Tro Tàn Của Angela

Lượt đọc: 933 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

Mẹ tôi nói:

- Alphie là đủ rồi. Tôi mệt lắm rồi. Kết thúc đi. Không thêm đứa nào nữa đâu.

Bố tôi nói:

Một người đàn bà Công giáo tốt phải thực nghĩa vụ của người vợ đối với người chồng và phải phục tùng người chồng nếu không sẽ bị nguyền rủa không ngừng. Mẹ tôi nói:

Sự nguyền rủa không ngừng đối với tôi nghe cũng đủ hấp dẫn rồi miễn là đừng có thêm trẻ con nữa. Bố sẽ làm gì đây? Chiến tranh vẫn đang tiếp diễn. Người Anh đang tuyển mộ những người đàn ông Ailen đến làm việc trong các nhà máy quốc phòng của họ, lương họ trả cao, ở Ailen thì không có nhiều việc làm, và nếu vợ bạn lạnh nhạt với bạn thì chả thiếu gì đàn bà ở nước Anh nơi mà những người đàn ông được việc đang ngày ngày chiến đấu chống lại Hitle và Mussolini và bạn có thể làm bất cứ chuyện gì bạn thích miễn là bạn nhớ rằng bạn là người Ailen, thuộc tầng lớp thấp và đừng có cố ngoi lên khỏi tầng lớp của bạn.

Nhiều gia đình trong ngõ nhận được giấy chuyển tiền của những người bố, người anh đang làm việc ở Anh. Họ thi nhau đến bưu điện lĩnh tiền đê họ có thể đi mua hàng và cho thế giới thấy sự phất lên của họ vào đêm thứ Bảy và sáng Chủ nhật. Những đứa con trai được đến tiệm cắt tóc vào những ngày thứ Bảy, phụ nữ thì rủ nhau đi làm đầu. Giờ đây họ trở thành những người cao quí qua cái cách họ bỏ ra sáu xu hoặc một shilling để ngồi xem phim ở rạp Savoy nơi họ gặp những người thuộc tầng lớp cao hơn thay vì trả hai xu để chen chúc trong rạp Lyric với rặt những người thuộc tầng lớp thấp luôn rú và la ó trước những cảnh trên màn ảnh, gào hét cổ vũ trước cảnh dân châu Phi ném lao vào Tarzan hay cảnh người da đỏ cắt da đầu của kỵ binh quân đội Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ. Cứ mỗi Chủ nhật đi lễ Mixa về những người mới phất này lại nhồi vào dạ dày của họ nào là thịt, khoai tây, bánh, kẹo các loại, và họ vô tư thưởng thức trà đựng trong những chiếc cốc nhỏ thanh nhã được xếp trong những cái đĩa để hứng trà tràn và khi họ cầm ly trà ngón tay út của họ cong lên để chứng tỏ cho người khác thấy họ thanh lịch như thế nào. Vài người trong số họ không đến những cửa hàng bán cá tẩm bột chiên nữa bởi bạn chẳng thấy gì hay ho ở những chỗ đó hết mà chỉ toàn thấy những anh lính say và những cô gái chơi bời cùng những người đàn ông uống hết cả tiền trợ cấp bị vợ rít gọi về nhà. Những người thanh lịch mới phất ấy chỉ lui tới những nơi như nhà hàng Savoy hay nhà hàng Stella uống trà, ăn bánh, khẽ thấm đôi môi của họ bằng những chiếc khăn ăn thơm tho và về nhà bằng xe buýt để rồi phàn nàn về sự phục vụ xuống cấp của loại phương tiện này. Bây giờ nhà họ đã có điện vì thê họ có thể thấy được những thứ mà trước đó họ chưa hề thấy và khi bóng tối buông xuống họ bật chiếc radio họ mới sắm được lên để nghe tin tức về chiến tranh.

Nếu trời lạnh họ sẽ bật lò sưởi điện và ngồi trong bếp ấm áp nhà họ nghe bản tin và tỏ ra rằng họ rất tiếc trước cảnh phụ nữ và trẻ em người Anh chết dưới bom đạn của Hitle nhưng rồi họ nói, hãy xem người Anh đã làm gì với chúng ta suốt tám trăm năm.

Những gia đình có người đi làm ở Anh có thể ra oai trước những gia đình không có người đi làm việc ở Anh. Vào giờ ăn tối và giờ uống trà những bà mẹ mới phất đứng ở cửa nhà họ gọi với ra ngõ: - Mikey, Katheleen, Paddy, về ăn tối nào. về mau ăn đùi cừu, đậu xanh và khoai tây tẩm bột nào.

Sean, Josie, Peggy, về uống trà nào, về ăn bánh mì nóng ròn phết bơ, và trứng vịt xanh chẳng ai ở đây có nào. Brenden, Annie, Patsy, về ăn bánh pudding rán ròn nào, về ăn xúc xích, về ăn bánh xốp nhúng sherry ngon tuyệt nào. Những lúc như thế mẹ tôi bảo chúng tôi ở yên trong nhà. Chúng tôi chẳng có gì ngoài bánh mì và trà nên mẹ tôi không muốn những người hàng xóm ồn ào kia nhìn thấy chúng tôi nuốt nước miếng trước mùi thức ăn hấp dẫn tỏa ra từ nhà họ. Mẹ tôi nói: “Nghe họ nói là biết ngay trước đây họ chẳng có gì hết. Đúng là chỉ có những cái đầu của tầng lớp thấp kém mới đứng ở cửa mà gào toáng lên cho cả thế giới biết bữa tối của mình có những gì”.

Mẹ tôi bảo họ ngoi lên cao hơn chúng tôi là bởi bố của chúng tôi là người miền Bắc. Bố tôi nói rằng tất cả những thức ăn đó đều từ nước Anh và những ai ăn chúng sẽ chẳng may mắn nhưng bạn có thể mong chờ gì từ Limerick, từ những người hưởng lợi từ cuộc chiến của Hitle, từ những người sẽ đi làm việc và đi chiến đấu cho người Anh. Bố tôi nói bố sẽ không bao giờ tới đó giúp người Anh chiến thắng trong một cuộc chiến. Mẹ tôi nói: “Không đi, anh cứ ở đây, ở cái nơi không có việc làm và không kiếm nổi một cục than mà đun nước pha trà. Không đi, anh cứ ở đây mà đi uống rượu hết cả tiền trợ cấp và anh cứ ở đây mà nhìn các con anh đi giày rách và mặc quần thủng đít. Nhà nào trong ngõ này cũng có điện còn chúng ta thì may lắm mới có nổi một cây nến. Lạy Chúa, nếu tôi có tiền mua vé tôi sẽ đi Anh ngay và tôi chắc các nhà máy cũng cần cả phụ nữ”.

Bố tôi nói:

Nhà máy không phải chỗ dành cho đàn bà. Mẹ tỏi nói:

Bếp không phải là chỗ dành cho cái mông của một người đàn ông. Tôi nói với bố:

Sao bố không đi Anh đi, bố, để chúng ta có điện có đài nghe, để mẹ đứng ở cửa nói cho cả thế giới biết chúng ta có gì ăn hả bố? Bố tôi nói:

Con không muốn có bố ở nhà với các con hay sao? Có, nhưng hết chiến tranh bố lại về và chúng ta có thể đi Mỹ. Bố tôi thở dài:

Chao ôi, chao ôi, được rồi. Bố tôi bảo sau Giáng sinh bố tôi sẽ đi Anh chỉ vì người Mỹ đã tham chiến, thế thôi. Bố tôi bảo nếu người Mỹ không tham gia thì chẳng đời nào bố tôi đi. Bố tôi bảo tôi phải là người đàn ông của gia đình, và thế là bố tôi đến một văn phòng đại diện của người Anh đăng ký đi làm việc tại một nhà máy ở Coventry nơi người ta nói là túi hứng bom của nước Anh. Người đại diện nói với bố tôi: “Có đầy việc cho những người đàn ông nhiệt tình. Ông có thể làm việc thêm giờ cho tới khi ông kiệt sức và nếu như ông chịu khó tiết kiệm thì khi chiến tranh kết thúc ông sẽ thành Rockefeller”.

Chúng tôi dậy sớm tiễn bố tôi ra ga xe lửa. Kathleen O’ConneII biết bố tôi sẽ đi Anh và biết tiền sẽ chảy về nên bà ấy vui vẻ cho mẹ tôi mua chịu trà, sữa, đường, bánh mì, bơ, và một quả trứng.

Một quả trứng.

Mẹ tôi nói:

Trứng là để dành cho bố các con. Bố cần được bồi dưỡng trước một chuyến đi dài. Đó là một quả trứng luộc và bố tôi bóc vỏ trứng. Bố tôi cắt quả trứng ra làm năm phần và cho mỗi chúng tôi một miếng nhỏ để kẹp vào bánh mì. Mẹ tôi bảo bố tôi:

Đừng ngớ ngẩn thế. Bố tôi nói:

Một người đàn ông làm gì với cả một quả trứng chứ? Mẹ tôi rơm rớm nước mắt. Mẹ tôi kéo ghế đến sát bếp. Tất cả chúng tôi ăn bánh mì với trứng và nhìn mẹ tôi khóc cho tới khi mẹ tôi gắt:

Nhìn gì chứ? Và mẹ quay mặt nhìn vào lò sưởi. Bánh mì và trứng của mẹ vẫn còn nguyên trên bàn và tôi tự hỏi không biết mẹ tôi định giải quyết chúng như thế nào. Trông chúng ngon quá mà tôi thì vẫn còn đói nhưng bố tôi đã đứng dậy và mang chúng tới cho mẹ cùng với một tách trà. Mẹ tôi lắc đầu nhưng bố tôi cứ ấn chúng vào tay mẹ và thê là mẹ vừa ăn vừa uống vừa khóc. Bố tôi ngồi cạnh mẹ một lúc, im lặng, cho tới khi mẹ tôi ngước mắt lên nhìn đồng hồ và nói:

Đến giờ đi rồi. Bố tôi đội mũ và xách túi lên. Mẹ tôi quấn một cái chăn cũ quanh người Alphie và chúng tôi cứ thế lặng lẽ bước trên đường phố Limerick. Trên phố có những gia đình khác. Những người cha sắp sửa đi xa bước đi trước, những người mẹ bế con trên tay hoặc đẩy xe nôi theo sau. Một bà mẹ đẩy chiếc xe nồi nói với một bà mẹ khác:

Lạy Chúa, chị bế cháu mãi thế chắc là kiệt sức rồi. Chị để cháu lên xe cho tay chị được nghỉ ngơi một tí đi. Những chiếc xe nôi không biết đã phục vụ bao nhiêu đứa trẻ rồi mà trông chúng cũ kỹ quá và những đứa trẻ nằm trong nôi thì bị xóc đến trớ cả sữa ra.

Cánh đàn ông gọi nhau inh cả lên. Một ngày tốt đây, Mick. Một ngày dễ chịu để khởi hành, Joe. Đúng thế, Mick. A ha, uống một chút trước khi lên đường nào, Joe. Cả Mick nữa nào. Chúng ta cứ việc say sưa đi nào, Joe.

Họ phá lên cười còn đằng sau họ là những người đàn bà mắt đỏ hoe.

Các quán rượu quanh nhà ga chật ních những người đàn ông đến uống bằng tiền mà đại diện người Anh phát cho họ để ăn đường. Họ uống những ly rượu cuối cùng, giọt rượu cuối cùng trên đất Ailen, và họ nói với nhau:

Có Chúa mới biết đây có phải là lần cuối của chúng ta hay không, Mick, lính Đức đang đánh bom người Anh và sau những gì người Anh gây ra cho chúng ta giờ chúng ta lại phải đến đó bảo vệ cái mông cho kẻ thù truyền kiếp của chúng ta thì quả là một bi kịch. Những người phụ nữ đứng bên ngoài các quán rượu nói chuyện với nhau. Mẹ tôi nói với một bà tên là Meehan:

Nhận được số tiền đầu tiên tôi sẽ đi mua ngay một bữa sáng tử tế cho cả nhà để mỗi người chúng tôi đều được ăn một quả trứng. Tôi nhìn Malachy:

Nghe thấy chưa, Malachy? Mỗi người một quả trứng nhé. Ôi, Chúa ơi, tôi biết phải làm gì với quả trứng của mình rồi. Đập quanh đầu quả trứng, nhẹ nhàng bóc vỏ ra, lấy thìa nhấc nó lên, phết một ít bơ vào lòng đỏ, thêm một chút muối, từ từ đã, thêm chút muối, thêm chút bơ nữa, và đưa lên miệng, ôi, Chúa ơi, nếu thiên đường có thứ gì ngon thì chắc phải là vị trứng phết bơ và muối, và sau món trứng thì còn gì khác trên thế giới này ngon hơn bánh mì nóng và một chén trà vàng sánh chứ? Vài người đàn ông uống say đến nỗi không bước đi nổi và những đại diện người Anh phải thuê tiền những người chưa say lôi những người say ra khỏi các quán rượu tống họ lên xe ngựa kéo đến nhà ga và chất họ lên tàu. Những đại diện người Anh thất vọng khi phải lôi những người đàn ông họ đã tuyển mộ ra khỏi quán rượu. Họ hét lên:

Đi nào, các anh. Nếu không là các anh sẽ bị nhỡ tàu và sẽ mất một công việc tốt đấy. Đi nào, đi thôi. Nào, đi nào. Các anh uống hết tiền ăn và các anh sẽ không được phát thêm nữa đâu. Những người say rượu rủa người Anh hôn mông người Ailen, rằng những người đại diện đó may mà còn sống, may vì không bị treo cổ trên cột đèn sau những gì họ đã làm với người Ailen. Và những người lại say nghêu ngao hát.

Còi tàu cất lên từng hồi dài trong sân ga và những người đại diện nhờ những người đàn bà bảo chồng họ rời quán rượu và những người đàn ông lảo đảo đi ra vừa hát vừa khóc vừa ôm hòn vợ con họ, và họ hứa sẽ gửi thật nhiều tiền về để biến Limerick thành một New York khác. Họ bước lên những bậc của nhà ga và những người đàn bà và trẻ con thi nhau gọi với theo họ:

Kevin, hãy giữ gìn nhé và đừng có mặc áo còn ướt đấy. Nhớ phơi khô tất rồi hãy đi, Michael nhé, nếu không mụn nhọt sẽ giết chết anh đấy. Paddy ơi, đừng uống nhiều rượu quá, anh có nghe không, Paddy? Bố ơi, bố, đừng đi, bố ơi. Tommy, đừng quên gửi tiền về nhé. Hãy nhớ các con anh chỉ còn da bọc xương thôi đấy. Peter ơi, đừng quên uống thuốc đấy, Chúa sẽ phù hộ cho chúng ta. Larry, hãy cẩn thận với những quả bom chết người đấy. Christy, đừng có nói chuyện với đàn bà Anh đấy. Họ đầy bệnh tật đấy. Jackie, nghĩ lại đi. Chúng ta sẽ tự xoay xở được. Đừng đi, Jack-e-e, Jack-e-e, ôi, lạy Chúa, đừng đi. Bố tôi xoa đầu chúng tôi. Bố bảo chúng tôi phải nhớ bổn phận của con chiên, và trên hết, phải nghe lời mẹ. Bố tôi đứng trước mặt mẹ tôi. Mẹ tôi ôm em Alphie trong tay. Mẹ tôi nói:

Hãy giữ gìn sức khỏe. Bố tôi thả chiếc túi xuống ôm mẹ tôi. Họ đứng yên như thế một lát cho tới khi Alphie không chịu được bắt đầu càu nhàu. Bố tôi gật đầu, nhặt túi lên, bước lên bậc, và quay lại vẫy tay trước khi đi khuất vào trong ga.

Trở về nhà mẹ tôi nói:

Mẹ biết nghe có vẻ phung phí nhưng mẹ không quan tâm, mẹ sẽ đi nhóm bếp và pha trà nữa vì có phải ngày nào bố các con cũng đi Anh đâu. Chúng tôi ngồi quanh bếp uống trà và khóc bởi chúng tôi không có bố ở nhà với chúng tôi nữa, cứ thế chúng tôi khóc cho tới khi mẹ tôi bảo:

Thôi, đừng khóc nữa. Bây giờ bố các con đã đi Anh rồi và chắc chắn những khó khăn của chúng ta sẽ không còn nữa. Chắc chắn là như vậy.

Mẹ và cô Bridey ngồi bên lò sưởi trên gác hút thuốc Woodbine, uống trà, còn tôi thì ngồi dưới cầu thang nghe họ nói chuyện. Chúng tôi có bố làm việc ở nước Anh nên chúng tôi có thể mua chịu bất cứ thứ gì ở cửa hàng của bà Kathleen O’Connell và sẽ trả nợ khi món tiền đầu tiên từ nước Anh chảy về sau nửa tháng nữa. Mẹ tôi nói với cò Bridey rằng mẹ vô cùng muốn thoát khỏi cái ngõ này đến một nơi khác có cái nhà vệ sinh tử tế để chúng tôi không còn phải dùng chung nhà vệ sinh với nửa thế giới nữa. Tất cả chúng tôi sẽ có giày mới, có áo khoác và chúng tôi sẽ không đói mỗi khi đi học về nữa. Chúng tôi sẽ được ăn trứng và thịt muối vào sáng thứ Bảy và bữa tối chúng tôi sẽ được ăn giăm bông, bắp cải, và khoai tây. Chúng tôi sẽ có đèn điện và tại sao lại không chứ? Mẹ tôi nói: “Chẳng phải Frank và Malachy sinh ra dưới ánh điện ở Mỹ đó sao?”.

Tất cả những gì chúng tôi phải làm bây giờ là đợi cho hai tuần trôi qua tới khi anh chàng đưa điện tín tới gõ cửa nhà chúng tôi. Bố tôi sẽ phải ổn định công việc, phải mua quần áo lao động và phải tìm một nơi để ở, vì thế số tiền đầu tiên bố tôi gửi về sẽ không nhiều lắm, chỉ ba bảng hoặc ba bảng mười xu thôi, nhưng chẳng bao lâu chúng tôi cũng sẽ giống như những gia đình khác trong ngõ, sẽ nhận được năm bảng một tuần, sẽ trả hết nợ, sẽ mua quần áo mới, và sẽ tiết kiệm một ít để sau này cả nhà qua Anh và rồi lại tiết kiệm tiếp để lên tàu đi Mỹ. Mẹ tôi cũng sẽ tìm được một việc làm ở một nhà máy chế bom ở Anh và chỉ Chúa mới biết có bao nhiêu tiền chảy vào nhà chúng tôi. Nếu chúng tôi lớn lên mà nói giọng Anh thì mẹ tôi sẽ không vui nhưng có giọng Anh còn hơn là có một cái bụng đói.

Cô Bridey bảo cho dù một người đàn ông Ailen có giọng nào đi chăng nữa anh ta cũng không thể quên những gì người Anh đã gây ra cho chúng ta trong suốt tám trăm năm.

Chúng tôi biết ngày thứ Bảy ở ngõ của chúng tôi sẽ như thế nào. Chúng tôi biết các gia đình như gia đình Downeses luôn nhận được giấy lĩnh tiền sớm bởi vì ông Downeses là một người đàn ông chín chắn, một người biết kiềm chế, mỗi khi lĩnh lương chỉ cho phép mình uống một hoặc cùng lắm là hai cốc rượu rồi về thẳng nhà lên giường đi ngủ. Chúng tôi biết những người đàn ông như ông ấy sau khi nhận lương sẽ không chần chừ một phút chạy ngay ra bưu điện gửi tiền về nhà để người nhà khỏi mong hoặc lo lắng. Nhũng người đàn ông như ông Downeses gửi về nhũng phù hiệu RAF (Không lực Hoàng gia Anh) để con trai họ đính vào áo khoác của chúng. Chúng tôi cũng muốn có những phù hiệu đó và chúng tôi đã dặn bố tôi nhớ gửi cho anh em tôi mỗi đứa một chiếc.

Chúng tôi hau háu nhìn những anh chàng đưa điện tín lượn xe đạp vào ngõ. Họ là những anh chàng đưa điện tín hạnh phúc nhất bởi vì tiền thưởng mà họ nhận được trong ngõ này nhiều hơn ở những khu phố sang trọng của những người giàu có.

Những gia đình nhận được giấy lĩnh tiền sớm trông rất hài lòng. Họ sẽ có cả ngày thứ Bảy để hưởng thụ. Họ sẽ đi mua sắm, họ sẽ đi ăn uống, họ sẽ có cả ngày để nghĩ xem họ sẽ làm gì vào buổi tối và đó cũng là một việc rất tuyệt bởi tối thứ Bảy mà bạn có vài shilling trong túi thì bạn sẽ có tối ngọt ngào nhất trong tuần.

Có những gia đình chẳng tuần nào nhận được giấy lĩnh tiền cả và bạn có thể biết điều đó qua vẻ mặt lo âu của họ. Hai tháng nay thứ Bảy nào bà Meagher cũng đợi ở cửa. Mẹ tôi nói rằng bà ấy sẽ hổ thẹn cả đời vì cứ đợi ở cửa như thế. Tất cả đám con nhà bà Meagher đều chơi trong ngõ và ngóng bưu tá đến. Chúng gọi to: “Này, anh đưa điện tín, anh có gì cho nhà Meagher không? Và khi anh chàng đưa điện tín trả lời rằng không có chúng gặng hỏi tiếp: “Anh chắc chứ?” và anh chàng đưa điện tín khẳng định: “Tất nhiên, chắc. Tớ biết chắc tớ có gì trong túi mà”.

