Tuyến Hỏa Xa Ngầm

Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
RIDGEWAY

Cha của Arnold Ridgeway là thợ rèn. Ánh sáng hoàng hôn của kim loại nóng chảy mê hoặc ông, hãy nhìn sắc màu đó hiện lên trong chiếc đe chầm chậm rồi nhanh dần, tràn qua đe như luồng cảm xúc, hãy ngắm nghía độ mềm dẻo khôn lường và cảnh quằn quại triền miên của kim loại trong lúc đợi nên hình nên dạng. Xưởng rèn của ông là một cửa sổ hướng vào những nguồn năng lượng nguyên thủy của thế giới.

Ông có một bạn rượu tên là Tom Bird, một người lai thường trở nên đa cảm khi bị rượu whiskey làm cho ngà ngà say. Vào những đêm Tom Bird cảm thấy không vướng bận với cuộc sống thường ngày, ông này liền chia sẻ những câu chuyện về Thần Linh Vĩ Đại. Thần Linh Vĩ Đại sống trong vạn vật - trái đất, bầu trời, động vật, rừng cây - chảy qua và kết nối chúng bằng một sợi dây thiêng liêng. Mặc dù cha của Ridgeway dè bỉu các cuộc nói chuyện về tôn giáo, song nhận thức của Tom Bird về Thần Linh Vĩ Đại khiến ông nhớ mình đã cảm nhận như thế nào về sắt. Ông không hướng tới vị thần nào ngoài thứ sắt đỏ mà ông quan tâm trong xưởng rèn. Ông đọc về núi lửa phun trào khủng khiếp, về thành phố Pompeii bị lửa từ những ngọn núi sâu bên dưới lòng đất phá hủy. Lửa lỏng là máu của trái đất. Nhiệm vụ của ông là trộn, nghiền và rèn kim loại thành vật dụng hữu ích cho xã hội: đinh, móng ngựa, lưỡi cày, dao, súng. Xích. Ông gọi nghề của mình là gia công tinh thần.

Khi được cho phép, Ridgeway đứng ở một góc xưởng trong khi người cha gia công loại sắt Pennsylvania. Nung chảy, gõ búa, nhún nhảy xung quanh cái đe. Mồ hôi chảy trên khuôn mặt ông, bụi than phủ khắp người ông từ chân đến đầu, đen hơn cả quỷ châu Phi. “Con phải gia công tinh thần này, nhóc ạ”. Ông nói rằng rồi một ngày nào đó hắn sẽ tìm thấy tinh thần của hắn.

Đó là lời khích lệ. Ridgeway mang một gánh nặng riêng. Hắn chẳng có hình mẫu nào để trở thành. Hắn không thể hướng vào cái đe bởi vì làm sao vượt trên tài năng của cha hắn được. Trong thị trấn, hắn chăm chú quan sát những khuôn mặt đàn ông theo đúng cách mà cha hắn kiểm tra tạp chất trong kim loại. Ở đâu đàn ông cũng đều bận rộn với những nghề vô nghĩa, phù phiếm. Nông dân chờ mưa như kẻ đần, người bán hàng mất công sắp xếp những mặt hàng thiết yếu nhưng lại ế sưng, hết dãy này đến dãy khác. Thợ thủ công và nghệ nhân tạo ra sản phẩm chẳng khác gì tin đồn mong manh so với thực tế bằng sắt rắn chắc của cha hắn. Ngay cả lớp người giàu nhất, có ảnh hưởng tới tận thị trường chứng khoán London và nền thương mại địa phương cũng chẳng truyền cảm hứng cho Ridgeway. Hắn biết vị trí của họ trong hệ thống, họ xây những căn nhà lớn dựa trên một quỹ gồm nhiều con số, nhưng hắn không nể trọng họ. Nếu vào cuối ngày bạn không dơ dáy, bẩn thỉu một chút thì bạn chẳng thật sự là người lắm đâu.

Hằng sáng, tiếng cha hắn đập kim loại là những bước đầu tiên của một định mệnh chẳng bao giờ tiến lại gần.

