãy quay lại đó và làm cho bố các con phải bỏ đó mà ra. Mẹ muốn các con đứng giữa quán nói to cho tất cả mọi người ở đó biết rằng bố các con là người bố uống bia bằng tiền dành để nuôi em bé. Các con hãy nói cho cả thế giới biết rằng trong nhà của chúng ta không con một mẩu thức ăn, không còn một cục than, không còn một giọt sữa cho em bé bú. Anh em tôi băng qua các con phố và Malachy được dịp trổ tài nói to của nó: “Bố, bố năm bảng đó là tiền nuôi em bé. Không phải tiền uống rượu. Em bé ở nhà đang khóc đòi uống sữa còn bố thì ở đây uống bia bằng tiền mua sữa của em bé”.

Bố tôi đứng dậy ra khỏi quán South. Malachy vẫn muốn đứng đó nói tiếp nhưng tôi bảo nó phải nhanh đi tìm bố kẻo bố vào các quán khác uống hết cả năm bảng của em bé. Chúng tôi không tài nào tìm thấy bố ở các quán khác. Bố biết chắc thế nào mẹ sẽ đến tìm bố hoặc sẽ cho chúng tôi đi tìm mà các quán rượu ở Limerick thì nhiều vô kể, có đi tìm đến cả tháng cũng không đi hết được. Chúng tôi đành nói với mẹ rằng chúng tôi không tìm thấy bố và thế là mẹ mắng chúng tôi là lũ vô dụng. Ôi, Chúa ơi, lúc đó, tôi ước gì tôi có đủ sức để đi đến tất cả các quán rượu ở Limerick. Tôi sẽ xé miệng bố tôi ra. Tôi tự bảo mình: tiếp tục tìm đi, hãy đến các quán ở gần ga xem, đến cả quán cá Naughton và cửa hàng bán cá tẩm bột chiên nữa.

Tôi phải đi một mình vì Malachy bị tả phải ngồi bô luôn. Tôi tìm khắp các quán ở phố Pamell và các quán ở khu lân cận. Tôi ngó vào những phòng nhỏ nơi phụ nữ thường tới uống rượu và cả những nhà vệ sinh dành cho nam giới nữa. Tôi đói nhưng tôi sợ phải về nhà nói với mẹ tôi rằng tôi vẫn chưa tìm thấy bố. Bố tôi không ở quán Naughton cũng không ở tiệm bán khoai tây chiên nhưng có một người đàn ông say rượu đã ngủ ngay tại bàn ăn trong góc của một quán nhỏ, bỏ chỗ cá tẩm bột chiên của ông ta trong tờ báo dưới sàn và nếu tôi không nhặt gói thức ăn đó thì mèo cũng sẽ tha mất vì vậy tôi giấu gói thức ăn vào trong áo rồi đi ra khỏi quán tới bậc thềm trước nhà ga ngồi xuống vừa ăn vừa nhìn những người lính say khướt khoác tay những cô gái đi dưới phố mà lòng thầm cảm ơn người đàn ông say trong quán rượu đã cho giấm vào cá tẩm bột chiên và rồi chợt nhớ rằng nếu đêm nay tôi chết thì tôi sẽ chết như một kẻ có tội bởi tôi đã lấy trộm gói thức ăn và có lẽ sẽ bị đày xuống địa ngục nhưng tôi lại nghĩ hôm nay là thứ Bảy và nếu cha xứ vẫn còn ở bục nghe xưng tội thì sau khi ăn xong tôi có thể đến đó gột rửa linh hồn mình.

Nhà thờ dòng Dominica ở ngay trên phố Glentworth.

Xin hãy cứu rỗi con, thưa Cha, bởi vì con có tội. Tôi nói thế với cha xứ và lần xưng tội gần nhất của tôi được thực hiện mới mười lăm ngày trước đó. Tôi nói với Cha những tội thông thường và rồi sau đó tôi xưng với cha tội lấy trộm cá tẩm bột chiên của một người say rượu.

Tại sao, con của ta?

Vì con đói quá, thưa Cha. Sao con lại đói? Vì chẳng có gì trong bụng con cả, thưa Cha. Cha xứ không nói gì và mặc dù ở đó tối tôi vẫn nhận thấy Cha lắc đầu:

Con của ta, sao con không về nhà và bảo mẹ con cho con ăn? Vì mẹ con bảo con đến các quán rượu tìm bố con, thưa Cha, con không tìm thấy bố con còn mẹ con thì chẳng còn một miếng thức ăn nào trong nhà bởi vì bố con đã mang năm bảng ông nội con cho để nuôi em bé đi uống và mẹ con mắng con vì con không tìm được bố con. Tôi không biết Cha xứ có ngủ gật hay không nữa bởi Cha im lặng hồi lâu rồi Cha mới nói:

Con của ta, hãy ngồi xuống đây. Ta nghe người nghèo xưng tội. Ta làm lễ sám hối cho họ. Ta nên quỳ xuống rửa chân cho họ. Con có hiểu ta nói gì không, con của ta. Tôi nói với Cha là tôi hiểu nhưng thực ra tôi chẳng hiểu gì.

Hãy về nhà đi. Hãy cầu nguyện cho ta, Không sám hối sao, Cha? Không, con của ta. Con đã ăn trộm cá và khoai tây. Con đáng bị trừng phạt. Con đã được xá tội. Đi về đi. Hãy cầu nguyện cho ta. Cha xứ cầu phúc cho tôi bằng tiếng Latin, lẩm bẩm gì đó một mình bằng tiếng Anh còn tôi thì chẳng biết phải làm gì với Cha.

Tôi ước gì tôi có thể tìm thấy bố tôi để tôi có thể về nhà nói với mẹ tôi: “Mẹ ơi bố đây, bố còn ba bảng ở trong túi”. Bây giờ tôi không đói nữa vì vậy tôi có thể đi dọc một bên đường O’Connell và xuôi xuống đường bên kia tìm bố trong các quán bia và bố tôi đang ở trong quán Gleeson, làm sao tôi không nhận ra bố tôi ở trong ấy qua giọng hát đó chứ. Tim tôi muốn nổ tung trong lồng ngực và tôi không biết phải làm gì bởi tôi biết trong lòng tôi cũng đang giận sôi lên giống như mẹ tôi ở nhà và tôi có thể nghĩ tới chuyện chạy vào trong quán và đá cho bố tôi một cái rồi lại chạy ra nhưng tôi không làm thế bởi vì chúng tôi có những buổi sáng ngồi quanh bếp lửa nghe bố tôi kể về Cuchulain, de Valera và Roosevelt và vì nếu bố tôi ở đó uống đến say bằng tiền của em bé thì ánh mắt bố trông sẽ giống hệt như ánh mắt của Eugene khi nó tìm Oliver và tôi đành đi về nhà mà nói dối mẹ tôi rằng tôi không tìm thấy bố, không nhìn thấy bố đâu cả.

Mẹ tôi nằm trên giường với em bé. Malachy và Michael đang ngủ trên phòng Ý. Tôi biết tôi không phải nói gì với mẹ tôi cả, chỉ chút nữa thôi khi quán rượu đóng cửa bố tôi sẽ về nhà hát ầm ĩ và đưa ra một xu gạ chúng tôi chết cho Ailen và bây giờ mọi chuyện sẽ khác bởi uống hết cả tiền trợ cấp hay tiền lương lao động thì đã là đủ tồi rồi, nhưng một người đàn ông uống hết cả tiền dành cho một đứa bé mới sinh thì quá tệ, trên cả quá tệ, mẹ tôi sẽ nói vậy.

8

 

Tôi đã lên mười và tôi sắp sửa đến nhà thờ thánh Joseph để làm lễ Kiên tín. Ở trường thầy O’Dea chịu trách nhiệm chuẩn bị cho chúng tôi. Chúng tôi phải biết về Ân thánh hóa, một hạt nhỏ rất giá trị mà Chúa Jésus ban cho các tín đồ của Chúa khi Chúa qua đời. Thầy O’Dea trợn mắt lên khi nói với chúng tôi rằng nhận lễ Kiên tín chúng tôi sẽ trở thành một phần của Đức Chúa. Chúng tôi sẽ có những món quà của thánh thần: sự Khôn Ngoan, Hiểu Biết, sự Dẫn Dắt, lòng Dũng Cảm, trí Thông Minh, lòng Mộ Đạo, và lòng kính Chúa. Các linh mục và các thầy giáo nói với chúng tôi rằng nhận lễ Kiên tín có nghĩa là bạn đã trở thành một chiến binh thực thụ của nhà thờ và rằng như thế có nghĩa là bạn đã nguyện phụng sự nhà thờ cho tới lúc chết và sẽ sẵn sàng tử vì đạo trong trường hợp chúng tôi bị những người theo đạo Tin lành hay những tín đồ Hồi giáo hay bất cứ phái ngoại đạo nào tấn công. Lại chết. Tôi muốn nói với họ rằng tôi không muốn chết cho Đức tin bởi vì tôi đã hứa chết cho Ailen rồi.

Mikey Molloy bảo tôi: “Cậu đùa đấy à? Nói chết cho Đức tin chỉ là một trò lừa gạt thôi. Họ chỉ nói thế để dọa câu thôi mà. Chết cho Ailen cũng vậy. Không ai chết cho cái gì nữa cả. Tất cả các kiểu chết đó đều kết thúc rồi. Tớ sẽ không chết cho Ailen và cũng không chết cho Đức tin đâu. Tớ chỉ chết cho mẹ tớ mà thôi.

Mikey biết tất cả. Cậu ấy sắp mười bốn tuổi. Cậu ấy hay ngất. Cậu ấy có tầm nhìn.

Người lớn nói với chúng tôi rằng chết cho Đức tin là một vinh dự, và rằng ngày nhận lễ Kiên tín cũng giống ngày lễ Ban thánh thể, bạn sẽ đi vào các ngõ, đến các phố và có thể nhận bánh, kẹo và tiền qua buổi đi quyên góp.

Chính vì lẽ đó mà Peter Dooley tới tìm chúng tôi. Chúng tôi gọi cậu ta là Quasimodo vì cậu ta có một cái bướu trên lưng.

Quasimodo có chín chị gái và người ta nói rằng mẹ cậu ta không muốn có cậu ta chút nào nhưng thiên thần vẫn mang cậu ấy đến cho bà ta và thắc mắc về cái mà thiên thần gửi đến là có tội. Quasimodo lớn rồi, cậu ta mười lăm. Mái tóc đỏ của cậu ta đâm về mọi hướng. Cậu ta có đôi mắt xanh và một cái kho lưu trữ trong đầu với nhiều thông tin đến nỗi cậu ta cứ gõ gõ vào thái dương để giữ cho cái kho đó ở yên chỗ nó nên ở. Chân phải của cậu ta ngắn và bị tật nên mỗi khi bước người cậu ta lại giật lên như thể đang nhảy vậy và bạn sẽ không thể biết cậu ta ngã lúc nào. Đó là khi bạn không ngờ. Cậu ta nguyền rủa cái chân mình, cậu ta nguyền rủa cuộc đời, nhưng cậu ta nguyền rủa bằng giọng Anh rất hay mà cậu ta học được từ đài BBC. Trước khi ra khỏi nhà bao giờ cậu ta cũng thò đầu ra cửa và nói với cái ngõ hẻm: “Tớ ra đấy, tớ ra đấy”. Khi cậu ta mười hai tuổi cậu ta quyết định rằng với bộ dạng của cậu ta và cái cách đời nhìn cậu ta thì tốt nhất là cậu ta nên chuẩn bị cho một cồng việc phù hợp với mình, một công việc chỉ để người ta nghe thấy thôi chứ không để người ta nhìn thấy và như thế thì có công việc nào hay hơn việc ngồi sau chiếc micờrô ở đài phát thanh BBC trên London đọc bản tin?

Nhưng bạn không thể đến London mà không có tiền và đó là lý do tại sao cậu ta tập tễnh đến gặp chúng tôi vào thứ Sáu đó, cái ngày trước buổi lễ Kiên tín. Cậu ấy có một ý tưởng cho tôi và Billy. Cậu ta biết ngày hôm sau chúng tôi sẽ có tiền và nếu mỗi chúng tôi hứa trả cho cậu ta một shilling thì ngay tối hôm đó cậu ta sẽ cho chúng tôi trèo qua ống máng đằng sau nhà để nhìn qua cửa sổ xem các chị gái cậu ta tắm. Tôi đồng ý ngay. Billy nói: “Tớ cũng có chị gái, tại sao tớ phải trả tiền để xem các chị gái cậu không mặc quần áo?”.

