Tuyến Hỏa Xa Ngầm

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NAM CAROLINA
30 đô la liền thưởng

sẽ được trao cho bất cứ ai giao cho tôi, hoặc giam giữ trong bất kỳ nhà ngục nào của bang, để tôi có thể đến mang ả về, một đứa con gái da đen 18 tuổi đã bỏ trốn 9 tháng trước. Ả là một đứa con gái xinh xắn, láu cá, và rõ ràng là rất quyết tâm, cố đi lại giống một người tự do, có một vết sẹo dễ nhận thấy trên khuỷu tay do bị bỏng. Tôi được báo cho biết ả đang lần trốn ở Edenton.

BENJ.B WELLS

MURFREESBORO, ngày 5 tháng Một, 1812

Gia đình Anderson sống trong một ngôi nhà ván che xinh xắn ở góc phố Washington và Main, cách vài khối nhà là đến khu buôn bán náo nhiệt gồm những cửa hiệu và các cơ sở kinh doanh, nơi thành phố bố trí những khu dân cư riêng cho giới phong lưu. Bên kia cái hiên thoáng rộng - nơi ông bà Anderson thích ngồi vào buổi tối, ông bận với cái túi đựng thuốc lá sợi bằng lụa còn bà nheo mắt tập trung vào đồ khâu - là phòng khách, phòng ăn, và bếp. Trong hầu hết thời gian Bessie ở tầng một, chạy theo lũ trẻ, chuẩn bị các bữa ăn, dọn dẹp. Ở đầu cầu thang là các phòng ngủ - Maisie và cậu nhỏ Raymond ngủ chung phòng - và phòng vệ sinh thứ hai. Raymond thường có giấc ngủ trưa dài và trong khi cậu bé chìm vào giấc mơ, Bessie thích ngồi ở chiếc ghế bên cửa sổ. Cô nhận ra hai tầng trên cùng của tòa nhà Griffin với cái mái đua màu trắng sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Ngày hôm nay cô gói bữa trưa gồm bánh mỳ và mứt cho Maisie, đưa cậu bé đi dạo, rồi lau chùi đồ bạc và đồ thủy tinh. Sau khi cô thay khăn trải giường, cô và Raymond đón Maisie từ trường về và tất cả cùng đi chơi công viên. Một người kéo vĩ cầm chơi những giai điệu mới nhất bên đài phun nước trong khi bọn trẻ và các bạn chúng chơi trốn tìm và trò “đoán ai giữ vòng”. Cô phải kéo Raymond tránh xa một đứa bắt nạt, thận trọng không làm mẹ của thằng bé đó, người mà cô không thể lựa chọn, bực mình. Đó là thứ Sáu, có nghĩa là cô sẽ kết thúc ngày làm việc bằng việc đi mua hàng. Những đám mây kéo tới. Bessie biên tên các món ăn gồm thịt bò muối, sữa và những thứ khác để làm bữa tối vào sổ ghi chép chi tiêu của gia đình. Cô ký tên bằng một chữ X.

Bà Anderson về nhà lúc sáu giờ. Bác sĩ của gia đình đã khuyên bà nên ra ngoài nhiều hơn. Ngoài việc ăn trưa với các phu nhân láng giềng, bà còn hỗ trợ gây quỹ cho bệnh viện mới. Bà đang trong tâm trạng vui vẻ, chạy vòng quanh các con bà để ôm, hôn và hứa hẹn một chuyến đi chơi sau bữa tối. Maisie nhảy cẫng và kêu ré lên vì phấn khích. Bà Anderson cảm ơn Bessie đã giúp đỡ và chúc cô buổi tối vui vẻ.

Cô đi bộ về khu nhà tập thể ở phía bên kia của thành phố, không xa đó lắm. Có các đường tắt, nhưng Bessie thích cảm nhận hoạt động nhộn nhịp của khu Main Street [10] vào buổi tối với cư dân thành thị gồm cả da đen và da trắng hòa trộn. Cô bước thong thả dọc dãy cửa hiệu, nán lại trước các cửa hiệu lớn. Người thợ may váy với các sản phẩm sáng tạo sặc sỡ, có diềm nhún, phủ trên những tùng váy kim loại, những khu chợ đông đúc và thế giới hàng hóa huyền diệu, những bách hóa tổng hợp cạnh tranh nhau ở phía bên này, bên kia của Main Street. Cô chơi trò chọn những mặt hàng được bổ sung mới nhất từ các gian trưng bày. Cảnh quan phong phú tràn ngập vẫn còn khiến cô kinh ngạc. Ấn tượng nhất là tòa nhà Griffin.

Với mười hai tầng, đó là một trong những tòa nhà cao nhất nước, cao hơn bất cứ tòa kiến trúc nào ở miền nam. Niềm tự hào của thành phố. Nhà băng thống trị tầng một, với trần nhà vòm ốp đá cẩm thạch Tennessee. Bessie không có việc gì ở đó nhưng không phải là người lạ mặt đối với các tầng trên. Mới tuần trước, cô dẫn bọn trẻ đến gặp cha của chúng vào ngày sinh nhật ông và có dịp nghe tiếng bước chân lộp cộp của cô vang trên hành lang tuyệt đẹp. Thang máy chỉ một chiếc cho hàng trăm dặm, đưa họ lên tầng tám. Maisie và Raymond, đã thăm nơi đó nhiều lần, không ấn tượng với cái thang máy, nhưng Bessie luôn vừa thích thú vừa sợ hãi trước sự kỳ diệu của nó, bám chặt lấy thanh vịn bằng đồng phòng tai họa.