Mười bốn tuổi Ridgeway bắt đầu gia nhập nhóm tuần tra. Hắn là đứa con trai mười bốn tuổi to lớn vụng về, cao hơn một mét tám, vạm vỡ và cương quyết. Thân hình hắn không cho thấy bất cứ dấu hiệu nào về nỗi bối rối bên trong cả. Hắn đánh những thằng bạn khi đánh hơi thấy nỗi yếu đuối. Ridgeway còn quá nhỏ để trở thành tuần tra viên nhưng quy luật luôn thay đổi. Giống cây bông lên ngôi khiến vùng nông thôn ở đó đầy nô lệ. Các cuộc nổi dậy ở Tây Ấn và những vụ xô xát đáng ngại ở vùng lân cận khiến các chủ đồn điền địa phương lo lắng. Có người da trắng biết suy nghĩ nào lại không lo lắng cơ chứ, dù họ buôn bán nô lệ hay không. Các đội tuần tra tăng lên khi các chủ nô ủy quyền cho chúng. Một đứa bé trai cũng có thể làm nghề đó.

Tuần trưởng của hạt là loại người đáng ghê tởm mà Ridgeway chưa bao giờ chạm mặt. Chandler là kẻ hay sửng cồ và hay bắt nạt - nỗi kinh hoàng ở địa phương làm những người tử tế thường băng qua đường hòng tránh lão ta ngay cả khi mưa làm đường lầy lội. Chandler ở trong tù nhiều ngày hơn chính những kẻ bỏ trốn mà lão tống vào đó, ngáy khò khò trong buồng giam ngay bên cạnh tên vô lại mà lão đã chặn bước nhiều giờ trước đó. Một hình mẫu chưa hoàn hảo lắm, nhưng gần giống hình mẫu mà Ridgeway tìm kiếm rồi. Ở trong luật lệ, làm luật lệ có hiệu lực, nhưng đồng thời cũng ở bên ngoài. Kể ra cũng có cái lợi khi cha của hắn ghét Chandler, ghét thậm tệ từ nhiều năm trước. Ridgeway yêu cha hắn, nhưng việc ông liên tục nhắc đến tinh thần làm hắn nhớ ra tình trạng thiếu mục tiêu của hắn.

Tuần tra có khó gì. Chúng chặn bất cứ người da đen nào chúng nhìn thấy và đòi kiểm tra giấy phép. Chúng chặn những người da đen đã biết rõ mười mươi là người tự do chỉ vì chúng thích, nhưng cũng để nhắc nhở đám người Phi về những lực lượng dàn trận tiêu diệt họ, dù họ có thuộc sở hữu của người da trắng hay không. Chúng tuần tra quanh các làng nô lệ để tìm kiếm bất cứ dấu hiệu gì: một nụ cười hoặc một cuốn sách. Bọn chúng dùng roi đánh đập những người da đen ngang bướng trước khi tống họ vào tù hoặc trao trả cho chủ nô nếu chúng đang cơn tức bực và nếu lúc đó chưa hết ngày làm việc.

Tin tức một nô lệ bỏ trốn khích lệ bọn chúng hoạt động đầy hứng khởi. Chúng lùng sục con mồi khắp các đồn điền, thẩm vấn biết bao người da đen sợ run cầm cập. Những người tự do biết chuyện gì sẽ đến nên giấu tất cả tài sản có giá trị của họ đi, kêu than khi đám người da trắng đập phá bàn ghế, gương kính. Cầu mong họ chỉ thiệt hại về vật chất. Ngoài cảm giác khoái trá vì làm nhục một người đàn ông trước gia đình của anh ta, hoặc đánh một người trai trẻ dám liếc xéo chúng, còn có vô số bổng lộc khác. Trang trại Mutter lâu đời có những phụ nữ da màu trẻ trung, duyên dáng nhất - ông Mutter quả có khiếu thẩm mỹ - cuộc săn lùng nô lệ sôi nổi mang đến cho một viên tuần tra trẻ tâm trạng hưng phấn. Theo một số người, máy cất rượu của mấy ông già ở đồn điền Stone tại vùng rừng hẻo lánh thường cho ra loại rượu whiskey ngon nhất cả nước. Một vụ náo loạn sẽ tạo điều kiện giúp Chandler làm đầy bình rượu của lão.

