Chính tiếng nói “có” của viễn cảnh đang bừng cháy bên trong làm chúng ta dễ dàng hơn để nói không với những điều kém quan trọng.
Viktor Frankl, nhà tâm lý học người Áo từng sống sót qua trại tập trung của Đức Quốc xã, đã khám phá ra một điều thật sự có ý nghĩa. Ông đã phát hiện ra trong con người mình một năng lực vượt lên trên hoàn cảnh tủi nhục mà ông phải chịu đựng, và ông vừa là người đứng ngoài quan sát vừa là người trực tiếp tham dự vào trải nghiệm đó. Ông đã quan sát người khác, những người cùng trải qua số phận như ông. Ông tò mò muốn biết lý do vì sao một số người có thể sống sót được trong khi hầu hết người khác đều không thoát chết.
Ông để ý đến nhiều yếu tố - sức khỏe, sự bền bỉ, xuất thân gia đình, trí tuệ, kỹ năng sống sót. Cuối cùng, ông đi đến kết luận những yếu tố này không phải là lý do chính. Ông nhận ra rằng yếu tố quan trọng nhất là một ý thức về viễn cảnh tương lai – niềm tin không lay chuyển luôn thôi thúc những người này phải sống sót để hoàn thành một sứ mệnh, một sự nghiệp quan trọng.
Những người sống sót qua các trại tù binh khác trên thế giới đều có những trải nghiệm giống nhau: một viễn cảnh tương lai mạnh mẽ là động lực chính giúp họ sống sót.
Một viễn cảnh có sức mạnh vô cùng lớn. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy những đứa trẻ có “hoài bão về vai trò của mình trong tương lai” sẽ đạt kết quả học tập vượt trội và có năng lực vượt qua thách thức lớn hơn so với những đứa trẻ khác. Những tập thể và tổ chức nào có nhận thức mạnh mẽ về sứ mệnh của họ sẽ có sức mạnh vượt trội so với những tập thể và tổ chức không có sức mạnh của viễn cảnh. Theo nhà tâm lý học Hà Lan Fred Polak, yếu tố chủ yếu có ảnh hưởng đến sự thịnh vượng của các nền văn minh là “viễn cảnh tập thể” của con người về tương lai.
Viễn cảnh là biểu hiện rõ nhất của trí tưởng tượng sáng tạo và là động lực chủ yếu đối với hành động của con người. Đó là khả năng nhìn xa hơn thực tại để xây dựng, sáng tạo ra điều chưa tồn tại, trở nên con người tốt đẹp hơn. Nó sẽ đem đến cho chúng ta năng lực để sống bằng trí tưởng tượng thay vì ký ức.
Trong chương này, chúng ta sẽ khảo sát tác động của viễn cảnh đến chất lượng sống và việc sử dụng thời gian của chúng ta. Chúng ta sẽ xem xét cách thức để tạo ra một viễn cảnh mạnh mẽ và cách hợp nhất nó vào cuộc sống hàng ngày.
Chúng ta ai cũng có một viễn cảnh về bản thân và về tương lai. Và viễn cảnh đó tạo ra những kết quả nhất định. Viễn cảnh có ảnh hưởng đến sự lựa chọn và cách sử dụng thời gian của chúng ta.
Nếu viễn cảnh của chúng ta hạn hẹp – không vượt xa hơn trận đấu bóng đá vào tối thứ sáu hay chương trình ti-vi sắp tới – chúng ta chỉ có thể đưa ra sự lựa chọn dựa vào những gì ở ngay trước mắt. Chúng ta sẽ đáp ứng bất cứ điều gì có tính khẩn cấp, nhất thời, tùy hứng, theo cảm xúc hay tâm trạng, theo nhận thức hạn chế về khả năng lựa chọn của chúng ta, và theo những ưu tiên của người khác. Chúng ta do dự, dao động. Chúng ta hay thay đổi quyết định – kể cả cách đưa ra quyết định – của chúng ta.
Nếu viễn cảnh của chúng ta dựa trên ảo tưởng, chúng ta sẽ không thể dựa vào các nguyên tắc “chính Bắc” để đưa ra lựa chọn. Trước sau, những lựa chọn này sẽ không đem đến kết quả là một cuộc sống có chất lượng như ta mong đợi. Viễn cảnh khi ấy biến thành một thứ vô giá trị. Chúng ta trở nên mất lòng tin, thậm chí đa nghi. Trí tưởng tượng sáng tạo của chúng ta héo mòn, và ta không còn muốn có ước mơ, hoài bão nữa.
Nếu viễn cảnh của chúng ta phiến diện – chẳng hạn chỉ tập trung vào các nhu cầu kinh tế và xã hội và bỏ qua các nhu cầu khác như trí tuệ và tinh thần – thì chúng ta sẽ đưa ra những lựa chọn dẫn đến sự mất cân bằng trong cuộc sống.
Nếu viễn cảnh của chúng ta dựa vào tấm gương phản chiếu xã hội, chúng ta sẽ đưa ra lựa chọn theo kỳ vọng của người khác. Người ta nói rằng “khi một người phát hiện ra tấm gương phản chiếu, anh ta bắt đầu đánh mất tâm hồn của mình”. Nếu viễn cảnh của chúng ta chỉ là sự phản chiếu của tấm gương xã hội, chúng ta sẽ không gắn kết với nội tâm của chính mình, với tiềm năng đặc biệt và khả năng cống hiến của chúng ta. Chúng ta sẽ sống theo kịch bản do người khác – gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, kẻ thù, phương tiện truyền thông... – vẽ sẵn cho chúng ta.