Họ đi qua các tầng có những đại lý bảo hiểm, văn phòng của chính phủ và công ty xuất khẩu. Không gian trống ở đó rất hiếm; có địa chỉ tại Griffin là một diễm phúc đối với danh tiếng của doanh nghiệp. Tầng của ông Anderson đầy những văn phòng luật sư, với những tấm thảm dày, tường ốp gõ màu nâu sẫm và cửa được lắp kính mờ. Ông Anderson xem xét các hợp đồng, chủ yếu là hợp đồng mua bán bông. Ông khá ngạc nhiên khi thấy gia đình mình xuất hiện. Ông vui vẻ nhận chiếc bánh nhỏ mà các con đưa, nhưng nói rõ rằng ông muốn trở lại với đống giấy tờ. Trong giây lát Bessie tự hỏi liệu cô có sắp bị mắng hay không, nhưng không. Bà Anderson cứ khăng khăng rằng họ phải đến đó. Thư ký của ông Anderson giữ cánh cửa mở và Bessie dồn bọn trẻ tới cửa hàng mứt kẹo.

Tối hôm ấy, Bessie đi ngang qua cánh cửa bằng đồng bóng loáng của nhà băng và tiếp tục đi về nhà. Hằng ngày công trình lớn nổi bật ấy như một tượng đài mang đến cho cô sự thay đổi sâu sắc trong hoàn cảnh đó. Cô bước đi dọc vỉa hè như một người tự do. Không ai săn đuổi hoặc ngược đãi cô. Một người giao thiệp với bà Anderson nhận Bessie là cô gái của bà, thậm chí thỉnh thoảng còn mỉm cười với cô.

Bessie bước sang đường để tránh các quán rượu lộn xộn và toán khách hàng mang tiếng xấu trong đó. Cô tự kiềm chế trước khi tìm kiếm khuôn mặt của Sam giữa đám người say rượu. Ở góc đường, có những ngôi nhà khiêm tốn hơn của dân da trắng không mấy khá giả. Cô bước nhanh hơn. Có một ngôi nhà màu xám nơi góc đường, những người chủ dửng dưng dù con chó của họ rất hung dữ, và một dãy những ngôi nhà một tầng nơi các bà vợ nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ với vẻ mặt sắt đá. Nhiều đàn ông da trắng ở khu này của thành phố làm đốc công hoặc công nhân trong các nhà máy lớn. Họ không thuê người da màu đến giúp việc nên Bessie không biết mấy về đời sống hằng ngày của họ.

Bây giờ cô đã về tới khu tập thể. Những dãy nhà hai tầng bằng gạch đỏ được hoàn thiện không lâu trước khi Bessie đến đó. Theo thời gian các cây non và hàng rào bao quanh sẽ cho bóng mát và khiến khu tập thể có đặc điểm riêng; giờ đây chúng đã chứng minh những ý định tốt đẹp. Gạch là loại gạch một màu, không lấm bùn do mưa làm bắn lên. Thậm chí không có một con sâu bướm bò trong góc tường. Bên trong, ở các phòng sinh hoạt chung, phòng ăn và phòng ngủ vẫn còn mùi sơn trắng. Bessie không phải là cô gái duy nhất sợ chạm vào bất cứ thứ gì ngoài núm cửa. Thậm chí sợ để lại một hạt bụi hoặc một vết xước.

Bessie chào những cư dân khác của khu tập thể khi họ đi qua nhau trên vỉa hè. Hầu hết mọi người đều đang đi làm về. Một số người khác bắt đầu đi trông trẻ để cha mẹ chúng có thể tận hưởng buổi tối dễ chịu. Chỉ một nửa số người da màu lưu trú trong khu tập thể làm việc vào các thứ Bảy, vì thế tối thứ Sáu đến là tấp nập.

Cô về tới căn phòng số 18. Cô chào những cô gái đang tết tóc trong phòng sinh hoạt chung và lao lên gác để thay đồ chuẩn bị ăn tối. Khi Bessie đến thành phố này, hầu hết tám mươi giường trong phòng ngủ đã có người. Chỉ đến sớm một ngày thôi là cô đã có thể được ngủ phía dưới một ô cửa sổ. Biết đâu đấy sẽ có ai đó chuyển đi và cô có thể chuyển tới một chỗ tốt hơn. Bessie thích làn gió nhẹ từ những ô cửa sổ. Nếu trở mình nằm quay ra phía ngoài thì cô có thể nhìn thấy những vì sao vào một đêm nào đó.

Bessie mở chiếc rương dưới chân giường, lấy ra chiếc váy màu xanh dương đã mua trong tuần thứ hai cô ở Nam Carolina. Cô trải nó lên đùi, vuốt vuốt. Chất vải bông mềm trên da cô vẫn còn làm cô xúc động. Bessie cuộn bộ đồ mặc đi làm lại, để vào cái túi vải bố dưới gầm giường. Gần đây cô giặt đồ vào các trưa thứ Bảy sau khi tan học ở trường - bù cho việc ngủ nướng, cách cô tự nuông chiều bản thân vào những buổi sáng đó.