Quasimodo nói rằng nhìn chị gái mình ở trần là tội nặng nhất trong các loại tội và cậu ta không tin là trên thế giới có linh mục nào lại có thể xá cho cái tội đó, rằng nếu muốn được xá tội đó có lẽ bạn phải đến gặp giám mục mà giám mục thì chắc chắn là đáng sợ lắm.

Billy đồng ý.

Tối thứ Sáu chúng tôi trèo qua tường sân sau nhà Quasimodo. Đó là một tối đẹp trời, vầng trăng tháng Sáu lơ lửng tỏa sáng trên bầu trời Limerick và bạn có thể cảm nhận được rất rõ làn gió ấm áp thổi tới từ sông Shannon. Quasimodo sắp sửa để Billy trèo lên ống máng thì Mikey Molloy trèo qua tường vào rít qua kẽ răng gọi Quasimodo: “Đây, một shilling đây. Để tao trèo lên đó đi”. Mikey đã mười bốn tuổi, to lớn hơn mấy chúng tôi và công việc chở than cũng làm cho cậu ta khỏe hơn chúng tôi. Người cậu ta đen nhẻm vì than giống như bác Pa Keating và tất cả những gì bạn nhìn thấy ở cậu ta là đôi mắt trắng dã và đám nước bọt trắng ở môi dưới của cậu ta, và những cái đó nói cho bạn biết rằng cậu ta có thể ngất bất cứ lúc nào.

Quasimodo nói:

- Đợi đã, Mikey. Các cậu ấy lên trước.

Đợi cái mông tao thì có - Mikey văng tục và bước đến chỗ ống máng. Billy làu bàu nhưng Quasimodo chỉ biết lắc đầu: Tớ chịu. Tuần nào nó cũng cầm một shilling đến. Tớ phải để nó trèo lên ống máng nếu không nó đánh tớ và mách mẹ tớ và thế nào mẹ tớ cũng nhốt tớ trong hố than cả ngày cùng với lũ chuột. Mikey trèo ống máng bằng một tay. Tay còn lại của cậu ta lục xục trong túi quần và khi cái ống máng bắt đầu lắc lư và phát ra những tiếng cọt kẹt Quasimodo rít lên:

Molly, đừng có đánh võng trên ống máng như thế. Quasimodo luống cuống vừa đi tập tễnh trong sân vừa rủa. Chất giọng BBC của cậu ta biến đâu mất thay vào đó là giọng nói Limerick chính cống:

Lạy Chúa, Molly, xuống ngay không tao gọi mẹ tao ra bây giờ. Bàn tay của Mikey đút sâu hơn vào trong túi quần và trong chớp mắt chiếc ống máng đảo mạnh rồi đổ xuống còn Mikey thì nằm lăn trên sân kêu: “Tôi chết mất. Gãy hết rồi. Ôi, Chúa ơi”. Lúc đó bạn có thể nhìn thấy nước bọt ở môi dưới cậu ta và cả máu từ cái lưỡi bị chính cậu ta cắn phải nữa.

Mẹ của Quasimodo vừa chạy qua cửa vừa la: “Lạy Chúa chuyện gì thế này !” và đèn bếp bật sáng soi rõ mảnh sân. Tiếng kêu oai oái của các chị gái Quasimodo vọng xuống từ cửa sổ. Billy cố tẩu thoát nhưng mẹ của Quasimodo đã tóm chân cậu ta lôi cậu ta từ trên tường xuống. Bà ấy bảo cậu ta chạy đến hiệu thuốc của ông O’Connor nhờ gọi xin một xe cứu thương hay một bác sĩ cho Mikey. Bà ấy đá Quasimodo vào trong hiên. Cậu ta quỳ, chống cả hai tay xuống đất van xin nhưng mẹ cậu ta vẫn lôi cậu ta vào hố than dưới cầu thang và khóa cậu ta trong đó.

Ngồi nguyên trong đó đến khi nào mày khôn ra - Bà ấy bảo cậu ta thế. Quasimodo kêu khóc van xin mẹ cậu ta bằng giọng Limerick:

Ôi, mẹ ơi, mẹ, cho con ra đi, mẹ. Nhiều chuột quá mẹ ơi. Con chỉ muốn đi đến BBC thôi mà, mẹ ơi. Ôi, lạy Chúa, mẹ ơi, lạy Chúa. Con sẽ không cho ai trèo lên ống máng nữa đâu. Rồi con đi London con sẽ gửi tiền về cho mẹ, mẹ ơi, mẹ ơi! Mickey vẫn nằm dưới sân, kêu khóc và quằn quại. Xe cứu thương tới đưa cậu ta đến bệnh viện với cái vai gãy và cái lưỡi quấn băng.

Mẹ chúng tôi đổ đến. Bà Dooley nói:

Thật nhục nhã, nhục nhã. Các con gái tôi không thể tắm mà không bị cả thế giới nhìn trộm còn những thằng ranh hư đốn đó, chúng đáng bị lôi cổ đến linh mục xưng tội trước khi chúng nhận lễ Kiên tín. Nhưng mẹ tôi nói:

Tôi không biết người ta thế nào, còn tôi, tôi đã phải chắt bóp cả năm để có được bộ đồ cho thằng Frank nhà tôi đi nhận lễ Kiên tín và tôi sẽ không đến chỗ linh mục mà nói rằng con tôi không đáng nhận lễ đó để rồi phải đợi đến sang năm khi mà con tôi không còn mặc vừa bộ đồ đó nữa chỉ vì nó đã trèo lên ống máng để ngó cái mông giơ xương của Mona Dooley. Mẹ xoắn tai tôi lôi tôi về nhà và bắt tôi quỳ xuống trước bức tranh Đức Giáo hoàng:

Hãy thề đi, hãy thề với Người rằng con sẽ không bao giờ nhìn trộm Mona Dooley nữa - Mẹ tôi tức tối ra lệnh. Tôi thề.

Nếu con nói dối con sẽ không được rửa tội trong buổi lễ ngày mai và như thế con sẽ phạm vào tội báng bổ Người. Tôi thề.

Chỉ có giám mục mới có thể xin Chúa xá cho con tội đó. Tôi thề.

Được rồi. Đi ngủ đi và từ nay trở đi hãy tránh xa cái thằng Quasimodo Dooley khốn khổ ấy ra. Ngày hôm sau tất cả chúng tôi đều được nhận lễ Kiên tín. Giám mục hỏi tôi: “Điều răn thứ tư là gì?” và tôi trả lời: “Kính trọng cha mẹ ạ”. Giám mục khẽ vuốt má tôi và thế là tôi đã trở thành một chiến binh của nhà thờ. Tôi quỳ chịu lễ mà cứ nghĩ đến Quasimodo đang bị nhốt trong hố than dưới cầu thang nhà cậu ta và tôi tự hỏi: mình có nên cho cậu ta một shilling để cậu ấy đến BBC lo sự nghiệp không nhỉ?

Nhưng rồi tôi quên Quasimodo bởi vì tôi bị chảy máu mũi và bị chóng mật. Những đứa con trai con gái nhận lễ Kiên tín xong đang ở ngoài nhà thờ với bố mẹ họ, được ôm hôn dưới ánh mặt trời rực rỡ và tôi không quan tâm. Bố tôi đang làm việc và tôi không quan tâm. Mẹ tôi hôn tôi và tôi không quan tâm. Bọn con trai nói đến buổi đi quyên và tôi không quan tâm. Mũi tôi vẫn chảy máu và mẹ tôi sợ tôi sẽ làm bẩn chiếc áo mới. Mẹ tôi chạy vào trong để xin Stephen Carey người giữ đồ thánh một miếng vải và ông ấy đưa cho mẹ tôi một miếng vải chéo cứng queo khiến mũi tôi đau rát. Mẹ tôi hỏi: “Con có muốn đi quyên không?” và tôi trả lời là tôi không quan tâm. Malachy nói: “Đi chứ, anh Frankie” và nó buồn ra mặt vì tôi đã hứa sẽ đưa nó đi xem phim ở rạp Lyric và mua đầy kẹo bỏ trong ống tay áo. Tôi muốn nằm. Tôi có thể nằm xuống đó trên bậc thềm của nhà thờ thánh Joseph và ngủ mãi mãi. Mẹ tôi nói, -Bà đang nấu một bữa sáng đặc biệt, và nghe đến thức ăn tôi buồn nôn không chịu nổi đến nỗi tôi lao ra rìa lối đi nôn thốc nôn tháo, cả thế giới nhìn tôi và tôi không quan tâm. Mẹ tôi bảo mẹ sẽ đưa tôi về nhà và cho tôi đi nằm còn các bạn của tôi thì tròn mắt ngạc nhiên vì có ai lại đi nằm khi mà buổi đi quyên sắp bắt đầu bao giờ.

Mẹ tôi giúp tôi cởi bộ lễ phục ra và dắt tôi về giường. Mẹ tôi giật một mảnh vải đặt nó dưới cổ tôi và một lát sau mũi tôi không chảy máu nữa. Mẹ tôi mang trà tới nhưng nhìn thấy trà là tôi lại buồn nôn và tôi phải nôn vào bô. Bà Hannon chạy sang và tôi có thể nghe thấy bà ấy nói rằng tôi ốm rất nặng phải gọi bác sĩ ngay. Mẹ tôi bảo thứ Bảy phòng khám không mở cửa vậy thì chúng tôi tìm đâu ra bác sĩ chứ?

Bố tôi đi làm ở nhà máy bột của Rank về và bố nói với mẹ rằng tôi đang trải qua một giai đoạn, giai đoạn của những đau đớn. Bà tôi đến và nói y hệt như bố tôi. Bà bảo khi những thằng bé chuyển từ một số năm này sang một số năm khác, nghĩa là từ chín chuyển sang mười tuổi, phải trải qua sự thay đổi, và rất dễ chảy máu mũi. Bà nói có lẽ tôi có quá nhiều máu trong người và có mất đi một chút rồi thay máu mới cũng chẳng sao.

Ngày hôm đó trôi qua và tôi nằm trên giường lúc tỉnh lúc mê. Tối đến Malachy và Michael trèo lên giường và tôi nghe thấy Malachy nói: “Anh Frankie nóng quá”. Michael nói: “Anh ấy chảy máu ra chân em này”. Mẹ tôi đặt mảnh vải ướt lên trên mũi tôi và đặt một cái chìa khóa lên gáy tôi nhưng tôi vẫn không cầm máu. Đến sáng Chủ nhật thì ngực tôi đầy máu và cả quanh người tôi cũng có máu. Mẹ tôi bảo với bố tôi rằng tôi chảy máu qua cả hậu môn và bố tôi nói có lẽ tôi bị tiêu chảy, và triệu chứng đó cũng thường thấy khi một đứa trẻ trải qua giai đoạn đau đớn mà nó phải trải qua.

Bác sỹ Troy là bác sĩ của khu chúng tôi nhưng ông ấy đang đi vắng và ông bác sĩ đến khám cho tôi thì sặc mùi rượu. Ông ấy khám cho tôi rồi bảo mẹ tôi rằng tôi bị cảm lạnh nên phải giữ cho tôi nằm yên trên giường. Mấy ngày trôi qua mà tôi vẫn ngủ li bì và tiếp tục chảy máu. Mẹ tôi nấu trà, trà thịt bò, nhưng tôi không muốn ăn. Mẹ tôi mang kem tới nhưng trông thấy kem là tôi buồn nôn. Bà Hannon lại sang, thông báo rằng ông bác sĩ kia say nói linh tinh, và bảo chúng tôi phải sang xem ông Troy đã về chưa.

Mẹ tôi mời được ông Troy. Ông ấy sờ trán tôi, vạch mi mắt tôi lên, lật tôi nằm úp để kiểm tra lưng tôi, bế tôi trên tay và cứ thế chạy ra chỗ chiếc xe ô tô đang đậu của ông ấy. Mẹ chạy theo ông bác sĩ và được ông ấy nói cho biết rằng tôi bị sốt thương hàn. Mẹ tôi than khóc: “Ôi, Chúa ơi, ôi, Chúa ơi, con sẽ mất cả gia đình sao? Chuyện này không kết thúc được sao?” Mẹ tôi ngồi vào trong xe, bế tôi lên lòng và khóc suốt dọc đường tới bệnh viện Fever ở City Home.