Những kịch bản đó là gì? Một số kịch bản xem ra cũng có tính xây dựng: “Anh là người rất có tài!”, “Anh là cầu thủ chơi bóng bẩm sinh!”; “Tôi đã nói rồi, anh nên làm bác sĩ!”. Một số kịch bản khác thì tiêu cực: “Anh quá chậm chạp!”, “Anh chẳng làm cái gì ra hồn cả!”, “Tại sao con không làm được như chị con?”. Dù tốt hay xấu, những kịch bản này ngăn cản bạn gắn kết với chính con người của bạn, với điều bạn quan tâm.
Và thử xem xét những hình ảnh mà giới truyền thống đưa ra – chủ nghĩa hoài nghi, sự ngờ vực, bạo lực, sự buông thả, thuyết định mệnh, chủ nghĩa vật chất.
Nếu những hình ảnh này là nguồn gốc của viễn cảnh cá nhân của chúng ta, thì đâu có gì lạ khi có nhiều người cảm thấy xa lạ và lạc lõng với chính con người mình?
Viễn cảnh dẫn đến sự biến đổi và vươn xa
Khi đề cập đến “sức mạnh của viễn cảnh”, chúng tôi muốn nói đến một năng lượng sâu xa, bền vững bắt nguồn từ một cách nhìn toàn diện, dựa vào các nguyên tắc, các nhu cầu cơ bản, khả năng thiên phú của con người, và vượt ra khỏi thời gian tuần tự (Chronos) và thậm chí cả thời gian chất lượng (kairos). Nó liên quan đến khái niệm niên kỷ (aeon) của thời gian, bắt nguồn từ chữ Hy Lạp aion, có nghĩa là một thời kỳ, một đời người, hay hơn nữa. Nó đụng chạm đến điều cốt lõi sâu xa: chúng ta là ai và chúng ta muốn gì. Nó được nhen nhóm bởi nhận thức về khả năng cống hiến độc đáo của chúng ta – để lại di sản cho thế hệ sau. Nó bao gồm việc làm rõ mục đích sống, định ra phương hướng, và cho chúng ta sức mạnh hành động vượt quá nguồn lực chúng ta có.
Chúng tôi gọi nó là “sức mạnh” vì viễn cảnh này có thể thành một động lực thúc đẩy mạnh mẽ, có thể coi nó như DNA của cuộc sống chúng ta. Nó được khắc sâu và kết nối với mọi khía cạnh của cuộc sống đến mức trở thành động lực thúc đẩy mọi quyết định của chúng ta. Nó là ngọn lửa bên trong – sự bùng nổ do sự hiệp lực bên trong, xuất hiện khi sự kết hợp bốn nhu cầu cơ bản đạt đến khối lượng tới hạn. Nó là năng lượng làm cho cuộc sống trở thành một cuộc phiêu lưu thú vị – sự bừng cháy ngọn lửa “có” trong lòng cho chúng ta sức mạnh để nói “không” – một cách bình thản và tin tưởng – với mọi thứ kém quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.
Sức mạnh này giúp chúng ta vượt qua nỗi sợ, sự hoài nghi, nản chí và các trở ngại khác ngăn cản chúng ta hoàn thành và cống hiến. Hãy xem xét những tấm gương, như Gandhi, một người xuất thân từ hoàn cảnh sống đầy sự tự ti, thiếu thốn, ganh tị, lo sợ và bất an. Ông thậm chí không muốn sống gần mọi người mà chỉ muốn sống một mình. Ông không muốn làm công việc của một luật sư cho đến khi dần dần bắt đầu tìm thấy niềm vui khi tìm ra giải pháp cùng thắng cho các bên chống đối nhau.
Nhưng khi bắt đầu nhìn thấy sự bất công đối với người dân Ấn Độ, thì một viễn cảnh được hình thành trong trái tim và khối óc của ông. Từ viễn cảnh đó đã nảy sinh ý tưởng thành lập một cộng đồng thí điểm – ashram – nơi mọi người có thể thực hành các giá trị bình đẳng. Gandhi đã nhận ra cách giúp người dân Ấn Độ thoát khỏi số phận thấp hèn của họ so với những kẻ cai trị là thực dân Anh, đồng thời phát triển ý thức về phẩm giá của họ.
Khi tập trung vào viễn cảnh của mình, thì về cơ bản, những nhược điểm trong tính cách của Gandhi biến mất. Viễn cảnh sống và mục đích sống dẫn đến sự trưởng thành và phát triển nhân cách. Ông muốn thương yêu, phục vụ nhân dân, sống cùng với nhân dân. Nguyện vọng lớn nhất của Gandhi là giành lại độc lập cho tổ quốc ông. Cuối cùng, ông buộc nước Anh phải khuất phục và trả lại tự do cho hơn 300 triệu người dân Ấn Độ.
Lúc cuối đời, Gandhi đưa ra chiêm nghiệm: “Tôi chỉ là một người dân bình thường với năng lực dưới mức trung bình. Tôi không một chút nghi ngờ rằng bất cứ ai, đàn ông hay phụ nữ, cũng có thể làm được điều tôi đã làm nếu người đó cũng cố gắng như tôi và biết tận dụng niềm tin và hy vọng”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy, một viễn cảnh cao cả có sức mạnh lớn hơn sức mạnh của tính cách đã hình thành từ hoàn cảnh sống, và nó có thể chi phối, áp đảo tính cách đó, cho đến khi toàn bộ tính cách được sắp xếp lại nhằm thực hiện viễn cảnh ấy.