Bữa tối có thịt gà nướng, cà rốt và khoai tây. Chị đầu bếp Margaret sống ở căn số 8. Các giám thị cảm thấy hợp lý khi sắp xếp cho những người lau dọn và nấu ăn trong các phòng ngủ tập thể kiêm luôn những việc ấy trong các tòa nhà, hơn là chỉ làm trong mỗi phòng của họ. Đó là một ý tưởng nho nhỏ nhưng có giá trị. Margaret nấu nướng khá mặn, mặc dù món thịt lợn và thịt gà của chị luôn mềm. Bessie dùng mẩu cùi bánh mỳ vét sạch mỡ trên đĩa trong khi nghe các cô gái khác bàn về kế hoạch cho buổi tối. Trước những buổi sinh hoạt tập thể, hầu hết các cô gái không ra ngoài, nhưng một số cô gái trẻ vẫn tìm đến quán rượu mới mở dành người da màu. Mặc dù không được phép, quán đó vẫn chấp nhận cho mua chịu. Bessie nghĩ đó là một lý do nữa để tránh xa chỗ ấy. Cô mang đĩa của mình vào bếp, đoạn quay lên gác.

“Bessie?”

“Chào cô, cô Lucy”, Bessie đáp.

Vào ngày thứ Sáu hiếm khi cô Lucy ở lại khu tập thể muộn như thế này. Thường thì vào sáu giờ tối không còn bóng một giám thị nào ở khu tập thể. Các cô gái ở những khu tập thể khác nói rằng tính chuyên cần nơi cô Lucy khiến các đồng nghiệp của cô hổ thẹn. Hẳn rồi, Bessie đã được cô Lucy cho lời khuyên nhiều lần. Cô ngưỡng mộ cách ăn vận lịch sự, rất gọn gàng và rất phù hợp của cô Lucy. Cô Lucy búi tóc, đeo đôi kính gọng mỏng bằng kim loại khiến cô có vẻ ngoài giản dị, nhưng nụ cười thoáng qua của cô kể câu chuyện của người phụ nữ ẩn mình.

“Mọi chuyện thế nào?” Cô Lucy hỏi.

“Em nghĩ em sẽn có một buổi tối yên tĩnh ở làng, thưa cô Lucy”, Bessi nói.

“Khu tập thể, Bessie ạ. Không phải làng”.

“Vâng, thưa cô Lucy”.

“Em sẽ, chứ không phải em sẽn”.

“Em sẽ chú ý sửa”.

“Và em đã tiến bộ nhiều!” Cô Lucy vỗ nhẹ lên cánh tay Bessie. “Sáng thứ Hai trước khi em đi làm, tôi muốn nói chuyện với em”.

“Có chuyện gì sao, thưa cô Lucy?”

“Không có chuyện gì đâu Bessie. Lúc đó chúng ta sẽ nói chuyện.” Cô hơi cúi người để chào tạm biệt, rồi bước về phía văn phòng.

Cúi người chào một cô gái da màu.

Bessie Carpenter là cái tên ghi trên giấy tờ mà Sam đưa cho cô ở ga tàu. Nhiều tháng sau Cora vẫn không biết làm thế nào cô có thể sống sót trong hành trình từ Georgia. Bóng tối của đường hầm nhanh chóng biến toa tàu ấy thành một nấm mồ. Ánh sáng duy nhất là từ buồng lái, lọt qua khe của những tấm ván ghép ở mặt trước của toa tàu ọp ẹp. Có lúc tàu rung lắc dữ dội đến nỗi Cora túm chặt lấy Caesar và họ cứ như vậy một lúc lâu, ôm chặt nhau trước những cơn chấn động dữ dội hơn, nép mình vào đống cỏ khô. Thật dễ chịu khi túm lấy anh, khi đoán trước nhịp điệu ấm áp từ khuôn ngực phập phồng của anh.

Thế rồi tàu chạy chậm lại. Caesar nhảy dựng lên. Họ gần như không thể tin nổi điều đó, mặc dù niềm phấn khích của hai người bỏ trốn đã lắng xuống. Mỗi lần họ hoàn thành một chặng của cuộc hành trình thì chặng tiếp theo đầy bất ngờ lại bắt đầu. Nhà kho đầy xiềng xích, cái hố trong lòng đất, toa tàu ọp ẹp này - tuyến hỏa xa này hướng tới những điều lạ thường. Cora kể với Caesar rằng khi nhìn thấy những cái xích cô sợ Fletcher đã bắt tay với Terrance ngay từ đầu và rằng họ đã bị đưa vào một buồng giam hứa hẹn những nỗi kinh hoàng. Kế hoạch của họ, cuộc bỏ trốn, và chuyến đi tới đích chẳng qua là các màn của một vở kịch sinh động, tinh vi.

Ga họ đến cũng giống như điểm khởi hành. Thay vì một chiếc ghế băng, có một chiếc bàn và mấy cái ghế. Hai chiếc đèn xách treo trên tường cùng một cái rổ ở chân cầu thang.

Người lái tàu mở cửa cho họ xuống. Ông là một người đàn ông cao ráo có mái tóc trắng được cắt kiểu móng ngựa và dáng người hơi lom khom do nhiều năm làm ruộng. Ông lau mồ hôi và bồ hóng trên mặt, sắp sửa mở miệng nói thì một cơn ho dữ dội làm ông mệt lử. Sau khi uống vài ngụm nước trong chiếc bình thót cổ, ông dần dần lại sức sau cơn ho.