Giường bệnh có những tấm khăn trải mát lạnh. Các y tá mặc đồng phục trắng bong và xơ Rita cũng vận toàn đồ trắng. Bác sỹ Humphrey và bác sĩ Campbell cũng mặc áo choàng trắng và đeo ống nghe lủng lẳng trước ngực. Tôi

ngủ và ngủ nhưng tôi thức lúc họ mang những cái chai đựng thứ gì đó màu đỏ tươi treo trên những cái cột nhỏ và đặt ở đầu giường tôi và chọc những cái kim có dây nối với những cái bình đó vào mắt cá chân và cổ tay phải của tôi. Xơ Rita nói: “Con đang được tiếp máu đấy, Francis ạ. Máu của những người lính từ Sarsfield Baracks”.

Mẹ tôi ngồi bên giường bệnh và cô y tá nói với mẹ: “Bà biết đấy, đây là một ngoại lệ. Không một ai như thê từng được cho phép vào bệnh viện này bởi người ta sợ bệnh sẽ lây nhưng họ đã chiếu cố bà vì con trai bà đang trong tình trạng nguy kịch. Nếu cậu bé vượt qua được thời điểm này thì chắc chắn cậu bé sẽ hồi phục thôi”.

Tôi chìm vào giấc ngủ. Khi tôi tỉnh giấc mẹ tôi không còn ở đó nữa nhưng có gì đó chuyển động ở trong phòng và tôi nhận ra đó là một linh mục, cha Gorey, đến từ hội Hữu ái. Tôi lại thiếp đi và rồi họ đánh thức tôi dậy và thay khăn trải giường cho tôi. Cha Gorey xức dầu thánh lên người tôi cầu nguyện cho tôi bằng tiếng Latin. Tôi biết đó là nghi thức Extreme Unction - xức dầu lần cuối - và thế có nghĩa là tôi sắp chết và tôi không quan tâm. Họ lại đánh thức tôi dậy nhận thánh thể. Tôi không muốn nhận, tôi sợ mình lại nôn. Tôi để mặc bánh thánh trên lưỡi và lại thiếp đi và khi tôi tỉnh dậy bánh thánh không con trên lưỡi tôi nữa.

Trời đã tối và bác sĩ Campbell đang ngồi bên giường tôi. Ông ấy vừa cầm cổ tay tôi vừa nhìn đồng hồ đeo tay của ông ấy rất chăm chú. Ông ấy có mái tóc đỏ, ông ấy đeo kính và luôn mỉm cười khi nói với tôi. Bây giờ ông ấy ngồi quay mặt ra phía cửa sổ. Mắt ông ấy nhắm và ông ấy ngáy khe khẽ. Ông ấy hơi ưỡn mông lên và đánh rắm rồi tự cười mình và tôi biết tôi đã khá hơn vì chẳng có bác sĩ nào lại đánh rắm trước một đứa bé sắp chết cả.

Xơ Rita trong bộ đồ trắng bong xuất hiện khi mặt trời chiếu vào cửa sổ. Xơ cầm cổ tay tôi, nhìn đồng hồ của xơ, và mỉm cười. Xơ nói: “Dậy rồi, phải không Francis? Ô, Francis, ta nghĩ con đã vượt qua được giai đoạn nguy hiểm nhất rồi. Những lời cầu nguyện của chúng ta đã được đáp lại và tất cả những lời cầu nguyện của hàng trăm cậu bé ở hội Hữu ái nữa. Con có tưởng tượng được không? Hàng trăm cậu bé đã đọc kinh rôze cho con đấy”.

Mắt cá chân và cổ tay tôi đang đập những nhịp liên tiếp cùng với những ống dẫn máu và tôi không quan tâm đến chuyện những ai đang cầu nguyện cho tôi.Tôi có thể nghe thấy tiếng sột soạt do quần áo của xơ Rita phát ra cũng như tiếng lách cách từ tràng hạt của xơ khi xơ rời khỏi phòng. Tôi lại ngủ và khi tôi tỉnh dậy trời đã tối và bố tôi đang ngồi bên giường cầm tay tôi:

- Con trai, con dậy rồi à?

Tôi cố cất tiếng nói nhưng miệng tôi khô quá, tôi chẳng nói được tiếng nào và đành phải dùng tay chỉ vào miệng mình. Bố tôi cầm cốc nước đặt vào môi tôi và tôi nhận thấy thứ nước tôi uống vừa ngọt vừa mát. Bố tôi vuốt ve bàn tay tôi bảo rằng tôi là một chiến binh cừ và tại sao lại không chứ? Chẳng phải trong người tôi đang có máu của những chiến binh là gì?

Những ống truyền máu không còn dính với cổ tay tôi nữa và những cái chai cũng đã được mang đi.

Xơ Rita đến bảo bố tôi không được phép ở lại thêm nữa. Tôi không muốn bố tôi đi bởi trông bố tôi buồn lắm. Bố tôi trông giống như Paddy Clohenssy hôm được tôi cho nho khô. Khi bố tôi trông buồn như vậy thì chẳng có điều gì trên đời khó chịu đựng hơn và thế là tôi bắt đầu khóc. Xơ Rita thấy thế liền bảo tôi:

Gì thế? Với từng ấy máu của những người lính trong người mà con có thể khóc được sao? Francis ạ, ngày mai sẽ có một điều ngạc nhiên lớn dành cho con đấy. Con sẽ không đoán được đâu. Ô, ta sẽ nói cho con biết, sáng mai chúng ta sẽ mang cho con một chiếc bánh quy thật ngon và trà nữa. Không phải thế rất tuyệt sao? Một hoặc hai ngày nữa bố của con sẽ lại vào với con, phải thế không, ông McCourt? Bố tôi gật đầu và lại cầm tay tôi. Bố tôi nhìn tôi, bước đi mấy bước, dừng lại, quay trở lại bên giường tôi, cúi xuống hôn lên trán tôi lần đầu tiên trong đời và tôi hạnh phúc đến nỗi tôi có cảm giác rằng tôi đang bay bổng.

Hai giường còn lại trong phòng tôi không có người nằm. Y tá nói tôi là bệnh nhân thương hàn duy nhất và việc tôi qua được cơn nguy kịch là một điều kỳ diệu.

Phòng bên cạnh cũng bỏ không cho tới một buổi sáng chợt vang lên một giọng nói con gái:

Ô, ô, ai ở bên đó thế? Tôi không chắc đứa con gái ấy đang nói với tôi hay nói với ai đó ở phòng khác.

Ô, hô, cậu bị bệnh thương hàn, cậu thức hay ngủ đấy? Tớ thức. Cậu khá hơn rồi chứ? Ừ! Ô, thế sao cậu vẫn phải nằm viện? Tớ không biết. Tớ vẫn phải nằm yên. Họ cắm kim tiêm vào người tớ và chích thuốc cho tớ. Trông cậu thế nào? “Hỏi kiểu gì vậy không biết?” Tôi băn khoăn không biết trả lời thế nào.

Ô, hô, cậu vẫn nghe đấy chứ? Ừ. Tên cậu là gì? Frank. Một cái tên hay đấy. Tên tớ là Patricia Madigan. Cậu bao nhiêu tuổi? Mười. Ô. - Giọng Patricia nghe có vẻ thất vọng. Nhưng đến tháng Tám này là tớ mười một. Ô, thế cũng tốt hơn là lên mười. Tháng Chín này là tớ mười bốn. Cậu có muốn biết tại sao tớ phải vào đây không. -Có.

Tớ bị bệnh bạch hầu và bị sao nữa ấy. Bị sao cơ? Họ không tìm ra. Họ nghĩ tớ bị nhiễm một bệnh lạ vì bố tớ đã từng ở châu Phi. Tớ suýt chết đấy. Cậu nói cho tớ biết trông cậu thế nào được không? Tớ có mái tóc đen. Cậu và hàng triệu. Tớ có đồi mắt nâu và hơi xanh mà người ta vẫn gọi là nâu lục ấy. Cậu và hàng nghìn. Tớ có những vết tím ở cổ tay phải và ở hai mắt cá chân vì họ đã truyền máu của những người lính cho tớ qua những chỗ đó. Ôi,Chúa ơi, họ đã làm thế sao? Ừ. Vậy thì sau này cậu sẽ luôn đi kiểu duyệt binh và luôn giơ tay chào không nhịn được đâu. Có tiếng sột soạt và tiếng tràng hạt lách cách rồi tiếng xơ Rita cất lên:

Nào, nào, gì thế nào? Các phòng không được nói chuyện với nhau đặc biệt là giữa con trai và con gái. Con nghe chưa, Patricia? Con rõ rồi, thưa xơ. Con rõ chưa, Francis? Con rõ rồi, thưa xơ. Các con có thể tạ ơn vì cả hai con đều đã khá lên. Các con có thể đọc kinh rôze. Các con hãy đọc Người đưa tin của Trái tim Chứa mà các con có ở ngay cạnh giường. Đừng có để ta quay lại bắt được các con đang nói chuyện với nhau nữa đấy. Xơ đi vào phòng tôi và vẫy vẫy ngón tay về phía tôi:

Đặc biệt là con đấy, Francis ạ, sau sự cầu nguyện cho con của hàng nghìn cậu bé ở hội Hữu ái. Hãy tạ ơn đi, Francis, tạ ơn đi. Xơ Rita đi ra và xung quanh im ắng một lát. Rồi Patricia thì thào: “Hãy tạ ơn đi, Francis, tạ ơn đi”, và tôi phá lên cười, cười to đến nỗi một y tá tưởng tôi bị làm sao vội vàng chạy tới. Cô y tá đó là người ở khu Kerry và cô ấy rất nghiêm khắc nên tôi sợ cô ấy. Cô ấy hỏi: “Gì thế hả, Francis? Cười ư? Có gì đáng cười ở đây chứ? Cậu và Patricia lại nói chuyện phải không? Tôi sẽ báo với xơ Rita. Không được cười vì cười có thể gây nguy hiểm cho các cơ quan nội tạng của cậu”.

Cô y tá đi ra và Patricia lại thì thào bằng giọng Kerry nặng trịch: “Không được cười, Francis, cười có thể gây nguy hiểm cho các cơ quan nội tạng của cậu. Hãy đọc kinh rôze đi, Francis, hãy cầu nguyện cho các cơ quan nội tạng của cậu”.

Mẹ tôi đến thăm tôi vào các ngày thứ Năm. Tôi muốn nhìn thấy cả bố tôi nữa, nhưng tôi đã qua cơn nguy kịch, giai đoạn nguy kịch đã hết, và tôi chỉ được phép có một người thăm mà thôi. Vả lại, mẹ tôi nói bố tôi đã đi làm ở nhà máy bột của Rank và ơn Chúa công việc ấy sẽ kéo dài trong một thời gian bởi đang chiến tranh nên người Anh thiếu bột mì nghiêm trọng. Mẹ tôi mang đến cho tôi một thanh sôcôla và cái đó chứng tỏ rằng bố tôi đang có việc làm. Với số tiền trợ cấp mẹ tôi không thể mua nổi một thanh sôcôla. Bố tôi gửi cho tôi mấy chữ. Bố bảo rằng các em tôi đều cầu nguyện cho tôi, bảo tôi phải ngoan, phải nghe lời bác sĩ, nghe lời y tá và các xơ và đừng có quên cầu nguyện. Bố tôi chắc rằng thánh Jude đã đưa tôi vượt qua cơn nguy kịch bởi vì người là thần hộ mệnh của những trường hợp tuyệt vọng mà tôi thì đúng là một trường hợp như vậy.

Patricia nói cô ấy có hai cuốn sách để ở giường của cô ấy. Một cuốn là cuốn thơ cô ấy rất thích. Cuốn kia là cuốn tóm tắt lịch sử nước Anh và cô ấy hỏi tôi có muốn đọc cuốn lịch sử nước Anh không. Patricia đưa cuốn sách cho Seamus, người quét phòng, và ông ấy mang nó đến cho tôi. Ông ấy nói: “Tôi không được phép mang bất cứ thứ gì từ một phòng của bệnh nhân bạch hầu sang phòng của một bệnh nhân thương hàn bởi có thể có những mầm bệnh ẩn trong các trang sách và nếu cậu bị mắc thêm bệnh bạch hầu thì họ sẽ biết ngay nguyên nhân và tôi sẽ bị mất việc và sẽ phải ra đường cầm một cái cốc thiếc mà hát những bài hát ái quốc để kiếm miếng ăn, tôi có thể làm việc đó bởi chẳng có bài hát nào viết về những nỗi khổ cực của người Ailen mà tôi lại không thuộc và tôi còn biết một số bài nói về rượu whisky nữa”.