Sức mạnh của một viễn cảnh được mọi người chia sẻ cho con người ta sức mạnh để vượt qua các quan hệ tương tác nhỏ nhen, tiêu cực vốn thu hút phần lớn thời gian và sức lực của chúng ta và làm giảm đi chất lượng cuộc sống.
Stephen: Gần đây, tôi có dành hai ngày để làm việc với tập thể giáo viên và quản lý của một trường cao đẳng tại một tỉnh của Canada. Họ đang xử lý những vấn đề đang gây chia rẽ, và họ đang chịu sự chi phối bởi lối tư duy hẹp hòi. Toàn trường đang sống trong không khí ích kỷ, nhỏ nhen và tố cáo lẫn nhau.
Tôi có yêu cầu họ dành thời gian để suy nghĩ về tuyên ngôn sứ mệnh. Họ trở nên cởi mở hơn và cuối cùng đã xác định sứ mệnh của họ là “trở thành trường cao đẳng giáo dục kiểu mẫu” trong tỉnh. Họ muốn trở thành một tổ chức biết quan tâm và tư vấn cho các trường khác về cách làm việc dựa vào nguyên tắc.
Khi họ đi đến quyết định đó, thì sự nhỏ nhen, ích kỷ biến mất. Giờ đây, họ được thúc đẩy bởi những điều quan trọng hơn, hướng tới mục đích cao cả hơn, làm cho mọi thứ nhỏ nhen khác trở nên vô nghĩa.
Đây đúng là điều xảy ra khi người ta thực sự có ý thức về việc để lại một di sản, ý thức về điều quan trọng, về sự cống hiến. Hình như những điều này đã chạm vào phần sâu nhất trong khối óc và con tim của con người. Nó đem đến điều tốt nhất cho họ và chi phối mọi điều còn lại. Cái nhỏ nhen trở nên vô nghĩa khi người ta say mê một mục đích cao hơn bản ngã.
Sức mạnh của loại viễn cảnh mà chúng ta đang nói đến có tác động đến sự biến đổi và vươn xa – có lẽ là tác động lớn nhất mà một yếu tố có thể gây ra đối với cách sử dụng thời gian và chất lượng cuộc sống của con người.
Xây dựng và sống cùng một bản tuyên ngôn sứ mệnh mạnh mẽ
Cách khai thác tốt nhất sức mạnh của viễn cảnh là xây dựng bản tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân và gắn kết cuộc sống của bạn với nó.
Có thể bạn đã biết khái niệm về tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân. Ý tưởng này không có gì mới. Con người ở các nền văn hóa khác nhau đã từng viết ra các tuyên ngôn của niềm tin, của những đức tin cá nhân và các tuyên ngôn khác trong suốt quá trình lịch sử. Có thể bạn cũng đã từng viết tuyên ngôn của mình như một phần của chương trình phát triển cá nhân.
Qua tiếp xúc với nhiều tuyên ngôn sứ mệnh trên thế giới, chúng tôi thấy mỗi tuyên ngôn có sức mạnh khác nhau. Nhiều người khi viết tuyên ngôn sứ mệnh lần đầu thường viết để làm hài lòng hay gây ấn tượng với người khác. Họ không đi sâu hay cố gắng liên kết sâu sắc với nội tâm của mình. Các tuyên ngôn sứ mệnh của họ trở thành một mớ hỗn tạp vô vị, một bản liệt kê các “hành động” được cất vào ngăn kéo để thỉnh thoảng lấy ra nhằm lên dây cót tinh thần.
Ở mức độ các tổ chức, điều này xảy ra khi các tuyên ngôn sứ mệnh xuất phát từ cấp lãnh đạo “ngồi trên đỉnh Olympus” và được bộ phận PR đánh bóng lên. Các tuyên ngôn loại này được treo trên tường, nhưng không nằm trong con tim và khối óc của những người có liên quan.
Điều chúng ta đề cập ở đây không đơn thuần chỉ là viết ra tuyên ngôn của niềm tin, mà là sự truy cập và tạo ra sự gắn kết với sức mạnh nội tâm, xuất phát từ nhận thức sâu sắc về mục đích và ý nghĩa cuộc sống. Chúng ta đang nói đến việc tạo ra một viễn cảnh có sức mạnh dựa vào các nguyên tắc “chính Bắc”, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện viễn cảnh đó. Chúng ta đang nói đến một cảm giác lý thú và mạo hiểm nảy sinh từ việc gắn kết với mục đích sống riêng biệt của bạn và niềm mãn nguyện sâu sắc khi đạt được mục đích đó.
Rèn luyện óc tưởng tượng sáng tạo
Nếu bạn chưa từng viết một bản tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân nào – hay dù đã từng viết nhưng giờ đây bạn muốn có một cách nhìn khác – chúng tôi mời bạn dành ra vài phút để rèn luyện khả năng thiên phú về óc tưởng tượng sáng tạo của bản thân. Bạn hãy tưởng tượng ra sinh nhật 80 tuổi của mình hay kỷ niệm lần thứ 50 ngày cưới của vợ chồng bạn. Hãy tưởng tượng một buổi lễ long trọng có bạn bè, người thân, đồng nghiệp từ khắp nơi đến chúc mừng. Hãy tưởng tượng càng cụ thể, càng chi tiết càng tốt – địa điểm, khách khứa, trang trí...