Ông cắt bớt những lời cảm ơn của họ. “Đây là công việc của tôi”, ông nói. “Tiếp nhiên liệu cho đầu máy để bảo đảm nó tiếp tục chạy được. Đón khách ở nơi họ được cho là sẽ có mặt”. Ông quay lại buồng lái. “Các bạn hãy đợi ở đây tới khi họ đến và dẫn các bạn đi”. Vài phút sau con tàu biến mất, để lại một vệt khói xoáy tít cùng với tiếng ồn.

Chiếc rổ chứa đồ ăn: bánh mỳ, nửa con gà, nước uống và một chai bia. Họ đói đến nỗi họ lắc lắc cái rổ để vét vụn bánh. Cora thậm chí còn uống một ngụm bia. Ở chân cầu thang, họ chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đợi người trưởng ga mới nhất của tuyến hỏa xa ngầm.

Sam là một người đàn ông da trắng hai mươi lăm tuổi, không thể hiện phong cách lập dị như những người đồng sự của anh. Khỏe khoắn và vui tươi, anh mặc chiếc quần màu nâu vàng có dây đeo và sơ mi màu đỏ bằng vải dày đã sờn. Bộ ria của anh loăn xoăn, rung rinh vì lòng nhiệt tình hăng hái. Trưởng ga bắt tay họ, khen ngợi họ, và tỏ ra ngạc nhiên. “Các bạn đã làm được”, Sam nói. “Các bạn thực sự đã đến được đây”.

Anh mang thêm thức ăn tới. Họ ngồi ở chiếc bàn lung lay và Sam miêu tả thế giới bên trên cho họ nghe. “Các bạn đang cách Georgia rất xa”, Sam nói. “So với nhiều nơi khác ở miền nam, Nam Carolina có thái độ tích cực hơn đối với sự tiến bộ của người da màu. Ở đây các bạn sẽ được an toàn, tới khi chúng tôi thu xếp chặng tiếp theo cho hành trình của các bạn. Việc đó mất thời gian đấy”.

“Mất bao lâu ạ?” Caesar hỏi.

“Không nói trước được. Có rất nhiều người đi lại quanh khu vực một ga tàu. Khó chuyển tin lắm. Tuyến hỏa xa này là công việc của Chúa, nhưng chúng tôi cũng phát rồ vì điều hành nó”. Anh nhìn họ ăn ngấu nghiến với vẻ thích thú rõ rệt. “Ai mà biết được nhỉ?” anh nói. “Biết đâu đấy các bạn sẽ quyết định ở lại đây. Như tôi đã nói, Nam Carolina không giống bất cứ nơi nào mà các bạn từng thấy”.

Sam đi lên cầu thang rồi trở lại với mấy bộ quần áo cùng một thùng nước nhỏ. “Các bạn cần rửa ráy”, anh nói. “Tôi muốn nói điều đó theo cách chân thành nhất”. Anh ngồi trên bậc thang để họ được riêng tư. Caesar bảo Cora rửa ráy trước, rồi lên ngồi với Sam. Tình trạng trần truồng của cô đâu phải điều lạ, nhưng cô đánh giá cao hành động đó của Sam. Cora rửa mặt trước tiên. Người cô bẩn thỉu, hôi hám, và khi cô vắt chiếc khăn, nước đen xì chảy ra. Bộ đồ mới không phải là thứ quần áo cứng quèo của người da đen mà là một bộ đồ bằng vải bông mềm đến nỗi khiến cơ thể cô có cảm giác sạch sẽ như vừa tắm bằng xà bông. Chiếc váy đơn giản màu xanh nhạt với những đường kẻ trơn, không giống những thứ cô từng mặc.

Khi Caesar rửa ráy xong, Sam đưa giấy tờ tùy thân cho họ.

“Tên ghi trong này không đúng”, Caesar nói.

“Các bạn là nô lệ bỏ trốn”, Sam nói. “Bây giờ các bạn là người này, và người này. Các bạn phải ghi nhớ tên và những thông tin ghi trong này nhé”.

Hơn cả là nô lệ bỏ trốn, có lẽ họ còn là tội phạm giết người. Từ khi bước xuống đường hầm, Cora không nghĩ đến cậu con trai kia nữa. Mắt Caesar nheo lại khi anh có ý định tương tự. Cô quyết định kể cho Sam nghe về cuộc đụng độ trong rừng.

Người trưởng ga không buông lời phán xét và trông có vẻ thực sự buồn cho số phận Lovey. Anh nói với họ rằng anh rất tiếc cho bạn của họ. “Tôi không nghe được gì về chuyện đó. Những tin tức như thế không lan tới đây như tới một số nơi khác đâu. Chúng ta đều biết cậu bé đó có thể đã hồi phục, nhưng điều ấy không làm thay đổi cái thế của các bạn. Tốt nhất các bạn nên dùng tên mới”.

“Họ nói ở đây chúng tôi thuộc về Chính phủ Hợp Chúng Quốc”, Caesar chỉ rõ.