Trong những ngày đó, Ridgeway kiềm chế ham muốn riêng, rút lui trước màn phô trương quá xá của đồng đảng. Các viên tuần tra khác là những gã choai choai hoặc những thằng đàn ông xấu xa; nghề này thu hút loại người đó. Ở nước khác chúng chắc chắn là tội phạm rồi, nhưng ở Mỹ chúng là viên tuần tra. Ridgeway thích đi tuần đêm nhất, khi chúng nằm đợi một người đàn ông lén lút đi xuyên rừng để thăm vợ tại một đồn điền nằm gần đường cái, hoặc một người đi săn sóc với hi vọng kiếm được chút gì bổ sung cho bữa ăn lõng bõng. Những viên tuần tra khác mang sung, hăng hái bắn hạ bất cứ kẻ nào đủ ngu xuẩn để chạy trốn, nhưng Ridgeway bắt chước Chandler. Bản chất đã trang bị cho hắn đủ vũ khí rồi. Ridgeway săn đuổi họ như thể họ là thỏ, sau đó nắm đấm của hắn khuất phục họ. Đánh họ vì tội lang thang, đánh họ vì dám bỏ chạy, mặc dù săn đuổi là phương thuốc duy nhất cho bản tính hiếu động của hắn. Những cuộc tấn công bất ngờ trong bóng tối, những cành cây đập vào mặt hắn, những gốc cây khiến hắn ngã lộn nhào để rồi hắn lại đứng dậy. Trong cuộc săn đuổi, máu hắn reo ca, nóng bừng.

Khi cha hắn kết thúc ngày làm việc, thành quả lao động bày ra trước mặt ông: một khẩu súng hỏa mai, một cái cào, một chiếc nhíp xe bò. Ridgeway thì đứng trước những người đàn ông và đàn bà hắn bắt. Một người làm ra các công cụ, một người tìm lại các công cụ. Cha hắn hay đem chuyện tinh thần ra làm phiền lòng hắn. Săn lũ mọi đen hầu như không có nổi trí thông minh của một con chó là cái nghề quái gì chứ?

Ridgeway giờ đã mười tám tuổi, là một người đàn ông. “Cả hai chúng ta đều đang làm việc cho ông Eli Whitney [8] bố ạ”, hắn nói. Đúng vậy, cha hắn vừa mới thuê hai thợ học việc và ký hợp đồng lao động với vài xưởng rèn nhỏ hơn. Có máy tỉa hạt bông nghĩa là hoa lợi từ cây bông lớn hơn và nhu cầu dành cho dụng cụ bằng sắt để thu hoạch bông, móng ngựa bằng sắt cho lũ ngựa kéo những chiếc xe có vành và các phương tiện bằng sắt để chở bông ra thị trường cũng lớn hơn. Để sử dụng những công cụ đó, lại cần nhiều nô lệ hơn. Mùa bông đẻ ra các cộng đồng, cần đinh và thanh giằng cho nhà cửa, cần công cụ để xây nhà, cần đường sá để kết nối, và cần nhiều sắt hơn để duy trì mọi hoạt động. Hãy cứ để cha hắn giữ thái độ làm cao cũng như tinh thần của ông. Cha con hắn là các bộ phận của cùng một hệ thống, phụng sự một quốc gia đang vươn tới định mệnh.

Một nô lệ bỏ trốn có thể chỉ mang về hai đô la nếu chủ nô keo kiệt hoặc nếu tên mọi bị bắt ấy đã trở thành tàn tật, còn nhiều thì được tới một trăm đô la, thậm chí gấp đôi nếu nô lệ bỏ trốn bị bắt ở bang khác. Ridgeway trở thành trùm săn nô lệ thực thụ sau chuyến đi đầu tiên tới New Jersey, nơi hắn tới để thu hồi tài sản cho một chủ đồn điền địa phương. Cái con Besty đó đã trốn được một chặng từ các cánh đồng trồng thuốc lá của Virginia đến Trenton. Besty trốn với những anh chị em họ của ả mãi tới khi một người bạn của ông chủ nhận ra ả ngoài chợ. Chủ nô treo thưởng hai mươi đô la cho các gã trai địa phương nếu dẫn được ả về trao trả, ngoài mọi phí tổn có thể chấp nhận được.