Ai cũng biết khi chuông nhà thờ báo sáu giờ là bưu tá không đến nữa và bóng tối mang theo nỗi thất vọng tới cho nhũng người đàn bà và nhũng đứa trẻ trong ngõ.

Anh bưu tá, anh làm ơn xem lại giúp xem, làm ơn đi. Tôi xem kỹ rồi. Không có gì cho bà đâu. Ôi, lạy Chúa, xin hãy xem kỹ một lần nữa đi. Chúng tôi là người nhà Meagher. Anh xem kỹ chưa? Tôi biết thừa tên bà là Meagher và tôi đã xem kỹ rồi. Bọn trẻ nhà Meagher bám lấy xe đạp của anh chàng đưa điện tín và anh ta vừa đá chúng ra vừa quát:

Lạy Chúa, chúng mày có lui ra không? Buổi chiều khi chuông nhà thờ điểm sáu tiếng là ngày kết thúc. Những người nhận được giấy lĩnh tiền được hưởng bữa tối của mình dưới ánh điện lấp lánh còn những người không có giấy lĩnh tiền thì đành thắp nến và xem xem liệu Kathleen O’Connell có cho họ mua chịu bánh mì và trà cho đến tuần tới khi mà với sự cứu giúp của Chúa và Đức Mẹ lòng lành của Người, giấy chuyển tiền sẽ tới.

Ông Meehan ở đầu ngõ sang Anh cùng một đợt với bố tôi và khi người bưu tá dừng lại trước cửa nhà Meehan chúng tôi chắc mẩm thế nào chúng tôi cũng là người tiếp theo. Mẹ tôi đã mặc sẵn áo khoác để đi tới bưu điện lĩnh tiền nhưng mẹ sẽ vẫn ngồi yên trên ghế cho tới khi cầm giấy lĩnh tiền trong tay. Anh chàng đưa điện tín đi sâu vào trong ngõ và vòng vào trước cửa nhà Downeses. Anh ta đưa cho họ giấy lĩnh tiền rồi nhận tiền thưởng và quay xe hướng ra đầu ngõ. Malachy gọi: “Anh đưa điện tín ơi, anh có gì cho nhà McCourt không? Đến ngày của nhà em rồi mà”. Anh chàng đưa điện tín lắc đầu và đạp xe đi.

Mẹ tôi thở ra một hơi khói thuốc. Chúng tôi có cả ngày mặc dầu chúng tôi muốn đi mua hàng sớm trước khi cửa hàng nhà Barry bán hết giăm bông loại ngon. Mẹ tôi không thể rời chiếc ghế bên lò sưởi. Chúng tôi không thể rời khỏi ngõ vì sợ nhỡ bưu tá đến không thấy ai ở nhà. Nếu vậy chúng tôi sẽ phải đợi đến thứ Hai mới lĩnh được tiền và thế là cả dịp cuối tuần hỏng bét. Chủng tôi sẽ phải nhìn nhà Meehan và những người khác hớn hở trong những bộ quần áo mới, phải nhìn họ khệ nệ khuân về nhà họ nào là trứng, khoai tây, xúc xích và nhìn họ kéo nhau đi xem phim mà thèm. Không, chúng tôi không thể rời khỏi ngõ dù chỉ vài xăng ti cho tới khi bưu tá mang giấy chuyển tiền tới. Mẹ tôi bảo: “Đừng lo, nhiều anh đưa điện tín phải đi ăn trưa và chắc chắn họ sẽ phải chạy giấy rất khẩn trương vào khoảng giữa hai giờ và sáu giờ”. Chúng tôi không có gì phải lo cho tới sáu giờ. Chúng tôi chặn tất cả những anh chàng đưa điện tín lại. Chúng tôi nói rằng chúng tôi là người nhà McCourt, rằng chúng tôi đang đợi giấy lĩnh tiền đầu tiên bố tôi gửi từ Anh về, rằng số tiền khoảng ba bảng hoặc hơn thế một chút, rằng có thể người ta quên không điền tên hoặc địa chỉ của chúng tôi vào một cái giấy chuyển tiền trị giá ba bảng, chúng tôi hỏi nhũng người bưu tá đã kiểm tra kỹ hay chưa. Một anh chàng đưa đưa điên tín bảo rằng khi nào về tới bưu điện anh ta sẽ kiểm tra xem. Anh ta nói anh ta biết cái cảm giác đợi giấy nhận tiền bởi chính bố anh ta là một kẻ uống hết cả cặn rượu ở Anh và chẳng bao giờ gửi về nhà được một xu. Mẹ tôi ở trong nhà nghe thấy hết và mẹ tôi bảo chúng tôi rằng không bao giờ được nói như vậy về bố của chúng tôi. Gần sáu giờ cũng chính anh chàng đưa đưa điện tín ấy lại quay lại và anh ta bảo với chúng tôi rằng anh ta đã hỏi bưu điện rồi nhưng họ trả lời là không có gì cho chúng tôi hết. Mẹ tôi quay mặt vào nhìn đăm đăm xuống những tàn tro trong bếp và hít hơi cuối cùng từ điếu thuốc Woodbine đã cháy đến đầu ngón tay của mẹ. Michael mới lên năm không phải đã mười một tuổi như tôi nên nó không hiểu gì cứ chạy đến hỏi mẹ rằng chúng tôi có ăn tối với món cá tẩm bột chiên không bởi nó đói rồi. Mẹ tôi nói: “Tuần sau, tuần sau, con ạ”. Và thế là em tôi mang cái mặt ủ rũ ra ngõ chơi tiếp.

Bạn không biết phải làm gì với mình khi mà giấy lĩnh tiền đầu tiên không đến. Bạn không thể ở ngoài ngõ chơi với các em mình cả đêm được bởi tất cả những người khác đều đã về nhà và bạn không thể không cảm thấy xấu hổ khi phải ở ngoài ngõ và bị tra tấn bởi mùi thức ăn thơm nức tỏa ra khắp ngõ. Bạn không muốn nhìn ánh điện hắt ra từ các ô cửa sổ và không muốn nghe bản tin từ đài của nhà người khác. Bà Meagher và đám con của bà ấy không thò mặt ra ngoài và trong bếp nhà họ chỉ có ánh sáng lờ mờ của một ngọn nến. Họ cũng xấu hổ. Các tối thứ Bảy họ ở yên trong nhà, thậm chí sáng Chủ nhật họ không đi lễ Mixa. Cô Bridey nói với mẹ rằng bà Meagher luôn xấu hổ vì những bộ quần áo rách rưới họ mặc trên người và rất tuyệt vọng khi phải tới Bệnh xá miễn phí xin giúp đỡ . Mẹ tôi bảo đó là điều tồi tệ nhất có thể xảy đến với một gia đình. Nó tồi tệ hơn cả việc tới hội thánh Vincent de Paul, tồi tệ hơn cả việc đi ăn xin trên đường phố. Đó là điều cuối cùng bạn làm để giữ cho các con bạn khỏi phải vào trại trẻ mồ côi.

Tự nhiên tôi đau ở trên mũi khoảng giữa hai lông mày và chỗ đó sưng đỏ, ngứa ngáy. Mẹ tôi bảo tôi không được động vào chỗ đau đó và không được để nước rớt vào chỗ đó nếu không nó sẽ lan ra. Nếu bạn bị đau tay thì mẹ tôi cũng sẽ bảo bạn đừng động vào chỗ đau và đừng để nước rơi vào nếu không chỗ đau sẽ lan ra. Tôi nghe lời mẹ tôi nhưng chỗ đau đó vẫn lan sang cả hai mắt tôi khiến mắt tôi đỏ sọc, đùn rỉ và dính chặt rất khó mở mỗi khi tôi ngủ dậy. Mắt tôi dính đến nỗi sáng ra tôi phải dùng tay để mở lông mi và mẹ tôi phải dùng một cái giẻ ẩm để thấm mắt cho tôi. Lông mi của tôi rụng hết nên vào những ngày trời có gió, bụi ở Limerick tha hổ bay vào mắt tôi. Bà tôi bảo tôi có đôi mắt trụi và bà bảo đó hoàn toàn là do lỗi ở tôi, rằng tất cả những gì xảy ra với đôi mắt của tôi đều do tôi cứ ngồi dưới cột đèn ở đầu ngõ chúi mũi vào những quyển sách bất kể dưới thời tiết như thế nào và nếu Malachy không thôi đọc sách thì điều tương tự cũng sẽ xảy ra với nó. Bà tôi nói:

Xem đấy, cái thằng Michael nứt mắt ra cũng lại chúi mũi vào những quyển sách rồi đấy, thằng bé đáng lẽ phải chạy chơi như một đứa trẻ khỏe mạnh chứ. Sách, sách, sách, rồi chúng mày sẽ làm hỏng hết mắt cho mà xem. Bà tôi ngồi uống trà với mẹ tôi và tôi nghe thấy bà thì thầm với mẹ:

Phải cho thằng bé một bãi nước bọt của thánh Anthony. Gì cơ ạ? Một bãi nước bọt của người mẹ nhịn ăn vào buổi sáng chứ gì nữa. Hãy lén đi đến chỗ nó khi nó còn ngủ và nhổ vào mắt nó một bãi nước bọt như thế mắt nó sẽ khỏi thôi. Nhưng tôi luôn thức trước mẹ tôi. Tôi cố làm cho mắt mình mở trước khi mẹ tôi trở dậy. Tôi có thể nghe tiếng bước chân của mẹ tôi trên sàn nhà và khi mẹ tôi tới bên cạnh tôi định nhổ bọt tôi vội mở mắt ngay. Mẹ tôi lẩm bẩm: “Chúa ơi, thằng bé mở mắt rồi”.

Con nghĩ mắt con đỡ rồi. Thế thì tốt - Mẹ tôi nói và đi ngủ tiếp. Mắt tôi không khỏi và mẹ tôi phải đưa tôi tới Bệnh xá miễn phí nơi những người nghèo tìm tới để được khám bác sĩ và được phát thuốc miễn phí. Đó là một nơi cung cấp sự giúp đỡ nhân đạo khi bạn bị mất cha, hay có một người cha bỏ rơi gia đình hay khi gia đình bạn không có thu nhập gì cả và cũng không được nhận tiền trợ cấp.

Có những chiếc ghế băng được đặt bên ngoài các phòng khám. Những chiếc ghế ấy luôn chật ních những người ngồi nói về bệnh tật. Những ông già và những bà già ngồi trên ghế rên rỉ và than vãn, những đứa trẻ nhỏ thì kêu khóc inh cả lên còn những bà mẹ thì luôn miệng dỗ dành: “Nín đi, nín đi nào, con ngoan”, ở đó một cái bục với một cái bàn quầy cao đến ngang ngực. Khi bạn muốn gì đó bạn phải đứng xếp hàng trước bục đợi đến lượt gặp ông Coffey hoặc ông Kane. Những người đàn bà xếp hàng trước bục cũng giống như những người đàn bà xếp hàng ở hội thánh Vincent de Paul. Họ mang khăn choàng và họ phải nể ông Coffey và ông Kane bởi nếu không thì họ sẽ được các ông ấy bảo về nhà đợi đến tuần tới trong khi bạn đang cần giúp đỡ vào chính lúc này. Ông Coffey và ông Kane thích được cười trước những người đàn bà đến xin giúp đỡ. Họ sẽ quyết định bạn có đủ tuyệt vọng để được nhận sự trợ giúp hay không hoặc bạn đã ốm đến mức phải gặp bác sĩ hay chưa. Bạn phải kể tình cảnh và bệnh tình của bạn trước mặt mọi người và họ thường được một mẻ cười vì những gì bạn nói ra. Họ sẽ nói:

- Vậy bà muốn gì, bà O’Shea? Một giấy khám bệnh, đúng không nhỉ? Vậy rắc rối của bà là gì? Đau ở đâu à? Trúng gió chăng? Hay ăn quá nhiều bắp cải? Ô, bắp cải sẽ tự nó chữa trị thôi mà.

Và họ cười phá lên, bà O’Shea cũng cười và tất cả những người đàn bà khác có mật ở đó cũng cười và không quên khen ông Coffey và ông Kane là những người đàn ông vui tính.

Ông Coffey nói:

Nào, bà kia, tên bà là gì? Angela McCourt, thưa ông. Bà có chuyên gì? Là con trai tôi kia ạ. Cháu nó bị đau mắt. Ôi, lạy Chúa, quả đúng như vậy. Đôi mắt thằng bé trông tuyệt vọng thật. Chúng giống hệt như hai ông mặt trời vậy. Người Nhật có thể lấy để lên cờ của họ được đấy, ha ha ha. Bà đã đổ axít vào mặt thằng bé hay sao mà mắt nó ra nông nỗi ấy? Mắt cháu nó bị viêm thưa ông. Năm ngoái cháu nó bị thương hàn và bây giờ thì lại bị thế này. Được rồi, được rồi, chúng tôi không cần nghe chuyện của cả đời thằng bé. Đây, bà cầm giấy này tới gặp bác sĩ Troy. Hai chiếc ghế băng bên ngoài phòng khám của bác sĩ Troy đầy những bệnh nhân đang chờ khám. Mẹ tôi ngồi cạnh một bà già bị sưng mũi. Bà ấy nói:

Tôi đã thử các kiểu rồi, tất cả các kiểu chữa mẹo mà Chúa trời mách. Tôi tám mươi ba tuổi rồi và tôi muốn xuống mồ với một cơ thể lành lặn. Chẳng lẽ tôi muốn đi gặp Chúa của tôi với một cái mũi lành lặn cũng là đòi hỏi quá đáng sao? Còn cô, cô bị làm sao? Con trai cháu. Thằng bé bị đau mắt. Ôi, xin Chúa che chở cho chúng con, nhìn mắt thằng bé kìa. Tôi chưa thấy mắt ai đau nặng như mắt thằng bé. Tôi chưa thấy mắt ai đỏ như mắt nó. Mắt cháu nó bị viêm mà. Chắc chắn bài thuốc này chữa khỏi được cho nó. Cô phải kiếm được màng thai nhi. Đó là cái gì vậy? Đứa trẻ nào lúc sinh ra cũng có cái màng đó trên đầu, một thứ có phép màu đấy. Dùng một cái màng và chụp lên đầu thằng bé vào một ngày có dính số ba, bảo thằng bé nín thở trong ba phút cho dù cô phải tát nó đi nữa, vẩy nước thánh từ đầu đến chân nó ba lần và mắt nó sẽ sáng như trước. Cháu phải kiếm một cái màng như thế ở đâu ạ? Bà đỡ nào mà chả có. Thứ đó chữa được đủ các loại bệnh. Mẹ tôi bảo mẹ sẽ nói chuyên với y tá O’Halloran xem liệu cô ấy có thể để cho chúng tôi một cái màng thai nhi hay không.

Bác sỹ Troy khám mắt cho tôi và nói:

Đưa thằng bé này nhập viện ngay. Đưa nó tới khoa mắt ở City Home. Giấy giới thiệu đây. Cháu nó bị làm sao, thưa bác sĩ? Viêm kết mạc rất nặng, trường hợp nặng nhất tôi từng gặp và nó còn mắc bệnh gì đó tôi chưa thể nói chính xác được. Nó cần được một bác sĩ chuyên khoa mắt khám ngay. Cháu sẽ phải nằm viên bao lâu, thưa bác sĩ? Chỉ có Chúa mới biết. Đáng lẽ phải đưa nó đi khám từ lâu rồi mới phải. Phòng đó ở khoa mắt có hai mươi giường bệnh và có những người đàn ông và những đứa con trai quấn băng quanh đầu, đeo kính dày hoặc đắp gạc trên mắt. Mấy người lần đi giữa các giường vừa đi vừa chọc gậy lách cách để dò đường. Có một người đàn ông luôn kêu khóc rằng anh ta không bao giờ còn nhìn được nữa, rằng anh ta còn trẻ, con anh ta còn bé mà anh ta thì chẳng bao giờ còn được nhìn thấy chúng nữa. Anh ta gào lên:

Jésus Christ, ôi, Jésus Christ, và các y tá sửng sốt trước cách anh ta gọi tên Chúa. Thôi ngay đi, Maurice, đừng có báng bổ Chúa như vậy. Anh còn có sức khỏe. Anh còn sống. Tất cả chúng ta ai mà chẳng gặp rắc rối cơ chứ. Thôi đi, hãy nghĩ tới những đau đớn của Chúa trên cây thánh giá, hãy nghĩ đến những chùm gai trên đầu Người, nghĩ đến nhũng cái đinh đâm vào chân tay Người, và cả những vết thương khác mà Người phải chịu đựng. Maurice nói:

Ôi, Jésus, nhìn xuống mà rủ lòng thương con đi. Xơ Bemadette cảnh cáo nếu anh ta không cẩn thận cái mồm thì họ sẽ chuyển anh ta đến phòng cách ly. Vào buổi sáng tôi phải đi xuống tầng dưới để nhỏ thuốc. Cô y tá ra lệnh: “Ngồi lên chiếc ghế cao kia và cầm lấy cái kẹo này”. Ông bác sĩ cầm trên tay một cái lọ có chứa một thứ chất lỏng màu nâu. Ông ấy bảo tôi ngửa đầu ra sau, bảo tôi mở mắt và ông ấy nhỏ thứ thuốc màu nâu ấy vào mắt tôi và chao ôi, thứ thuốc đó giống như một ngọn lửa xuyên vào óc tôi vậy. Cô y tá nói: “Mở mắt bên kia ra nào, ngoan nào”. Và cô phải dùng tay vành mắt tôi ra cho ông bác sĩ đưa lửa xuyên vào óc tôi lần nữa. Cô y tá lau thuốc rơi trên má cho tôi và bảo tôi đi theo cô ấy lên gác nhưng tôi gần như không nhìn thấy gì và tôi chỉ muốn áp mặt xuống một dòng sông băng. Bác sỹ bảo tôi: “Nào, đi mau đi, hãy ra dáng đàn ông nào, hãy làm một chiến binh dũng cảm”.

Lần bước trên những bậc thang tôi thấy cả thế giới chỉ là một màu nâu lờ mờ. Những bệnh nhân khác đều đang ăn tại giường và khay thức ăn của tôi cũng được để sẵn ở đó rồi nhưng tôi không muốn ăn chút nào vì đầu tôi vẫn như có lửa đang cháy bên trong. Tôi ngồi xuống giường và một cậu bé đi đến trước mặt tôi nói: “Cậu không muốn ăn à? Vậy để tớ ăn cho” và cậu ta nhấc khay thức ăn của tôi lên mang đi.

Tôi cố nằm xuống giường nhưng một y tá nói: “Không, không, không được nằm nửa ngày nửa buổi thế này. Cậu đâu có bị bệnh nặng lắm đâu”.

Tôi phải ngồi với đôi mắt nhắm chặt và mọi thứ đối với tôi chỉ toàn màu nâu và đen, đen và nâu và tôi cứ chắc là tôi đang mơ bởi, Chúa ơi, tôi đang ngồi thì nghe thấy một giọng nói quen quen cất lên bên tai tôi:

Đó chẳng phải là anh bạn nhỏ năm ngoái bị thương hàn đó sao, Francis bé nhỏ. Ôi, trăng là một con thuyền bị lật giữa biển mây, cậu đấy sao, Francis, tôi đã nghỉ làm ở cái bệnh viện Fever đó rồi, ơn Chúa, bởi ở đó có đủ các mầm bệnh và cậu sẽ chẳng bao giờ chắc chắn được rằng cậu không mang về nhà cho vợ cậu những mầm bệnh dính trên quần áo, Francis, hai mắt cậu biến thành màu nâu cả rồi chứ gì? Cháu bị viêm, Seamus ạ. Rồi, cậu sẽ khỏi trước khi cậu lấy vợ thôi mà, Francis. Mắt cậu cũng cần được luyện đấy. Chớp mắt rất có lợi đấy. Tôi có một ông chú bị bệnh về mắt và chỉ nhờ chớp mắt mà ông ấy nhìn tốt hơn đấy. Mỗi ngày ông ấy tập chớp mắt một giờ và quả là cuối cùng mắt ông ấy khỏi thật. Tôi muốn hỏi thêm về chuyên chớp mắt nhưng Seamus nói:

Francis, cậu có nhớ bài thơ đó không, Francis, bài thơ tuyệt vời của Patricia ấy? Ông ấy đứng giữa lối đi trong phòng chống cán chổi đọc bài thơ và tất cả những bệnh nhân trong phòng không ai kêu rên nữa còn các y tá và các xơ thì đứng lại lắng nghe Seamus. Khi ông ấy đọc xong cả bài thơ, mọi người nhất loạt vỗ tay hoan hô và thế là Seamus nói với cả thế giới rằng ông ấy rất thích bài thơ đó, rằng ông ấy sẽ giữ nó mãi trong đầu cho dù ông ấy đi đâu và rằng nếu không phải vì Frank McCourt và căn bệnh thương hàn kia cùng Patricia Madigan bị mắc bệnh bạch hầu đã về bên Chúa thì ông ấy sẽ không bao giờ biết bài thơ ấy và thê là nhờ Seamus mà tôi trở nên nổi tiếng khắp khoa mắt của bệnh viện City Home.