Hãy nhìn những người có mặt bằng con mắt tâm hồn của bạn, khi họ đứng đó, lần lượt từng người đến chúc mừng bạn. Giả sử rằng họ đại diện cho những người liên quan đến các vai trò mà hiện nay bạn đang đảm nhiệm trong cuộc sống – có thể đó là vai trò làm cha mẹ, thầy giáo, bạn bè, nhà quản lý... Giả sử rằng bạn đã hoàn thành tốt nhất các vai trò này bằng tất cả khả năng của bạn.
Những người này sẽ nói gì? Tính cách nào của bạn sẽ được người khác ghi nhớ ? Người ta sẽ nhắc đến những đóng góp nào của bạn? Bạn hãy nhìn những người đứng quanh đó. Bạn đã tạo ra sự khác biệt quan trọng nào đối với cuộc sống của họ?
Khi bạn suy ngẫm, hãy cố viết ra các vai trò của bạn, và bên cạnh từng vai trò đó, là những lời phát biểu mà bạn muốn nghe người khác nói nhân dịp này.
Bạn cảm thấy thế nào khi nhìn vào viễn cảnh mà cuộc đời của bạn sẽ đem lại? Bạn có muốn biến viễn cảnh đó thành hiện thực? Vậy thì bạn hãy bảo đảm rằng nó được xây dựng dựa vào các nguyên tắc và gắn với những đòi hỏi nội tâm của bạn, hãy biến nó thành từng lời nói hàng ngày, dùng nó làm cơ sở để tổ chức công việc trong Phần tư thứ II hàng tuần, ghi nhớ nó, hình dung việc hoàn thành nó, tạc sâu nó vào con tim và khối óc để bất cứ lúc nào trong cuộc sống bạn cũng tiếp xúc với nó.
Bài luyện tập nhanh này sẽ đem đến cho bạn sự hiểu biết về sức mạnh tiềm tàng của một viễn cảnh. Để thực sự có được một tuyên ngôn sứ mệnh mạnh mẽ, bạn cần có thời gian và sự đầu tư nghiêm túc. Và dĩ nhiên, chúng ta cần đi vào cuộc sống nội tâm sâu kín và gắn kết với nó.
Đi vào cuộc sống nội tâm sâu kín
Theo một nghĩa nào đó, chúng ta ai cũng có ba cuộc sống. Chúng ta có một cuộc sống công cộng, nơi chúng ta giao tiếp với những người khác tại nơi làm việc, trong cộng đồng, tại các sự kiện xã hội. Chúng ta có cuộc sống riêng, nơi chúng ta sống tách khỏi cuộc sống công cộng. Chúng ta có thể sống một mình hay sống với bạn bè, gia đình.
Nhưng cuộc sống có ý nghĩa nhất là cuộc sống trong nội tâm sâu kín của chúng ta. Đây là nơi chúng ta gắn kết với những khả năng thiên phú của con người về sự tự nhận thức, lương tâm, ý chí độc lập và trí tưởng tượng sáng tạo. Không có những khả năng thiên phú này, không thể nào tạo ra được một viễn cảnh mạnh mẽ mang lại một cuộc sống có chất lượng.
Sự tự nhận thức
Trong cuộc sống nội tâm của mình, chúng ta có thể sử dụng khả năng thiên phú về tự nhận thức để khảo sát các nhu cầu và năng lực của bản thân và liên kết chúng với một mức độ rất cơ bản. Chúng ta có thể kiểm tra mô thức của mình, nhìn vào các gốc rễ và các kết quả trong cuộc sống của chúng ta, khảo sát các động cơ của mình. Một trong những ứng dụng có sức mạnh của sự tự nhận thức là nhận thức về lương tâm và cách hoạt động của nó bên trong con người chúng ta.
Lương tâm
Lương tâm làm cho chúng ta có khả năng tiếp xúc được với cả cái riêng và cái chung.
Chỉ khi dựa vào lương tâm, chúng ta mới có thể khám phá ra mục đích riêng và khả năng cống hiến của chúng ta. Bạn hãy nghĩ về những con người đại diện cho từng vai trò trong bài tập tưởng tượng về kỷ niệm ngày sinh hay ngày cưới mà bạn vừa trải nghiệm, và về cơ hội độc đáo mà bạn có để ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Không ai khác có vai trò làm cha hay làm mẹ như bạn có đối với con cái của mình. Không ai khác có vai trò làm chồng hay vợ như bạn có đối với người bạn đời của mình. Không ai khác có vai trò làm thầy thuốc như bạn có đối với bệnh nhân của mình, vai trò thầy giáo đối với học sinh của mình, hay vai trò người chị, người bạn, người tình nguyện viên cộng đồng mà bạn có đối với những người mà bạn có thể tác động đến cuộc sống của họ. Đối với sự đóng góp mà chỉ có bạn mới làm được, không ai khác có thể làm thay. Viktor Frankl nói chúng ta không tự tạo ra sứ mệnh của mình; chúng ta chỉ phát hiện ra nó. Nó nằm sẵn trong ta chờ được thực hiện.
“Ai cũng có công việc riêng hay sứ mệnh riêng trong cuộc sống; ai cũng phải thực hiện sứ mệnh cụ thể đó. Ở đó ta không thể thay thế, cuộc đời của ta cũng không thể được lặp lại. Do đó, nhiệm vụ của mỗi người là rất riêng biệt giống như cơ hội riêng biệt mà ta có để thực hiện nó.”