Trước đó Ridgeway chưa bao giờ đi đâu xa như thế. Càng đi xa hơn về phía bắc hắn càng nhận ra các khái niệm của mình quả là hạn hẹp. Đất nước rộng lớn biết bao! Mỗi thành phố sau lại điên rồ và phức tạp hơn thành phố trước. Cảnh ồn ào huyên náo của Washington D.C. khiến hắn chóng mặt. Hắn nôn mửa khi rẽ vào một góc đường và nhìn thấy công trường xây dựng Điện Capitol, nôn sạch vì món hàu ươn hoặc vì vẻ đồ sộ của thị thành đang khuấy động cơn nổi loạn trong hắn. Hắn tìm các quán trọ rẻ nhất, vừa lật đi lật lại trong đầu những câu chuyện về những người đàn ông vừa gãi sồn sột vì lũ rận. Ngay cả những chuyến qua phà ngắn ngủi nhất cũng đưa hắn tới một quốc đảo mới, giàu màu sắc và hùng vĩ.

Tại nhà tù Trenton, tay phó ngục đối xử với hắn như với một người đàn ông có địa vị. Đây đâu phải là chuyện nhỏ kiểu như trừng phạt một tên mọi trong cảnh nhập nhoạng hay phá một dịp lễ của nô lệ để mua vui. Đây là việc của đàn ông. Trong một lùm cây ở ngoại ô Richmond, Besty đã dám gạ gẫm dâm đãng để đổi lấy tự do, vén váy lên bằng những ngón tay thon thả. Hông của ả không được nở nang cho lắm, miệng thì rộng ngoác còn mắt thì xám nhợt. Hắn không hứa hẹn. Đó là lần đầu tiên hắn ngủ với đàn bà. Ả nhổ nước miếng vào mặt hắn khi hắn xích ả lại, và làm như vậy một lần nữa khi họ về tới dinh thự của chủ ả. Ông chủ và lũ con trai ông ta cười hô hố khi hắn lau bãi nước miếng trên mặt, hai mươi đô la tiền thưởng được chi cho đôi giày ống mới và một chiếc áo khoác thêu kim tuyến - giống những thứ hắn đã thấy mấy người giàu ở D.C mặc. Hắn đi đôi giày đó trong nhiều năm. Bụng hắn bự ra khiến chiếc áo khoác có thời hạn sử dụng ngắn hơn nhiều.

New York là khởi đầu cho một giai đoạn cuồng loạn. Ridgeway thu hồi tài sản cho chủ nô, hắn đi miền bắc khi cảnh sát thông báo đã bắt được một kẻ bỏ trốn từ Virginia hoặc Bắc Carolina. New York trở thành điểm đến thường xuyên của hắn và sau khi khám phá những khía cạnh mới trong tính cách của chính mình, Ridgeway lại rời đi. Ở bang của hắn, việc bắt nô lệ bỏ trốn trở lại không phức tạp. Cứ đập thẳng tay. Còn ở miền bắc, các thành phố lớn, phong trào tự do, và tinh hoa của cộng đồng da màu cùng đổ xô vào hòng miêu tả sinh động quy mô thực sự của cuộc săn lùng.