Đúng, ông ấy biết bài Roddy McCorley. Ông ấy bảo sẽ hát cho tôi nghe nhưng ông ấy chưa kịp bắt đầu đoạn thứ nhất thì y tá Kerry chạy vào phòng gắt lên:

Gì thế, Seamus? Hát ư? Hơn ai hết trong cái bệnh viện này ông biết rõ là ở đây quy định không được hát. Tôi sẽ không quên báo lên xơ Rita chuyện này đâu. Ôi, lạy Chúa, đừng làm thế, cô ơi. Thôi được, Seamus. Lần này tôi sẽ cho qua. Ông biết là hát có thể làm cho bệnh của họ tái phát mà. Khi cô y tá đi khỏi ông Seamus nói thầm rằng ông ấy sẽ dạy tôi mấy bài hát bởi vì theo ông hát sẽ giúp bạn giết thời gian trong khi bạn phải ở phòng bệnh thương hàn. Ông ấy nói Patricia là một cô bé dễ thương và rằng cô ấy thường cho ông những chiếc kẹo từ hộp kẹo mà cứ nửa tháng mẹ cô lại gửi tới cho cô. Ông dừng quét sàn và khẽ gọi Patricia qua bức tường: “Tôi vừa nói với Francis rằng cô là một cô bé dễ thương, Patricia ạ”, và Patricia nói: “Ông là một người đàn ông dễ thương, Seamus ạ”. Seamus mỉm cười bởi ông ấy là một người đàn ông đã ngoài bốn mươi tuổi không có con cái và chỉ có thể trò chuyện cùng những đứa trẻ bị bệnh ở bệnh viện mà thôi. Ông ấy nói: “Sách đây, Francis. Phải đọc về nước Anh sau tất cả những gì người Anh đã làm với chúng ta đúng là điều đáng buồn thật, trong bệnh viện này chẳng có cuốn lịch sử Ailens nào”.

Patricia có một quyển thơ và cô ấy đọc cho tôi nghe qua tường một bài thơ nói về một con cú và một con mèo vượt biển bằng một chiếc thuyền cùng với mật ong và những đổng tiền và tôi thấy bài thơ đó chẳng nói lên gì hết và khi tôi bảo thế với Patricia cô ấy dỗi và nói rằng cô ấy sẽ không bao giờ thèm đọc thơ cho tôi nghe nữa. Patricia bảo rằng lúc nào tôi cũng đọc thơ của Shakespeare và cô ấy thấy thơ của ông ấy cũng chẳng nói lên gì hết. Seamus lại dừng quét nhà và bảo chúng tôi rằng chúng tôi không nên tranh cãi về thơ nữa bởi khi nào lớn và kết hôn chúng tôi tha hồ có đủ chuyện để mà cãi nhau. Patricia xin lỗi tôi và tôi xin lỗi cô ấy và thế là cô ấy đọc cho tôi nghe một đoạn của một bài thơ khác với điều kiện tôi phải nhớ để sáng hôm sau hoặc ngay tối hôm đó, khi lúc nào không có y tá hay các xơ ở đó, đọc lại cho cô ấy nghe.

Ngày nào tôi cũng sốt ruột đợi các y tá và các xơ để tôi một mình, và tôi có thể học thêm một khổ thơ mới từ Patricia.

Patricia sắp sửa đọc mấy khổ thơ cuối cùng của bài thơ đó thì cô y tá người Kerry xuất hiện và cô ấy mắng tôi, mắng Patricia: “Tôi đã nói với hai cô cậu rồi rằng không được nói chuyện từ phòng này sang phòng kia. Bệnh nhân bạch hầu không bao giờ được phép nói chuyện với bệnh nhân thương hàn và ngược lại. Tôi đã cảnh cáo cô cậu rồi”. Và cô ấy gọi to: “Seamus đâu, đưa cậu này đi. Đưa đi. Xơ Rita đã nói nếu cậu ta nói thêm một từ là cậu ta sẽ bị chuyển lên gác. Chúng tôi đã cảnh cáo trước rồi nhưng cậu không nghe. Đưa đi, Seamus, đưa cậu ta đi”.

Ôi, thưa cô, cậu ấy không gây ra chuyện gì đâu mà. Đó chỉ là mấy câu thơ chứ có gì đâu. Đưa ngay đi cho tôi, đưa cậu ta đi ngay. Ông ấy cúi xuống và thì thầm với tôi: “Ôi, lạy Chúa, tôi rất tiếc, Francis. Sách lịch sử nước Anh của cậu đây nhé”. Ông ấy nhét cuốn sách vào trong áo tôi và bế tôi dậy khỏi giường. Ông ấy nói thầm rằng tôi nhẹ như một cái lông chim. Khi chúng tôi đi qua cửa phòng của Patricia tôi cố nhìn vào mong thấy được cô ấy nhưng tất cả những gì tôi có thể nhận ra được chỉ là hình ảnh lờ mờ của đầu cô ấy trên chiếc gối.

Xơ Rita gặp chúng tôi ở hành lang, nói rằng xơ vô cùng thất vọng về tôi, rằng xơ cứ nghĩ sau những gì Chúa đã làm cho tôi, sau tất cả những lời cầu nguyện của hàng trăm cậu bé ở hội Hữu ái, sau tất cả sự chăm sóc tận tình của các xơ và các y tá của bệnh viện, sau tất cả ưu ái cho phép bố mẹ tôi được vào thăm tôi thì tôi phải trở thành một cậu bé ngoan mới đúng thế mà tôi lại trả ơn họ bằng việc nằm đó đọc thơ qua lại với Patricia trong khi biết rõ rằng quy định ở bệnh viện không cho phép bệnh nhân thương hàn nói chuyện với bệnh nhân bạch hầu. Xơ nói tôi sẽ có thừa thời gian để kiểm lại những tội lỗi của mình khi tôi nằm ở phòng lớn trên gác và tôi nên xin Chúa tha thứ cho việc tôi đã không nghe lời người lớn mà đi đọc một bài thơ Anh ngoại đạo về một tên trộm cưỡi ngựa và một cô hầu phòng môi đỏ khi mà đáng lẽ ra tôi phải đọc về cuộc đời của các vị thánh và phải cầu nguyện. Xơ bảo rằng vì công việc nên xơ phải đọc bài thơ đó còn tôi thì nên xưng tội với Cha xứ.

Cô y tá người Kerry theo chúng tôi lên gác, vừa vịn cầu thang vừa thở hổn hển. Cô ấy nói tôi không nên lo lắng vì cô ấy sẽ chạy lên gác bất cứ lúc nào tôi đau hoặc bồn chồn.

Trong phòng mới của tôi có hai mươi chiếc giường, tất cả đều trắng toát, tất cả đều trống không. Cô y tá bảo Seamus đặt tôi lên chiếc giường kê sát tường ở tít trong góc xa của căn phòng để đảm bảo tôi sẽ không nói chuyện với ai đi ngang qua cửa mặc dù như cô ấy nói việc đó hầu như không thể xảy ra bởi vì trên tầng này ngoài tôi ra chẳng còn linh hồn nào khác. Cô ấy nói với Seamus rằng phòng tôi nằm bây giờ đã từng là phòng bệnh của những bệnh nhân trong thời gian xảy ra nạn đói khủng khiếp cách đây đã lâu và chỉ có Chúa mới biết được đã có bao nhiêu người được đưa đến đây quá muộn đến nỗi bệnh viện chẳng thể làm gì được ngoài việc lau người cho họ trước khi họ được đem đi chôn và người ta có rất nhiều câu chuyện kể về những tiếng kêu khóc, rên rỉ của những hồn ma ở đây.

Seamus đồng ý rằng đó quả đúng là một điều khủng khiếp và ông ấy không muốn đi trong những hành lang tối om đầy những cái miệng trẻ con xanh lè há ra dọa người đi qua. Y tá đo nhiệt độ cho tôi và nói: “Lại tăng chút ít rồi, bây giờ hãy ngủ đi vì cậu đã ở quá xa cái cô bé Patricia ấy rồi không thể nói chuyện được với cô bé được đâu, cái cô bé sẽ chẳng bao giờ biết tới một mái tóc màu xám ấy”.

Cô ấy nói thế và lắc đầu với Seamus và ông ấy đáp lại cô y tá bằng một cái lắc đầu buồn bã.

Các y tá và các xơ chẳng bao giờ nghĩ rằng bạn biết họ đang nói gì. Nếu bạn mười tuổi sắp sửa mười một thì họ đơn giản nghĩ bạn chỉ giống như bác Pat có cái đầu không bình thường mà thôi. Bạn không thể đặt các câu hỏi. Bạn không thể thể hiện rằng bạn hiểu những gì cô y tá nói về Patricia, rằng cô bé ấy sắp chết, và bạn không được thể hiện rằng bạn muốn khóc vì cô bé đã dạy bạn một bài thơ thú vị mà cô y tá cho là tồi tệ.

Cô y tá nói với Seamus là cô ấy phải đi và bảo ông phải quét từ gầm giường tôi quét ra. Seamus bảo tôi rằng cô ta đúng là một con sói cái vì đã chạy đi mách lẻo với xơ Rita chuyện một bài thơ được đọc giữa hai phòng bệnh, rằng người ta không đời nào lại bị nhiễm bệnh vì một bài thơ trừ khi đó là yêu và ha ha không đời nào có chuyện đó được khi mà bạn mới chỉ bao nhiêu? Mười gần mười một tuổi đúng không? Ông ấy bảo rằng ông chưa bao giờ thấy chuyện nào như chuyện này, một cậu bé bị đưa lên tầng trên chỉ vì đọc một bài thơ và ông ấy bảo ông ấy thừa trí nhớ để đến tòa soạn báo Limerick Leader kể cho họ chuyện này để họ đăng lên trang nhất, kể tuốt trừ chi tiết ông ấy làm việc ở bệnh viện và sẽ mất việc nếu xơ Rita phát hiện ra. Ông ấy nói: “Francis ạ, dù sao thì một ngày đẹp trời nào đó cậu cũng sẽ ra khỏi đây và cậu tha hồ mà đọc tất cả những bài thơ cậu thích còn Patricia thì chẳng biết ra sao nữa, tôi không biết Patricia sẽ ra sao, xin Chúa giúp chúng con”.

Hai ngày sau ông ấy biết về Patricia bởi vì cô bé ấy đã tự ra khỏi giường đến nhà vệ sinh trong khi cô ấy đáng ra phải ngồi bô ngay tại phòng và cô ấy bị ngã trong nhà vệ sinh và chết tại đó. Seamus vừa quét phòng vừa khóc: “Chết trong nhà vệ sinh thì tệ quá đối với một cô bé dễ thương như cô ấy. Cô ấy nói với tôi rằng cô ấy rất tiếc vì cậu bị đưa lên trên gác, Francis ạ. Cô ấy bảo đó là do lỗi của cô ấy”.

Không phải lỗi do cô ấy đâu, ông Seamus. Tôi biết và tôi cũng đã bảo cô ấy như vây. Mỗi tuần ba lần Seamus tới quét phòng và mỗi sáng y tá đều tới cặp nhiệt độ và bắt mạch cho tôi. Bác sỹ đặt ống nghe lên ngực tôi mỗi lần ông ấy tới. Tất cả họ đều nói: “0, xem nào, hôm nay chiến binh nhỏ của chúng ta thế nào?”. Một cô gái mặc váy xanh da trời mang bữa ăn tới cho tôi ba lần một ngày và cô ấy chưa bao giờ hé răng nói một lời với tôi. Seamus bảo đầu cô ấy có vấn đề vì vậy đừng nói chuyện với cô ấy.