Nhà cải cách xã hội và nhà văn thế kỷ 19, William Ellery Channing đã nói:
“Mỗi con người có một công việc để làm, những nghĩa vụ để thực hiện, một ảnh hưởng để tác động - những thứ chỉ riêng ta có và không có lương tâm nào trừ lương tâm của chính ta có thể mách bảo.”
Chỉ khi chúng ta kết nối với lương tâm của mình trong cuộc sống nội tâm sâu kín, chúng ta mới có thể tạo ra ngọn lửa bên trong. Như nhà thám hiểm, nhà văn và nhà làm phim Sir Laurens van der Post từng nói:
“Chúng ta cần đi vào nội tâm, nhìn vào bản thân mình; nhìn vào tâm hồn chúng ta; hãy nhìn và lắng nghe nó. Nếu bạn không lắng nghe điều bạn đang mơ ước, nói cách khác, không trả lời tiếng gõ cửa trong đêm tối, bạn sẽ không thể nào kịp thời thoát ra khỏi nơi chúng ta bị giam giữ, để trở lại nơi đang diễn ra những hành động vĩ đại.”
Roger: Vài năm trước, tôi gặp Tom tại một cuộc hội thảo của sinh viên đại học. Khi được yêu cầu tự giới thiệu về mình và nói vài điều về mục tiêu của bản thân, Tom nói rằng cậu đang học ngành xây dựng. Sau đó trong cuộc hội thảo, tôi yêu cầu Tom chia sẻ với người khác điều cậu sẽ làm nếu có một tháng rảnh rỗi và một nguồn kinh phí không giới hạn.
Mặt Tom hớn hở hẳn lên. “Điều đó quá dễ!”, cậu trả lời rất nhiệt tình. “Tôi sẽ mua một chiếc cưa bàn, một tấm ván, và nhiều dụng cụ khác. Tôi sẽ đặt chúng vào trong ga-ra nhà tôi, tập họp tất cả đám trẻ trong khu nhà lại và chúng tôi sẽ làm ra các thứ - những cái bàn, mô hình nhà, đồ gỗ... thật là tuyệt!”.
Khi nhìn vào đôi mắt đang bừng sáng đó, tôi không khỏi nhớ lại nỗi ác cảm mà Tom để lộ khi nói về môn học chuyên ngành của mình vài phút trước đó.
“Em thực sự muốn dạy học phải không?”, tôi hỏi.
“Em thích nó”, cậu ấy trả lời đơn giản.
“Em thích chơi với các dụng cụ đồ nghề?”
“Ô, anh đoán đúng đấy!”
“Em thích lớp học chuyên ngành xây dựng đến mức nào?”
“Ồ, Em không biết nữa. Nghề này kiếm được nhiều tiến đấy...”
Giọng nói của cậu ta chùng xuống.
“Tom à,” tôi nói, “có bao giờ em nghĩ họ trả tiền cho những người dạy trẻ em dùng đồ nghề để làm các thứ như em đã kể?”
Thật là điều thú vị khi quan sát nét mặt Tom lúc ấy. Rõ ràng quyết định chọn học ngành xây dựng không phải là kết quả của sự gặp nhau từ nội tâm giữa tài năng và một ý thức muốn cống hiến. Nhưng khi chạm vào sự kết hợp đó, dù là ngắn ngủi – khi Tom đột ngột nhận ra khả năng thực hiện được mơ ước riêng của mình – cậu trở nên rất hăng hái.
Trong khi Tom có thể trở thành một kỹ sư xây dựng bình thường, điều dễ nhận ra là cậu ấy có thể trở thành một giáo viên dạy nghề mộc hiếm có, và tình yêu của Tom đối với nghề mộc và đám trẻ sẽ là nguồn sức mạnh để cậu tạo ra sự khác biệt.
Lương tâm không chỉ đưa chúng ta tiếp xúc với cái riêng của mình; nó còn giúp chúng ta tiếp xúc với các nguyên tắc “chính Bắc” phổ quát tạo ra chất lượng cuộc sống. Chúng ta có thể dùng lương tâm để liên kết các giá trị và chiến lược với các nguyên tắc, bảo đảm cho cả mục đích lẫn phương tiện của tuyên ngôn sứ mệnh (tức sự cống hiến và các phương pháp được sử dụng để cống hiến) của chúng ta đều dựa vào nguyên tắc.
Trí tưởng tượng sáng tạo
Mỗi khi dựa vào lương tâm, chúng ta có thể dùng khả năng thiên phú về trí tưởng tượng sáng tạo để nhìn xa và đem lại ý nghĩa cho viễn cảnh bằng cách viết ra một tuyên ngôn sứ mệnh mạnh mẽ. Đây là bản thiết kế trước khi xây dựng; là sự kiến tạo bằng trí tuệ trước khi kiến tạo vật chất.
Sau khi viết bản tuyên ngôn sứ mệnh, chúng ta có thể dùng trí tưởng tượng sáng tạo của mình để hình dung ra bản thân mình sống với nó – ban ngày tại nơi làm việc, buổi tối khi trở về nhà, khi chúng ta đã mệt mỏi, khi những kỳ vọng của chúng ta không được thỏa mãn, khi chúng ta thất vọng. Chúng ta có thể dùng trí tuệ của mình để đương đầu và giải quyết một cách sáng tạo những thách thức khó khăn nhất cho sự chính trực của chúng ta. Chúng ta có thể sống nhờ trí tưởng tượng của mình thay vì ký ức.