Hắn là một người học vở nhanh. Cái đó giống với nhớ việc hơn là học hỏi. Các cảm tình viên và thuyền trưởng hám lợi đưa lậu nô lệ bỏ trốn vào các cảng đô thị. Đến lượt đám khuân vác và công nhân bốc xếp ở bến cảng, các viên lục sự cung cấp thông tin cho hắn và hắn chộp những nô lệ bỏ trốn ngay trước lúc họ kịp trốn thoát. Đám người tự do khai báo về các anh chị em người Phi của họ, đối chiếu bản mô tả kẻ bỏ trốn trên các báo hằng ngày với những đối tượng lén lút lảng vảng quanh quán rượu và những nơi sinh hoạt tôn giáo dành cho người da màu. Barry là một gã đàn ông to béo cao khoảng một mét tám, một mét chín, mắt nhỏ, trông có vẻ trơ tráo. Hasty chửa to và hẳn là đã được ai đó chở đi, bởi vì ả không thể đi bộ trên quãng đường dài. Barry gục xuống với một tiếng rên. Hasty và đứa con của cô gào thét trong suốt hành trình đến Charlotte.

Chẳng bao lâu hắn đã sở hữu ba chiếc áo khoác đẹp. Ridgeway kết bạn với giới săn nô lệ, những kẻ giết người cướp của mặc com-lê, đội mũ quả dưa trông thật lố bịch. Hắn đã phải chứng minh mình đâu phải là một tên quê kệch vụng về, nhưng chỉ một lần thôi. Lũ người đó đều dò tìm nô lệ bỏ trốn trong nhiều ngày, nấp ở bên ngoài nơi làm việc của họ cho tới khi cơ hội lên tiếng, đột nhập vào lều của người da đen vào ban đêm rồi bắt cóc họ. Sau nhiều năm xa đồn điền, sau khi đã lấy vợ và bắt đầu xây dựng gia đình, các nô lệ bỏ trốn tin rằng mình đã được tự do. Như thể các ông chủ đã quên bẵng mất tài sản. Ảo tưởng đó khiến họ trở thành con mồi dễ bị tóm. Ridgeway coi khinh những kẻ buôn nô lệ da đen bị bắt cóc, các băng nhóm của tổ chức “Five Points” [9] trói gô những người tự do và lôi họ tới miền nam để bán đấu giá. Đó là kiểu hành xử hạ đẳng, kiểu hành xử của đám tuần tra. Bây giờ hắn đường đường là một trùm săn nô lệ thứ thiệt cơ mà.

Thành phố New York là cái nôi của quan điểm chống chế độ nô lệ. Phải được tòa án phê chuẩn Ridgeway mới được phép thực hiện các nhiệm vụ tại miền nam của hắn. Đám luật sư chống chế độ nô lệ dựng lên các hàng rào trên giấy tờ, mỗi tuần một phương kế mới. Họ biện lý rằng New York là một bang tự do, và bất cứ người da màu nào cũng đều nghiễm nhiên trở thành người tự do khi đặt chân sang biên giới của nó. Họ lợi dụng điểm khác nhau giữa gương mặt trên yết thị với gương mặt của đối tượng bằng xương bằng thịt trong phòng xử án - có bằng chứng nào để khẳng định Benjamin Jones này là Benjamin Jones đang được tòa nói đến không? Hầu hết chủ đồn điền không thể phân biệt được nô lệ này với nô lệ khác, thậm chí sau khi đã đưa họ lên giường. Không ngạc nhiên khi họ để mất dấu tài sản. Việc nhận diện, nhìn săm soi những người da đen bị đưa từ trong tù ra trở thành một ván bài, trước khi cánh luật sư có nước đi đầu tiên. Tính ngu si kiêu căng đọ với sức mạnh của đồng tiền. Vì một khoản tiền thưởng thêm, viên lục sự của thành phố mách cho hắn biết những nô lệ bỏ trốn mới bị tống vào tù và vội vã ký giấy phóng thích họ. Những người theo chủ nghĩa bãi nô còn chưa kịp ra khỏi giường thì hắn cùng “tài sản” mà hắn thu hồi đã đi được nửa đường qua New Jersey rồi.

Ridgeway đi đường vòng để khỏi phải qua tòa án nếu cần, nhưng không thường xuyên làm như thế. Thật bực mình khi bị chặn lại trên đường ở một bang tự do, khi món tài sản thất lạc kia hóa ra lại có tài hùng biện. Hễ để bọn chúng xổng khỏi đồn điền thì y như rằng chúng học đọc, đó là một căn bệnh.