Ngày tháng Bảy đến là dài và tôi rất sợ bóng tối. Trong phòng chỉ có hai ngọn đèn trần và cứ khi y tá cho tôi uống thuốc xong mang khay đi khỏi là chúng lại tắt phụt. Y tá bảo tôi ngủ nhưng tôi không tài nào ngủ dễ dàng được bởi tôi nhìn thấy người ở mười chín giường còn lại trong phòng đang hấp hối với những cái miệng đầy cỏ xanh lè kêu rên đòi ăn súp và tôi phải lấy gối che lên mặt hy vọng họ không tới vây quanh giường tôi xâu xé, đòi chia cho họ những mẩu sôcôla trong thanh sôcôla tuần trước đó mẹ tôi đã mang vào cho tôi.

Không, không phải mẹ tôi đã mang nó vào cho tôi. Mẹ tôi phải gửi nó vào bởi vì tôi không được phép có người thăm nữa. Xơ Rita nói cho người nhà bệnh nhân đến thăm là một ưu tiên và sau việc tôi đọc thơ với Patricia thể hiện một thái độ tồi như vậy thì tôi không còn được ưu tiên nữa. Xơ ấy nói vài tuần nữa tôi sẽ được về nhà và việc của tôi là tập trung vào điều trị cho mau khỏe và tập đi sau sáu tuần nằm trên giường bệnh và ngày mai sau bữa sáng tôi có thể ra khỏi giường. Tôi không biết tại sao xơ lại nói tôi phải tập đi khi mà tôi đã biết đi từ khi tôi còn bé tẹo nhưng khi cô y tá đỡ tôi đứng dậy khỏi giường tôi ngã khụy xuống sàn khiến cô ấy cười phá lên và bảo: “Đấy, thấy chưa, cậu lại trở về làm một đứa trẻ con rồi”.

Tôi tập đi từ giường này sang giường khác, đi tới rồi lại vòng lại. Tôi không muốn làm một đứa trẻ con. Tôi không muốn ở trong cái phòng trống này mà không có Patricia. Tôi không muốn thấy bóng ma của những đứa trẻ chết đói với những cái miệng đầy cỏ xanh lè chỉ tay vào tôi đòi tôi chia sôcôla.

Rồi một hôm cô gái mặc váy xanh bỗng nhiên cất tiếng nói chuyện với tôi: “Cậu có muốn có một cuốn sách để đọc không?”. Và thế là cô ấy mang tới cho tôi cuốn Cuộc tìm kiếm thú vị của Ernest Bliss do E.Phillips Oppenheim viết, nói về một người Anh buồn chán và không biết phải làm gì hàng ngày trong khi anh ta có nhiều tiền đến nỗi không đếm xuể. Người hầu của anh ta mang đến cho anh ta báo buổi sáng, trà, trứng, bánh mì nướng và mứt cam nhưng anh ta nói: “Hãy mang tất cả đi đi, cuộc sống thật trống rỗng”. Anh ta không đọc báo, không ăn trứng và anh ta cứ héo hon đi. Nghe theo lời khuyên của bác sĩ anh ta đi đến sống ở khu dành cho người nghèo ở Đông London và anh ta đã học được cách yêu cuộc sống, rồi anh ta yêu một cô gái nghèo nhưng thật thà, thông minh và họ kết hôn rồi chuyển về sống ở nhà của anh ta ở Tây London vùng giàu có nhất bởi ở đó họ có điều kiện giúp đỡ những người nghèo và, khi bạn tốt bụng và thoải mái thì bạn làm sao còn cảm thấy buồn chán nữa.

Seamus muốn tôi kể lại cho ông ấy nghe những gì tôi đọc được. Ông ấy bảo câu chuyện về Emest Bliss là chuyện bịa bởi vì theo ông ấy nhớ thì chưa có một ai phải khám bác sĩ vì có quá nhiều tiền và vì không ăn trứng cả. Có lẽ chuyện đó chỉ xảy ra ở nước Anh thôi. Bạn không bao giờ thấy những chuyện như vậy ở Ailen đâu. Nếu ở xứ này bạn không ăn trứng của bạn thì thế nào bạn cũng sẽ bị tống lên xe bò kéo và bị đưa thẳng đến trại tâm thần hoặc bị báo với giám mục.

Tôi nóng lòng muốn về nhà kể cho Malachy nghe về người đàn ông không chịu ăn trứng của mình. Malachy sẽ lăn ra sàn nhà mà cười bởi vì không đời nào lại có chuyện đó được. Nó sẽ nói rằng tôi bịa nhưng tôi sẽ bảo nó rằng đó là chuyện về một người Anh và như thê nó sẽ hiểu thôi.

Tôi không thể nói với cô gái mặc váy xanh rằng cuốn truyện đó là một cuốn truyện ngớ ngẩn được bởi vì nếu tôi nói vậy cô ấy có thể sẽ giận. Cô ấy nói: “Nếu cậu đọc xong cuốn đó tôi sẽ mang cho cậu cuốn khác. Có cả một thùng sách do bệnh nhân bỏ lại từ đời nảo đời nào đến giờ. Và cô ấy mang cho tôi một cuốn sách có tiêu đề là Những ngày tới trường của Tom Brown, một cuốn sách khó đọc, và cô ấy còn mang đến cho tôi một loạt sách do P.G.Wodehouse trong đó có những nhân vật khiến tôi buồn cười như Ukridge, Bertie Wooster, Jeeves và Mulliner. Bertie Wooster giàu có nhưng sáng nào ông ta cũng ăn trứng chỉ vì sợ Jeeves nói. Tôi ước gì tôi có thể nói về những gì tôi đọc được với cô gái mặc váy xanh hay với ai đó nhưng tôi sợ cô y tá người Kerry và xơ Rita phát hiện ra và sợ họ sẽ chuyển tôi lên phòng rộng hơn ở tầng trên với bốn mươi chiếc giường trống và những bóng ma của nạn đói có cái miệng xanh lè và những ngón tay xương xẩu. Ban đêm tôi nằm trên giường nghĩ về Tom Brown và những cuộc phiêu lưu của con người đó ở trường Rugby và nghĩ tới tất cả những nhân vật trong những cuốn sách của P.G Wodehouse. Tôi có thể mơ về cô con gái có cặp mồi đỏ của chủ quán trọ cùng tên cướp, và các y tá và các xơ chẳng thể làm gì được tôi. Thật thích khi nghĩ rằng thế giới không thể can dự gì vào ý nghĩ trong đầu của bạn.

Tháng Tám đã đến và tôi đã mười một tuổi. Tôi đã nằm viện hai tháng trời và tôi không biết họ có cho tôi ra viện để hưởng Giáng sinh không nữa. Cô y tá vùng Kerry bảo rằng tôi nên quỳ mà tạ ơn Chúa vì tôi còn sống và đừng có phàn nàn gì hết.

Tôi nói: “Cháu có phàn nàn gì đâu ạ, cháu chỉ không biết cháu có được về nhà vào Giáng sinh hay không thôi”.

Cô y tá không trả lời tôi. Cô ấy bảo tôi phải biết nghe lời nếu không cô ấy sẽ gọi xơ Rita tới.

Vào ngày sinh nhật của tôi mẹ tôi đến bệnh viện và gửi cho tôi hai thanh sôcôla và một mảnh giấy có ghi tên của những người ở chung ngõ với chúng tôi cùng lời nhắn chúc tôi mau khỏe sớm được ra viện, họ bảo tôi là một chiến binh cừ khôi. Cô y tá cho phép tôi nói chuyện với mẹ tôi qua cửa sổ và việc đó chẳng dễ dàng chút nào bởi các cửa sổ ở bệnh viện đều cao và tôi phải đứng lên vai Seamus mới nhìn thấy mẹ tôi. Tôi bảo mẹ tôi rằng tôi muốn về nhà nhưng mẹ tôi nói tôi vẫn còn yếu và rằng chắc chắn chỉ nay mai thôi tôi sẽ được ra viện. Seamus nói: “Lên mười một quả là một sự kiện quan trọng bởi vì từ giờ trở đi cậu sẽ trở thành một người đàn ông bất cứ lúc nào sẽ cạo râu và sẵn sàng để ra ngoài tìm việc làm và uống bia cừ như một người đàn ông”.

Sau mười bốn tuần xơ Rita nói rằng tôi được về nhà và bảo tôi rằng đó là một sự may mắn bởi hôm tôi ra viện cũng đúng là ngày lễ thánh Francis Assisi. Xơ ấy nói tôi là một bệnh nhân rất ngoan trừ một rắc rối nhỏ là chuyện đọc thơ với Patricia, cầu Chúa cho cô ấy được an nghỉ, và tôi được mời trở lại bệnh viện dự bữa tiệc tối Giáng sinh với mọi người. Vì chân tôi còn yếu nên mẹ tôi dẫn tôi đi. Chúng tôi phải mất khá nhiều thời gian đi bộ tới trạm xe buýt ở Union Cross. Mẹ tôi nói: “Hãy gắng lên. Sau ba tháng rưỡi chúng ta có thể tiết kiệm được một giờ đấy”.

Những người đứng trước cửa nhà họ ở đường Barack và ngõ Roden đều nói rằng họ rất vui khi thấy tôi trở về, rằng tôi là một chiến binh cừ khôi, niềm tự hào của bố mẹ tôi. Malachy và Michael chạy ra ngõ đón tôi và nói: “Chúa oi, anh đi chậm quá. Liệu anh còn chạy được không?”.

Đó là một ngày vui vẻ và tôi cảm thấy hạnh phúc cho tới khi tôi nhìn thấy bố tôi ngồi bên bếp bế Alphie trên tay. Một cảm giác trống rỗng xâm chiếm trái tim tôi bởi tôi biết bố tôi lại mất việc. Suốt thời gian nằm viện tôi cứ chắc rằng bố tôi đang có việc làm, mẹ tôi bảo tôi rằng bố tôi có việc làm, và tôi cứ nghĩ thế là nhà tôi không bị đói và chúng tôi có giày để đi. Bố tôi mỉm cười với tôi và nói với Alphie: “Ô, anh cả của con đã được ra viện rồi đây này”.

Mẹ tôi nói lại với bố tôi lời dặn của bác sĩ, rằng tôi phải được nghỉ ngơi và phải được bồi dưỡng. Bác sỹ nói thịt bò sẽ giúp tôi hồi phục tốt. Bố tôi lặng lẽ gật đầu. Mẹ tôi hầm thịt bò thái hạt lựu cho tôi và Malachy với Michael cứ đứng nhìn tôi uống. Chúng bảo mẹ tôi rằng chúng cũng muốn uống nhung mẹ quát: “Đi chơi, các con có bị thương hàn đâu mà đòi uống. Mẹ tôi bảo bác sĩ dặn tôi phải đi ngủ sớm. Mẹ cố đuổi lũ bọ chét đi để tôi có thể ngủ yên nhưng vì thời tiết ấm nên chúng nở nhiều đuổi không xuể. Còn nữa, mẹ tôi nói: “Chúng chẳng kiếm chác được gì đâu vì con chỉ còn toàn da với xương thôi”.

Tôi nằm trên giường nghĩ về bệnh viện nơi có những tấm khăn trải giường trắng tinh được thay mỗi ngày không có bóng dáng của một con bọ chét Ở đó có một nhà vệ sinh mà bạn có thể vừa ngồi thoải mái vừa đọc sách cho tới khi có người tới hỏi có phải bạn chết rồi không. Ở đó có một phòng tắm có bồn nước nóng và bạn có thể ngồi trong bồn bao lâu tùy thích và tha hồ mà ngâm nga:

Ta tin rằng,

Hoàn cảnh nghiệt ngã đã xui khiến Mi trở thành kẻ thù của ta,

Và đọc hai câu thơ đó giúp tôi dễ ngủ.

Buổi sáng khi Malachy và Michael dậy chuẩn bị đi học mẹ tôi bảo tôi cứ nằm trên giường không phải dậy. Tôi có thể nằm ngủ tiếp. Malachy đang học lớp năm do thầy O’Dea dạy và nó thích khoe với mọi người rằng nó đang học cuốn giáo lý vấn đáp bìa đỏ để sắp sửa nhận lễ Kiên tín và thầy O’Dea nói với tất cả lớp về ân Chúa và về Euclide và về chuyện người Anh đã hành hạ người Ailen như thế nào suốt tám trăm năm.