“Đó là một thuật ngữ chuyên môn”, Sam đáp. Các gia đình người da trắng từ tận New York lũ lượt kéo đến Nam Carolina tìm cơ hội. Những người đàn ông và phụ nữ tự do cũng vậy, trong một cuộc di cư mà trước đây đất nước này chưa từng chứng kiến. Một bộ phận người da màu là nô lệ bỏ trốn, mặc dù không thể biết chính xác con số là bao nhiêu, vì các nguyên cớ hiển nhiên. Hầu hết người da màu trong bang được chính phủ mua. Được cứu thoát khỏi các cuộc bán đấu giá hoặc được mua qua những lần thanh lý tài sản. Các đặc vụ theo dõi những cuộc bán đấu giá lớn. Hầu hết nô lệ được mua từ những chủ nhân da trắng không còn mặn mà với việc trồng trọt. Cuộc sống nông thôn không dành cho họ, dù trồng trọt là sinh kế nuôi lớn họ và là di sản thừa kế của họ. Đây là một kỷ nguyên mới. Chính phủ tạo những điều kiện vô cùng thuận lợi và khuyến khích đến các thành phố lớn, cung cấp những khoản vay thế chấp cũng như chính sách miễn thuế.

“Thế còn người nô lệ ạ?” Cora hỏi. Cô không hiểu phần câu chuyện về tiền, nhưng cô biết con người bị bán như tài sản khi cô nghe.

“Họ có thực phẩm, việc làm và nhà ở. Họ đến hay đi tùy thích, có thể kết hôn nếu muốn, nuôi nấng những đứa con không bao giờ bị cướp mất của họ. Có việc làm đàng hoàng chứ không phải làm nô lệ. Nhưng cô sẽ sớm thấy những điều cô muốn tìm hiểu thôi”. Theo như anh hiểu, có một hóa đơn mua bán nằm trong một tập hồ sơ được lưu trữ ở đâu đó, chỉ vậy thôi. Sẽ không có gì kiểm soát họ hết. Một người bạn ở tòa nhà Griffin đã làm những giấy tờ giả này cho họ.

“Các bạn đã sẵn sàng chưa?” Sam hỏi.

Caesar và Cora nhìn nhau. Sau đó, anh chìa tay ra như một quý ông. “Thưa quý cô?”

Cô không thể không nở nụ cười, họ cùng nhau bước ra ánh sáng ban ngày.

Chính phủ đã mua Bessie Carpenter và Christian Markson từ một vụ phá sản ở Bắc Carolina. Sam giúp họ nhập vai trong khi cả ba đi vào thành phố. Anh sống ở vùng ngoại ô cách thành phố hai dặm, trong căn nhà mà ông nội của anh đã xây cất. Sinh thời cha mẹ anh mở một hiệu kinh doanh đồ đống ở Main Street, nhưng khi họ qua đời Sam chọn hướng đi khác. Anh bán cửa hiệu cho một người di cư muốn đến Nam Carolina để có khởi đầu mới, và giờ Sam làm việc tại một quán rượu, quán Drift. Bạn anh là chủ quán, không khí ở đó hợp với tính cách anh. Sam thích xem phần “con” trong con người, cũng như việc anh thích vào các xưởng trong thành phố, khi rượu làm cho những cái lưỡi mất kiểm soát. Anh tự sắp xếp lịch làm việc, nhờ vậy anh lo được việc khác. Giống như trong trường hợp của Lumbly, ga tàu nằm bên dưới nhà kho của anh.

Ở ngoại ô Sam hướng dẫn tường tận cho họ đến văn phòng việc làm. “Và nếu các bạn bị lạc, hãy đến chỗ đó” - anh chỉ vào một tòa nhà chọc trời - “và rẽ phải khi tới Main Street”. Khi có thêm thông tin anh sẽ liên lạc với họ.

Caesar và Cora đi theo con đường bụi bặm vào thành phố, trong tâm trạng hoài nghi. Một cỗ xe độc mã quay đầu để rẽ khiến hai người suýt chạy bổ vào rừng. Người đánh xe là một chàng trai da màu, nhấc mũ lên đầy hóm hỉnh. Vô tư, như chẳng có chuyện gì. Trẻ măng như cậu ta mà đã có dáng điệu như thế cơ đấy! Khi cậu ta đi khuất, họ cười phá lên vì hành vi tức cười của họ. Cora giữ thẳng lưng, và nhìn thẳng. Họ sẽ phải học cách bước đi như người tự do.

Trong những tháng tiếp theo, Cora đã làm chủ tư thế đó. Chữ viết và cách nói chuyện đòi hỏi cô tập trung rèn luyện nhiều hơn. Sau cuộc nói chuyện với cô Lucy, cô lấy cuốn sách vỡ lòng từ trong rương ra. Trong khi những cô gái khác tán gẫu rồi lần lượt chúc mọi người ngủ ngon, Cora luyện viết chữ. Lần sau, khi cô ký tên vào sổ ghi hàng tạp phẩm đã được mua của nhà Anderson, cô sẽ viết tên Bessie bằng chữ thật cẩn thận. Khi tay đã cứng vì bị chuột rút, cô thổi nến.

Đó là chiếc giường êm nhất mà cô từng đặt lưng xuống. Nói cho đúng, đó là chiếc giường duy nhất cô từng đặt lưng xuống.