Ý chí độc lập
Sống theo tuyên ngôn sứ mệnh của mình có nghĩa là chúng ta bơi ngược dòng, chống lại hoàn cảnh, các thói quen cố hữu hay các khuôn mẫu đã được dạy dỗ.
Muốn thế, chúng ta cần dùng đến khả năng thiên phú về ý chí độc lập. Chúng ta cần chủ động hành động thay vì bị động đối phó.
Sức mạnh của viễn cảnh cho chúng ta sự hiểu biết mới về ý chí độc lập. Không có sức mạnh của viễn cảnh, “kỷ luật” chỉ là sự hà khắc và gò bó – sự kiềm chế bản thân, cắn răng chịu đựng, đấu tranh cật lực trong cuộc sống. Nhưng sức mạnh của viễn cảnh sẽ giải phóng sức mạnh liên kết giữa “kỷ luật” với “môn đệ” (disciple), từ gốc của “kỷ luật” (discipline). Chúng ta trở thành môn đệ của những mệnh lệnh nội tâm, tự nguyện đặt những điều không quan trọng phải phục tùng tiếng nói “có” đang bừng cháy bên trong. Thay vì tập trung vào “kiểm soát”, chúng ta tập trung vào “giải phóng”.
Chìa khóa của động lực chính là động cơ. Đó chính là cái vì sao. Chính tiếng nói “có” đang bừng cháy bên trong làm chúng ta dễ dàng hơn để nói không với những điều kém quan trọng.
Những đặc điểm của tuyên ngôn sứ mệnh
Có cơ hội được đọc hàng trăm bản tuyên ngôn sứ mệnh trên khắp thế giới, chúng tôi coi đó là sự trải nghiệm quý giá để nhìn sâu hơn vào cuộc sống nội tâm của nhiều người. Khi đọc từng bản tuyên ngôn, chúng tôi cảm thấy như đang được đứng trên một mảnh đất thiêng liêng.
Những tuyên ngôn này rất đa dạng. Từ tuyên ngôn chỉ gồm vài từ cho đến tuyên ngôn dài nhiều trang giấy. Một số lại được diễn đạt bằng âm nhạc, thơ ca và nghệ thuật. Nhưng cái chung là mỗi viễn cảnh cá nhân đều độc đáo.
Một trong các minh chứng lớn nhất cho chân lý “chính Bắc” là trong hầu hết các tuyên ngôn này đều chứa những quy luật cơ bản của cuộc sống. Các nguyên tắc cơ bản, sự công nhận bốn nhu cầu cơ bản và các năng lực – sống, yêu thương, học tập, để lại di sản – đều có tính chất phổ quát, bất kể sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, quốc gia, dân tộc. Bất kể là ai hay ở đâu, khi đi sâu vào cuộc sống nội tâm, con người đều cảm nhận được nguyên tắc “chính Bắc”.
Những tuyên ngôn sứ mệnh có sức mạnh nhất thường có những đặc điểm chung được liệt kê dưới đây. Bạn có thể tham khảo danh sách này khi viết tuyên ngôn sứ mệnh của mình, hay để xem xét lại bản tuyên ngôn đã viết.
Một tuyên ngôn sứ mệnh có sức mạnh:
1. Đại diện cho điều sâu sắc nhất và tốt đẹp nhất bên trong con người bạn. Nó xuất phát từ sự liên kết vững chắc với cuộc sống nội tâm của bạn.
2. Là sự hoàn thiện của những phẩm chất độc đáo của bạn. Đó là sự biểu hiện năng lực cống hiến độc đáo của bạn.
3. Có tính ưu việt. Nó dựa vào các nguyên tắc của sự cống hiến và mục đích cao hơn bản ngã.
4. Đề cập đến và liên kết tất cả bốn nhu cầu cơ bản và năng lực của con người. Nó bao gồm sự thỏa mãn về các mặt vật chất, xã hội, trí tuệ và tinh thần.
5. Dựa trên các nguyên tắc tạo ra các kết quả của cuộc sống có chất lượng. Cả mục đích và phương tiện đều dựa vào các nguyên tắc “chính Bắc”.
6. Đề cập đến cả viễn cảnh và các giá trị dựa trên nguyên tắc. Chỉ có giá trị mà không có viễn cảnh thì không đủ - bạn muốn trở thành người tốt, nhưng không phải tốt chung chung mà tốt cho một điều gì. Mặt khác có viễn cảnh mà thiếu các giá trị sẽ tạo ra một Hitler. Một tuyên ngôn sứ mệnh có sức mạnh sẽ nói về cả tính cách lẫn năng lực; bạn muốn trở thành con người như thế nào và bạn muốn làm gì trong cuộc đời.
7. Đề cập đến tất cả các vai trò quan trọng trong cuộc sống của bạn. Nó đại diện cho sự cân bằng suốt đời giữa cuộc sống riêng, gia đình, công việc, cộng đồng – bất kể vai trò nào bạn cảm thấy là “của mình” thì đều được bạn thực hiện.
8. Được viết ra để thôi thúc bạn – chứ không phải để gây ấn tượng cho một ai khác. Nó “giao tiếp” với bạn và thôi thúc bạn với một mức độ cao nhất.
Một tuyên ngôn sứ mệnh có những đặc điểm nói trên sẽ có nền tảng toàn diện, sâu sắc và dựa trên nguyên tắc để làm cho nó có sức mạnh.