Mẹ tôi không thể đến bệnh viện thăm tôi mỗi ngày được bởi vì viện cách nhà tôi rất xa. Không phải lúc nào mẹ tôi cũng có tiền để đi xe buýt mà đi bộ thì mẹ tôi lại bị đau chân. Mẹ tôi bảo mắt tôi trông đã đỡ hơn mặc dù bạn không thể nói gì khi mà mắt tôi lúc nào cũng đầy thứ thuốc nhỏ mắt màu nâu ấy, thứ thuốc có mùi và có màu như iốt và nếu đó là iốt thật thì chắc nó phải bốc cháy rồi. Tuy nhiên, người ta vẫn nói thuốc đắng giã tật mà. Một hôm trời ấm áp mẹ tôi xin phép được đưa tôi đi dạo quanh sân bệnh viện và thật tình cờ tôi nhìn thấy ông Timoney đang đứng dựa vào bức tường ở khu dành cho người già nhìn lên trời. Tôi muốn nói chuyện với ông ấy và tôi phải xin phép mẹ tôi bởi vì ở trong bệnh viện bạn chẳng bao giờ biết việc gì là đúng việc gì là sai.

Ông Timoney. Ai đấy?Ai hỏi ta thế này? Cháu đây, Frank McCourt, thưa ông. Francis, a, Francis. Chào ông Timoney, tôi là mẹ của cháu. Hai người thật tốt phúc. Ta chẳng có bạn bè, chẳng có họ hàng, chẳng có con Macushla nữa. Cậu làm gì ở nơi này thế, Francis? Cháu bị viêm mắt, thưa ông. Ôi, Chúa ơi, Francis, không phải là mắt. Ôi, cậu còn bé quá sao đã bị như vậy, trời ơi. Ông Timoney, ông có muốn cháu đọc cho ông không? Với đôi mắt đau ư, Francis? Ô, không, con trai ạ, hãy giữ gìn đôi mắt của cậu. Trong đầu ta đã có tất cả những gì ta cần rồi. Ta đủ thông minh để nhồi vào đầu mình nhiều thứ khi ta còn trẻ và bây giờ ta có cả một thư viện trong đầu rồi. Người Anh đã bắn chết vợ của ta. Người Ailen đánh chết con chó tội nghiệp của ta. Đó có phải là một trò đùa của thế giới này không nhỉ? Thế giới thì tồi tệ nhưng Chúa trời thì tốt - Mẹ tôi nói. Đúng thế. Chúa trời tạo ra thế giới, một thế giới tồi tệ, nhưng Chúa trời thì tốt. Chào nhé, Francis. Hãy để mắt cậu được nghỉ ngơi và khi nào khỏi mắt thì hãy nhớ đọc cho tới lúc nhắm mắt nhé. Chúng ta đã từng có những ngày vui vẻ với Jonathan Swift, đúng không, Francis? Vâng, đúng thế, thưa ông Timoney. Mẹ tôi đưa tôi trở lại phòng bệnh. Mẹ tôi bảo tôi:

Đừng khóc vì ông Timoney, ông ấy có phải là bố của con đâu. Với lại khóc sẽ có hại cho mắt con đấy. Mỗi tuần Seamus lại đến phòng tôi ba lần và lần nào đến ông ấy cũng mang tới một bài thơ mới ông ấy nhớ trong đầu. Ông ấy nói:

Khi cậu bảo Patricia rằng cậu không thích bài thơ về con cú và con mèo cậu đã làm cô bé buồn đấy Francis ạ. Cháu rất tiếc, Seamus. Tôi có bài thơ đó trong đầu đấy, Francis, và nếu cậu không bảo bài thơ đó ngớ ngẩn thì tôi sẽ “nói” nó cho cậu nghe. Cháu không nói thế nữa đâu. Ông ấy đọc bài thơ đó lên và tất cả mọi người trong phòng đều thích nó. Họ muốn học thuộc và Seamus phải đọc ba lần cho đến khi cả phòng cùng đồng thanh đọc.

Rồi một hôm Seamus đến chân tay không, không mang theo chổi và tôi cứ tưởng ông ấy mang đầy một túi thơ đến cho mọi người nhưng ông ấy chỉ mỉm cười và bảo với tôi rằng ông ấy sắp đi Anh làm việc trong một nhà máy để kiếm tiền đổi đời. Ông ấy nói sẽ làm việc ở đó hai tháng rồi sẽ đón vợ ông ấy sang và có thể Chúa trời sẽ rủ lòng thương ban cho họ con cái vì ông ấy phải làm gì đó với những bài thơ ông ấy giữ trong đầu và còn gì tốt hơn là đọc chúng cho những đứa con của chính ông ấy để tưởng nhớ tới Patricia dễ thương đã chết vì bệnh bạch hầu.

Tạm biệt, Francis. Nếu tôi biết viết chữ ra hồn thì tôi sẽ viết thư cho cậu nhưng khi nào vợ tôi sang bên ấy tôi sẽ bảo vợ tôi viết cho cậu. Có lẽ tôi phải học đọc học viết thôi để con tôi không bị trêu là có một ông bố ngốc nghếch. Tôi muốn khóc lắm nhưng bạn không thể khóc trong khoa mắt khi mà ngày nào người ta cũng bỏ công nhỏ vào mắt bạn thứ thuốc màu nâu rát như lửa ấy, nếu bạn làm vậy thì thế nào các y tá cũng nói: “Gì thế, gì thế, nam nhi kiểu gì thế”, và thế nào một xơ cũng bảo: “Thôi đi, hãy nghĩ đến những đau đớn mà Chúa của chúng ta phải chịu trên cây thánh giá, nghĩ đến những chùm gai trên đầu Người, những cái đinh đâm vào chân tay Người và cả những vết thương khác mà Người phải chịu đựng nữa”.

Tôi nằm viện đúng một tháng và mặc dầu mắt tôi vẫn chưa khỏi hẳn bác sĩ bảo tôi có thể về nhà được và rằng nếu tôi luôn nhớ rửa mật bằng xà bông và khăn sạch và chú ý bồi dưỡng bằng các thức ăn giàu dinh dưỡng như thịt bò và trứng thì chẳng bao lâu tôi sẽ có một đôi mắt sáng ngời ha ha.

Ông Downes từ nước Anh trở về vì mẹ ông ấy qua đời. Ông ấy kể với vợ mình về bố tôi. Vợ ông ấy lại đi kể với cô Bridey và cô Bridey kể lại cho mẹ tôi. Ông Downes nói rằng Malachy McCourt uống rượu như một kẻ mất trí, rằng con người ấy ném hết tiền lương của mình vào các quán rượu ở Coventry và mỗi lần uống say lại hát những bài hát phản kháng của người Ailen những bài hát mà người Anh chẳng thèm quan tâm bởi họ đã quá quen với cái cách người Ailen kêu ca về những nỗi khổ tám trăm năm của mình, nhưng họ không chịu đựng được bất cứ người nào đứng trước quán rượu lăng mạ Vua, Hoàng hậu, hai công chúa và cả Hoàng thái hậu nữa. Lăng mạ Hoàng thái hậu thì quá quắt lắm. Bà già tội nghiệp ấy đã làm gì ai bao giờ đâu cơ chứ? Lần nào Malachy cũng uống hết cả tiền thuê trọ và bị chủ trọ đuổi cổ không cho ở đến nỗi phải vào ngủ trong công viên. Malachy đúng là nỗi hổ thẹn thường trực và ông Downes mừng vì Malachy không phải là người Limerick nếu không con người ấy sẽ khiên cả cái thành phố cổ kính này phải xấu hổ. Quan chức của Coventry đang mất dần kiên nhẫn và nếu Malachy McCourt không thôi gây ra những chuyện khó chịu thì người ta sẽ đá con người ấy ra khỏi nước Anh.

Mẹ tôi bảo với cô Bridey rằng mẹ không biết phải làm gì trước những chuyện từ nước Anh, rằng trong đời mẹ chưa bao giờ cảm thấy tuyệt vọng đến thế. Mẹ tôi có thể thấy rõ Kathleen O’Connell không muốn bán chịu hàng cho mẹ tôi nữa, mẹ tôi bị bà ngoại mắng cho một trận khi mẹ hỏi vay bà một shilling, người ở hội thánh Vincent de Paul muốn biết bao giờ thì mẹ tôi ngừng đến xin họ cứu trợ khi mà mẹ có một người chồng đang làm việc ở Anh. Mẹ tôi xấu hổ vì chúng tôi phải mặc những bộ quần áo rách rưới, đi những đôi giày tồi tàn và những đôi tất thủng. Đêm mẹ tôi nằm nhắm mắt nhưng không ngủ mà chỉ mông lung nghĩ tới việc đưa bốn đứa con trai của mình vào trại trẻ mồ côi để mẹ tôi có thể đi Anh tìm một công việc gì đó để làm và đón chúng tôi sang cho chúng tôi một cuộc sống tốt hơn. 0 đó có thể có bom đạn nhưng mẹ tôi thích bom đạn hơn là cảm giác xấu hổ vì cứ phải đi cầu xin hết người này đến người khác.

Không, dù thế nào đi nữa mẹ tôi cũng không chịu nổi ý nghĩ đưa anh em tôi vào trại trẻ mồ côi. Nếu như các bạn có những trại trẻ như trại Boys ‘Town ở Mỹ với một linh mục tốt bụng như cha Spencer Tracy thì còn được nhưng bạn không bao giờ có thể tin tưởng những người ở một trại mồ côi như trại Glin những người cậy quyền đánh đập những bé trai và bỏ đói chúng không thương tiếc.

Mẹ tôi nói chẳng còn nơi nào nữa ngoài Bệnh xá miễn phí với trợ cấp công cộng và sự cứu tế và mẹ tôi sẽ hổ thẹn cả đời vì phải tới đó cầu xin người ta. Thê có nghĩa là bạn đã ở tận đầu cuối của một sợi dây thừng rồi và có lẽ chỉ hơn những người lang thang, những người ăn xin trên phố một chút thôi. Thế có nghĩa là bạn phải quỵ lụy trước ông Coffey và ông Kane và phải cảm ơn Chúa vì Bệnh xá miễn phí ở tận cuối Limerick nên mọi người trong ngõ sẽ không biết bạn đang đi xin cứu tế.

Mấy người phụ nữ mách mẹ tôi nên tới Bệnh xá miễn phí vào đầu giờ làm việc của ông Coffey và ông Kane vì vào lúc đó các ông ấy có thể vẫn còn tâm trạng dễ chịu. Nếu bạn đến vào tầm giữa buổi trở đi khi mà hai ông ấy đã gặp nhiều đàn ông đàn bà và trẻ con ốm yếu thì có lẽ họ sẽ cáu kỉnh với bạn. Mẹ tôi sẽ đưa chúng tôi đi cùng để chứng minh rằng mẹ tôi có bốn đứa con đang cần ăn uống. Mẹ tôi đánh thức chúng tôi dậy sớm và lần đầu tiên trong đời mình chúng tôi được mẹ bảo đừng rửa mặt, đừng chải đầu, và hãy mặc bộ quần áo nào rách rưới nhất. Mẹ tôi bảo tôi rụi mắt cho mắt đỏ lên bởi ở Despensary trông bạn càng tệ thì bạn càng đáng thương và càng có cơ hội nhận được sự cứu trợ. Mẹ tôi phàn nàn rằng trông Malachy và Michael khỏe mạnh quá và bạn sẽ không khỏi thắc mắc tại sao vào đúng cái hôm ấy chúng lại không có những cái đầu gối đóng vảy hay những vết thâm tím và những vết sứt xước như chúng vẫn có thường xuyên. Nếu chúng tôi gặp người trong ngõ hoặc những người quen ở ngoài phố thì chúng tôi không được phép nói với họ chúng tôi đang đi đâu. Không nói cho cả thế giới biết và đợi bà tôi phát hiện ra chuyện chúng tôi đi xin cứu tế mẹ tôi cũng đủ xấu hổ lắm rồi.

Khi chúng tôi đến Despensary, ở đó đã có nhiều người đợi ở bên ngoài. Có những bà mẹ ôm con giống như mẹ tôi và có những đứa bé bé như Alphie, và có những đứa trẻ biết chạy chơi như chúng tôi. Những bà mẹ vừa ôm những đứa bé chống lạnh cho chúng vừa hét những đứa đang chạy chơi để ngăn chúng không chạy ra đường ngộ nhỡ xe đâm phải. Những ông già và những bà già đứng dựa vào tường nói chuyện với nhau hoặc im lặng. Mẹ tôi bảo chúng tôi phải ở quanh đấy không được chạy lung tung. Chúng tôi đợi khoảng nửa tiếng thì cánh cửa lớn mở ra. Một người đàn ông bảo chúng tôi vào bên trong và xếp hàng trước bục, rằng ông Coffey và ông Kane còn đang uống trà. Một phụ nữ phàn nàn:

Hai ông ấy không thể uống mau lên hay sao, các con tôi sắp chết cóng đến nơi rồi. Người đàn ông kia nói bà ấy là người gây phiền toái nhưng lần này ông ấy sẽ cho qua không ghi tên bà ấy bởi trời quả là lạnh thật nhưng ông ta bảo nếu bà ấy kêu ca thêm một lời nào nữa là bà ấy sẽ phải hối tiếc.

Ông Coffey và ông Kane đi đến ngồi tại chiếc bàn quầy và không để ý gì đến những người đang chờ đợi họ. Ông Kane đeo cặp kính của ông ấy vào, gỡ chúng ra, lau đi lau lại hai mắt kính, lại đeo kính vào, và nhìn lên trần nhà. Ông Coffey đọc báo, ghi chép gì đó, rồi đưa tờ báo cho ông Kane. Họ thì thầm với nhau. Họ nhẩn nha. Họ không nhìn chúng tôi.

Rồi ông Kane gọi người đầu tiên:

Tên ông là gì? Timothy Creagh, thưa ông. Creagh, ha? Một cái tên cổ hay của Limerick đây. Vâng, thưa ông. Ông cần gì ông Creagh? Vâng, dạ dày của tôi lại đau nên tôi muốn được bác sĩ Feeley khám cho, thưa ông. Ô, ông Creagh, ông có chắc là không phải rượu đã làm ông đau lại không? Ô, không phải do rượu đâu, thưa ông. Từ lâu tôi không đụng đến một giọt rượu nào. Vợ tôi cũng ốm nặng và tôi phải chăm sóc bà ấy. Trên thế giới này có nhiều kẻ lười biếng lắm. Ông Creagh ạ. Và ông Kane nhìn xuống nói với những người đang xếp hàng. Các ông bà có nghe thấy không? Có nhiều kẻ lười biếng lắm, đúng không? Và những người đứng xếp hàng đồng thanh:

Đúng thế, thưa ông Kane, nhiều kẻ lười biếng lắm. Ông Creagh nhận giấy khám bác sĩ, những người xếp hàng đứng nhích lên và ông Kane sắp sửa hỏi đến mẹ tôi.

Bà cần sự cứu tế phải không? Vâng, thưa ông Kane. Thế chồng bà đâu? Chồng tôi đang ở Anh, nhưng ... Ở Anh ư? Vậy tiền gửi về hàng tuần đâu, những món tiền năm bảng to ấy? Từ khi đi sang đó chồng tôi chưa gửi về cho chúng tôi một xu nào, thưa ông Kane. Thật ư? Ô, chúng ta biết tại sao, đúng không? Chúng ta biết những người đàn ông Ailen đến Anh để làm gì. Chúng ta biết có người nhìn thấy vài người đàn ông Ailen chơi bời cùng với bọn gái điếm Piccadilly, đúng không? Ông ta nhìn xuống những người đứng xếp hàng và những người đó biết rằng họ phải nói:

Đúng, thưa ông Kane, và họ biết họ phải nặn ra những nụ cười thậm chí phải cười to nếu không đến khi họ lên bục họ sẽ gặp khó khăn. Họ biết ông Kane sẽ đẩy họ sang cho ông Coffey mà ông Coffey thì nổi tiếng là người hay nói không. Mẹ tôi nói với ông Kane rằng bố chúng tôi đang ở Convetry và nơi ấy cách xa Piccadilly và ông Kane bỏ kính xuống nhìn mẹ tôi trừng trừng:

Gì cơ? Chúng ta đang có một bất đồng nhỏ ở đây chăng? Ô, không, thưa ông Kane. Tôi muốn bà biết rằng, chính sách ở đây không cho phép những phụ nữ có chồng đang ở Anh được hưởng cứu tế. Tôi muốn nói cho bà biết rằng bà đang giật miếng bánh từ miệng của những người đáng được nhận bánh hơn. Ô, vâng. Thưa ông Kane. Tên bà là gì nhỉ? McCourt, thưa ông. Đây không phải là một cái tên Limerick. Do đâu mà bà có cái tên này? Từ chồng tôi, thưa ông. Chồng tôi là người miền Bắc. Chồng bà là người miền Bắc mà lại để bà đến đây xin cứu tế từ nước Ailen Tự Do ư? Chẳng phải đây là điều chúng ta đã đấu tranh ư? Tôi không biết, thưa ông. Tại sao bà không đi đến Belfast và hỏi xem những người đàn ông của Orange có thể làm gì cho bà, hả? Tôi không biết, thưa ông. Bà không biết. Tất nhiên bà không biết. Trên thế giới này có nhiều cái gọi là không biết lắm. Ông ta nhìn xuống những người đứng xếp hàng:

Tôi nói rằng trên thế giới này có nhiều cái gọi là không biết lắm. Và những người xép hàng trước bục gật đầu đồng thanh:

Đúng thế, thưa ông. Ông ta thì thầm gì đó với ông Coffey và cả hai người cùng nhìn mẹ tôi, họ nhìn anh em tôi. Cuối cùng ông ấy nói rằng mẹ tôi có thể hưởng sự cứu tế nhưng nếu mẹ tôi nhận được dù chỉ một xu bố tôi gửi về thì mẹ tôi không được kêu ca gì hết mà phải gửi trả lại tiền cứu tế cho Bệnh xá miễn phí. Mẹ tôi hứa là mẹ tôi sẽ làm như họ nói và chúng tôi ra về.

Chúng tôi theo mẹ đến cửa hàng Kathleen O’Connell để lấy trà và bánh mì cùng một ít than bùn để đun. Chúng tôi trèo lên gác và nhóm bếp ở trên đó để pha trà. Tất cả chúng tôi im lặng, thậm chí cả Aphie cũng vậy, bởi chúng tôi biết ông Kane đã làm gì mẹ tôi.

10

 

Thời tiết ở Ailen lạnh và ẩm ướt nhưng chúng tôi ở cả trên gác. Mẹ tôi bảo rằng chúng tôi nên mang bức tranh Giáo hoàng lên trên gác treo ở gần cửa sổ. Dù sao Giáo hoàng cũng là một người bạn của dân lao động, ông ấy là người Ý mà người Ý thì ưa thời tiết ấm áp. Mẹ tôi ngồi bên bếp, người khẽ run, và chúng tôi biết khi mẹ không thèm động đến một điếu thuốc có nghĩa là có gì đó rất tệ. Mẹ tôi nói mẹ rét và mẹ muốn uống thứ gì đó chua, một cốc nước chanh chẳng hạn. Nhưng trong nhà chúng tôi không còn một xu, thậm chí buổi sáng còn không có bánh mì để ăn. Mẹ tôi uống trà và đi nằm.

Cả đêm giường của chúng tôi cứ chốc chốc lại cọt kẹt vì mẹ tôi trở mình liên tục và mẹ làm chúng tôi không thể ngủ được vì thỉnh thoảng lại rên rỉ đòi uống nước. Sáng ra mẹ tôi không dậy mà nằm đó run và rên, và tất cả chúng tôi đều im lặng. Nếu mẹ tôi không dậy thì tôi và Malachy sẽ bị muộn học. Nhiều giờ trôi qua mẹ tôi vẫn không dậy và khi tôi biết đã quá giờ vào lớp rồi tôi bắt đầu nhóm bếp đun ấm nước. Mẹ tôi vật vã đòi uống nước chanh nhưng tôi chỉ có thể đưa cho mẹ một cốc nước lọc. Tôi hỏi mẹ tôi có muốn uống trà không và mẹ tôi phản ứng như thể một người điếc vậy. Mật mẹ tôi đỏ bừng và thật lạ là mẹ tôi chẳng nhắc gì tới thuốc lá.

Anh em tôi ngồi lặng im bên bếp, Malachy, Michael, Alphie, và tôi. Chúng tôi uống trà còn Alphie thì nhai mẩu bánh mì chấm đường cuối cùng. Nó quệt tay làm đường dính lên mũi lên má khiến chúng tỏi buồn cười. Nhưng chúng tôi không thể cười to nếu không mẹ tôi sẽ dậy bắt tôi và Malachy đi học và chúng tôi sẽ bị phạt đến chết mất vì tội đi học muộn. Chúng tôi không cười lâu được, không còn bánh nữa mà chúng tôi thì đói, cả bốn anh em tôi đều đói. Chúng tôi không được bà Kathleen bán chịu hàng cho nữa. Chúng tôi cũng không thể bén mảng đến gần bà tôi được. Hễ trông thấy mặt chúng tôi là bà tôi lại mắng mỏ chúng tôi vì bố tôi là người miền Bắc và vì bố tôi ở Anh không gửi một xu nào về cho mẹ con tôi. Bà tôi nói chúng tôi có thể chết đói vì sự thiếu quan tâm của bố tôi. Bà tôi bảo như thế mẹ tôi sẽ được một bài học vì ai bảo mẹ tôi lại đi lấy một người đàn ông miền Bắc, một người tính khí kỳ quặc.

Tuy nhiên, tôi sẽ phải thử đến cửa hàng của bà Kathleen O’Connell một lần nữa. Tôi sẽ nói với bà ấy rằng mẹ tôi đang ốm, các em tôi đang đói và chúng tôi rất muốn có một ít bánh mì.