Cô Handler chắc hẳn được nuôi nấng dưới sự che chở của các vị thánh. Mặc dù ông già đó hoàn toàn không đủ khả năng nói và viết sơ đẳng, cô chưa bao giờ tỏ ra thiếu lịch sự, khoan dung. Cả lớp - trường học đầy học viên vào các sáng Chủ nhật - nhấp nha nhấp nhổm bên bàn học trong khi ông già cứ ấp a ấp úng và ngắc ngoải trước những bài học của ngày. Hai cô gái ngồi đằng trước Cora liếc mắt nhìn nhau, cười khúc khích trước những âm thanh chắp vá của ông.

Cora ngồi học trong tâm trạng bực dọc. Hầu như không thể hiểu được những gì ông Howard nói trong điều kiện bình thường. Ông thiên về tiếng mẹ đẻ châu Phi đã đánh mất của mình và cách nói năng của nô lệ. Ngày trước mẹ của Cora từng nói với cô rằng một nửa ngôn ngữ đó là tiếng nói của đồn điền. Đoàn nô lệ bị bắt cóc từ những ngôi làng trên khắp châu Phi và họ nói rất nhiều thứ tiếng mẹ đẻ. Qua thời gian, ngôn ngữ từ bên kia đại dương đã bị đánh bật khỏi họ. Lý do đơn giản là để xóa bỏ bản sắc của họ, dập tắt những cuộc nổi loạn. Tất cả mọi từ, trừ những từ được những người vẫn còn nhớ trước đây mình là ai cất giữ cẩn thận. “Họ cất giữ chúng như vàng ròng”, Mabel nói.

Đây không phải là thời của mẹ và của bà cô. Nỗ lực để nói hai từ đơn giản “tôi là” của Howard làm mất thời gian của buổi học quý giá, vốn đã quá ngắn ngủi sau cả tuần lao động của các học viên. Cô đến đây để học.

Một cơn gió mạnh khiến cánh cửa chớp kêu cọt kẹt trên tấm bản lề. Cô Handler bỏ viên phấn xuống. “Ở Bắc Carolina”, cô nói, “việc chúng ta đang làm là hành động phạm tội. Nếu ở đó, tôi sẽ bị phạt một trăm đô la còn các bạn sẽ phải nhận ba mươi roi. Luật quy định như vậy. Chủ của các bạn có thể sẽ có hình phạt gay gắt hơn”. Cô giáo bắt gặp ánh mắt của Cora. Cô chỉ lớn hơn Cora vài tuổi nhưng lại khiến Cora cảm thấy mình là một đứa trẻ da đen dốt nát. “Thật khó để bắt đầu từ con số không. Mấy tuần trước, vài người trong số các bạn cũng có điểm xuất phát như Howard bây giờ. Cần phải có thời gian. Và lòng kiên nhẫn”.

Cô cho họ nghỉ. Kiềm chế cơn bực, Cora chộp lấy dụng cụ học tập của mình, ước mình là người đầu tiên bước ra khỏi cửa lớp. Howard lấy tay áo quệt những giọt mồ hôi.

Trường học nằm ở phía nam của dãy nhà tập thể dành cho nữ. Cora nhận thấy tòa nhà này cũng được trưng dụng cho các buổi hội họp cần có bầu không khí nghiêm túc hơn ở các phòng sinh hoạt chung, chẳng hạn các buổi họp về giữ vệ sinh và vấn đề của nữ giới. Trường học nhìn ra một bãi cỏ xanh, một công viên của người da màu. Tối nay, một trong những nhóm nhạc từ khu tập thể của nam chơi nhạc ở vọng lâu cho một buổi sinh hoạt tập thể.

Họ đáng bị cô Handler mắng. Nam Carolina duy trì một thái độ khác đối với sự tiến bộ của người da màu, như Sam đã nói với Cora ở ga tàu. Trong những tháng qua Cora đã nhấm nháp thực tế này bằng nhiều cách, nhưng nền giáo dục cho người da màu là một trong những điều bổ dưỡng nhất. Connelly đã có lần móc một con mắt của một nô lệ vì người đó nhìn các con chữ. Lão làm Jacob mất khả năng lao động, mặc dù nếu anh ấy có tài thì lão đốc công sẽ đưa ra một hình phạt bớt ác độc hơn. Đổi lại, lão gieo được nỗi sợ vĩnh viễn vào bất cứ nô lệ nào có ý muốn học chữ của người da trắng.

Lột vỏ bắp thì không cần mắt, Connelly nói với họ. Hoặc nhịn đói cho đến chết, như Jacob ấy.

Cô đã bỏ đồn điền lại phía sau. Bây giờ cô không còn sống ở đó nữa.

Một trang sách bay khỏi cuốn sách vỡ lòng của cô, cô đuổi theo nó trên cỏ. Cuốn sách bị bong gáy, vì những người sở hữu nó trước đó và cả cô nữa. Cora đã nhìn thấy những đứa trẻ nhỏ hơn Maisie dùng cuốn sách như thế để học bài. Những ấn bản sách vỡ lòng mới in có gáy sách mới tinh. Còn những cuốn sách ở trường học dành cho người da màu bị lật giở nhiều và cô phải bòn mót những chữ in giữa những chữ viết tay nguệch ngoạc của người khác, nhưng không có hình phạt roi nào khi ngó vào những cuốn sách đó.