Từ tuyên ngôn sứ mệnh đến thời khắc ra quyết định
Dù đã viết ra một tuyên ngôn mạnh mẽ, điều quan trọng cần nhận rõ là bạn không thể đưa sứ mệnh vào các thời khắc cuộc sống nếu không có sự rèn luyện hàng tuần – suy ngẫm về nó, ghi nhớ nó, khắc sâu nó vào con tim và khối óc, xem xét lại nó và dùng nó làm cơ sở cho việc tổ chức Phần tư thứ II. Bạn sẽ thấy bổ ích nếu có đợt đi nghỉ ngơi – có thể một năm một lần – để đánh giá và cập nhật lại nó.
Thật không may, nhiều người sống với mô thức hiệu suất công việc theo thế hệ quản trị thời gian thứ ba thường xóa bỏ việc “viết tuyên ngôn sứ mệnh” khỏi bản danh sách công việc cần làm. Như nhận xét của một người phụ nữ sau:
Khi viết bản tuyên ngôn sứ mệnh của mình, tôi có cảm giác thực sự hài lòng. Nhưng sau đó tôi đem lưu nó vào hồ sơ và coi đó như việc “đã được thực hiện”.
Công việc của tôi diễn ra trôi chảy nhiều tháng – thành công trong kinh doanh, đạt được các mục tiêu, tiến lên phía trước. Tôi ngày càng tập trung nhiều vào cái mình “muốn có” – chiếc xe mới, ngôi nhà mới.
Tôi viết ra các mục tiêu – “Chúng tôi muốn xây dựng ngôi nhà này”. Vậy chúng tôi cần làm gì? Cần tiết kiệm khoản tiền này, cần chứng minh cho khoản vay kia – tất cả những việc đại loại như vậy. Tôi nghĩ rằng mình đã làm đúng.

Thế rồi vào một buổi tối, tôi thấy mình ngồi đơn độc trong ngôi nhà mới đẹp đẽ suy nghĩ: “Tại sao mình không thấy hạnh phúc nhỉ?”. Tôi đã nghĩ rằng khi đạt thỏa thuận về khoản vay, khi đã ký các giấy tờ, thì ngay lập tức tôi có được cái mà tôi ước ao. Nhưng tôi chỉ cảm thấy đơn độc. Tôi nghĩ “Ở đây hình như thiếu điều gì đó”. Tôi không cảm thấy có hạnh phúc từ những thứ tôi đang có.
Khi tiếp tục suy nghĩ, tôi trông thấy tập hồ sơ. Thế là tôi mở nó ra và đọc bản tuyên ngôn sứ mệnh mình đã viết ngày trước. Tôi chưa lần nào đọc lại bản tuyên ngôn đó từ khi xây dựng ngôi nhà.
Khi đọc lại, tôi nhận ra trong đó không có điều nào nói về vật chất cả. Tất cả mọi thứ đều nói về cái tôi “muốn trở thành” – tôi muốn là một con người tốt... tôi muốn là một tấm gương... tôi muốn là một người mẹ tốt.
Tôi thấy mình khóc. Tôi ngồi trong một ngôi nhà mới xây đẹp đẽ và tắt đèn để suy nghĩ. Tôi đã nghĩ rằng tôi sẽ hạnh phúc khi tôi có những thứ này, rằng ngay khi có ngôi nhà mới, hay chiếc xe mới hay bất cứ thứ gì khác tôi muốn, thì tôi sẽ hạnh phúc. Nhưng giờ đây, tôi nhìn vào tất cả những thứ tôi đã có và thấy mình không phải là con người mà mình muốn trở thành.
Tuyên ngôn sứ mệnh không phải là một việc “cần làm” và được gạch khỏi danh sách sau khi thực hiện. Để có sức mạnh, nó phải trở thành một tư liệu sống, một bộ phận trong cuộc sống của chúng ta. Một người khác đã chia sẻ kinh nghiệm sau:
Một thời gian ngắn sau khi tôi viết bản tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân, vợ chồng tôi đã tuyệt giao với vợ chồng một người bạn rất thân. Chúng tôi chẳng hiểu vì sao lại như thế. Chúng tôi chỉ biết là điều này trước sau cũng xảy ra và rồi đột ngột, đã có giọt nước làm tràn ly, và chúng tôi không còn là bạn bè với nhau nữa.
Vợ chồng tôi sống trong nỗi buồn suốt hai tháng trời. Chúng tôi cũng có dịp gặp gỡ với những người bạn chung khác, nhưng chúng tôi không nói chuyện với nhau. Hàng đêm vợ chồng tôi lại đưa chuyện này ra bàn. Không một ngày nào tôi không nghĩ về người bạn này và tìm cách để hàn gắn lại tình bạn.
Một buổi tối khi tôi đang lái xe về nhà thì thình lình có một ý nghĩ nảy ra trong đầu – Cách xử lý tình huống của tôi từ đầu đến cuối việc này có phù hợp với sứ mệnh của cá nhân tôi trong tư cách một người bạn? Một phần của tuyên ngôn sứ mệnh của tôi nói về việc học tập các bài học trong cuộc sống để thông qua đó có sự hiểu biết, trưởng thành và truyền đạt lại cho những người khác – không chỉ những người trong gia đình của tôi, mà còn bạn bè và bất kỳ ai khác có cùng vấn đề và hoàn cảnh.