Tôi đi giày vào và chạy băng qua các con phố để giữ người tôi khỏi cóng bởi thời tiết tháng Hai sương giá. Nhìn qua những ô cửa sổ bạn có thể thấy được cảnh ấm cúng bên trong những căn bếp nơi có lò sưởi ấm, nơi mọi thứ đều ánh lên dưới ánh điện, nơi có những chiếc cốc, những chiếc khay được đật trên những chiếc bàn cùng với những đĩa bánh cắt lát và những bình mứt bình bơ và chỉ cần ngửi mùi trứng và mùi giăm bông tỏa ra từ những ô cửa ấy cũng đủ làm bạn ứa nước miếng rồi và còn cảnh các gia đình quây quần với những bà mẹ đeo tạp dề bận rộn nấu ăn hoặc rửa bát và dù Chúa Jésus từ trên tường nhìn xuống với dáng vẻ buồn bã nhưng họ vẫn hạnh phúc vì có thức ăn ngon, có điện sáng và vì họ vẫn là những tín đồ ngoan đạo.

Tôi cố tìm trong đầu một bài hát nhưng tôi chỉ thấy tiếng rên rỉ đòi uống nước chanh của mẹ tôi mà thôi.

Nước chanh. Có một xe chở hàng vừa rời quán South bỏ lại bên ngoài quán những sọt đựng những chai bia cùng những chai nước chanh và trên phố lúc ấy không có một bóng người. Trong khoảng hai giây tôi đã lấy được hai chai nước chanh thủ vào trong áo và lại bước đi thong thả như không.

Bên ngoài cửa hàng của bà Kathleen O’Connell có một xe chở bánh mì. Cửa sau của xe hàng để mở và tôi có thể nhìn rõ hơi bánh mì nóng bốc ra từ đó. Người lái xe đang ở trong cửa hàng uống trà với bà Kathleen và chẳng khó khăn gì tôi cũng kiếm được cho mình một ổ bánh mì nóng. Thật không phải chút nào khi lấy cắp của bà Kathleen O’Connell vì bà ấy luôn tử tế với chúng tôi nhưng nếu tôi vào cửa hàng hỏi xin bánh thì bà ấy sẽ nổi giận và mắng rằng tôi đã làm hỏng bữa uống trà sáng của bà ấy trong khi bà ấy luôn thích được thưởng thức trà trong yên tĩnh. Tôi giấu chiếc bánh vào trong áo và tự hứa với mình rằng khi nào đi xưng tội tôi sẽ nói ra tất cả.

Các em tôi đang ở trên giường chơi cùng những chiếc áo khoác nhưng khi nhìn thấy bánh mì một cái là chúng nhảy cả xuống đất. Chúng tôi đói qua không kịp cắt bánh mà xé thành từng miếng mà nhai. Malachy cầm chai nước chanh đặt vào môi mẹ tôi và mẹ tôi uống ừng ực cho tới khi chai nước chanh không còn một giọt. Nếu mẹ tôi thích uống thứ nước đó như vây thì tôi có thể kiếm thêm cho mẹ.

Chúng tôi cho chỗ than cuối cùng vào bếp và ngồi quanh bếp bịa ra những câu chuyện giống như bố tôi thường bịa. Tôi kể cho các em tôi nghe chuyến phiêu lưu của tôi với những chai nước chanh và chiếc bánh mì và tôi bịa ra tình tiết tôi bị các chủ quán rượu và các chủ cửa hàng truy đuổi và cảnh tôi chạy vào nhà thờ thánh Joseph nơi không ai có thể đuổi theo bạn cho dù bạn là một tên tội phạm thậm chí cho dù bạn đã giết mẹ đẻ của mình đi nữa. Malachy và Michael sửng sốt khi nghe tôi kể tôi đã lấy trộm nước chanh và bánh mì như thê nào nhưng rồi Malachy nói đó chỉ là những việc mà Robin Hood thường làm, trộm của người giàu chia cho người nghèo. Michael bảo tôi là một kẻ ngoài vòng pháp luật và nếu họ tóm được tôi họ sẽ treo cổ tôi lên cái cây cao nhất ở công viên People giống như những kẻ ngoài vòng pháp luật bị treo cổ trong các bộ phim chiếu ở rạp Lyric. Malachy nói tôi nên chắc là tôi được ban ân bởi nếu không sẽ khó mà tìm được một linh mục rửa tội cho tôi khi tôi bị treo cổ. Tôi bảo rằng nhất định sẽ có linh mục đến buổi treo cổ. Những linh mục là để cho những dịp đó mà. Roddy McCorley có một linh mục và Kevin Barry cũng vậy. Malachy nói lúc Roddy McCorley và Kevin Barry bị treo cổ không có linh mục nào có mặt bởi trong các bài hát về họ đâu có nhắc tới linh mục nào và nó bắt đầu cao giọng hát những bài hát về Roody McCorley và Kevin Barry để chứng minh điều đó cho tới khi mẹ tôi rên rỉ và quát nó câm miệng.

Em Alphie lim dim buồn ngủ rồi ngủ ngay trên sàn cạnh bếp lò. Mặc dù chúng tôi không muốn nó bị lây bệnh từ mẹ tôi không muốn nó chết chúng tôi vẫn phải bê em lên giường đặt nó nằm cạnh mẹ tôi để nó được ấm. Nếu mẹ tôi thức dậy mà thấy em tôi chết trên giường bên cạnh mẹ thì không biết mẹ sẽ kêu khóc đến bao giờ và chắc chắn mẹ sẽ oán trách tôi trước tiên.

Ba chúng tôi cũng vào giường nằm co ro trong những chiếc áo cũ và cố không lăn vào chỗ đệm thủng. Chúng tôi nằm như thế khá dễ chịu nhưng rồi Michael bắt đầu lo về việc Alphie bị lây bệnh của mẹ tôi và cả chuyện tôi sẽ bị treo cổ không có mặt cha xứ. Nó bảo mọi người trên thế giới đều có nhiều anh em nên thật không công bằng khi nó chỉ còn duy nhất một người anh. Nó ngủ thiếp đi trong lo lắng, Malachy cũng lơ mơ còn tôi nằm đó nghĩ tới mứt. Có thêm một chiếc bánh mì và một lọ mứt dâu tây hay bất cứ lọ mứt gì chẳng phải tuyệt lắm sao. Tôi không nhớ là đã bao giờ tôi trông thấy một xe chở mứt chưa và tôi không muốn giống như Jesse James mang vũ khí chạy vào cửa hàng đòi người ta phải đưa cho mình một lọ mứt. Làm thế chắc chắn sẽ bị treo cổ thôi.

Có ánh nắng chiếu vào qua cửa sổ và tôi chắc bên ngoài hẳn phải ấm áp hơn và lẽ nào các em tôi lại không ngạc nhiên khi chúng tỉnh dậy thấy tôi cùng với bánh mì và mứt. Chúng sẽ ăn ngấu nghiến mọi thứ và sẽ lại lải nhải về tội lỗi của tôi và cả chuyện treo cổ nữa.

Mẹ tôi vẫn đang ngủ mê man mặc dầu mặt mẹ rất đỏ và tiếng gáy của mẹ nghe không được đều.

Tôi phải cẩn thận khi đi trên phố bởi nếu ông bảo vệ Dennehy mà nhìn thấy tôi thì ông ấy sẽ lôi cổ tôi về trường và thầy O’Halloran sẽ phạt tôi trước lớp mất. Ông bảo vệ chịu trách nhiệm về vấn đề sĩ số của trường và ông ấy thích dùng xe đạp đuổi bắt bạn và xách tai bạn lôi về trường.

Bên ngoài cửa của một căn nhà lớn ở phố Barrington có một cái hộp. Tôi giả vờ đến gõ cửa để nhìn vào trong hộp và tôi thấy trong đó có một bình sữa, một chiếc bánh mì, pho mát, cà chua, và ôi Chúa ơi, một lọ mứt cam. Tôi không thể giấu tất cả các thứ đó trong áo được. Ôi, Chúa ơi. Tôi có nên lấy cả hộp không nhỉ? Những người đi đường chẳng chú ý gì hết. Tôi có thể bê cả hộp. Mẹ tôi từng bảo dù bạn lấy trộm một con cừu to hay một con cừu non cũng thế cả thôi, bạn có thể bị treo cổ. Tôi nhấc chiếc hộp lên và cô làm ra vẻ như mình là một đứa trẻ đi đưa hàng và chẳng ai để ý tôi hết.

Malachy và Michael đã chờ sẵn ngoài cửa và khi chúng nhìn thấy những thứ trong chiếc hộp tôi mang về chúng không chần chừ giây nào mà chộp ngay lấy chiếc bánh mì bẻ ra lấy mứt chấm. Alphie vừa mút mứt vừa bôi mứt lên mặt lên tóc lên chân nó. Chúng tôi nhúng thức ăn vào chỗ trà đã nguội ngắt bởi vì bếp không còn lửa nữa.

Mẹ tôi lại rên rỉ đòi uống nước chanh và thế là tôi cho mẹ uống nửa chai nước chanh thứ hai để mẹ tôi nằm yên. Mẹ tôi đòi uống nữa và tôi rót thêm nước vào chỗ nước chanh còn lại trong chai để mẹ tôi dùng được lâu hơn bởi tôi không thể cả đời chạy ra phố lấy trộm nước chanh của người ta được. Chúng tôi tạm ổn được một lúc cho tới khi mẹ tôi bắt đầu mê sảng gọi tên em gái và hai đứa em trai đã mất của tôi, mẹ tôi than thở vì sao các em tôi bỏ mẹ tôi ra đi khi chúng còn quá bé như vậy, than thở tại sao Thượng Đế lại không để những điều tang thương ấy xảy ra với người giàu, than thở tại sao nhà chúng tôi không có nổi một chai nước chanh. Michael hỏi chúng tôi rằng liệu mẹ tôi có chết không và Malachy bảo với nó rằng người ta không thể chết trước khi một linh mục tới. Rồi Michael lại hỏi chúng tôi có thể nhóm bếp lên và pha trà hay không bởi vì nó đang rét run ở trên giường với những chiếc áo khoác cũ rách. Malachy nói chúng tôi nên đến từng nhà hỏi xin than và củi và sẽ dùng xe nôi của Alphie chở than. Chúng tôi nên mang Alphie theo bởi nó còn bé và nó hay cười và nếu người ta nhìn thấy nó người ta sẽ mủi lòng. Chúng tôi cố rửa những vết bẩn trên người Alphie nhưng khi chúng tôi để nước tiếp xúc với da của nó nó hét lên hoảng sợ. Michael bảo vào trong xe nôi đựng than là Alphie lại bẩn ngay vì thế rửa ráy cho nó chỉ phí công. Michael nhỏ tuổi nhưng nó luôn nói những câu khôn ngoan như vậy.

Chúng tôi đẩy xe nôi tới đại lộ của những người giàu có nhưng khi chúng tôi gõ cửa những người hầu ló mặt ra bảo chúng tôi hãy đi ngay nếu không họ sẽ gọi nhà chức trách tới và thật là nhục nhã khi phải đẩy một chiếc xe nôi tồi tàn, dơ dáy, bốc mùi lên tận trời, một chiếc xe không đáng dùng để chở một con lợn đến lò mổ đi khắp các phố và thật nhục nhã khi bạn phải làm việc đó ở một đất nước Công giáo nơi mà trẻ con đáng lẽ phải được yêu chiều và phải được nuôi sống để truyền Đức tin từ thế hệ này sang thế hệ khác. Malachy rủa một cô hầu hôn mông nó và thế là cô ta tát nó một cái khiến nó rớm nước mắt và nó bảo từ giờ trở đi nó không thèm đến xin gì của nhà giàu nữa. Nó bảo đi xin như thế cũng chẳng ích gì, rằng chúng tôi sẽ đi vòng ra phía sau những ngôi nhà đó và trèo tường vào mà lấy bất cứ thứ gì chúng tôi muốn. Michael sẽ rung chuông cửa trước và sẽ giữ chân những người hầu để tôi và Malachy ném than ra qua tường rồi chất than lên xe nôi quanh Alphie.

Theo cách đó chúng tôi lấy được than của mấy nhà nhưng rồi Malachy ném một cục than qua tường không may trúng vào người Alphie khiến Alphie khóc thét lên buộc chúng tôi phải bỏ mặc Michael đấy mà chạy. Malachy nói chúng tôi nên mang than về nhà trước sau đó sẽ đến tìm Michael. Bây giờ chúng tôi không thể dừng lại vì Alphie khóc khiến mọi người ném về phía chúng tôi những cái nhìn khó chịu như thể muốn nói rằng chúng tôi là nỗi hổ thẹn của mẹ chúng tôi nói riêng và của cả Ailen nói chung.

Về tới nhà chúng tôi phải mất một một lúc mới đưa được Alphie ra khỏi xe than và nó cứ khóc liên hồi khiến tôi phải lấy chút bánh mì và mứt còn lại ra dỗ nó. Tôi cứ sợ mẹ tôi sẽ lao ra khỏi giường nhưng mẹ tôi vẫn nằm đó lảm nhảm về bố tôi, về rượu và về những đứa em đã qua đời của tôi.

Malachy tìm được Michael về, và cùng với chúng là những câu chuyện rung chuông cửa. Một người phụ nữ rất giàu mở cửa và bảo Michael vào bếp nhà bà ấy ăn bánh, uống sữa, ăn bánh mì và mứt. Bà ấy hỏi về gia đình chúng tôi và nó nói với bà ấy rằng bố chúng tôi có một công việc rất khá ở Anh nhưng mẹ chúng tôi đang bị ốm rất nặng và chỉ luôn miệng đòi uống nước cam. Người phụ nữ giàu có đó muốn biết ai đang chăm sóc chúng tôi và Michael khoe rằng chúng tôi tự trồng nhau, rằng chúng tôi đầy bánh mì và mứt cam. Người phụ nữ đó ghi tên và địa chỉ của Michael, khen nó ngoan và bảo nó về nhà với mẹ và các anh.

Malachy mắng Michael là đồ ngốc đã nói cho cái bà nhà giàu ấy mọi chuyện. Nó bảo giờ thì bà ta sẽ đi tố cáo chúng tôi và chúng tôi chưa kịp biết tí gì thì các linh mục của cả thế giới đã đến gõ cửa nhà chúng tôi rồi.

Nó vừa nói dứt lời thì bỗng có tiếng đập cửa dồn dập. Nhưng đó không phải là một linh mục mà là ông bảo vệ Dennehy. Ông ta vừa đập cửa vừa gọi to:

Chào, có ai ở nhà không? Bà có nhà không bà McCourt? Michael nhanh nhảu chạy ra gõ gõ vào cửa sổ và vẫy ông bảo vệ. Tôi tức quá đá cho nó một cái còn Malachy thì tung một quả đấm cảnh cáo và thế là Michael la lên:

Em sẽ nói cho ông bảo vệ biết. Em sẽ nói cho ông ấy biết. Các anh ấy giết cháu, ông bảo vệ ơi. Các anh ấy đấm đá cháu đây này. Nó không chịu im còn ông bảo vệ thì quát inh cả lên bắt chúng tôi phải mở cửa. Tôi thò đầu qua cửa sổ bảo với ông ấy rằng tôi không thể mở cửa được bởi vì mẹ tôi đang bị mắc một căn bệnh nguy hiểm.

Thê bố các cậu đâu hả? Bố cháu ở Anh. Vậy thì tôi phải nói chuyện với mẹ các cậu. Ông không thể. Ông không thể. Mẹ cháu bị bệnh nặng. Tất cả chúng cháu đều bị bệnh. Có lẽ bị thương hàn. Chúng cháu đã bị những vết đỏ rồi đây này. Em Alphie đã bị mọc bướu. Bệnh chết người đấy ông ạ. Mặc chúng tôi nói gì ông bảo vệ cứ đẩy cửa vào và xuất hiện ở trên gác đúng lúc Alphie chui từ dưới gầm giường ra mắt mũi lấm lem. Ông bảo vệ nhìn nó và mẹ tôi rồi bỏ mũ ra đưa tay lên gãi đầu. Ông ấy nói:

Lạy Chúa Jésus, thánh Maria và thánh Joseph, đây đúng là một trường hợp tuyệt vọng còn gì. Sao mẹ các cậu lại ốm đến nông nổi này? Tôi bảo với ông ấy rằng không nên đến gần mẹ tôi còn Malachy thì bảo rằng chúng tôi còn lâu mới lại đi học tiếp được nhưng ông bảo vệ nói cho dù có chuyện gì đi nữa chúng tôi vẫn phải đi học, rằng chúng tôi có mặt trên đời là để đi học còn ông ấy có mặt trên đời là để đảm bảo rằng chúng tôi phải có mặt ở trường. Ông ấy muốn biết chúng tôi có họ hàng thân thuộc gì không và rồi ông ấy bắt tôi đi gọi bà tôi và bác Aggie.

Họ mắng tôi té tát và bảo tôi là đổ bẩn thỉu. Tôi cố giải thích rằng mẹ tôi ốm và tôi thì phải vất vả lo cho tất cả nhà, phải giữ lửa trong bếp, phải kiếm nước chanh cho mẹ tôi và bánh mì cho các em tôi. Có kể với họ về mứt cam cũng chẳng ích gì bởi họ sẽ lại mắng tôi thôi. Và cũng chẳng phàn nàn với họ về thái độ của những người giàu làm gì.

Họ dong tôi về nhà, mắng tôi suốt dọc đường khiến tôi xấu hổ. Ông bảo vệ vẫn đứng đó gãi đầu. Ông ấy nói:

Xem đấy, đúng là một sự nhục nhã. Ó Bombay và Bowery ở New York cũng chẳng có những cảnh như thế này đâu. Bà tôi nhìn mẹ tôi than vãn:

Lạy Chúa, Angela, Con bị làm sao thê này? Những người đó đã làm gì con? Mẹ tôi liếm đôi môi khô nẻ của mình và rên ri đòi uống nước chanh:

Mẹ đòi uống nước chanh đấy, - Michael nói, - Chúng cháu lấy trộm nước chanh cho mẹ và còn lấy trộm cả bánh mì và mứt cam nữa, bây giờ tất cả chúng cháu đều là tội phạm. Frankie thành tội phạm trước, chúng cháu đi lấy trộm than thành tội phạm sau. Ông bảo vệ có vẻ thích câu chuyện của Michael, ông ấy đưa nó xuống nhà và mấy phút sau chúng tôi nghe thấy tiếng ông ấy cười. Bác Aggie nói chúng tôi làm như thế với một người mẹ ốm nằm trên giường thật đáng xấu hổ. Ông bảo vệ quay lên gác bảo bác Aggie nên tìm bác sĩ cho mẹ tôi. Mỗi khi ông ấy nhìn tôi và các em tôi ông ấy lại lấy mũ che mặt và nói:

Những đứa-trẻ tuyệt vọng, đúng là những đứa trẻ tuyệt vọng. Bác Aggie đưa bác sĩ tới và ông ấy đưa ngay mẹ tôi vào bệnh viện bằng ô tô của mình vì ông ấy bảo mẹ tôi bị viêm phổi. Anh em chúng tôi muốn được ngồi xe ô tô của ông bác sĩ nhưng bác Aggie quát:

Không được, tất cả chúng mày phải đến nhà tao cho đến khi nào mẹ chúng mày được ra viện. Tôi bảo với bác ấy rằng bác ấy không phải lo. Tôi mười một tuổi và tôi có thể trông các em tôi được. Tôi vui vì được ở nhà không phải đi học và tôi nói tôi sẽ đảm bảo các em tôi được ăn uống và tắm rửa. Nhưng bà tôi hét lên rằng tôi không được làm thế còn bác Aggie thì đấm tôi một cái. Ong bảo vệ bảo tôi còn quá nhỏ không thể làm tội phạm cũng không thể làm một người cha được nhưng tôi rất có triển vọng trong cả hai vai trò này.

Mặc quần áo vào mau lên - Bác Aggie quát. - Chúng mày sẽ đến nhà tao cho tới khi mẹ chúng mày được ra viện. Lạy Chúa, đứa trẻ này đúng là một sự nhục nhã. Bác ấy tìm được một mảnh tã và quấn quanh đít Alphie để nó khỏi bậy ra xe nôi. Rồi bác ấy nhìn chúng tôi và quát: “Sao còn đứng ngây ra đó không đi mặc quần áo đi hả?” Tôi sợ bác ấy sẽ đánh tôi khi tôi nói rằng quần áo của chúng tôi đã ở cả trên người chúng tôi rồi. Nhưng bác ấy chỉ nhìn tôi trừng trừng và lắc đầu chán ngán. Bác ấy bảo tôi cho nước và đưòng vào chai cho Alphie. Bác ấy bảo tôi đẩy xe qua các phố vì bác ấy không thể đẩy cái xe bẩn thỉu nặng như đeo đá không đáng để chở một con chó ghẻ ấy. Bác ấy vớ ba cái áo khoác cũ ở trên giường ấn chúng vào xe và nếu bạn nhìn không tinh thì bạn không thể thấy Alphie ở trong xe.

Bà tôi đi cùng chúng tôi từ ngõ Roden đến căn hộ của bác Aggie ở phố Windmill: “Mày không thể đẩy cái xe ấy cho ngay ngắn được sao? Lạy Chúa, mày giết nó mất. Đừng có để xe lắc như thế nếu không tao sẽ tát cho đấy”. Bà tôi không vào nhà bác Aggie. Bà tôi không thể chịu đựng nổi chúng tôi thêm một phút nào nữa. Bà tôi đã chán cả bầu đàn thê tử nhà McCourt từ cái ngày bà tôi phải gửi tiền mua vé cho sáu chúng tôi từ Mỹ về Ailen, rồi bỏ tiền ra lo đám tang cho các em, rồi cho chúng tôi thức ăn mỗi khi bố tôi uống rượu hết cả tiền trợ cấp, rồi giúp mẹ tôi sống qua ngày trong khi người bố nát rượu của tôi đổ hết tiền lương mà nước Anh trả vào cổ chai. Ôi, bà đã ngán lắm rồi, ngán lắm rồi, và bà quay gót bước đi xuống phố Herry, kéo chiếc khăn choàng đen chùm lên mái đầu tóc trắng của bà.