Mẹ của cô sẽ tự hào về cô lắm. Như mẹ của Lovey có lẽ đã tự hào về con gái của bà vì dám bỏ trốn trong một ngày rưỡi. Cora cài lại trang sách vào cuốn sách. Cô lại cố đẩy chuyện đồn điền ra khỏi tâm trí. Giờ đây cô làm điều đó tốt hơn rồi. Mặc dù não của cô quỷ quyệt và quanh co. Những ý nghĩ mà cô không thích cứ luồn vào từ bên lề, bên dưới, từ những kẽ nứt, những chỗ cô cố lèn xuống.

Chẳng hạn những ý nghĩ về mẹ cô. Vào tuần thứ ba ở khu nhà tập thể, cô gõ cửa văn phòng cô Lucy. Nếu chính phủ lưu hồ sơ của tất cả người da màu đã nhập bang thì trong nhiều cái tên có lẽ có tên mẹ cô. Cuộc sống của Mabel sau khi bỏ trốn là một điều bí ẩn. Có khả năng bà là một trong số những người tự do tới Nam Carolina tìm cơ hội.

Cô Lucy làm việc trong một căn phòng nằm trên lối đi tới nơi sinh hoạt chung của căn số 18. Cora không trông cậy ở cô Lucy, nhưng cô vẫn đứng đó. Cô Lucy cho phép Cora vào phòng. Văn phòng chật hẹp, với những cái tủ đầy tài liệu khiến người giám thị phải lách qua để tới bàn làm việc, nhưng cô làm cho căn phòng thú vị với những bức tranh thêu tả cảnh nông trang treo trên tường. Không có chỗ cho chiếc ghế thứ hai. Khách phải đứng, và điều đó khiến cho cuộc viếng thăm diễn ra chóng vánh.

Cô Lucy nhìn Cora qua cặp kính. “Tên bà ấy là gì?”

“Mabel Randall”.

“Họ của em là Carpenter”, cô Lucy nói.

“Đó là họ của cha em. Mẹ em mang họ Randall”.

“Ra vậy”, cô Lucy nói. “Bà ấy mang họ đó”.

Cô cúi lom khom trước một chiếc tủ, lướt ngón tay trên những tờ giấy màu xanh dương, hầu như cứ sau mỗi tờ lại liếc nhìn về phía Cora. Cô Lucy nói rằng cô sống với một nhóm giám thị tại một khu tập thể gần quảng trường. Cora cố mường tượng những gì người phụ nữ này làm khi cô không quản lý khu nhà tập thể, cô dùng các Chủ nhật như thế nào. Cô Lucy có một quý ông trẻ tuổi đưa đi chỗ này, chỗ kia hay không? Ở Nam Carolina, một phụ nữ da trắng không bị trói buộc dùng thời gian riêng tư như thế nào nhỉ? Cora đã trở nên bạo dạn hơn nhưng khi không giúp việc cho gia đình Anderson cô vẫn chỉ quanh quẩn ở khu tập thể. Trong những ngày đầu sau khi ra khỏi đường hầm, đó dường như là lựa chọn khôn ngoan.

Cô Lucy bước tới cái tủ khác, mở một loạt các ngăn kéo, nhưng không thu thập được gì. “Những thông tin lưu trữ này chỉ là về những người đã ở khu tập thể của chúng tôi thôi”, cô nói. “Nhưng chúng tôi có các địa điểm ở khắp bang”. Người giám thị ghi lại tên của mẹ cô và hứa sẽ kiểm tra những sổ cái ở tòa nhà Griffin. Lần thứ hai cô Lucy nhắc Cora nhớ các bài học đọc và viết không bắt buộc nhưng được khuyên học, phù hợp với sứ mệnh nâng cao trình độ của người da màu, đặc biệt là những người có năng lực. Sau đó cô Lucy quay trở lại với công việc.

Đó là một ý bột phát. Khi Mabel bỏ trốn, Cora nghĩ về bà ít nhất có thể. Sau khi đặt chân đến Nam Carolina, cô hiểu ra rằng cô đã trục xuất mẹ mình không phải ra khỏi nỗi buồn mà khỏi cơn phẫn nộ. Cô căm ghét bà. Được nếm trải tự do dồi dào, Cora không thể hiểu nổi tại sao Mabel bỏ cô lại cái địa ngục đó. Một đứa trẻ. Đưa cô đi cùng sẽ khiến cuộc bỏ trốn trở nên khó khăn hơn, nhưng Cora khi ấy không còn quá nhỏ. Nếu cô có thể hái bông thì cô cũng có thể chạy. Cô sẽ chết ở nơi đó, sau vô số hành động tàn ác, nếu như Caesar không xuất hiện. Ở trên tàu, trong đường hầm bất diệt, cuối cùng cô đã hỏi anh tại sao anh lại đưa cô đi cùng. Caesar nói: “Bởi vì tôi biết cô có thể làm được điều đó”.