Trong khi Ridgeway đợi lũ buôn lậu ở bến cảng, những con tàu tuyệt đẹp từ châu Âu thả neo và trả khách. Tất cả những gì chúng có đều nằm trong các bao tải, và đều sắp chết đói. Đen như mọi. Nhưng đám người ấy sẽ được gọi về đúng chỗ thôi. Cái thế giới đang phát triển ở miền nam của hắn là một gọn sóng lăn tăn của chuyến hàng đầu tiên này. Trận lụt trắng bẩn thỉu không có nơi nào để tràn, ắt phải tràn ra ngoài. Miền nam. Miền tây. Quy luật ấy chi phối cả rác và người. Cống rãnh của thành phố chảy tràn cùng với rác rưởi và đồ phế thải - nhưng mớ lộn xộn đã kịp tìm được chỗ của nó.

Ridgeway nhìn bọn chúng lảo đảo bước xuống những tấm ván cầu, ướt át và ngơ ngác, thất thần trước cảnh đô thị. Các khả năng bày ra trước đoàn người hành hương ấy như một bữa tiệc lớn, mà từ trước tới giờ chúng luôn rất đói. Chúng chưa bao giờ nhìn thấy những gì giống như thế, nhưng sẽ để lại dấu ấn của chúng trên vùng đất mới này như những người nổi tiếng ở Jamestown, ghi dấu qua logic chủng tộc không thể ngăn cản nổi. Nếu người da đen được coi là tự do thì đã không bị xiềng xích. Nếu người da đỏ được quyền giữ đất đai thì đất đó vẫn là của tộc người ấy thôi. Nếu người da trắng không có số nắm giữ thế giới mới này thì giờ đây họ đã chẳng sở hữu nó.

Đấy là Thần Linh Vĩ Đại, sợi dây linh thiêng kết nối mọi nỗ lực của con người - nếu anh có thể giữ nó thì nó là của anh. Tài sản của anh, nô lệ hoặc lục địa. Mệnh lệnh Mỹ.

Ridgeway tạo dựng danh tiếng nhờ khả năng bảo đảm rằng tài sản thì vẫn cứ là tài sản. Khi một nô lệ bỏ trốn chuồn khỏi một con ngõ, hắn biết nó sẽ hướng tới đâu. Hướng đi và mục đích. Bí quyết của hắn: Đừng suy đoán tên nô lệ ấy sẽ đi đâu tiếp theo. Thay vào đó, hãy lưu ý rằng nó đang chạy xa khỏi ta. Không phải chạy khỏi một ông chủ tàn ác hay cảnh nô lệ, mà là khỏi chính ta. Cách nghĩ đó có tác dụng hết lần này đến lần khác, là thực tế vững chắc của riêng gã, trong các con ngõ, rừng thông và đầm lầy. Cuối cùng hắn cũng bỏ cha hắn lại, cùng gánh nặng triết lý của ông. Không phải Ridgeway đang gia công tinh thần. Hắn không phải là thợ rèn. Không phải búa. Chẳng phải đe. Hắn là nhiệt.

Cha hắn qua đời và người thợ rèn ở gần đó đảm nhận công việc tại xưởng của ông. Đã đến lúc trở về miền nam - trở về nhà ở Virginia và xa hơn, bất cứ đâu công việc dẫn hắn tới - và hắn trở về đó cùng với một toán lâu la. Có quá nhiều nô lệ bỏ trốn nên mình hắn không thể xoay xở nổi. Eli Whitney đã khiến cha hắn làm việc cật lực cho tới khi kiệt sức, khiến những phút cuối đời ông già ho ra cả bồ hóng, và khiến Ridgeway đi săn nô lệ triền miên. Các đồn điền lớn gấp đôi, nhiều gấp đôi, nô lệ bỏ trốn vừa nhiều vừa lanh lẹ, các mức thưởng cao hơn. Ở miền nam, các nhà làm luật và những người chống chế độ nô lệ ít can thiệp được hơn, và các chủ đồn điền cũng để mắt tới chuyện đó. Lũ nhử mồi mặc áo của người da đen, các mã bí mật nằm ở trang sau của báo. Chúng công khai khoe khoang thành quả phá hoại, đẩy một nô lệ ra cửa sau trong khi cánh săn nô lệ đột nhập qua cửa trước. Đó là tội thông đồng với lũ trộm cắp tài sản, và Ridgeway chịu đựng thói trâng tráo của bọn chúng như một mối nhục của bản thân.