Khi bạn mười một tuổi và các em bạn đứa lên mười, đứa lên năm, đứa mới chỉ một tuổi bạn sẽ không biết phải làm gì khi bạn đến nhà người khác cho dù đó là nhà của bác ruột bạn. Người ta bảo bạn bế em bé vào bếp nhưng đó đâu phải là nhà của bạn và khi đã vào trong bếp rồi bạn không biết phải làm gì vì bạn sợ bác của bạn sẽ mắng hoặc đánh vào đầu bạn. Bác Aggie cởi áo khoác của bác ấy ra và cất nó vào phòng ngủ và bạn bế em đứng đó đợi nghe lệnh mới. Nếu bạn bước một bước lên phía trước hoặc bước một bước sang ngang là bác Aggie sẽ ra và hỏi bạn đi đâu và bạn không biết phải trả lời thế nào bởi chính bạn cũng đâu có biết. Nếu bạn nói gì với các em bạn thì có thể bác Aggie sẽ nói “mày nghĩ mày đang nói chuyện với ai trong bếp nhà tao hả?” Chúng tôi phải đứng và phải im lặng và điều đó quả là khó khi mà tiếng tong tong vọng ra từ phòng ngủ nghe rõ mồn một và chúng tôi biết bác Aggie đang đi tiểu ở trong đó. Tôi không dám nhìn Malachy. Nếu tôi mà nhìn nó thì tôi sẽ cười ngay, nó cũng sẽ cười rồi Michael cũng sẽ cười và nếu chúng tôi mà cười thành tiếng thì chúng tôi sẽ nguy mất và nếu chúng tôi mà cười thì hình ảnh cái mông to bè của bác Aggie trên một cái bô hoa văn nhỏ tẹo hiện lên trong đầu chúng tôi sẽ khiến chúng tôi cười đến mấy ngày không dừng lại được mất. Tôi có thể nhịn cười được. Tôi sẽ không cười. Malachy và Michael sẽ không cười và rõ ràng là chúng tôi tự hào vì mình đã không cười, không gây rắc rối với bác Aggie cho tới khi Alphie trên tay tôi cười và nói Goo goo và thế là chúng tôi không nhịn được nữa. Chúng tôi phá lên cười và Alphie với cái mặt bẩn thỉu cũng cười và nói Goo goo cho tới khi chúng tôi cười rũ cả người ra và bác Aggie hét lên, chạy tới giáng cho tôi một cú đấm vào đầu khiến tôi và cả Alphie tưởng chừng như dính vào tường. Bác ấy cũng đánh cả Malachy và cố đánh cả Michael nữa nhưng nó nhanh chân chạy sang phía bên kia chiếc bàn tròn khiến bác ấy không chạm tay đến nó được. Bác ấy gào lên: “Lại đây mau. Tao sẽ cho cái miệng của mày mất cười” nhưng Michael vẫn chạy quanh bàn còn bác Aggie thì béo quá nên chẳng thể nào tóm được nó. Bác ấy tức tối: “Rồi tao sẽ tóm được mày thôi, tao sẽ đốt cái mông mày, còn mày, bỏ em mày xuống đất đi”. Bác ấy ném những cái áo khoác cũ của chúng tôi xuống sàn nhà và tôi đặt Alphie nằm xuống đó để cho nó vừa cầm chai nước đường vừa nói Goo goo vừa cười. Bác Aggie ra lệnh cho chúng tôi cởi hết quần áo ra và ra chỗ vòi nước ở sân sau kỳ cọ người không được để xót chỗ nào. Bác ấy bảo chúng tôi không được phép trở vào nếu còn dù chỉ một vết bẩn nhỏ trên người. Tôi muốn nói với bác ấy rằng trời tháng Hai lạnh lắm, bên ngoài gần như đóng băng rồi, chúng tôi không thể chết tất được, nhưng tôi biết nếu tôi mà mở miệng thì có lẽ tôi sẽ chết ngay trong bếp này mất.

Chúng tôi ở sân sau trần như nhộng dưới vòi nước lạnh buốt. Bác tôi mở cửa bếp và ném ra cho chúng tôi một cái bàn chải và một bánh xà phòng màu nâu giống như bánh xà phòng người coi ngựa dùng để tắm cho con Finn. Bác ấy quát chúng tôi phải kỳ lưng cho nhau và không được dừng lại cho đến chừng nào bác ấy bảo thôi. Michael bảo chân tay nó sắp rụng đến nơi rồi nhưng bác Aggie không quan tâm. Bác ấy cứ luôn miệng nói rằng chúng tôi vẫn chưa sạch và nếu chúng tôi để bác ấy phải đích thân ra kỳ cho chúng tôi thì chúng tôi sẽ hối hận cả ngày. Lại hối hận. Tôi kỳ mạnh tay hơn. Tất cả chúng tôi cùng kỳ cọ cho tới khi người đứa nào đứa nấy đỏ cả lên còn hai hàm răng thì gõ vào nhau cầm cập. Như thế vẫn chưa đủ đối với bác Aggie. Bác ấy đi ra cùng với một cái xô trên tay và bác ấy xả nước vào xô dội ào ào lên người chúng tôi. Rồi bác quát chúng tôi lau khô người. Chúng tôi đứng trong cái lán nhỏ cạnh bếp lau khô người bằng một cái khăn tắm. Chúng tôi đứng trong đó run bần bật và chờ đợi bởi bạn không thể đi như diễu hành vào bếp nhà bác tôi được khi không có lệnh của bác ấy. Chúng tôi nghe thấy tiếng bác ấy nhóm lửa trong bếp rồi nghe tiếng bác ấy gọi: “Chúng mày còn định đứng ngoài ấy cả ngày phỏng? Vào mặc quần áo ngay”.

Bác ấy đưa cho chúng tôi mỗi đứa một tách trà và một miếng bánh mì và chúng tôi ngồi ở bàn lặng lẽ ăn bởi chúng tôi không được nói cho tới khi bác tôi bảo nói. Michael hỏi xin một miếng bánh nữa và chúng tôi tưởng nó sắp bị bác ấy quật ngã khỏi ghế nhưng bác ấy chỉ càu nhàu: “Cho mỗi đứa một miếng nữa, ăn đi”. Bác ấy cố cho Alphie ăn bánh mì nhúng trà nhưng nó không ăn cho đến khi bác ấy rắc đường lên miếng bánh nó mới ăn và khi ăn xong nó cười và tè ra bác ấy khiến chúng tôi rất khoái. Bác tôi chạy ra lán lấy khăn đập đập lên chỗ ướt trên quần áo mình còn chúng tôi thì ngồi ở bàn đưa mất nhìn nhau cười và thầm nói với Alphie rằng nó là nhà vô địch nhỏ tuổi của thế giới. Bác Pa Keating đi làm về, toàn thân đen nhẻm. Thấy chúng tôi ở đó bác ấy reo lên:

Ôi, Chúa ơi, gì thế này? Michael nhanh nhảu:

Mẹ cháu phải đi viện, bác Pa ạ. Vậy sao? Mẹ các cháu làm sao? BỊ viêm phổi ạ - Malachy trả lời. Ô, bị thế còn hơn là bị Oldmonia. Chúng tôi không biết bác ấy cười vì cái gì và bác Aggie đi vào nói cho bác Pa biết rằng mẹ tôi phải nằm viện vì thế chúng tôi phải ở lại nhà họ cho tới khi mẹ tôi được về nhà. Bác Pa gật gù: “Được thôi, được thôi” rồi bác ấy đi ra lán để rửa ráy và chúng tôi chẳng biết bác ấy đã động đến nước chưa mà khi trở lại người bác ấy vẫn đen như cũ.

Bác Pa ngồi xuống bàn và bác Aggie sắp bữa tối cho chồng với món bánh mì rán, giâm bông, và cà chua thái miếng. Bác Aggie bảo chúng tôi đứng ra khỏi bàn và đừng có nhìn bác Pa uống trà và bảo bác Pa không việc gì phải cho chúng tôi giãm bông và cà chua của bác ấy nữa. Bác Pa nói: “Vì Chúa Aggie, bọn trẻ đang đói” và bác Aggie gắt: “Không việc gì đến anh. Chúng có phải là con anh đâu”. Bác Aggie bảo chúng tôi đi chơi và đúng tám rưỡi phải về ngủ. Chúng tôi biết bên ngoài trời lạnh lắm chúng tôi muốn ở trong căn bếp ấm áp của bác ấy nhưng ra ngoài chơi trên đường phố lạnh giá còn dễ chịu hơn ở trong đó với bác Aggie nóng tính.

Chúng tôi chơi được một lúc thì bác Aggie gọi tôi về bảo tôi lên tầng trên mượn tấm khăn trải giường bằng cao su của một phụ nữ có đứa con đã bị chết. Người phụ nữ đó bảo tôi:

Nói với bác của cháu là khi nào tôi sinh em bé nữa thì phải nhớ trả tôi đấy. Bác Aggie nghe tôi nói lại liền bĩu môi:

Con bà ta chết cách đây mười hai năm rồi mà bà ta vẫn giữ khư khư cái khăn trải giường đó. Giờ bà ta đã bốn mươi lăm tuổi rồi, nếu bà ta lại có con nữa thì chắc dưới đất có sao mất. Malachy hỏi:

Thế là thế nào ạ? Bác Aggie bảo nó còn bé đừng có tò mò những chuyện của người lớn.

Bác Aggie trải tấm khăn bằng cao su lên giường ngủ của bác ấy và đặt Alphie nằm giữa bác ấy và bác Pa. Bác ấy nằm ở phía trong tường còn bác Pa nằm  phía ngoài bởi sáng bác Pa phải dậy sớm đi làm. Chúng tôi ngủ ở dưới sàn phía bức tường đối diện với một cái áo khoác cũ trải ở dưới và hai chiếc để đắp. Bác Aggie nói nếu bác ấy mà nghe thấy chúng tôi nói một tiếng thì bác ấy sẽ đánh đít chúng tôi và bác ấy còn bảo rằng sáng hôm sau chúng tôi phải dậy sớm vì hôm sau là ngày thứ Ba có lễ nhận tro và chúng tôi phải đi lễ Mixa để cầu nguyện cho mẹ tôi mau khỏi bệnh.

Tiếng chuông báo thức làm chúng tôi choàng tỉnh. Bác Aggie ở trên giường gọi xuống:

- Ba đứa chúng mày mau dậy đi lễ Mixa đi. Chúng mày nghe chưa hả? Dậy. Rửa mặt đi rồi đi đến nhà thờ dòng Tên đi.

Sân sau nhà bác Aggie đầy sương đóng thành những cục băng nhỏ và chúng tôi muốn rụt tay lại trước làn nước lạnh buốt. Chúng tôi vục một ít nước lên mặt rồi vội lau khô mặt ngay bằng chiếc khăn tắm vẫn còn ẩm. Malachy nói thầm rằng nếu mẹ tôi mà có mặt ở đó thế nào mẹ tôi cũng bảo chúng tôi rửa mặt như mèo.

Đường phố đầy sương và băng nhưng nhà thờ dòng Tên khá ấm áp. Thật sướng khi được làm một thầy tu dòng Tên, được ngủ trên giường có khăn trải, có chăn gối dày và thức dậy trong một ngôi nhà ấm áp và một nhà thờ ấm áp chẳng phải làm gì ngoài việc chủ trì lễ Mixa, nghe xưng tội và nhắc nhở mọi người làm tốt bổn phận con chiên. Tôi muốn một ngày nào đó tôi sẽ trở thành một thầy tu dòng Tên nhưng khi bạn lớn lên trong một cái ngõ như ngõ nhà tôi thì bạn chẳng có hy vọng đạt được ý muốn đó. Những thầy tu dòng Tên rất đặc biệt. Họ không thích những người nghèo. Họ thích những người đi xe ô tô, những người cong ngón tay út lên khi cầm tách trà.

Lúc bảy giờ nhà thờ chật ních những người đến nhận tro rắc trán. Malachy thì thầm với tôi rằng Michael sẽ không được nhận tro bởi nó chưa chịu lễ ban thánh thể đầu tiên và đó là một tội lỗi. Michael bắt đầu khóc:

Em muốn tro cơ, em muốn tro. Một bà già đứng sau chúng tôi nói:

Các cậu làm gì đứa bé dễ thương này vậy? Malachy giải thích rằng đứa bé dễ thương mà bà ấy bênh chưa bao giờ nhận thánh thể và nó không được hưởng Ân thánh hóa. Malachy chuẩn bị nhận lễ Ban thánh thể đầu tiên nên nó luôn khoe khoang những gì nó học được từ cuốn giáo lý vấn đáp. Nó không công nhận là tôi biết tất cả những cái đó vì nó bảo tôi học từ năm ngoái nên chắc chắn là đã quên nhiều. Bà già đứng sau chúng tôi nói rằng không cần phải biết những cái đó chúng tôi cũng có thể nhận tro và bảo Malachy đừng có trêu trọc đứa em tội nghiệp nữa. Bà ấy xoa đầu Michael và bảo với nó rằng nó là một đứa bé dễ thương và bảo nó cứ việc lên nhận tro. Nó chạy ngay đến bệ thờ và khi nó trở lại bà già đó cho nó một xu.

Bác Aggie vẫn còn nằm trên giường với Alphie. Bác bảo Malachy đổ sữa vào chai mang tới cho Alphie. Bác sai tôi nhóm bếp, bảo tôi chỗ lấy củi, giấy và than. Nếu lửa không bén thì tôi có thể dùng một ít dầu để nhóm. Tôi làm theo lời bác và làm cho khói bốc lên mù mịt khiến bác ấy nhảy khỏi giường chạy bổ vào bếp. Bác đẩy tôi ra và rít lên:

Mày không làm nổi việc gì sao? Mày phải mở nắp bếp ra chứ, cái thằng đần này. Tôi không biết gì về những cái nắp bếp hết. Ở nhà chúng tôi có một cái bếp ở nhà dưới và một cái bếp ở trên gác và tôi chẳng thấy có cái nắp bếp nào cả. Khi bạn đến nhà bác Aggie bạn phải biết rõ những cái nắp bếp. Có nói với bác ấy rằng đây là lần đầu tiên bạn nhóm lửa từ một cái bếp có lò nướng cũng chẳng ích gì. Bác ấy sẽ lại cho bạn một cú đấm vào đầu nữa mà thôi. Thật khó mà hiểu được tại sao người lớn lại tức giận như thế chỉ vì những thứ nhỏ nhặt như cái nắp bếp. Khi nào tôi trở thành người lớn nhất định tôi sẽ không đánh vào đầu một đứa trẻ vì một cái nắp bếp hay vì bất cứ điều gì đi nữa. Giờ thì tôi vẫn phải nghe bác tôi la mắng tôi: “Mày nhìn xem mày đã làm chỗ này dơ bẩn như thế nào. Mày không biết nghĩ đến một việc con con như việc mở cái cửa sổ cho khói bay ra hay sao? Tất nhiên là mày chẳng nghĩ được. Bây giờ mày có nghĩ là mày có thể đun nước pha trà mà không thiêu cháy cả cái nhà này không, hả?”.

Bác Aggie cắt chiếc bánh mì ra làm ba, phết mứt cam vào từng miếng bánh, đưa cho chúng tôi mỗi đứa một miếng còn mình thì lại quay về giường nằm. Chúng tôi uống trà, ăn bánh, và lần đầu tiên trong đời chúng tôi thấy thích được đến trường, đến một nơi ấm áp không có bà bác nóng tính nào.

Khi tôi ở trường về bác Aggie bảo tôi ngồi vào bàn và viết một bức thư cho bố tôi kể cho bố tôi biết chuyện mẹ tôi bị ốm phải nằm viện và chuyện tất cả chúng tôi đang ở nhà bác Aggie. Bác Aggie bảo tôi phải viết rằng tất cả chúng tôi đều khỏe mạnh, vui vẻ, rằng bố tôi phải gửi tiền về vì thức ăn rất đắt đỏ, vì chúng tôi đang tuổi lớn ăn rất khỏe, rằng Alphie cần quần áo ấm và tã lót.

Tôi không biết tại sao bác tôi luôn tức giận như vậy. Căn hộ của bác ấy ấm áp và khô ráo. Bác ấy có điện dùng và có nhà vệ sinh riêng. Bác Pa có một công việc ổn định và thứ Sáu nào bác ấy cũng mang tiền lương về đưa cho bác Aggie. Bác Pa có uống rượu nhưng bác ấy không bao giờ say đến nỗi về nhà hát ngêu ngao những bài hát về lịch sử đau thương của Ailen.

Mỗi khi bác Aggie đi chơi bài ở khu công nhân chúng tôi lại được vui vẻ với bác Pa. Bác ấy mua hai chai rượu từ quán South, sáu cái bánh sữa và nửa cân giăm bòng từ một cửa hàng gần nhà. Bác ấy pha trà và chúng tôi ngồi bên bếp vừa uống trà vừa ăn giăm bông và bánh sữa vừa cười khoái trá trước cái cách bác ấy nói về thế giới. Bác ấy nói: “Bác đã nuốt khí gas, uống rượu, bác cóc thèm quan tâm đến thế giới cùng những thằng anh em họ của nó”. Nếu Alphie chán chỗ, làu bàu hoặc khóc bác ấy kéo áo lên đến ngực và nói với nó: “Đây, bú đi, bú đi”. Nhìn bộ ngực phẳng lì với hai cái ti màu nâu nâu của bác ấy Alphie có vẻ rất ngạc nhiên và thế là nó lại ngoan.

Trước khi bác Aggie về nhà chúng tôi phải rửa sạch chén bát và lau sạch sàn để bác ấy không biết là chúng tôi đã ăn bánh trong khi bác ấy vắng nhà. Bác ấy sẽ đay nghiến bác Pa cả tháng nếu bác ấy phát hiện ra điều đó và tôi thật không hiểu tại sao lại như vậy. Tại sao bác Pa để cho bác Aggie rầy la mình như vậy? Bác Pa đã từng tham gia Đại chiến, bác ấy bị nhiễm khí gas, bác ấy là người lớn, bác ấy có việc làm, bác ấy biết làm cho cả thế giới buồn cười. Đó là một điều bí mật. Các linh mục và các thầy giáo nói rằng tất cả là một bí mật và bạn phải tin lời họ nói chứ biết làm sao.

Tôi dễ dàng coi bác Pa như một người cha. Chúng tôi có những lúc vui vẻ bên bếp lửa uống trà và phá lên cười trước cái cách bác Pa vừa đánh rắm vừa nói: “Bật diêm lên. Đó là một món quà của người Đức”.

Bác Aggie lúc nào cũng hành hạ tôi. Bác ấy bảo tôi có đôi mắt của một kẻ đê tiện. Bác ấy nói rằng tôi là bản sao của bố tôi, tôi có tính khí kỳ quặc, rằng thể nào khi lớn lên tôi cũng tôn thờ Oliver Cromwell và sẽ bỏ gia đình mà chạy theo một con điếm người Anh và treo đầy những bức ảnh của hoàng gia lên tường nhà mình.

Tôi muốn tránh xa bác Aggie và tôi chỉ có thể nghĩ ra mỗi một cách để thực hiện điều đó. Đó là làm cho mình bị ốm để vào viện. Nửa đêm tôi thức dậy mò ra sân sau nhà bác tôi. Tôi có thể giả vờ đi vệ sinh. Tôi đứng ngoài trời dưới trời rét buốt và hy vọng rằng mình sẽ mắc viêm phổi hoặc lao phổi để tôi có thể vào nằm viện, được ngủ trên giường trải khăn sạch sẽ, được ăn tại giường và được đọc những cuốn sách do cô gái mặc váy xanh mang tới. Tôi có thể sẽ gặp một Patricia khác và sẽ biết thêm những bài thơ tuyệt vời. Tôi đứng trong sân với độc một bộ quần áo mỏng trên người và đôi chân trần nhìn lên vầng trăng như con thuyền bị lật giữa biển mây và đến khi người tôi run lên bần bật tôi mới quay lại giường thầm mong sáng ra tôi sẽ ho không ngớt và sốt hầm hập. Nhưng tôi không sao cả. Tôi cảm thấy mình hoàn toàn khỏe mạnh và hoạt bát.

Có những hôm bác Aggie bảo rằng bác ấy không muốn nhìn thấy chúng tôi thêm một phút nào nữa và bác ấy quát: “Đi ngay, biến ngay cho khuất mắt tao. Thằng kia, đưa ngay Alphie vào xe, đưa tất cả các em mày đi đi, biến ra công viên mà chơi, làm gì tùy thích và khi nào chuông nhà thờ báo sáu giờ hãy về, không được muộn một phút, nghe rõ chưa, không được muộn một phút”.