Giờ đây tôi không muốn nằm trên giường nữa. Ngày tháng Mười rất đẹp và tôi muốn ngồi ở bên ngoài nhìn ra con ngõ để thấy ánh mặt trời xiên nghiêng trên bức tường đối diện với nhà chúng tôi. Mickey Moloney mang đến cho tôi những cuốn sách của P.G.Wodehouse mà bố cậu lấy từ thư viện về và thế là tôi lại có những ngày vui vẻ với Ukridge, Bertie Wooster và Mulliner. Bố tôi cho phép tôi đọc cuốn Nhật ký đi đày của John Mitchel mà ông rất thích, một cuốn sách nói về một người nổi dậy vĩ đại người Ailen bị người Anh kết án đi đầy ở đảo Van Diemen, Australia.

Tôi không thể cứ ở nhà mãi được và cuối cùng tháng Mười một mẹ tôi phải đưa tôi trở lại trường Leamy. Thầy hiệu trưởng mới, thầy O’Halloran, nói rằng thầy rất lấy làm tiếc, rằng tôi đã nghỉ học hơn hai tháng vì vậy tôi phải học lại lớp năm. Mẹ tôi nói với thầy hiệu trưởng rằng chắc chắn tôi đã sẩn sàng vào học lớp sáu. Mẹ tôi nài nỉ: “Cháu nó chỉ nghỉ học có mấy tuần thôi mà”. Thầy O’Halloran nói: “Tôi xin lỗi, đưa cậu bé sang lớp của thầy O’Dea cho”.

Hai mẹ con tôi bước đi dọc hành lang và tôi bảo mẹ rằng tôi không muốn học lại lớp năm. Malachy học lớp đó và tôi không muốn học chung một lớp với em tôi khi mà tôi hơn nó hẳn một tuổi. Năm trước tôi đã nhận lễ Kiên tín rồi. Nó thì chưa. Tôi lớn tuổi hơn. Giờ tôi không còn to lớn hơn nó nữa do tôi bị thương hàn nhưng dù gì thì tôi vẫn lớn hơn nó.

Mẹ tôi nói: “ Không chết đâu mà lo”.

Mẹ tôi không quan tâm và tôi bị xếp vào lớp đó học chung với Malachy và tôi biết tất cả bạn của nó đều cười nhạo tôi vì tôi bị đúp. Thầy O’Dea xếp tôi ngồi bàn đầu và bảo tôi đừng có giữ cái miệng giận dỗi như thế nếu không thầy sẽ cho tôi nếm mùi cái roi tần bì của thầy.

Rồi một điều kỳ diệu xảy ra và tất cả là nhờ thánh Francis, vị thánh tôi tôn sùng. Ngay trong ngày đầu tiên đi học về tôi nhặt được một xu trên đường và tôi muốn chạy tới cửa hàng Kathleen O’Connell’s mua một thanh kẹo cứng Cleeves nhưng tôi không thể chạy bởi chân tôi vẫn còn yếu và cứ bước được một đoạn tôi lại phải đứng dựa vào tường mà nghỉ. Tôi rất thèm loại kẹo đó nhưng tôi cũng thèm được thoát ra khỏi cái lớp năm đáng ghét ấy.

Tôi biết tôi phải đi tới chỗ tượng thánh Francis. Đó là vị thánh duy nhất sẽ lắng nghe tôi nói nhưng tượng thánh lại nằm ở tận phía cuối Limerick nên tôi phải mất một giờ vừa đi vừa ngồi nghỉ trên các bậc thềm hay đứng dựa vào các bức tường ven đường mới tới nơi được. Một xu là số tiền vừa đủ đê thắp sáng một ngọn nến và tôi tự hỏi không biết tôi có thể thắp nến và giữ một xu đó hay không. Không, thánh Francis sẽ biết ngay. Vị thánh của tôi yêu thích chim trên trời và cá dưới nước nhưng Người không phải là một kẻ khờ. Tôi thắp nến và quì trước tượng thánh Francis và cầu xin Người giúp tôi ra khỏi lớp năm để tôi khỏi phải học chung với em tôi, thằng nhóc hay chuyện mà có lẽ bây giờ đang đi khắp ngõ nói với mọi người rằng anh nó bị đúp. Thánh Francis không nói một lời nhưng tôi biết Người có nghe tôi nói và tôi biết Người sẽ đưa tôi ra khỏi lớp đó. Đó là điều tối thiểu Người có thể làm để đền bù cho việc tôi khó khăn vất vả tìm đến bên tượng của Người trong khi tôi có thể đến nhà thờ thánh Joseph thắp nến dưới bức tranh Trái tim Cứu Thế. Nếu Người bỏ mặc tôi trong lúc tôi cầu cứu Người thì việc bố mẹ tôi đặt tên tôi theo tên của Người phỏng có ý nghĩa gì?

Tôi phải ngồi trong lớp của thầy O’Dea nghe giảng về giáo lý vấn đáp và tất cả những điều thầy đã dạy năm ngoái. Tôi muốn giơ tay trả lời các câu hỏi nhưng thầy nói: “Trật tự, để em của trò trả lời”. Thầy cho lớp làm bài kiểm tra số học rồi sai tôi chữa bài. Thầy đọc cho lớp viết chính tả bằng tiếng Ailen và bảo tôi sửa lỗi chính tả cho cả lớp. Rồi thầy ra cho tôi những đề văn về viết và đọc cho cả lớp nghe bởi vì tất cả tôi đã học từ năm trước. Thầy nói với cả lớp: “Francis McCourt sẽ cho các em thấy năm ngoái ở lớp này trò ấy đã học viết tốt như thế nào. Trò ấy sẽ viết một bài văn về Chúa của chúng ta, đúng không, McCourt? Trò ấy sẽ cho chúng ta thấy nếu Chúa của chúng ta lớn lên ở Limerick thành phố linh thiêng nhất Ailen thì sẽ thế nào. McCourt, về nhà trò hãy viết bài văn đó và ngày mai hãy mang đến lớp”.

Bố tôi nói: “Thầy O’Dea có một trí tưởng tượng tốt đấy nhưng Chúa của chúng ta đã chịu đựng trên cây thánh giá là đủ lắm rồi không phải bắt Người ở Limerick nữa để Người phải chịu đựng cái ẩm thấp của sông Shannon”. Bố tôi nói thế rồi chụp mũ lên đầu và đi ra đường để mặc tôi tự nghĩ về Chúa và loay hoay không biết sẽ phải viết gì.

Buổi học hôm sau thầy O’Dea đứng trước lớp nói:

Nào McCourt, hãy đọc bài văn của em cho cả lớp nghe. Tên bài văn của tôi là... Đầu đề, McCourt, đầu đề chứ. Đầu đề bài văn của tôi là, Chúa Jésus và Thời tiết. Cái gì? Chúa Jésus và Thời tiết. Thôi được, hãy đọc xem nào. Tôi đã viết thế này: “Tôi không nghĩ Đức Chúa của chúng ta lại thích thời tiết ở Limerick bởi ở đây luôn có mưa và sông Shannon làm cho toàn thành phố lúc nào cũng ẩm thấp. Bố tôi nói sông Shannon là con sông giết người bởi nó đã giết hai em trai của tôi. Khi bạn ngắm các bức tranh vẽ Chúa Jésus bạn luôn thấy Chúa ở trên đất Israel cổ xưa. Ởđó không có mưa và bạn không bao giờ nghe thấy tiếng ho nào cũng không thấy một ai bị lao phổi hết và không ai đi làm cả bởi tất cả mọi người ở đó chỉ đứng quây quần ăn lộc thánh và lắc lắc nắm tay và đi tới chỗ đóng đinh câu rút.

Bất cứ lúc nào Chúa Jésus đói bụng Người chỉ việc đi ra đường cái, tới một cây sung hoặc một cây cam và thế là Người no bụng ngay. Nếu Người muốn uống rượu, Người chỉ cần vẫy tay về phía một chiếc cốc và lập tức Người có rượu uống. Người có thể đến thăm Mary Magdalene và chị gái của Mary, Martha, và họ phục vụ Người bữa tối mà không vặn hỏi bất cứ điều gì và Người sẽ được rửa chân và được lau khô chân bằng tóc của Mary Magdalene trong khi Martha rửa bát đĩa, và tôi nghĩ như thế là không công bằng. Tại sao Martha lại phải rửa bát trong khi Mary Magdalene được ngồi trò chuyện với Chúa? Chúa của chúng ta quyết định để được sinh làm người Do Thái ở xứ sở ấm áp ấy quả là hay bởi nếu Người sinh ra ở Limerick thì Người sẽ bị nhiễm lao phổi và chết chỉ trong một tháng và như thế sẽ chẳng có nhà thờ Thiên Chúa nào cả và cũng sẽ không có lễ Ban thánh thể hay lễ Kiên tín và chúng ta sẽ không phải học giáo lý vấn đáp, không phải viết những bài văn về Người. Hết”.

Thầy O’Dea lặng thinh nhìn tôi bằng cái nhìn khó hiểu còn tôi thì lo sốt vó vì tôi biết mỗi khi thầy im lặng như thế có nghĩa là ai đó sắp phải lãnh đủ. Thầy nói:

McCourt, ai viết bài văn này? Em viết, thưa thầy. Bố em viết phải không? Không phải, thưa thầy. Đi ra đây, McCourt. Tôi theo thầy ra cửa, đi dọc hành lang đến phòng thầy Hiệu trưởng. Thầy O’Dea đưa bài văn của tôi cho thầy hiệu trưởng xem và thầy Hiệu trưởng cũng nhìn tôi bằng cái nhìn khó hiểu. Thầy hiệu trưởng hỏi tôi:

Chính cậu đã viết bài văn này à? Vâng, thưa thầy. Tôi được đưa ra khỏi lớp năm và được xếp vào lớp sáu của thầy O’Halloran với những bạn học trước đây của tôi, Paddy Clohessy, Fintan Slattery, Quigley Hay Hỏi, và hôm đó ngay sau khi tan học tôi phải trở lại trước tượng thánh Francis để tạ ơn Người cho dù chân tôi vẫn còn yếu và tôi phải vừa đi vừa nghỉ trên các bậc hè hay phải đứng dựa vào tường và tôi cũng chẳng biết liệu tôi đã viết được gì hay, hay là đã viết ra điều gì không nên viết trong bài văn đó.

Thầy Thomas L. O’Halloran dạy một lúc ba lớp trong cùng một phòng, lớp sáu, lớp bảy, lớp tám. Thầy có cái đầu trông giống như đầu của tổng thống Roodevelt và thầy đeo kính gọng vàng. Thầy mặc com-lê, màu xanh nước biển hoặc xám, và thầy có một chiếc đồng hồ vàng có dây đeo vắt ngang từ túi áo gi-lê bên này sang túi áo bên kia. Chúng tôi gọi thầy là Hoppy có nghĩa là nhảy bởi vì thầy có một cái chân ngắn nên thầy bước đi không như người bình thường. Thầy biết chúng tôi gọi thầy như vậy và thầy bảo: “Đúng, tôi nhảy đấy và tôi sẽ nhảy lên các cậu. Thầy có một chiếc thước dài, một chiếc thước dùng để chỉ, và nếu bạn không chú ý nghe giảng hay đưa ra một câu trả lời ngớ ngẩn thì thầy sẽ vụt vào mỗi bàn tay của bạn ba nhát hoặc sẽ vụt vào bắp chân bạn. Thầy bắt bạn học thuộc lòng mọi thứ, tất, và điều đó khiến thầy trở thành thầy giáo rắn nhất trường. Thầy thích nước Mỹ và bắt chúng tôi phải học thuộc tên tất cả các bang của nước Mỹ. Thầy vẽ biểu đồ ngữ pháp tiếng Ailen, lịch sử Ailen và đại số sẵn ở nhà rồi treo chúng lên một cái khung trong lớp học và chúng tôi phải học thuộc tất cả các trường hợp, tất cả các cách chia động từ, tất cả các biến cách của tiếng Ailen, phải học thuộc những cái tên và những trận đánh nổi tiếng, các tỷ lệ thức, các phương trình. Chúng tôi phải biết tất cả những ngày quan trọng trong lịch sử Ailen. Thầy nói cho chúng tôi biết điều gì quan trọng và tại sao lại quan trọng. Chưa có giáo viên nào từng giải thích tại sao với chúng tôi. Nêu bạn hỏi tại sao thì đầu bạn sẽ bị ăn thước ngay. Thầy Hoppy không gọi chúng tôi là đồ đần độn và nếu bạn hỏi thầy một câu hỏi thì thầy cũng không nổi cáu. Thầy là giáo viên duy nhất dừng giảng bài và hỏi: “Các em có hiểu những gì thầy đang nói không? Có em nào thắc mắc gì không?”.