Có một thương gia người Delaware làm hắn đặc biệt khó chịu: August Carter. Tráng kiện theo kiểu truyền thống Anglo-Saxon, với đôi mắt xanh điềm tĩnh khiến cho những kẻ thấp kém hơn chú ý đến lý lẽ khô khan của ông ta. Hạng người tồi tệ nhất đó, một kẻ chống chế độ nô lệ cùng với một cái máy in. “Một cuộc họp hội tụ đông đảo bạn bè của tự do sẽ được tổ chức tại Miller's Hall lúc 2 giờ chiều để phản đối thế lực bênh vực chế độ nô lệ trái đạo lý đang kiểm soát quốc gia”. Ngay cả khi đột kích cũng không thu được kết quả gì, ai chẳng biết nhà Carter là một trạm trung chuyển, chỉ cách sông một trăm thước. Nô lệ bỏ trốn biến thành nhà hoạt động ca ngợi lòng hào hiệp của ông ta trong các bài diễn văn của chúng ở Boston. Phe chống chế độ nô lệ của những người theo Hội Giám lý truyền bá những cuốn sách tuyên truyền của ông ta vào sáng Chủ nhật, và những tạp chí ở London cho đăng những lý lẽ của ông ta mà không hề có ý kiến phản biện. Một chiếc máy in, cùng bằng hữu trong giới thẩm phán, những người buộc Ridgeway phải từ bỏ nhiệm vụ của hắn không dưới ba lần. Đi ngang qua Ridgeway bên ngoài nhà tù, ông ta khẽ nhấc mũ lên thay cho lời chào.

Tên trùm săn nô lệ có ít lựa chọn lắm, hắn buộc phải ghé thăm người đàn ông ấy sau nửa đêm. Hắn khâu cho đồng đảng những chiếc mũ trùm đầu từ bao vải bố màu trắng đựng bột mỳ, nhưng sau chuyến ghé thăm nọ hắn gần như không cử động được ngón tay - nắm tay của hắn sưng trong hai ngày vì đấm vào mặt người đàn ông. Hắn cho phép lũ tay chân làm nhục vợ ông ta theo những cách mà hắn chưa bao giờ cho phép bọn chúng làm với một ả da đen. Trong nhiều năm sau, bất cứ khi nào Ridgeway nhìn thấy một đống lửa, mùi lửa lại làm hắn nhớ đến mùi khói ngọt ngào bốc lên từ căn nhà Carter và một nụ cười tưởng tượng nở trên môi hắn. Sau này hắn nghe nói ông ta đã chuyển tới Worcester trở thành một thợ sửa giày.

Các bà mẹ nô lệ nói, coi chừng đấy, nếu không ông Ridgeway sẽ đến bắt mày bây giờ.

Các chủ nô nói, gọi ông Ridgeway tới đây.

Khi được gọi tới đồn điền của Randall lần đầu tiên, hắn đảm nhận luôn một việc khó. Đôi khi các nô lệ thoát được khỏi tay hắn. Hắn phi thường, nhưng không siêu phàm. Hắn thất bại, và sự biến mất của Mabel giày vò hắn lâu hơn mức cần thiết, cứ vo ve trong thành trì tâm trí hắn.

Trở lại đồn điền này để săn tìm con gái của ả đàn bà đó, hắn biết tại sao nhiệm vụ trước kia lại làm hắn buồn bực đến vậy. Dường như đó là việc bất khả thi, tuyến hỏa xa ngầm đã có một nhánh ở Georgia. Hắn sẽ tìm ra nó. Hắn sẽ phá hủy nó.

« Lùi
Tiến »