Chúng tôi đẩy xe nôi dọc đại lộ O’Connell ra phố Ballinacurra hoặc đường Rosbrien. Chúng tôi để Alphie bò trên cánh đồng nhìn những đàn bò, đàn cừu và chúng tôi lăn ra cười khi lũ bò đến bên nó ngửi ngửi. Tôi chui xuống dưới bụng những con bò sữa vắt sữa vào miệng Alphie cho tới khi nó no quá trớ cả sữa ra mới thôi. Những người nông dân đuổi bắt chúng tôi nhưng rồi họ nhìn thấy Michael và Alphie bé quá họ lại thôi . Malachy cười giễu họ. Nó thách họ:

Đánh đi, đánh cháu đi, cháu đang bế em bé đấy, đánh đi. Rồi Malachy nảy ra một sáng kiến, nó bảo tôi:

Sao chúng ta không về nhà mình chơi một lúc nhỉ? Chúng tôi kiếm một ít củi trên cánh đồng rồi kéo nhau về ngõ Roden. Trên gác vẫn còn diêm và thế là chúng tôi nhóm lửa lên. Alphie lăn ra ngủ và chẳng bao lâu tất cả chúng tôi đều lơ mơ ngủ. Đang lơ mơ chúng tôi chợt nghe thấy tiếng chuông nhà thờ đổ sáu tiếng và chúng tôi biết thế nào chúng tôi cũng gặp rắc rối với bác Aggie vì về muộn. Tôi không quan tâm. Bác ấy muốn la mắng tôi thế nào thì tùy bởi dù gì chúng tôi cũng đã có khoảng thời gian tuyệt vời ngoài cánh đồng ở ngoại ô với những con bò và cừu rồi lại còn được về ngôi nhà của chúng tôi một lúc nữa.

Bạn có thể nói là bác tôi chẳng bao giờ có được những lúc vui vẻ như thế. Bác ấy có đèn điện và một cái nhà vệ sinh riêng không phải chung đụng với ai nhưng không có những giờ phút vui vẻ.

Cứ thứ Năm và Chủ nhật bà tôi lại đến để cùng bác Aggie đi thăm mẹ tôi. Chúng tôi không thể đi cùng bởi bệnh viện người ta cấm trẻ con và nếu tôi hỏi: “Mẹ cháu thế nào?” là y rằng họ quằu quặu nhìn tôi và bảo: “Vẫn còn sống”. Chúng tôi muốn biết khi nào mẹ tôi ra viện để chúng tôi có thể về nhà nhưng tôi không dám mở miệng hỏi.

Một hôm Malachy kêu đói với bác Aggie và hỏi xin bác ấy một miếng bánh mì. Bác ấy cầm cuốn Người đưa tin của Trái tim Chúa cuộn lại đập vào đầu nó khiến nó rưng rưng nước mắt. Ngày hôm sau tan học nó không về nhà, đến giờ đi ngủ vẫn không thấy nó đâu cả. Bác Aggie nói:

Tao nghĩ nó bỏ đi rồi. Thật nhẹ nợ. Nếu nó đói nó sẽ phải mò về. Cứ để nó tìm sự thoải mái trong một cái rãnh cũng được. Hôm sau Michael từ ngoài phố chạy về nhà bác tôi kêu to: “Bố, bố về, bố về rồi”. Nói rồi nó lại chạy ra và tôi nhìn thấy bố tôi đứng dưới hiên ôm lấy Michael và khóc:

Tội nghiệp mẹ các con, tội nghiệp. Tôi ngửi thấy mùi rượu từ người bố tôi. Bác Aggie mỉm cười:

Ồ, chú về rồi, - và bác đi pha trà, dọn trứng và pho mát ra bàn. Bác sai tôi đi mua cho bố tôi một chai rượu và tôi cứ tự hỏi không biết tại sao bác Aggie đột nhiên lại vui vẻ dễ chịu như thế. Michael hỏi bố tôi: Chúng ta về nhà chứ bố? Ừ, về con trai ạ. Alphie được đặt vào trong xe nôi với ba cái áo khoác cũ cùng than và củi nhóm bếp. Bác Aggie đứng ở cửa nói với theo rằng chúng tôi là những đứa trẻ ngoan ngoãn, và rằng chúng tôi có thể đến uống trà bất cứ lúc nào, và khi nghe thấy thế trong đầu tôi nảy ra một từ rất tục “đồ chó cái”. Nó nảy ra trong đầu tôi và tôi không thể ngăn nó được và rồi đến buổi xưng tội tôi lại có thêm một tội nữa phải xưng với Cha xứ.

Malachy không ở trong cái rãnh nào cả, nó về nhà chúng tôi ăn chỗ cá tẩm bột chiên nó nhật được của một người say ở trước cổng Sarsíield Barracks.

Hai ngày sau mẹ tôi ra viện. Mẹ tôi trông rất xanh và yếu. Mẹ tôi bảo bác sĩ dặn mẹ tôi phải giữ ấm, phải nghỉ ngơi và ăn các thức ăn bổ dưỡng như trứng và thịt ít nhất là ba lần một tuần. Cầu Chúa giúp chúng tôi, những ông bác sĩ tội nghiệp đó đâu biết đến cái ý niệm không có. Bố tôi pha trà và cắt bánh mì nướng cho mẹ tôi ăn. Bố tôi rán bánh cho chúng tôi và chúng tôi có một buổi tối vui vẻ trên căn gác ấm. Bố tôi bảo bố tôi không thể ở nhà mãi được, bố phải trở lại Coventry làm việc. Mẹ tôi lo không biết bố tôi làm thế nào mà trở lại Coventry được khi không có lấy một xu dính túi. Sáng thứ Bảy bố tôi dậy sớm và hai bố con tôi uống trà với nhau bên bếp. Bố tôi rán bốn miếng bánh và gói chúng vào một mảnh của tờ Limerick Chronicle. Mẹ tôi vẫn nằm và bố tôi đứng dưới chân cầu thang gọi với lên chào mẹ tôi. Mẹ tôi thều thào: “Ừ, anh đi đi. Đến nơi nhớ viết thư về”. Bố tôi sắp lên đường đi Anh còn mẹ tôi thì vẫn chưa ra khỏi giường được. Tôi xin bố cho tôi ra ga tiễn bố. Bố tôi nói không, rằng bố không ra ga. Bố tôi đi đến Dublin để tìm cách đi nhờ. Bố tôi xoa đầu tôi, bảo tôi ở nhà chăm sóc mẹ và các em rồi bố tôi bước ra cửa. Tôi chạy ra ngõ nhìn theo bố tôi đi xuôi xuống Đồi Barrack và phố thánh Joseph. Tôi chạy theo bố mãi cho tới khi tôi không theo nổi nữa. Bố tôi hẳn là biết tôi đi theo bố vì có lúc bố ngoái lại gọi: “Về nhà đi, Francis, về nhà với mẹ và các em đi”.

Bố tôi đi được đúng một tuần thì chúng tôi nhận được một bức thư của bố, trong đó bố tôi thông báo rằng bố đã đến nơi an toàn và bố tôi còn dặn chúng tôi phải ngoan, phải thực hiện bổn phận con chiên và trên hết phải nghe lời mẹ. Tuần kế tiếp chúng tôi nhận được một giấy lĩnh tiền với số tiền ba bảng và chúng tôi sung sướng không tả nổi. Chúng tôi sẽ giàu có, sẽ được ăn cá tẩm bột chiên, sẽ được ăn thịt đông và bánh sữa, sẽ được đi xem phim vào tối thứ Bảy ở rạp Lyric, rạp Coliseum, rạp Carỉton, rạp Atheneum và trên hết rạp Savoy. Chúng tôi sẽ được ăn bánh ở nhà hàng Savoy. Chúng tôi có thể cầm những tách trà và cong ngón tay út lên.

Thứ Bảy sau đó chúng tôi không nhận được giấy lĩnh tiền, thứ Bảy tiếp theo cũng không và không bao giờ nữa cả. Mẹ tôi lại đến xin cứu tế ở hội thánh Vincent de Paul và lại phải nặn ra những nụ cười trước mặt các ông Coffey và Kane ở Bệnh xá miễn phí cho dù các ông ấy hành hạ mẹ tôi bằng chuyện bố tôi đi theo một gái điếm Piccadilly mà các ông ấy bịa ra để mua vui. Michael muốn biết điếm là gì và mẹ tôi bảo nó rằng đó là một thứ người ta dùng để uống với trà. Hầu như ngày nào mẹ tôi cũng chỉ ngồi bên bếp hút thuốc với cô Bridey. Chúng tôi đi học về trên bàn vẫn còn nguyên những vụn bánh rơi. Mẹ tôi không rửa bát, chén và để mặc ruồi nhặng bâu vào những chỗ còn dính đường.

Mẹ tôi nói rằng tôi và Malachy phải thay nhau trông Alphie, phải đưa nó đi ra ngoài hít thở không khí trong lành. Mẹ tôi bảo không được giữ em tôi ở trên gác suốt từ tháng Mười đến tháng Tư được. Nếu chúng tôi nói chúng tôi muốn đi chơi với các bạn của chúng tôi thì lập tức mẹ tôi nổi cơn tam bành khiến chúng tôi váng cả óc.

Chúng tôi chơi với Alphie và chiếc xe nôi. Tôi đứng trên đỉnh đồi Barrack còn Malachy đứng ở chân đồi. Khi tôi đẩy chiếc xe xuống dưới một cái Malachy ở dưới dừng nó lại nhưng Malachy lại mải nhìn một đứa bạn đang trượt patanh nên nó để chiếc xe nôi chạy qua chỗ mình, lao sang ngang đường qua cửa quán rượu Leniston nơi những người đàn ông đang cần được thưởng thức những cốc rượu của họ trong yên tĩnh và không mong nhìn thấy một chiếc xe nôi với một đứa trẻ bẩn thỉu nói Goo goo goo. Người chủ quán la lên rằng đó là một sự nhục nhã, rằng luật pháp không cho phép kiểu hành động đó, không cho phép một chiếc xe nôi bẩn thỉu với một đứa bé hét ầm ĩ lao qua cửa nhà người khác, rằng ông ta sẽ gọi bảo vệ tới bắt chúng tôi, nhưng Alphie vừa vẫy ông ta vừa cười với ông ta, rồi ông ta nói:

- Thôi được, thôi được rồi, cho thằng bé này kẹo và nước chanh, cho cả các anh nó nữa, bọn mày trông rách rưới quá, ôi lạy Chúa, cuộc sống quả là khó khăn, hãy đưa em về nhà đi, hãy đưa nó về với mẹ chúng mày đi.

Malachy có một ý tưởng táo bạo khác, rằng chúng tôi có thể để Alphie ngồi trong xe nôi đẩy đi vòng quanh Limerick như những người sống lang thang để kiếm kẹo và nước chanh, nhưng tôi không muốn mẹ tôi phát hiện ra vì nếu mẹ tôi mà biết chúng tôi làm chuyện đó thì mẹ sẽ đánh chúng tôi là cái chắc. Malachy nói tôi không phải là một công tử và nói xong nó chạy biến đi. Tôi đẩy chiếc xe qua phố Henry và tới nhà thờ Công giáo. Hôm đó là một ngày u ám, nhà thờ đầy vẻ u ám và đám người đứng ngoài cửa nhà của linh mục trông cũng vậy. Họ đứng đợi xin thức ăn thừa của các linh mục.

Trong đám người đó có mẹ của chúng tôi. Chuyện này tệ hơn cả việc đi xin tiền trợ cấp, tệ hơn cả đi xin giúp đỡ ở hội thánh Vincent de Paul, tệ hơn cả việc đi xin cứu tế ở Bệnh xá miễn phí. Đó là một việc khiến người ta xấu hổ nhất, gần như việc vác bát, tha những đứa trẻ nhếch nhác đi trên phố luôn miệng cầu xin: “lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, xin cho đứa trẻ khốn khổ này một xu, nó đói quá”.

Giờ mẹ tôi đã trở thành một kẻ ăn mày rồi và nếu ai ở ngõ Roden hoặc ở trường của chúng tôi trông thấy mẹ tôi thì cả nhà tôi sẽ nhục nhã không biết đến bao giờ mới thôi. Các bạn tôi sẽ bịa ra những cái tên mới và sẽ trêu chọc tôi suốt.

Nhà dành cho linh mục mở cửa và đám người xô nhau chạy vào chìa tay ra xin bố thí. Tôi có thể nghe thấy ho nói: “Xin làm ơn, xin làm ơn đi, vì Chúa, xin làm ơn đi. Ởnhà còn năm đứa trẻ nữa, làm ơn đi”. Tôi có thể nhìn thấy mẹ tôi chen trong đám người đó. Tôi thấy rõ miệng bà mím chặt khi bà chộp lấy một túi đồ bố thí và quay ra cửa và tôi vội đẩy xe nôi thật nhanh ra khỏi nhà thờ để mẹ tôi khỏi nhìn thấy tôi.

Tôi không muốn về nhà nữa. Tôi đẩy xe xuống đường Dock, ra đường Corkanree nơi có từng đống rác của cả Limerick đang chờ đốt. Tôi đứng lại một lát xem bọn con trai đuổi chuột. Tôi không biết tại sao bọn chúng phải hành hạ những con chuột không quấy rầy nhà chúng như vậy. Nếu Alphie không làu bàu, không đạp chân, không cáu với cái bình đã hết nhẵn nước đường của nó thì chắc tôi sẽ tiếp tục đi mãi đi mãi trong vùng ngoại ô.

Mẹ tôi đã nhóm bếp và trên bếp có gì đó đang sôi. Malachy cười nói rằng mẹ tôi mua được thịt bò muối và một ít khoai tây từ cửa hàng nhà bà Kathleen. Nó sẽ không vui như thế nếu nó biết nó là con của một kẻ ăn mày. Mẹ tôi gọi chúng tôi ở ngoài ngõ về và khi ngồi vào bàn ăn tôi không dám nhìn người mẹ ăn mày của mình. Mẹ tôi nhấc cái nồi trên bếp ra bàn và múc khoai tây cho từng đứa chúng tôi rồi lấy dĩa vớt thịt bò muối ra.

Thứ đó không giống thịt bò muối chút nào. Đó là cục thịt mỡ bầy nhầy màu xám chỉ có mỗi một chỗ là thịt nạc. Chúng tôi nhìn miếng thịt đó và tự hỏi không biết ai sẽ ăn nó. Mẹ tôi nói:

- Miếng đó cho Alphie. Em nó bé, em nó đang lớn, nó cần ăn thịt nạc.

Mẹ tôi để miếng thịt vào một cái tô trước mặt Alphie. Nó lấy ngón tay nghịch miếng thịt. Nó đưa miếng thịt lên miệng, đưa mắt nhìn quanh bếp, tìm con chó Lucky và ném miếng thịt ra cho con chó.

Còn nói gì được nữa. Miếng thịt đã bị con chó xơi hết rồi. Chúng tôi ăn khoai tây với muối và tôi ăn chỗ thịt mỡ mẹ tôi chia cho và giả vờ là mình đang ăn chỗ thịt nạc Alphie đã vứt đi.

11

 

Mẹ tôi nhắc nhở chúng tôi:

- Các con không được đụng đến cái hòm vì đó không phải là việc của các con vả lại trong đó chẳng có gì hay đâu.

Tất cả những gì mẹ tôi có trong cái hòm đó là một mớ giấy tờ, giấy khai sinh và giấy chứng nhận rửa tội, hộ chiếu của mẹ tôi, hộ chiếu đi Anh từ Belfast của bố tôi, hộ chiếu nước Mỹ cấp cho chúng tôi về Ailen và một chiếc váy màu đỏ tươi có trang kim và những diềm đăng ten diêm dúa mẹ tôi có từ hồi ở Mỹ. Mẹ tôi muốn giữ chiếc váy đó mãi mãi để nó nhắc nhở mẹ về thời thiếu nữ với những điệu nhảy đầy đam mê.

Tôi không quan tâm mẹ tôi có gì trong chiếc hòm đó cho tới khi tôi bắt đầu lập một đội bóng cùng với Malachy và Billy Campbell. Chúng tôi không có tiền mua đồng phục hay giày và Billy nói: “Làm sao thế giới biết chúng ta là ai chứ? Đến một cái tên chúng ta cũng không có”.

Tôi nhớ tới cái váy đỏ của mẹ tôi và thế là một cái tên nảy ra trong đầu tôi, Những Trái Tim Hồng Limerick. Mẹ tôi chẳng bao giờ mở cái hòm ra nên tôi có cắt một miếng vải từ chiếc váy để làm bảy trái tim gắn lên ngực áo các cầu thủ đội bóng thì cũng có sao đâu nhỉ? Chính mẹ tôi luôn nói “không biết chẳng phiền” đấy thôi.

Chiếc váy được cất dưới những tờ báo. Tôi nhìn ảnh tôi hồi bé trong tấm hộ chiếu và có thể hiểu được tại sao ở trường tôi hay bị trêu là người Nhật. Có một giấy chứng nhận kết hôn đề rằng Malachy McCourt và Angela Sheehan trở thành vợ chồng vào ngày hai tám tháng Ba năm 1930. Làm sao có thể thế được cơ chứ? Tôi sinh ngày mười chín tháng Tám và Billy Campell nói rằng hai người lấy nhau phải ít nhất chín tháng sau mới sinh con được. Đằng này tôi sinh ra chỉ sau nửa số thời gian đó. Thế có nghĩa là tôi là một điều kỳ diệu và lớn lên có thể tôi sẽ trở thành một vị thánh.

Tôi sẽ phải hỏi Mickey Molloy, chuyên gia về cái gọi là Cơ Thể Con Gái và Những Chuyện Dơ Bẩn mới được.

Billy nói rằng nếu chúng tôi muốn trở thành một đội bóng lớn thì chúng tôi phải luyện tập và phải gặp nhau thường xuyên ở công viên. Bọn trong đội chê những trái tim đỏ bằng lụa tôi đưa cho chúng và tôi bảo với chúng rằng nếu chúng không thích thì cứ việc về nhà cắt áo và váy của mẹ chúng.

Chúng tôi không có tiền để mua một quả bóng ra hồn vì thế cả đội kiếm một cái bong bóng cừu nhét giẻ rách vào làm bóng. Chúng tôi quần cái bong bóng cừu đó trên đồng cỏ suốt cho tới khi nó thủng mấy chỗ lòi cả giẻ ra và thế là chúng tôi đâm chán. Billy nói sáng mai thứ Bảy chúng tôi có thể gặp nhau để đến phố Ballinacurra rủ bọn con nhà giàu ở trường Crescent thi bảy đấu bảy để lấy một quả bóng thứ thiệt. Nó bảo chúng tôi phải cài những trái tim hồng lên ngực áo cho dù chúng chỉ là những mảnh vải cũ.

Malachy đi về nhà nhưng tôi không thể bởi tôi còn phải gập Mickey Molloy và tìm hiểu việc tại sao tôi lại sinh ra chỉ trong nửa thời gian. Mickey đang đi ra cửa cùng với bố cậu ta, ông Peter. Hôm đó là sinh nhật lần thứ mười sáu của cậu và bố cậu đưa cậu đến quán Bowles để cậu thưởng thức vại bia đen đầu tiên trong đời. Bà Nora Molloy ở trong nhà réo theo ông Peter bảo rằng họ muốn đi thì cứ đi, rằng bà ấy sẽ nướng bánh, rằng bà ấy sẽ không bao giờ đi nhà thương nữa, rằng nếu ông Peter mà đưa con trai đi uống thì bà ấy sẽ đi Scotland và sẽ biến khỏi cuộc đời này.

Ông Peter nói với Mickey:

- Đừng để ý đến mẹ mày. Những bà mẹ Ailen luôn là kẻ thù của vại bia đầu tiên. Chính bà nội mày cũng dùng cái chảo xuýt giết chết ông nội mày khi ông mày đưa bố đi uống lần đầu đấy.

Mickey hỏi bố cậu ta cho tôi đi uống nước chanh và bố cậu ta đổng ý.

Ông Peter nói với mọi người trong quán rằng Mickey đến đó uống lần đầu tiên và khi tất cả đàn ông trong quán muốn uống với Mikey để chúc mừng cậu, ông Peter gạt đi, ông bảo con trai ông không được uống nhiều.

Bố con ông Peter uống bia còn tôi uống nước chanh. Cánh đàn ông chúc Mickey mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống và họ bảo sau lần cậu ta bị ngã ống máng mấy năm trước cậu không còn hay bị ngất nữa, đó quả là một món quà của Chúa và rằng thật tội nghiệp cho Quasimodo Dooley đã bị mắc lao phổi sau từng ấy năm học nói giọng Anh với hy vọng trở thành phát thanh viên của BBC một vị trí chẳng thích hợp chút nào với một người đàn ông Ailen.

Ồng Peter nói chuyện với những người đàn ông còn Mickey, thưởng thức vại bia đầu tiên của cậu ta, thì thầm với tôi: “Tớ không chắc là tớ thích cái của này, nhưng đừng nói với bố tớ”. Rồi cậu ta tiết lộ với tôi rằng cậu ta đang bí mật học nói giọng Anh để trở thành phát thanh viên của BBC, giấc mơ của Quasimodo. Cậu ấy bảo rằng tôi có thể nhận lại Cuchilain, rằng Cuchilain chẳng giúp gì cho bạn khi bạn đọc bản tin trên BBC. Bây giờ cậu ta đã mười sáu tuổi nên cậu ta muốn đi Anh và rằng tôi cứ mua một cái đài đi tôi sẽ thấy cậu ấy trên BBC Home Service.

Tôi nói với cậu ấy chuyện cái giấy chứng nhận kết hôn của bố mẹ tôi, nói với cậu ấy rằng Billy Campell bảo phải chín tháng sau khi kết hôn người ta mới có thể đẻ con nhưng tôi lại sinh ra chỉ với nửa thời gian đó thôi và tôi không biết liệu như vậy tôi có phải là một trường hợp kỳ diệu hay không.