Tất cả chúng tôi đều ngạc nhiên khi thầy nói rằng trận đánh Kinsale năm 1601 là thời khắc đáng buồn nhất trong lịch sử Ailen, một trận chiến tàn bạo và dã man của cả hai bên tham chiến.

Tàn bạo và dã man ư? Bên Ailen cũng vậy ư? Làm sao có thể như vậy được cơ chứ? Tất cả các giáo viên khác đều nói với chúng tôi rằng người Ailen luôn chiến đấu một cách cao cả, họ luôn đánh đẹp. Thầy Hoppy bảo cả lớp học thuộc những câu thơ sau:

Họ tiến vào trận đánh, nhưng luôn gục ngã,

Mắt họ mở trừng trừng phía trên những tấm khiên buồn bã.

Họ đã chiến dấu một cách cao thượng và dũng cảm, nhưng không cừ,

Và chìm trong vết thương xé lòng vì một bùa phép tinh vi.

Nếu họ thất bại thì đó là do những kẻ chỉ điểm và những kẻ phản bội. Nhưng tôi muốn biết về sự dã man đó của người Ailen.

- Thưa thầy, trong trận đánh Kinsale người Ailen có dã man không ạ?

- Có. Lịch sử còn ghi lại rằng họ đã giết các tù nhân nhưng họ chẳng tốt hơn cũng chẳng tồi hơn người Anh đâu.

Thầy O’Halloran không thể nói dối được. Thầy là Hiệu trưởng cơ mà. Suốt từ khi bắt đầu đi học đến giờ các thầy giáo toàn nói với chúng tôi rằng người Ailen luôn cao thượng và trước khi bị người Anh treo cổ họ thường đọc những bài diễn thuyết đầy dũng cảm. Hôm nay thầy O’Halloran nói rằng người Ailen đã làm những việc tồi tệ. Ngày mai chắc thầy sẽ nói người Anh đã làm những việc tốt. Thầy nói: “Các em phải học tập và nghiên cứu để nhìn nhận lịch sử và mọi thứ khác bằng cái đầu của riêng mình nhưng các em không thể làm việc đó với một cái đầu trống rỗng. Hãy bồi đắp cho cái đầu của các em, hãy bồi đắp. Đó là kho báu mà không ai trên thế giới có thể xâm phạm. Nếu các em thắng giải cá đua ngựa toàn Ailen và mua một ngôi nhà cần đồ đạc bày bên trong thì liệu các em có chất đầy những mẩu rác rưởi vào trong đó hay không? Cái đầu của các em là ngôi nhà của các em và nếu các em tống đầy những thứ rác rưởi từ rạp chiếu bóng vào đó thì những rác rưởi đó sẽ làm thối làm hỏng đầu óc các em. Các em có thể nghèo, giày của các em có thể rách, nhưng đầu của các em phải là một cung điện”.

Thầy bắt từng đứa bọn tôi đứng trước cả lớp tự nhìn xuống giày của mình. Thầy muốn biết tại sao giày của chúng tôi lại rách và tại sao có những người lại không có giày đi. Thầy bảo rằng đó là một điều nhục nhã và rằng thầy sẽ mở một đợt bán xổ số để giúp chúng tôi có giày ấm đi trong mùa đông. Thầy phát cho chúng tôi nhũng tập vé số và thế là chúng tôi lang thang khắp Limerick bán vé số gây quỹ mua giày cho học sinh trường Leamy, giải nhất năm bảng, năm giải còn lại mỗi giải một bảng. Những học sinh mười một tuổi chưa có giày bỗng nhiên có giày mới toanh. Malachy và tôi không ai được phát giày mới vì chúng tôi đã có giày rồi cho dù giày của chúng tôi đều đã mòn vẹt đế và rách lỗ chỗ và chúng tôi không biết tại sao chúng tôi phải chạy rông khắp Limerick bán vé số để rồi những học sinh khác được đi giày mới. Fintan Slattery bảo chúng tôi đi quyên tiền cho quỹ từ thiên còn Paddy thì nói: “Fintan, mày cứ đi đi và kiếm lấy một bãi phân tốt cho riêng mày”.

Khi bố tôi làm điều xấu tôi biết. Khi bố tôi đi uống hết cả số tiền trợ cấp tôi biết và tôi biết mẹ tôi phải lê những bước chán nản tới xin các thứ ở hội thánh Vincent de Paul và xin phiếu mua hàng ở cửa hàng O’Connell nhưng tôi không muốn ghẻ lạnh với bố. Làm sao tôi có thể làm thế khi mà sáng sớm nào tôi cũng thức dậy cùng bố tôi trong khi thế giới vẫn còn chìm trong giấc ngủ? Bố tôi nhóm lửa lên và pha trà vừa làm vừa hát một mình hoặc đọc báo cho tôi bằng giọng thầm thì để những người còn ngủ không bị đánh thức. Mickey Molloy đã đánh cắp Cuchulain, thiên thần trên bậc thang thứ bảy đã bay đi nơi nào khác rồi, nhưng bố tôi của những buổi sáng thì vẫn ở bên tôi. Sáng sớm bố tôi mua tờ Irish Press và kể cho tôi nghe về thế giới, về Hitle, Mussolini, Franco. Bố tôi nói với tôi về Roosevelt ở Washington và Valera ở Dublin. Sáng sáng chúng tôi có cả thế giới đến với mình và vào buổi sáng bố tôi không bao giờ bảo tôi nên chết cho Ailen.

Khi bạn có hẳn bố cho riêng mình bên bếp lửa vào buổi sáng sớm bạn không cần Cuchulain, thiên thần ở bậc thang thứ bảy hay bất cứ gì nữa cả.

Buổi tối bố tôi giúp chúng tôi làm bài tập. Mẹ tôi nói ở Mỹ người ta gọi đó là bài tập về nhà nhưng ở đây người ta gọi là bài tập, thế thôi, bài tập toán, tiếng Anh, tiếng Ailen, lịch sử. Bố tôi không thể giúp chúng tôi trong môn học tiếng Ailen được bởi vì bố là người miền Bắc không thạo tiếng bản địa. Malachy bảo rằng nó sẽ dạy bố tất cả những từ tiếng Ailen mà nó học được nhưng bố tôi bảo: “Muộn rồi, con không thể dạy một con chó già sủa một tiếng sủa mới được đâu”. Trước khi đi ngủ chúng tôi ngồi quanh bếp và nếu tôi đòi bố tôi kể chuyện thì thế nào bố tôi cũng bịa ra một câu chuyện về một người nào đó trong ngõ và câu chuyện ấy sẽ đưa chúng tôi đi khắp thế giới, lên trời, xuống biển và rồi cuối cùng lại trở về cái ngõ của chúng tôi. Mỗi người trong câu chuyện có một màu da khác nhau và mọi thứ đều ngược với hiện thực hoặc lùi lại thời quá khứ. Ô tô và máy bay thì đi dưới nước còn tàu ngầm thì bay trên không. Cá mập ngồi trên cây còn cá hồi thì chơi thể thao với kangguru trên mặt trăng. Gấu bắc cực thi đấu vật với voi ở Australia còn chim cánh cụt thì dạy Zulu thổi kèn túi. Sau khi kể chuyện xong bố tôi đưa chúng tôi lên gác và cùng quỳ cầu nguyện với chúng tôi.

Tôi buồn trước điều tồi tệ bố tôi làm nhưng tôi không thể quay lưng lại với bố tôi được bởi bố vào buổi sáng là bố thực sự của tôi và nếu là ở nước Mỹ tôi có thể nói: “Con yêu bố” giống như người ta vẫn nói trên phim, nhưng bạn không thể nói như thế ở đất Limerick này vì sợ mọi người sẽ cười bạn. Bạn được phép nói bạn yêu Chúa, yêu trẻ con và yêu ngựa còn nói yêu thứ gì khác thì bạn sẽ bị cho là ủy mị.

Suốt ngày đêm chúng tôi khốn khổ vì những người đi đổ bô. Mẹ tôi bảo không phải sông Shannon sẽ giết chúng tôi mà chính cái nhà vệ sinh ở ngay cửa nhà chúng tôi sẽ làm việc đó. Mùa đông mọi thứ chảy tràn ra thấm vào qua cửa nhà chúng tôi đã đủ tệ lắm rồi nhưng mùa hè thời tiết ấm ruổi nhặng và chuột thi nhau hoành hành thì còn tệ hơn nhiều.

Ngay cạnh nhà vệ sinh là một chuồng ngựa nơi giữ một con ngựa to. Con ngựa đó được gọi là Finn và tất cả chúng tôi đều thích con ngựa đó nhưng người coi ngựa thì không để ý đến cái chuồng nên nước từ chuồng ngựa chảy cả vào nhà chúng tôi. Nước từ nhà vệ sinh và từ chuồng ngựa thu hút lũ chuột và chúng tôi phải nuôi một con chó để đuổi chuột, con Lucky. Lucky thích đuổi chuột vào những góc cùng và đập chúng vào những cạnh đá nhô lên trên mặt đất hoặc đập chúng vào cái cào cỏ ở chuồng ngựa. Con ngựa Finn rất sợ chuột và chúng tôi phải cảnh giác khi nó nhảy chồm lên. Con ngựa đó biết chúng tôi không phải là chuột bởi chúng tôi thỉnh thoảng lại mang về cho nó những quả táo chúng tôi hái trộm ở một vườn quả ngoài ngoại ô.

Thỉnh thoảng chuột bị truy đuổi chạy bừa vào trong nhà chúng tôi chui xuống cái hố than tối om ở dưới gầm cầu thang và nếu chúng đã chui vào đó thì đố bạn nhìn thấy chúng. Thậm chí chúng tôi mang nến tới soi chúng tôi cũng không thể tìm ra chúng bởi chúng đào hố ở mọi chỗ không biết đâu mà lần. Nếu bếp còn lửa thì chúng tôi đun nước sôi và từ từ đổ xuống hố và thế là chuột chạy ra qua chân chúng tôi và lại chuồn ra cửa trừ khi Lucky đón lõng và tóm chúng giữa hai hàm răng của nó. Chúng tôi cứ nghĩ Lucky ăn chuột nhưng nó không ăn mà đem bỏ ở ngõ với ruột gan lùng nhùng rồi chạy về quẩn dưới chân bố tôi nhận một miếng bánh mì nhúng trà. Người trong ngõ nói nó làm như thế thật kỳ cục nhưng bạn mong đợi gì từ một con chó nhà McCourt cơ chứ.

Cứ hễ thấy bóng một con chuột hay thấy ai nói đến chuột là mẹ tôi bước khỏi cửa đi thẳng ra ngõ. Mẹ tôi thà đi trên đường phố Limerick mãi mãi còn hơn là ở lại một phút trong một ngôi nhà có chuột và như thế mẹ tôi không bao giờ có thể dừng bước bởi mẹ tôi biết rằng với cái chuồng ngựa và cái nhà vê sinh ấy thì lúc nào mà chả có một con chuột với cả nhà cả ổ nhà nó đợi ăn bữa tối của chúng.

Chúng tôi đấu tranh với lũ chuột và đấu tranh với thứ nước bẩn tràn ra từ nhà vệ sinh. Những hôm trời ấm chúng tôi muốn để cửa mở nhưng bạn không thể làm thế được khi mà người sống trong cái ngõ đó cứ thi nhau đi đổ bô. Một số gia đình tồi hơn những gia đình khác và bố tôi ghét tất cả bọn họ cho dù mẹ tôi nói với bố rằng đó không phải lỗi của họ mà là lỗi của người xây nhà đã không xây riêng nhà vệ sinh cho mỗi hộ. Bố tôi bảo mọi người nên đi đổ bô vào đêm khuya để khỏi làm phiền chúng tôi mới phải.

Lũ ruồi cũng tệ chẳng kém gì lũ chuột. Vào những hôm trời ấm chúng bay quanh chuồng ngựa và khi một cái bô được đổ là chúng lại kéo nhau vào nhà vệ sinh. Nếu mẹ tôi nấu thứ gì đó là chúng lại bay vào bếp và bố tôi nói thật phát buồn nôn khi nghĩ rằng con ruồi đang đậu trên bát đường chính là con ruồi đã đậu trong nhà vệ sinh. Nếu bạn bị sứt lở chỗ nào là y như rằng lũ ruổi tìm đến hành hạ bạn. Ban ngày bạn khổ với ruồi, ban đêm bạn khổ vì bọ chét. Mẹ tôi bảo lũ bọ chét còn có một điểm tốt, chúng sạch sẽ, còn bọn ruồi thì bẩn thỉu, bạn không thể biết chúng từ đâu bay ra và mang những mầm bệnh gì.