Đột nhiên tôi nhận ra cách xử sự của mình không nhất quán với sứ mệnh của tôi, và trong khoảnh khắc đó – điều này có vẻ hơi lạ – tôi cảm thấy như được giải tỏa khỏi mọi lỗi lầm và buồn phiền. Tôi hiểu mình cần thực sự hiểu rõ toàn bộ trải nghiệm này và rút ra bài học từ đó – điều bất ổn gì đã xảy ra, nó đã xảy ra như thế nào – và sau đó là làm hòa với bạn. Đến lúc đó, tôi đã có thể đảm nhận sứ mệnh của mình và gắn nó với vấn đề mình đang gặp phải.
Tôi đến gặp người bạn và nói với anh ấy rằng tôi thực sự xin lỗi về mọi chuyện đã xảy ra và việc xích mích này đã làm cho vợ chồng tôi rất buồn. Thái độ của tôi rất chí tình và cởi mở. Tôi thực sự muốn biết bạn tôi nghĩ thế nào và điều gì đã xảy ra.
Lúc ấy, người bạn tôi dịu xuống và sẵn lòng nói ra những điều anh cho là nguyên nhân của vấn đề và nhận rằng có thể vợ chồng anh ấy đã sai. Chúng tôi đã có thể giao tiếp với nhau thực lòng và giải quyết vấn đề tồn tại. Sau đó, chúng tôi cùng gặp với hai người vợ của chúng tôi và cả hai cũng có thái độ tương tự.
Đó là một kinh nghiệm tuyệt vời. Tôi còn thầm cám ơn nỗi buồn tôi từng trải qua vì việc này. Nó giúp tôi nhận ra sức mạnh và sự thiết thực của tuyên ngôn sứ mệnh. Nó có sức sống, nó là một tư liệu sống.
Từ kinh nghiệm này, tôi có thể nhận ra những kinh nghiệm khác trong các vai trò và trách nhiệm khác của mình. Theo cách ấy, toàn bộ ý tưởng về quản trị thời gian theo Phần tư thứ II và ưu tiên cho điều quan trọng nhất đã đi vào cuộc sống của tôi. Tôi đã có thể đặt nó vào bất cứ tình huống nào và quyết định cách phản ứng tốt nhất của mình trong từng trường hợp.
Hầu hết những người cảm thấy sức mạnh được nhân lên nhờ tuyên ngôn sứ mệnh của mình cho rằng có những lúc họ thấy tuyên ngôn sứ mệnh của họ đang “sống” thật. Họ làm chủ nó. Nó thuộc về họ. Khi đó, có sự liên kết sống động giữa sứ mệnh và từng khoảnh khắc cuộc sống của họ.
Một di sản viễn cảnh
Tạo lập và sống theo tuyên ngôn sứ mệnh có ảnh hướng lớn đến cách sử dụng thời gian. Khi chúng ta nói về quản trị thời gian, điều nực cười là có người quan tâm đến tốc độ hơn là phương hướng của hành động, đến việc tiết kiệm thời gian vài phút trong khi có thể lãng phí hàng năm. Viễn cảnh là động lực cơ bản thúc đẩy mọi thứ khác tiến lên trong cuộc sống. Nó làm chúng ta đam mê với nhận thức về sự cống hiến độc đáo của mình. Nó cho chúng ta sức mạnh để ưu tiên cho điều quan trọng nhất, coi trọng cái la bàn hơn chiếc đồng hồ, coi trọng con người hơn lịch trình làm việc hay sự vật. Tạo lập tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân và gắn kết với nó là một trong những sự đầu tư quan trọng nhất vào Phần tư thứ II của chúng ta.
Trong khi chúng ta sống, yêu thương và học tập những ý nghĩa lớn hơn trong cuộc sống, chúng ta nhận ra rằng di sản lớn nhất mà chúng ta để lại cho thế hệ sau chính là viễn cảnh. Điều mà con cháu chúng ta và những người khác nhìn về bản thân họ và tương lai của họ có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của tất cả chúng ta.
CÁC MỤC TIÊU NHẰM TẬN DỤNG SỨC MẠNH CỦA VIỄN CẢNH
• Đặt ra thời gian Phần tư thứ II hàng tuần để khai thác cuộc sống nội tâm phong phú, để nuôi dưỡng một nơi yên bình trong con người bạn, nơi bạn có thể kết nối với cái la bàn nội tâm của mình.
• Đặt kế hoạch nghỉ ngơi cho bản thân để tìm hiểu phần hướng dẫn về tuyên ngôn sứ mệnh và viết bản tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân của mình.
• Dành thời gian để đánh giá và rà soát lại bản tuyên ngôn sứ mệnh hiện có.
• Ghi nhớ nội dung tuyên ngôn sứ mệnh của mình.
• Đặt mục tiêu “mài sắc lưỡi cưa” hàng ngày để hình dung bản thân mình sống với tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân.
• Rà soát tuyên ngôn sứ mệnh của bạn hàng tuần trước khi bắt đầu tổ chức công việc.
• Giữ lại sổ ghi chép hàng ngày về những trải nghiệm, những lựa chọn và quyết định của bạn dưới ảnh hưởng của tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân.
• Đọc các bản tuyên ngôn sứ mệnh của người khác đã viết trong lịch sử. Xem xét tác động của những tuyên ngôn này đến cuộc sống của họ và xã hội.
• Giúp đỡ con cái và những người mà cuộc sống của họ có liên quan đến bạn. Hãy nuôi dưỡng viễn cảnh ở người khác.