Không, không. Cậu là một đứa con hoang. Cậu bị kết tội. Cậu không được nguyền rủa tớ, Mickey. Tớ không nguyền rủa cậu. Người ta vẫn gọi những đứa trẻ sinh trước chín tháng sau một đám cưới như vậy, đầy người thụ thai hoang trước khi kết hôn. Đó là gì vậy? Đó nào? Thụ thai ấy. Là tinh trùng gặp trứng và nó phát triển và chín tháng sau cậu được sinh ra, thế thôi. Mình chẳng hiểu cậu đang nói gì. Cậu ta thì thầm vào tai tôi:

Cái thứ ở giữa hai đùi cậu là cái thú vị đấy. Bố cậu cho cái ấy của bố cậu tiếp xúc với cái của mẹ cậu và tinh trùng từ bố cậu sẽ gặp trứng của mẹ cậu và thứ kết hợp đó phát triển thành cậu.

Tớ đâu phải là một quả trứng. Cậu là một quả trứng. Mỗi người đều đã từng là một quả trứng. Tại sao tớ lại bị kết tội? Tớ là con hoang đâu phải lỗi ở tớ. Tất cả những đứa con hoang đều bị kết tội. Chúng giống như những đứa bé không được rửa tội. Chúng bị đày xuống địa ngục mãi mãi và không có cách nào thoát ra được cho dù chúng không có lỗi. Thế nào cậu cũng băn khoăn rằng Thượng Đế ở trên kia không có chút thương xót nào dành cho những đứa trẻ chưa được rửa tội. Chính vì thế mà tớ không đi nhà thờ nữa. Dù sao cậu cũng bị đầy đọa. Vậy tớ phải làm gì? Không làm được gì cả. Tớ không thể thắp một cây nến hay làm gì đó sao? Cậu có thể cầu xin Đức Mẹ Đồng Trinh. Nhưng tớ không có một xu nào để mua nến. Được rồi, được rồi, một xu đây. Một triệu năm nữa khi cậu kiếm được việc làm thì trả tớ. Tớ phải mất khối tiền mới trở thành chuyên gia về Cơ Thể Con Gái và Những Chuyện Dơ Bẩn đấy. Người chủ quán rượu đang chơi trò chơi đố chữ và ông ta quay sang hỏi ông Peter:

Từ trái nghĩa của từ xông lên là gì nhỉ? Rút lui -Ông Peter nói. Đúng rồi- Người chủ quán gật đầu. - Mọi thứ đều có cái trái ngược của nó. Đức Mẹ ơi - Ông Peter lẩm bẩm. Anh làm sao vậy, Peter? -Vừa nãy anh nói gì thế nhỉ, Tommy?

Tôi bảo mọi thứ đều có cái trái ngược của nó. Đức Mẹ ơi. Anh không sao chứ, Peter? Rượu ngon đấy chứ? Ngon, Tommy ạ, còn tôi là nhà vô địch uống rượu đúng không? Đúng, Peter. Không thể phủ nhận được điều đó. Thế có nghĩa là tôi có thể là nhà vô địch của cái trái ngược. Anh đang nói gì vậy? Tôi có thể trở thành nhà vô địch không uống rượu. Ô, Peter, tôi không nghĩ anh lại quá chén. Vợ anh ở nhà không sao đấy chứ? Tommy, cầm vại bia cất đi cho tôi. Tôi vô địch không uống bia rượu. Ông Peter quay sang, với vại bia của Mikey đặt ra chỗ khác.

Chúng ta về với mẹ con thôi, Mickey. Bố không gọi con là Cyclops. Con là Mickey. Con là Michael. Chúng ta sẽ đi Anh. Bố không uống rượu nữa, con cũng không uống, mẹ không nướng bánh nữa, đi nào. Chúng tôi rời quán và người chủ quán gọi với theo chúng tôi:

- Anh biết vì sao mà, Peter. Vì những cuốn sách chết tiệt anh đã đọc đấy. Chúng đã làm hỏng cái đầu của anh rồi.

Ông Peter và Mickey về nhà họ. Tôi phải đến nhà thờ thánh Joseph thắp nến để tôi khỏi bị đày xuống địa ngục nhưng khi tôi đi ngang qua cửa hàng Counihan nhìn vào tôi lại thấy những thỏi kẹo cứng Cleeves với tấm giấy đề “Một Xu Hai Chiếc”. Tôi biết tôi bị đầy đọa nhưng tôi đang thèm kẹo đến ứa nước miếng và khi tôi đưa đồng xu cho bà Counihan tôi thầm hứa với Đức Mẹ Đồng Trinh rằng ngay khi có một xu nữa tôi sẽ đi thắp nến và sẽ xin Đức Mẹ nói với con trai của Người để xóa bỏ tội cho tôi.

Một xu kẹo Cleeves không kéo dài mãi mãi được và khi ăn hết kẹo tôi phải nghĩ đến việc về nhà với người mẹ đã để cho bố tôi đưa cái vật thú vị ấy của bố vào mình để rồi tôi sinh ra trước nửa thời gian chứ không phải sinh ra sau chín tháng kể từ ngày kết hôn của họ và khiến tôi trở thành một đứa con hoang. Nếu mẹ tôi mà nói một lời về cái váy đỏ hay về bất cứ chuyện gì thì nhất định tôi sẽ nói cho mẹ tôi biết tất cả về cái kích thích kia và thế nào mẹ tôi cũng bị sốc cho mà xem.

Sáng thứ Bảy tôi gặp đội bóng Những Trái Tim Hồng Limerick và chúng tôi đi dọc đường tìm kiếm cơ hội thi đấu. Bọn trong đội vẫn càu nhàu về những trái tim đỏ mà chúng phải đeo trên ngực nhưng khi Billy bảo rằng nếu đứa nào không thích thì đi về chơi búp bê với em gái. Bọn nó không nói gì nữa.

Trên một sân bãi ở Ballinacurra có một lũ con trai đang chơi bóng đá và Billy đến gạ chúng thi đấu. Chúng có tám đứa trong khi chúng tôi chỉ có bảy nhưng chúng tôi không quan tâm bởi vì một đứa trong số chúng bị chột và Billy bảo chúng tôi cứ chạy ở bên phía mắt chột của nó là được. Billy còn nói rằng tôi, Frank McCourt, có hai mắt đều kém, như thế còn tệ hơn. Bọn kia đứa nào cũng mặc áo thể thao màu xanh pha trắng, quần soóc trắng và đi giày đá bóng thứ thiệt. Một đứa trong bọn đó bảo rằng trông chúng tôi như mèo hoang và Malachy phải cố nén mới không xông vào đánh thằng đó. Chúng tôi đồng ý thi đấu nửa tiếng bởi vì bọn kia nói chúng sẽ phải về ăn trưa. ăn trưa. Cả thế giới gọi bữa ăn giữa ngày là “dinner” còn bọn nó thì gọi bữa trưa là “lunch”. Nếu hết nửa giờ mà không bên nào ghi bàn thì trận đấu coi như hòa. Chúng tôi chạy lên chạy xuống săn bóng rồi Billy lấy được bóng và dẫn bóng rất nhanh ra sát biên khiến cho đối thủ của chúng tôi không đứa nào theo kịp, rồi Billy đưa bóng đến gần cầu môn và ghi bàn thắng. Gần hết nửa tiếng nhưng bọn kia lại muốn chơi thêm nửa tiếng nữa và trong nửa tiếng sau bọn chúng ghi được bàn gỡ hòa. Rồi bóng lăn ra biên và chúng tôi được ném biên. Billy đứng ném biên. Nó vờ nhìn Malachy nhưng lại ném bóng cho tôi. Tôi nhận được bóng như thể nó là thứ duy nhất tồn tại trên thế giới này. Nó đến thẳng chân tôi như đặt và tất cả những gì tôi phải làm là xoay người sang cánh trái và giơ chân sút bóng thẳng vào gôn. Tôi cảm thấy mình như đang ở trên thiên đường. Tôi chạy như bay quanh sân cho tới khi những Trái Tim Hồng Limerick túm lưng tôi hét lên với tôi rằng đó là một bàn thắng tuyệt vời. Frank, Billy, hai cái tên đó được đồng đội của tôi hô vang cả sân.

Chúng tôi đi bộ về đại lộ O’Connel và trong đầu tôi cứ xoay quanh hình ảnh quả bóng đến chân tôi và tôi chắc mẩm rằng nó được gửi đến bởi Chúa hoặc Đức Mẹ Đồng Trinh những đấng tối cao không bao giờ ban một điều tốt lành như thế cho một người bị đày đọa vì sinh trong nửa thời gian và tôi biết chừng nào tôi còn sống tôi sẽ không thể nào quên rằng đường bóng đó đến từ Billy Campell.

Mẹ tôi gặp cô Bridey Hannon và mẹ cô đang đi ra ngõ và họ kể với mẹ chuyện ông Hannon bị đau chân. Tội nghiệp ông John Hannon, tối nào ông ấy cũng phải đạp xe về nhà sau cả ngày đi giao than. Giờ làm của ông được tính từ tám giờ sáng tới năm rưỡi chiều nhưng ông phải chuẩn bị thắng ngựa trước tám giờ và phải đưa ngựa về chuồng sau khi đi giao than xong. Ông phải ngồi trên xe ngựa chạy khắp thành phố và phải nhấc lên nhấc xuống những bao than nặng, lại còn phải giữ cho những chỗ băng ở chân không tuột ra để bụi khỏi bám vào những vết thương đang há miệng. Những vết thương ở chân ông ấy lúc nào cũng bị băng nhưng băng cũng luôn bị rách và lúc ông ấy về nhà vợ ông phải lấy nước ấm và xà phòng rửa chúng rồi bôi thuốc mỡ và băng chúng lại bằng băng sạch. Họ không có tiền để ngày nào cũng mua băng mới nên bà ấy phải giặt những tấm băng cũ để dùng đi dùng lại cho đến khi chúng xỉn màu mới bỏ đi.

Mẹ tôi bảo ông Hannon nên đi khám bác sĩ và bà Hannon nói:

- Đúng thế, ông ấy đã đi khám cả chục lần rồi và bác sĩ nói ông ấy phải để đôi chân nghỉ ngơi. Thế thôi. Nghỉ ngơi. Làm sao ông ấy có thể để đôi chân ông ấy nghỉ ngơi được cơ chứ? Ông ấy phải làm việc. Nếu ông ấy không làm việc thì chúng tôi biết lấy gì mà sống đây?

Mẹ tôi nói có lẽ cô Bridey có thể kiếm một việc làm và cô Bridey lập tức phản đối:

Chị không biết là ngực tôi có vấn đề sao, Angela? Chị không biết tôi đã từng bị sốt thấp khớp sao? Tôi phải cẩn thận với sức khỏe của mình chứ. Mẹ tôi thường nói về cô Bridey, về bệnh sốt thấp khớp và cái ngực yếu của cô ấy. Mẹ tôi nói:

Con người đó có thể ngồi đây cả giờ phàn nàn về bệnh tật của mình nhưng có chịu bỏ thuốc đâu. Mẹ tôi bảo với cô Bridey rằng mẹ tôi rất ái ngại cho bệnh tật của cô ấy cũng như cho đôi chân đau của bố cô ấy. Bà Hannon kể với mẹ tôi rằng càng ngày chân của chồng bà ấy càng tệ, và bà đề nghị:

Chị McCourt này, chị có thể để Frank nhà chị đi giúp ông ấy vài giờ một tuần được không? Chúng tôi không thể thuê hẳn một người nhưng nếu Frank giúp ông ấy thì Frank có thể kiếm được một hoặc hai xu một tuần còn ông ấy thì có thể để đôi chân đau được nghỉ ngơi nhiều hơn. Mẹ tôi trả lời:

Tôi chẳng biết có được không, thằng bé mới mười một, nó lại mới bị thương hàn, vả lại bụi than sẽ hại cho mắt nó. Cô Bridey nói:

Làm cho bố tôi nó sẽ được ở ngoài trời nhiều hơn và không có gì tốt cho đôi mắt hơn là không khí thoáng đãng, đúng không hả, Frankie? Đúng, thưa cô Bridey. Tôi thèm được đi quanh thành phố trên xe chở than với ông Hannon như một người lao động thực thụ. Nếu tôi làm việc tốt thì có lẽ tôi sẽ không phải đến trường nữa nhưng mẹ tôi lại nói:

Thằng bé có thể đi làm với ông ấy miễn là công việc đó không ảnh hưởng đến việc học hành của nó và nếu thế nó có thể bắt đầu đi làm vào sáng thứ Bảy. Giờ tôi đã là một người đàn ông cho nên sáng thứ Bảy tôi dậy sớm nhóm bếp và tự pha trà và rán bánh cho mình. Tôi đứng đợi ông Hannon ở gần nhà ông ấy và ngửi thấy mùi giăm bông và mùi trứng tỏa ra qua cửa sổ. Mẹ tôi nói ông Hannon được ăn thức ăn ngon bởi vì bà Hannon rất yêu chồng. Họ giống như hai người yêu nhau trong một bộ phim của Mỹ. Đây rồi, ông Hannon đã dắt xe ra. Ông ấy bảo tôi ngồi lên khung xe và tôi bắt đầu lên đường đi làm như một người đàn ông. Đầu ông Hannon ở ngay trên đầu tôi và mùi thuốc lá của ông ấy thật là thơm. Nhưng, có mùi than từ quần áo ông Hannon và cái mùi đó làm tôi hắt hơi.

Có nhiều người đàn ông đạp xe hoặc đi bộ về phía bãi than, nhà máy bột Rank và xí nghiệp tàu thủy Limerick ở đường Dock. Ông Hannon bỏ tẩu thuốc ra khỏi miệng để nói với tôi rằng đây là buổi sáng tuyệt nhất, sáng thứ Bảy, chúng tôi chỉ phải làm việc nửa ngày. Chúng tôi sẽ bắt đầu từ tám giờ cho đến mười hai giờ.

Trước tiên chúng tôi chuẩn bị ngựa, chúng tôi chải lông cho nó, đổ đầy yến mạch trộn với nước vào máng cho nó ăn. Ông Hannon bảo tôi cách thắng dây cương và cách đưa ngựa vào càng xe. Ông ấy nói:

Ôi, Frankie, cậu có năng khiếu trong việc này đấy. Ông Hannon khen như vậy khiến tôi phấn khởi đến nỗi lúc đó tôi chỉ muốn ngồi trên chiếc xe ngựa dập dềnh ấy cả đời.

Có hai người đàn ông đóng than vào các bao và đưa những bao than lên cân, mỗi bao một tạ. Đưa than lên xe là việc của họ còn ông Hannon thì đi đến văn phòng để lấy giấy giao than. Những người xếp than làm việc rất khẩn trương và chúng tôi nhanh chóng có được chuyến than đầu tiên trong ngày. Ông Hannon ngồi lên phía bên trái và đập nhẹ cái roi ra hiệu cho tôi ngồi lên phía bên phải. Trèo lên cái xe ngựa cao chất đầy những bao than quả là không dễ và tôi chọn cách trèo lèn qua bánh xe. Ông Hannon bảo tôi không bao giờ được làm như thế nữa. Ông ấy bảo tôi không bao giờ được để tay hay chân gần bánh xe khi ngựa đã được lồng vào xe. Một con ngựa đột nhiên có thể muốn tự ý đi dạo và thế là tay hoặc chân bạn sẽ bị quấn trong bánh xe và cả người bạn cũng bị quấn theo. Ông Hannon nói với con ngựa:

Đi nào, đi. Con ngựa lắc lắc cái đầu khiến ông Hannon cười phá lên:

Con ngựa này thích làm việc lắm, chỉ lát nữa là nó không lắc đầu nữa đâu. Mưa bắt đầu rơi và chúng tôi phải lấy bao đựng than cũ để che mưa. Ông Hannon bảo mưa sẽ làm cho xe nặng thêm nhưng kêu ca thì ích gì đâu. Nếu bạn kêu ca thì bạn cũng có thể kêu ca về mặt trời ở châu Phi.

Chúng tôi đánh xe qua cầu Sarsfield để đến giao than ở khu Bắc Circula. Ông Hannon nói rằng đó là khu của những người giàu và những người giàu chẳng bao giờ nhanh trong việc đưa tay vào túi mình lấy vài xu lẻ bồi dưỡng cho người đưa than.

Chúng tôi có mười sáu bao than phải giao. Ông Hannon nói chúng tôi gặp may vì có một sô nhà lấy trên một bao vì thế ông ấy đỡ phải trèo lên trèo xuống hơn. Khi xe dừng trước một nhà lấy than ông Hannon xuống xe còn tôi thì đẩy bao than ra thành xe để ông ấy ghé vai vào vác. Vài nhà có chỗ để than ở ngay bên ngoài và chúng tôi chỉ việc kéo chiếc cửa sập lên và mở bao cho than chảy vào là xong. Có những nhà có sân sau dài và bạn có thể thấy ông Hannon với đôi chân đau phải vất vả thế nào mới mang được những bao than từ trên xe tới chỗ để than của khách hàng. Ông ấy chỉ khẽ rên và cùng lắm thì bảo tôi đưa tay ra kéo ông lên xe. Ông nói nếu ông có một cái xe ba gác thì ông ấy có thể kéo than từ xe vào chỗ để than của người ta và đó sẽ là một điều may mắn đối với ông nhưng một cái xe kéo như thế bét nhất cũng trị giá bằng lương của hai tuần làm việc và ai dám bỏ tiền ra mua chứ?

Các bao than đã được giao hết, trời lại nắng, xe nhẹ tênh, và con ngựa biết ngày làm việc của nó đã kết thúc. Được ngồi trên xe nhìn con ngựa từ đuôi cho đến đầu rung đều đều trên đường Ennis đến sông Shannon rồi lên đường Dock quả là thích. Ông Hannon nói một người đã giao xong mười sáu bao than mỗi bao nặng một tạ đáng được thưởng một cốc rượu còn cậu bé giúp việc thì đáng được uống nước chanh. Ông ấy bảo tôi nên đi học không nên giống ông ấy làm việc với hai cái chân đau. Ông ấy nói:

- Frankie ạ, phải học, phải học để thoát khỏi Limerick và thoát khỏi đất nước Ai len này. Cuộc chiến tranh này rồi sẽ kết thúc và cháu có thể đi Mỹ hoặc đi Úc hoặc đến bất cứ đất nước rộng lớn nào. Thế giới rộng lớn và cháu có thể đi khám phá nó. Nếu chân tôi không bị đau thì tôi đã đi Anh kiếm tiền như bao người đàn ông Ailen khác từ lâu rồi, như bố cháu ấy. A, mà không, không như bố cháu. Tôi không hiểu tại sao một người đàn ông còn cái đầu lại có thể đi như thế bỏ vợ và các con đói rét giữa Limerick lạnh giá này. Học, phải học, Frankie ạ. Phải đọc sách, đọc sách, đọc sách. Hãy đi khỏi Limerick trước khi chân cháu thối rữa và đầu óc cháu suy sụp hoàn toàn.

Chúng tôi đến bãi than cho ngựa ăn, uống nước và chải lông cho nó. Ông Hannon nói chuyện với con ngựa suốt và gọi nó là “Segosha của tao”, và con ngựa cọ mõm nó vào ngực ông. Tôi muốn mang con ngựa về nhà và để nó ở nhà dưới còn chúng tôi ở trên gác nhưng cho dù tôi có dắt được nó vào cửa đi nữa thì mẹ tôi cũng sẽ mắng rằng nhà chúng tôi không cần gì nữa thì mới cần đến một con ngựa.

Từ Dock lên các phố khác đều là dốc cao nên ông Hannon không thể để tôi ngồi trên xe đạp mà đạp được, vì thế chúng tôi đi bộ. Chân ông đau nên phải mất khá lâu chúng tôi mói lên được đến phố Henry. Thỉnh thoảng ông Hannon đứng dựa vào chiếc xe hoặc ngồi xuống các bậc tam cấp của những nhà bên đường để nghỉ chân.

Tôi đang nghĩ không biết khi nào thì tôi nhận được tiền công từ ông Hannon bởi có lẽ khi tôi nhận được tiền mẹ tôi sẽ cho phép tôi đi xem phim ở rạp Lyric. Bây giờ chúng tôi đang đứng bên ngoài quán South và ông Hannon bảo tôi vào quán với ông ấy, chẳng phải ông đã hứa mua nước chanh cho tôi là gì?

Bác Pa đang ngồi trong quán. Bác ấy vẫn đen nhẻm như mọi khi và bên cạnh bác ấy là Bill Galvin, vẫn trắng như mọi khi, đang vừa khịt mũi vừa nốc những ngụm rượu từ ly rượu to của ông. Ông Hannon nói to:

- Các anh khỏe cả chứ?

Ông ngồi xuống cạnh Bill và mọi người trong quán cùng cười.

Chủ quán rượu nói:

Lạy Chúa, nhìn xem này, hai cục than, và một cục tuyết. Những người đàn ông khác ngồi trong quán đều quay ra nhìn hai người đàn ông đen như than ngồi hai bên và một người đàn ông trắng như vôi ngồi ở giữa và họ muốn gọi ngay một phóng viên ảnh của tờ Limerick Leader tới chụp một kiểu ảnh đãng báo. Bác Pa nói:

Cháu làm quái gì mà cũng đen thui thế hả, Frankie? Cháu ngã xuống mỏ than à? Cháu giúp ông Hannon đi giao than. Trông cháu tệ quá, Frankie ạ. Bụi than đấy mà, có gì đâu bác Pa. Về nhà nhớ kỳ cho sạch vào đấy. Vâng. Ông Hannon mua cho tôi một chai nước chanh, đưa cho tôi một shilling tiền công và bảo tôi đi về, và bảo rằng tôi là một công nhân cừ nên tuần sau hết giờ học lại đến giúp ông ấy.