Chúng tôi có thể đuổi lũ chuột và tiêu diệt chúng. Chúng tôi có thể đập ruồi và bọ chét nhưng chúng tôi không thể làm gì được những người hàng xóm và những cái bô của họ. Nếu đang chơi trong ngõ mà nhìn thấy ai đó cầm bô đi là chúng tôi lại gọi với về nhà: “Đổ bô đấy, đổ bô đấy, đóng cửa vào, đóng cửa vào” và một trong số chúng tôi chạy về nhà đóng cửa lại. Vào những ngày trời ấm chúng tôi chốc chốc lại phải chạy về nhà đóng cửa vì chúng tôi biết rõ bô nhà ai khó ngửi nhất. Trong ngõ có những người đàn ông đi làm và nếu họ có thói quen cho bột cari vào thức ăn thì chúng tôi biết bô của họ sẽ bốc mùi lên tận trời và làm chúng tôi buồn nôn. Giờ đây đang có chiến tranh nên người ta gửi tiền từ Anh về và những người ở nhà đó thường xuyên có bột cari và thế là ngày cũng như đêm nhà chúng tôi đầy mùi thối. Chúng tôi biết những nhà dùng cari, biết những nhà dùng bắp cải. Mẹ tôi lúc nào cũng nôn ọe, bố tôi thì kéo dài thêm những cuộc đi dạo của mình, còn chúng tôi thì chơi ở bên ngoài suốt để tránh cái mùi thối đó. Bố tôi không còn than phiền về sông Shannon nữa. Bố tôi biết cái nhà vệ sinh trước cửa nhà chúng tôi tệ hơn con sông ấy và bố tôi dân tôi tới ủy ban thành phố để phàn nàn về nó. Người ở đó nói: “Ông ạ, tất cả những gì tôi có thể nói là ông hãy chuyển khỏi chỗ đó”. Bố tôi nói chúng tôi không có tiền để chuyển đến một chỗ khác và người đó nói rằng ông ta chẳng thể làm gì được. Bố tôi nổi nóng nói: “Đây đâu phải là Ân Độ. Ngõ của chúng tôi cần thêm nhà vệ sinh”. Người của úy ban nói: “Ông nghĩ rằng Limerick sẽ xây những nhà vệ sinh trong những ngôi nhà sắp sập hoặc sắp bị phá đi hay sao?”. Bố bảo với người đó rằng cái nhà vệ sinh ấy sẽ giết chết chùng tôi. Người đó nói: “Chẳng phải tất cả chúng ta đang sống trong thời kỳ nguy hiểm hay sao?”.

Mẹ tôi bảo khó mà giữ được lửa để nấu bữa tối Giáng sinh nhưng nếu tôi muốn đi dự bữa tối Giang sinh ở bệnh viện thì tôi phải tắm sạch từ đầu đến chân. Mẹ tôi bảo mẹ tôi sẽ không để xơ Rita nói rằng tôi không được quan tâm đúng mức hoặc sẽ bị nhiễm bệnh nữa. Trước lễ Mixa mẹ tôi đun một ấm nước nóng đến mức gần làm tôi bỏng. Mẹ tôi kỳ tai, cọ lưng tôi đến đỏ cả lên. Mẹ tôi có thể bỏ ra hai xu cho tôi đi xe buýt nhưng lúc về tôi sẽ phải đi bộ và như thế đối với tôi cũng tốt chán vì tôi sẽ được ních đầy bụng những thức ăn ngon còn mẹ thì phải đi nhóm bếp và nấu thủ lợn với bắp cải những thứ mà mẹ kiếm được nhờ lòng hảo tâm của hội thánh Vicent de Paul và mẹ tôi quyết định rằng đây sẽ là lần cuối cùng chúng tôi mừng ngày sinh của Chúa với một cái thủ lợn. Năm tới chúng tôi sẽ có thịt ngỗng hoặc giăm bông và tại sao lại không cơ chứ, chẳng phải Limerick nổi tiếng khắp thế giới với món giăm bông là gì?

Xơ Rita nói:

Mọi người xem này, chiến binh nhỏ của chúng ta trông khỏe mạnh hơn rồi. Vẫn gầy lắm nhưng trông có khí thế rồi. Nào hãy nói cho ta biết, sáng nay con có đi lễ Mixa không? Con có đi, thưa xơ. Con có được nhận lễ không? Có, thưa xơ. Xơ đưa tôi đến một phòng trống và bảo tôi ngồi ở đó đợi. Xơ nói thế rồi đi ra còn tôi thì ngồi đó băn khoăn không biết tôi sẽ ăn với các xơ và các y tá hay ăn trong phòng ăn với những đứa trẻ khác. Một lát sau cô gái mặc váy xanh mang bữa tối đến cho tôi. Cô ấy đặt khay thức ăn xuống cạnh giường và tôi kéo một chiếc ghế ra. Cô ấy chau mày nhìn tôi và nói: “Cậu, thức ăn của cậu đấy và tôi sẽ không mang cho cậu cuốn sách nào nữa đâu”.

Bữa tối của tôi trông rất ngon, có gà tây, súp khoai tây, đậu, nước quả đông và sữa trứng cùng một bình trà. Đĩa nước quả đông trộn sữa trứng trông hấp dẫn quá khiến tôi không thể nhịn cơn thèm nên nhân lúc không có ai ở đó tôi bèn nếm thử một chút nhưng tôi đang thử thì cô gái mặc váy xanh mang bánh mì vào và cô ấy nói:

Cậu đang làm gì vậy? Không làm gì ạ. Không đúng. Cậu ăn đồ ngọt trước bữa ăn. Nói rồi cô ấy chạy ra cửa và gọi to: Xơ Rita, xơ Rita, đến đây mau lên. Và thế là cô y tá hớt hải chạy đến hỏi: Francis, cậu không sao chứ? Không sao ạ, thưa xơ. Cậu ấy không ngoan đâu, thưa xơ. Cậu ấy ăn đồ ngọt trước bữa ăn đấy ạ. Như thế là có tội, thưa xơ. Được rồi, con cứ để ta nói chuyện với cậu ấy. Vâng, thưa xơ, hãy nói chuyện với cậu ấy đi nếu không tất cả trẻ con trong bệnh viện sẽ ăn đồ ngọt trước bữa ăn và rồi tất cả chúng ta sẽ ở đâu? Phải rồi, phải rồi, chúng ta sẽ ở đâu? Nào cứ để đó cho ta. Cô gái đi ra và xơ Rita mỉm cười với tôi:

Chúa che chở cho cô ấy, cô ấy không quên một điều gì ngay cả khi cô ấy rối loạn. Chúng ta phải kiên nhẫn với cô ấy, Francis ạ. Xơ Rita đi ra và căn phòng trở lại im ắng. Tôi ăn xong và không biết phải làm gì bởi bạn không được làm gì cho tới khi người ta bảo bạn. Bệnh viện và trường học luôn bảo bạn phải làm gì. Tôi đợi rất lâu cho tới khi cô gái mặc váy xanh đến thu khay.

Cậu ăn xong rồi à? Vâng. Cậu đã ăn rồi vậy thì bây giờ cậu có thể về nhà. Chắc chắn những cô gái có cái đầu không bình thường không thể bảo bạn về nhà được và tôi tự hỏi không biết tôi có nên đợi xơ Rita hay không. Một cỏ y tá ở hành lang bảo với tôi rằng xơ Rita đang ăn tối nên tôi chớ có quấy rầy xơ.

Từ Union Cross đến Đồi Barrack Hill khá xa và khi tôi về đến nhà cả nhà tôi đang ở trên gác với món thủ lợn hầm bắp cải. Tôi kể với cả nhà về bữa tối Giáng sinh của tôi. Mẹ tôi muốn biết tôi có được ăn cùng với các y tá và các xơ hay không và mẹ tôi hơi bực khi tôi nói rằng tôi ăn một mình trong một căn phòng trống vì mẹ tôi cho rằng đối xử với một đứa trẻ như thế là không được. Mẹ tôi bảo tôi ngồi xuống ăn một chút thủ lợn và thế là tôi cố nhét thêm vào dạ dày của mình một chút thức ăn nữa để rồi no đến mức tôi phải đi nằm với cái bụng to kềnh.

Sáng hôm ấy có một chiếc ô tô đậu ở ngoài cửa nhà chúng tôi, chiếc ô tô đầu tiên chúng tôi thấy trong cái ngõ đó. Có mấy người đàn ông mặc com-lê đứng ngó vào chuồng của con Finn, chắc chắn phải có chuyện gì đó bởi trong ngõ nhà chúng tôi chưa bao giờ xuất hiện những người đàn ông mặc comlê.

Con ngựa Finn nằm trên sàn chuồng đầu hướng ra phía ngõ với cái miệng đầy bọt. Người coi ngựa nói sáng ra anh ta đi cho Finn ăn đã thấy Finn như vậy. Mấy người đàn ông lắc đầu. Em Michael của tôi hỏi một trong những người đàn ông đó:

Ông ơi, Finn bị làm sao thế? Bị ốm, con trai ạ, về nhà đi. Người coi ngựa sặc mùi rượu. Anh ta nói với Michael:

Con ngựa này là đồ bỏ rồi. Chúng ta phải bắn nó thói. Michael giật tay tôi:

Frank, họ không được bắn nó. Bảo họ đi. Anh lớn mà. Người coi ngựa quát:

Về nhà đi, về. Michael tấn công anh ta, đá anh ta, cắn tay anh ta, và anh ta đẩy nó ngã quay lơ.

Giữ lấy thằng em mày đi - Anh ta bảo tôi. Một người đàn ông lấy từ trong một cái túi ra vật gì đó màu vàng lẫn màu nâu rồi đi tới gần Finn dí vật đó vào đầu nó và một tiếng nổ khô khốc vang lên. Finn giẫy giụa. Michael la hét và tấn công người đó nhưng người đó nói:

Con ngựa này ốm, con trai ạ. Nó nên được giải thoát. Những người mặc comlê lái xe đi và người coi ngựa nói anh ta phải đợi xe tải tới chở Finn đi, anh ta không thể để Finn một mình với lũ chuột được. Anh ta nhờ chúng tôi bảo con Lucky trông con Finn cho anh ta một lúc để anh ta đến quán rượu làm một ly.

Với cái cách Michael đứng đó cùng một cây gậy dài bằng người nó thì không con chuột nào có cơ hội đến gần Finn. Người coi ngựa quay lại cùng với mùi rượu nồng nặc hơn và chiếc xe tải chở Finn cũng xuất hiện, một chiếc xe tải lớn với ba người đàn ông và hai tấm ván được dùng làm bàn trượt để kéo Finn lên thùng xe. Ba người đó cùng người coi ngựa buộc dây thừng quanh người Finn kéo nó lên qua ván trượt và người trong ngõ la ó phản đối bởi những cái đinh và những mấu gỗ đâm vào người Finn khiến máu của nó chảy dọc ván trượt.

Các anh không được hành hạ con ngựa như thế. Các người không tôn trọng con vật đã chết ấy chút nào sao? Hãy nhẹ tay với nó đi. Người coi ngựa nói:

Vì Chúa, các người kêu gào cái quái gì thế? Đó chỉ là một con ngựa chết thôi mà. Michael lại lao vào anh ta, vừa đá vừa đấm cho đến khi anh ta đẩy nó ngã lăn ra đất và mẹ tôi giận dữ lao tới nhưng anh ta đã kịp nhảy lên thùng xe và chiếc xe từ từ chạy khỏi ngõ. Tối hôm đó anh ta quay lại trong tình trạng say mèm và sau khi anh ta đi khỏi mọi người thấy khói bốc lên mù mịt từ chuồng của con Finn rồi cái chuồng ngựa đó bốc cháy khiến cho lũ chuột chạy toán loạn ra ngõ để rồi bị chó và trẻ con đuổi ráo riết buộc phải chạy ra phố ở chung với những người khá giả.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của frank mccourt

Truyện bạn đang đọc dở dang