Trên đường về nhà tôi nhìn mình qua cửa kính của một cửa hàng và thấy toàn thân tôi đen như than, và tôi cảm thấy mình là một người đàn ông, một người đàn ông với một shilling trong túi áo, một người đàn ông uống một chai nước chanh trong quán rượu với hai người đàn ông đen như than và một người đàn ông trắng như vôi. Tôi không còn là trẻ con nữa và tôi có thể dễ dàng rời khỏi cái trường Leamy ấy mãi mãi. Tôi có thể làm việc với ông Hannon cả ngày và khi chân ông ấy quá tệ không thể làm việc được nữa tôi sẽ thay thế ông ấy làm người giao than cho những người giàu cả đời và mẹ tôi sẽ không phải đi xin ăn ở nhà thờ Công giáo nữa.

Những người tôi gặp trên phố và trong ngõ đều nhìn tôi bằng con mắt tò mò. Những đứa con trai con gái cười và gọi to: “Này, thợ dọn ống khói. Bao nhiêu tiền một lần dọn ống khói thế? Mày ngã xuống hố than hay sao thế? Mày bị nhuộm đen đấy à?”.

Bọn đó là lũ ngu. Chúng đâu có biết tôi đã đi giao hàng tạ than cơ chứ. Chúng đâu biết tôi là một người đàn ông thực thụ.

Mẹ tôi đang cho Alphie ngủ ở trên gác và có một chiếc áo khoác được vắt trên cửa sổ để che ánh sáng. Tôi nói với mẹ rằng tôi đã kiếm được một shilling và mẹ tôi bảo tôi có thể đi xem phim ở rạp Lyric bởi vì tôi xứng đáng được như vậy. Mẹ tôi bảo tôi cầm đi hai xu còn lại thì cất ở bệ lò sưởi để mẹ mua bánh mì và trà. Chiếc áo bất ngờ rơi từ cửa sổ xuống và căn phòng trở nên sáng. Mẹ tôi nhìn tôi và rên lên:

Lạy Chúa, nhìn mắt con kìa. Đi xuống nhà mẹ rửa cho, mau. Mẹ tôi đun nước nóng và rửa mắt cho tôi rồi và bảo tôi không được đi xem phim cho tới khi nào mắt tôi sạch và chỉ có Chúa mới biết bao giờ mắt tôi mới sạch được. Mẹ tôi nói:

Mắt con như thế này con không thể đi giao than được. Bụi than sẽ làm hỏng mắt con mất. Tôi muốn có công việc đó. Tôi muốn mang tiền về nhà. Tôi muốn là một người đàn ông.

Bạn không thể là một người đàn ông khi mà bạn không mang được một shilling về nhà. Nhưng mẹ tôi quát:

Lên gác ngay, và nằm ở trên ấy cho mắt nghỉ ngơi nếu không con sẽ trở thành một người đàn ông mù đấy. Tôi muốn công việc đó. Tôi sẽ chịu khó rửa mắt ba lần một ngày. Tôi nhớ tới Seamus và lời khuyên tập chớp mắt của ông ấy và tôi quyết định sẽ dành ra mỗi ngày một tiếng để tập chớp mắt. Tôi chớp và chớp cho đến khi Malachy chạy ra ngõ tìm mẹ tôi trong khi mẹ tôi đang nói chuyện với bà Hannon về chuyện đi làm của tôi. Nó nói:

Mẹ ơi, anh Frankie làm sao ấy, anh ấy ở trên gác chớp mắt lia lịa. Mẹ tôi vội chạy về:

Con sao thế? Con tập để mắt khỏe hơn. Tập kiểu gì vậy? Tập chớp mắt ạ. Chớp mắt đâu phải là tập hả? Ông Seamus ở bệnh viện bảo cứ tập chớp mắt là có mắt khỏe mà. Chú ông ấy nhờ chớp mắt mà chữa được đôi mắt kém đấy. Mẹ tôi bảo tôi kỳ cục và lại đi ra nói chuyện tiếp với bà Hannon còn tôi thì tiếp tục ngồi chớp mắt và rửa mắt. Tôi nghe rõ tiếng bà Hannon nói:

Thằng Frank nhà chị là món quà Chúa gửi cho ông John nhà tôi đấy. Mẹ tôi không nói gì và thế có nghĩa là mẹ tôi cảm thấy thương bà Hannon và sẽ để tôi tiếp tục giúp ông Hannon đi giao than vào ngày thứ Năm bận rộn của ông ấy. Tôi rửa mắt ba lần mỗi ngày cho đến khi lông mi tôi đau mới thôi, ở trường khi thầy giáo không nhìn xuống tôi tranh thủ chớp mắt và tất cả bọn con trai trong lớp tôi gọi tôi là Chớp Mắt.

Chúng gọi tôi là gì tôi cũng chẳng quan tâm miễn là mắt tôi nhìn tốt và tôi có được công việc giao than trên một chiếc xe kéo. Tôi muốn bọn trêu chọc tôi nhìn thấy tôi trên xe than và muốn để chúng nhìn thấy tận mắt ông Hannon đưa dây cương cho tôi đánh xe để ông ấy hút thuốc được thoải mái. Tôi muốn bọn nó nghe thấy ông ấy nói với tôi; “Cầm cương này, Frankie, nhẹ nhàng thôi, không cần phải giật mạnh đâu”.

Ông ấy cũng đưa cho tôi cả roi nữa nhưng với con ngựa đó bạn chẳng bao giờ cần dùng đến roi. Tôi chỉ cầm cho oai thế thôi và thỉnh thoảng tôi vung roi lên không khí giống như ông Hannon hoặc dùng roi xua những con ruồi đậu trên mông con ngựa.

Chắc chắn những lúc như thế cả thế giới đều nhìn tôi và tôi rất khoái cảm giác được lắc theo chiếc xe, cảm giác được cầm roi và dây cương trong tay. Tôi ước gì tôi có một cái tẩu thuốc như cái tẩu của ông Hannon và một cái mũ lưỡi chai bằng vải tuýt như của ông ấy. Tôi ước trở thành một người làm than thực thụ với màu da đen như da ông Hannon và bác Pa Keating để người ta có thể nói: “Đó Frank McCourt đã giao tất cả than của Limerick này và uống rượu ở quán South”. Tôi sẽ không bao giờ rửa mặt. Ngày nào tôi cũng sẽ đen như than thậm chí cả vào ngày Giáng sinh khi người ta phải tắm rửa sạch sẽ để mừng Chúa ra đời cũng vậy.

Con ngựa cong đuôi lên và tuôn ra một bãi phân. Tôi giật nhẹ dây cương để nó có thể dừng lại nghỉ một chút nhưng ông Hannon nói:

- Không, Frankie, cứ để nó chạy. Giống ngựa là luôn bậy trong lúc đang phi mà. Đó là một trong những may mắn mà chúng được hưởng, chúng bậy trong lúc đang phi, và chúng không phải ngửi và không bị bẩn như con người, Frankie ạ. Không gì trên đời tệ bằng việc phải đi vào nhà vệ sinh sau một người đã ăn chân giò lợn và nốc rượu cả đêm. Mùi thối ở đó có thể làm vẹo lỗ mũi của một người khỏe mạnh. Ngựa thì khác. Chúng chỉ ăn cỏ và yến mạch thôi nên phân của chúng không khó ngửi.

Các ngày thứ Ba và thứ Năm sau khi tan học và sáng thứ Bảy tôi đi làm với ông Hannon và thế có nghĩa là tôi mang về được ba shilling cho mẹ tôi mặc dù mẹ tôi luôn lo lắng cho mắt của tôi. Hễ tôi đi làm về một cái là mẹ tôi lôi tôi đi rửa mắt ngay và bắt tôi phải nhắm mắt cho mắt nghỉ nửa giờ.

Ông Hannon bảo sau khi ông ấy đi giao than ở phố Barrington ông ấy sẽ đợi tôi ở gần trường Leamy. Giờ thì bọn học cùng tôi sẽ được mở mắt. Giờ thì chúng sẽ biết tôi là một người lao động thực thụ chứ không phải mắt lấm lét miệng rộng hoác nhảy điệu Jap nữa. Ông Hannon bảo: “Lên đi” và thế là tôi trèo lên xe như bất cứ người lao động nào. Tôi nhìn bọn con trai đang trố mắt nhìn tôi. Trố mắt ra nhìn. Tôi bảo với ông Hannon cứ việc hút thuốc để tôi cầm cương cho và tôi chắc rằng khi ông ấy đưa dây cương cho tôi bọn con trai đang nhìn tôi kia đứa nào đứa nấy há hốc miệng ra vì kinh ngạc. Tôi bảo con ngựa: “Đi nào”. Và tôi nói to để chắc rằng tất cả bọn đứng bên dưới đều nghe thấy, để chúng biết rằng chính tôi đang điều khiển một cái xe ngựa chứ không phải ai khác, để chúng không bao giờ quên rằng chính chúng đã nhìn thấy tôi ngồi trên một chiếc xe ngựa và chính tôi cầm cả dây cương và roi. Đó là ngày vui nhất trong đời tôi, vui hơn cả ngày lề Ban thánh thể đầu tiên của tôi và bị bà tôi làm hỏng, vui hơn cả ngày tôi nhận lễ Kiên tín bị thương hàn.

Bọn con trai ở trường không gọi tôi bằng những cái tên chúng vẫn gọi nữa. Chúng không trêu tôi nữa. Chúng muốn biết tôi được trả công thế nào và liệu tôi có định làm việc đó mãi mãi không. Chúng muốn biết liệu ở bãi than còn việc gì tốt không và nếu có thì chúng nhờ tôi mách cho chúng biết.

Rồi có những thằng con trai mười ba tuổi to lớn ghé sát mặt vào tôi và nghiến răng nói rằng đáng lẽ công việc tôi đang có phải là của chúng bởi vì chúng lớn hơn tôi còn tôi thì gầy nhẳng chẳng có ngực có vai gì hết. Chúng muốn nói bao nhiêu thì tùy. Tôi có công việc đó và ông Hannon thì luôn khen tôi được việc.

Có những hôm chân ông Hannon đau đến nỗi ông ấy gần như không đi được và những hôm đó bà Hannon rất lo. Bà ấy đưa cho tôi tách trà và tôi nhìn bà ấy vén ống quần ông ấy lên gỡ những mảnh gạc ra. Những vết thương ở chân ông ấy đỏ loét, màng mủ và dính bụi than. Bà ấy rửa những vết thương đó bằng xà phòng pha trong nước ấm và bôi thuốc mỡ lên. Bà ấy để chân ông ấy lên một cái ghế và ông ấy cứ ngồi như thế cả đêm đọc báo và đọc sách.

Chân ông ấy tệ đến nỗi buổi sáng ông ấy phải thức dậy sớm hơn một tiếng để cho chân khỏi cứng. Một sáng thứ Bảy trời vẫn còn tối ông Hannon đã gõ cửa nhà tôi và nhờ tôi sang hàng xóm mượn hộ ông ấy cái xe kéo để đi giao than bởi vì chân ông ấy tệ quá nên ông ấy không thể vác than được. Ông ấy cũng không thể chở tôi bằng xe đạp được vì vậy tôi phải kéo xe kéo đến bãi than gặp ông ấy ở đó.

Người hàng xóm nói:

Ông Hannon thì tôi sẵn sàng cho mượn, xin Chúa che chở cho ông ấy. Tôi đợi ở cổng bãi than và nhìn ông ấy đạp xe về phía tôi, chậm hơn mọi ngày rất nhiều. Chân ông ấy khó cử động đến nỗi ông ấy gần như không thể tự xuống xe được. Ông ấy khen tôi:

Frankie, cháu là một người đàn ông cừ đấy. Ông ấy để tôi thắng ngựa. Ông ấy để tôi đánh xe ra khỏi bãi than, để tôi đánh xe qua các phố mù sương và tôi ước gì tôi có thể đánh xe đi mãi mãi không bao giờ về nhà nữa. Ông Hannon chỉ cho tôi cách kéo các bao than ra thành xe và thả chúng xuống đất để lôi chúng lên xe kéo và kéo vào nhà người lấy than. Ông ấy bảo tôi cách nâng và đẩy các bao than mà không cần phải cố quá sức và với những chỉ dẫn của ông ấy đến trưa chúng tôi cũng đã giao xong mười sáu bao than. Tôi ước gì bọn con trai học cùng có thể nhìn thấy tôi, ước gì chúng có thể thấy tôi đánh xe và chuyển các bao than, ước gì chúng có thể thấy tôi làm mọi việc để chân ông Hannon nghỉ ngơi. Tôi ước gì chúng có thể thấy tôi đẩy chiếc xe tới quán South và uống nước chanh, ước gì chúng thấy tôi đen như than, ông Hannon đen như than, chú Pa đen như than, ngồi với Bill Galvil trắng như vôi.

Tôi muốn khoe với cả thế giới chỗ tiền khách hàng thưởng cho chúng tôi mà ông Hannon để tôi giữ, bốn shilling, và một shilling ông Hannon trả cho buổi làm việc của tôi, tất cả năm shiỉỉing.

Mẹ tôi đang ngồi bên bếp và khi tôi đưa tiền cho bà, bà nhìn tôi, buông rơi đồng tiền và bật khóc. Tôi không hiểu tại sao mẹ tôi lại như vậy bởi tôi cứ nghĩ tiền phải làm người ta vui chứ sao lại làm người ta khóc. Mẹ tôi nói:

- Nhìn mắt con đi. Đến soi gương và nhìn mắt con đi.

Mặt tôi đen như than còn mắt tôi thì trông tệ hơn bao giờ hết. Mắt tôi rất đỏ và còn có rỉ nữa.

Mẹ tôi bảo tôi không được đi làm nữa. Không theo ông Hannon nữa. Tôi cố giải thích rằng ông Hannon đang rất cần tôi. Ông ấy gần như không đi được nữa. Sáng nay tôi đã phải tự làm mọi việc thay ông ấy, từ thắng ngựa đến chuyển than vào các nhà.

Mẹ tôi bảo mẹ tôi rất ái ngại cho những khó khăn của ông ấy nhưng chúng tôi cũng có những khó khăn của mình và điều mà mẹ tôi muốn tránh nhất bây giờ là có một đứa con bị mù phải mò mẫm trên đường phố Limerick. Mẹ tôi bảo tôi bị thương hàn đã suýt chết rồi bây giờ chẳng lẽ tôi lại muốn bị mù.

Và tôi không thể không khóc bởi vì đây là cơ hội của chính tôi, cơ hội trở thành người đàn ông mang về nhà những đồng tiền mà chúng tôi không nhận được từ bố tôi. Tôi không thể không khóc bởi tôi tự hỏi sáng thứ Hai ông Hannon sẽ xoay xở thế nào khi chẳng có ai giúp ông ấy đẩy các bao than ra thành xe và chuyển vào các nhà. Tôi không thể không khóc bởi vì tôi nhớ cái cách ông ấy gọi con ngựa thật hiền hòa và con ngựa của ông ấy cũng thật hiền hòa và con ngựa ấy sẽ thê nào nếu ông Hannon không đến dắt nó ra, nếu tôi không đến dắt nó ra? Con ngựa đó liệu có chết đói vì đợi yến mạch, cỏ khô, và táo chúng tôi vẫn mang đến cho nó không?

Mẹ tôi bảo tôi không nên khóc, như thế không tốt cho mắt của tôi. Mẹ tôi nói:

- Rồi con sẽ thấy. Mẹ nói không sai đâu. Rồi con sẽ thấy.

Mẹ tôi rửa mắt cho tôi và đưa cho tôi sáu xu để đưa Malachy và Michael đi xem Boris Karloff trong bộ phim Người đàn ông không thể bị treo cổ và để mua kẹo Cleeves. Mắt tôi đổ rỉ nên tôi nhìn lên màn ảnh rất khó và Malachy phải thuật lại cho tôi nghe những diễn biến của bộ phim. Những người ngồi quanh chúng tôi bảo Malachy câm miệng để họ nghe những gì Boris Karloff nói, và khi Malachy cãi lại rằng nó chỉ đang giúp người anh trai mù của nó thì họ gọi người dẹp trật tự, ông Frank Goggin đến, và ông ta bảo chúng tôi rằng nếu ông ấy còn nghe thấy chúng tôi nói một lời nào nữa là ông ấy sẽ ném chúng tôi ra khỏi rạp.

Tôi cóc quan tâm. Tôi quệt thuốc mắt và rỉ mắt ở một bên mắt đi để có thể nhìn màn ảnh rõ hơn trong khi mắt kia của tôi rỉ lại ra đầy và tôi cứ rụi, quệt, nhìn màn ảnh, rồi lại rụi và quệt, và tất cả những gì tôi nhìn thấy chỉ là một màu vàng lờ mờ.

Sáng thứ Hai bà Hannon gõ cửa nhà chúng tôi. Bà ấy xin phép mẹ tôi cho tôi đến bãi than báo với người trực ở đó rằng ông Hannon không thể đi giao than được, rằng ông ấy phải đi khám bệnh, rằng ngày mai nhất định ông ấy sẽ đi làm và số than hôm nay ông ấy không giao được sẽ được giao bù vào ngày mai. Bây giờ bà Hannon luôn gọi tôi là Frank. Bất cứ ai đi giao được hàng tạ than cũng không thể bị gọi theo kiểu trẻ con là Frankie được.

Người trực bãi than nói:

Hừm, chúng tôi đã rất kiên nhẫn với cái ông Hannon đó rồi. Cậu, tên cậu là gì? McCourt, thưa ông. Bảo với ông Hannon là chúng tôi cần giấy xác nhận của bác sĩ. Cậu hiểu chứ? Vâng, thưa ông. Bác sỹ nói ông Hannon phải vào viện ngay nếu không bệnh của ông ấy sẽ biến chứng thành bệnh hoại thư và nếu thế bác sĩ sẽ không chịu trách nhiệm. Xe cứu thương chở ông Hannon đi và thế là việc làm tốt của tôi cũng ra đi luôn. Giờ tôi sẽ trắng như bất cứ ai ở trường, không xe ngựa, không ngựa, không shilling để mang về nhà cho mẹ tôi nữa.

Vài ngày sau cô Bridey sang nhà chúng tôi. Cô ấy nói mẹ cô ấy muốn gặp tôi, muốn tôi đến uống trà với bà ấy. Bà Hannon ngồi bên bếp để tay lên chiếc ghế ông Hannon vẫn ngồi.

Ngồi xuống đi, Frank, - bà ấy nói. Khi tôi ngồi xuống một chiếc ghế nhỏ trong bếp bà nói:

Không, cháu ngồi đây. Ngồi vào ghế của ông ấy. Cháu có biết ông nhà tôi bao nhiêu tuổi không? Ô, chắc là nhiều tuổi lắm. Ông ấy phải đến ba mươi lăm tuổi. Bà Hannon mỉm cười. Bà ấy có hàm răng rất đẹp:

Ông ấy bốn mươi chín tuổi, Frank ạ, và một người đàn ông ở cái tuổi đó đáng lẽ không phải chịu đựng một đôi chân tệ như thế. Vâng, thưa bà Hannon. Cháu có biết có cháu đi làm cùng trên chiếc xe ngựa ấy là một niềm vui đối với ông ấy nhà tôi không? Không ạ. Đúng như vậy đấy, Frank ạ. Chúng tôi chỉ có hai đứa con gái, Bridey mà cháu biết, và Kathleen, y tá ở Dublin. Chúng tôi không có con trai và ông ấy nói cháu khiến ông ấy cảm thấy cháu như con trai ông ấy vậy. Tôi thấy mắt mình cay cay và tôi không muốn để bà ấy nhìn thấy tôi khóc đặc biệt là khi tôi không biết vì sao tôi lại khóc. Vì việc làm của tôi ư? Vì ông Hannon ư?

Tôi nghĩ tôi khóc là vì cái cách bà Hannon nói về ông ấy nghe buồn quá và bà ấy như vậy là vì ông Hannon.

Bà ấy nói:

Giống như một đứa con trai vậy, và tôi mừng vì ông ấy có cái cảm giác đó. Cháu biết rồi đấy, ông ấy không thể làm việc được nữa. Từ giờ trở đi ông ấy sẽ phải ở nhà. Cũng có cách chữa trị và nếu may mắn ông ấy có thể kiếm công việc nhẹ nhàng như làm bảo vệ. Cháu sẽ không có việc nữa, bà Hannon ạ. Cháu có việc chứ, Frank. Học. Đó là việc của cháu đấy. Đó đâu phải là một công việc, bà Hannon. Cháu sẽ không bao giờ có được một việc nào khác giống như việc đó đâu. Ông ấy nhà tôi rất đau lòng khi nhìn cháu mang những bao than xuống xe và cả mẹ cháu cũng vậy. Làm việc đó mãi thì cháu sẽ hỏng mắt mất. Thề có Chúa tôi rất lấy làm tiếc vì đã lòi cháu vào chuyện này. Cháu có thể đến bệnh viện thăm ông Hannon được không ạ? Có lẽ họ không cho cháu vào đâu nhưng khi nào ông ấy về thì cháu sang đây thãm óng ấy bất cứ lúc nào cháu muốn. Giờ ông chẳng thể làm gì ngoài việc đọc sách và nhìn ra cửa sổ. Khi tôi về nhà mẹ tôi bảo:

Con không nên khóc. Nhưng rồi mẹ tôi lại bảo:

Nước mắt có muối và nước mắt sẽ làm bụi bẩn trong mắt con trôi ra.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của frank mccourt