Cô ghét mẹ mình biết chừng nào. Biết bao đêm cô ở trong cái lều khốn khổ ấy, trằn trọc, đá người đàn bà nằm cạnh mình, nung nấu cách thoát khỏi đồn điền. Lén chui lên một chiếc xe chở bông rồi nhảy xuống con đường ở bên ngoài New Orleans. Mua chuộc một gã đốc công bằng sự biệt đãi của riêng cô. Mang theo cây rìu và chạy qua đầm lầy như người mẹ khốn khổ của cô đã làm. Tất cả những đêm thức trắng. Sáng ra, trong ánh sáng ban ngày cô thuyết phục bản thân rằng kế hoạch của mình chỉ là một giấc mơ. Những giấc mơ ấy không chỉ là ý nghĩ, không hề. Bởi vì chỉ quanh quẩn với kế hoạch đó trong đầu và không làm gì là chết.

Cô không biết mẹ mình đã trốn đi đâu. Mabel không tận dụng cuộc sống tự do để ky cóp tiền chuộc con gái của bà khỏi kiếp nô lệ, chắc chắn vậy. Dù gì, Randall cũng sẽ không cho phép điều đó xảy ra. Cô Lucy không tìm thấy tên của mẹ Cora trong các tập hồ sơ. Nếu cô ấy tìm thấy, Cora sẽ đi thẳng tới chỗ Mabel và gõ cửa căn phòng nơi bà sống.

“Bessie, cậu ổn chứ?”

Đó là Abigail từ căn số 6 thỉnh thoảng đến ăn tối. Cô chơi thân với những cô gái làm việc ở phố Montgomery. Từ nãy đến giờ Cora cứ đứng giữa bãi cỏ, nhìn vào hư vô. Cô nói với Abigail rằng mọi chuyện vẫn ổn và trở về khu tập thể làm mấy việc lặt vặt. Đúng vậy, Cora cần cảnh giác hơn với những ý nghĩ của mình.

Nếu như cái mặt nạ của Cora thỉnh thoảng bị xô lệch thì cô vẫn chứng tỏ rằng mình giỏi cải trang thành Bessie Carpenter, người trước đây từng ở Bắc Carolina. Cô đã chuẩn bị tinh thần để đối mặt với những câu hỏi từ cô Lucy về tên họ của mẹ cô và những dấu vết khác mà cuộc nói chuyện có thể dẫn tới. Cuộc phỏng vấn ở văn phòng việc làm trong ngày đầu tiên kết thúc sau vài câu hỏi ngắn gọn. Những người mới đến là những người từng phải lao động vất vả ở trong nhà hoặc ngoài đồng. Các gia đình chủ nhân được khuyên nên độ lượng nếu họ tỏ ra thiếu kinh nghiệm.

Cuộc kiểm tra sức khỏe làm cô sợ, nhưng không phải vì các câu hỏi. Những dụng cụ bằng thép sáng loáng trong phòng khám trông hệt như những thứ mà Terrance Randall có lẽ đã đặt mua từ xưởng thợ rèn với mục đích tàn độc.

Phòng khám của các bác sĩ ở tầng mười tòa nhà Griffin. Cô sống sót qua cơn sốc của lần đi thang máy đầu tiên trong đời, bước vào một hành lang dài với những dãy ghế, ghế nào cũng có người da đen đang ngồi chờ kiểm tra sức khỏe. Sau khi một y tá mặc đồng phục trắng dò tên cô trong danh sách, Cora tới ngồi với cánh phụ nữ. Họ nói chuyện đầy căng thẳng: đối với hầu hết họ, đây là lần đầu tiên gặp bác sĩ. Ở đồn điền Randall, bác sĩ chỉ được gọi tới khi các phương thuốc của nô lệ - bằng rễ cây và thuốc mỡ - không có tác dụng, và một lao động có giá trị đang ngấp nghé cửa tử. Trong hầu hết các trường hợp, đến nước ấy thì chẳng còn gì cho bác sĩ làm ngoài việc phàn nàn về đường sá lầy lội và nhận thù lao.

Họ gọi tên cô. Cửa sổ phòng khám mở ra cho cô quang cảnh thành phố và vùng thôn quê xanh tươi trải dài nhiều dặm. Ôi, những con người đã xây dựng lên một thứ như thế này, một hòn đá tảng để đặt chân lên trên đường tới thiên đàng. Cô có thể ở đó cả ngày, ngắm phong cảnh ấy nhưng cuộc kiểm tra đã rút ngắn mơ mộng của cô. Bác sĩ Campbell là típ người có năng lực, một người đàn ông bệ vệ đi lại quanh phòng trong chiếc áo trắng bay lật phật. Ông kiểm tra sức khỏe tổng thể của cô còn cô y tá trẻ chép thông tin vào một tờ giấy màu xanh dương. Tổ tiên cô thuộc bộ tộc nào, và cô biết những gì về thể chất của họ? Cô đã bao giờ bị ốm chưa? Tình trạng tim, phổi của cô? Cô nhận ra rằng những cơn đau đầu mà cô chịu đựng do đòn roi của Terrance đã biến mất kể từ khi cô tới Nam Carolina.

Phần kiểm tra trí tuệ khá ngắn, gôm bài chơi với những hình khối bằng gỗ, và một loạt những câu hỏi vấn đáp có kèm minh họa. Cô cởi quần áo để kiểm tra cơ thể. Bác sĩ Campbell nhìn hai bàn tay cô. Chúng mềm mại nhưng vẫn là tay của người làm đồng áng. Những ngón tay của ông lần theo các vết sẹo do đòn roi gây ra. Đánh bạo dự đoán về số roi, ông đếm thiếu hai roi. Ông kiểm tra chỗ kín của cô bằng dụng cụ. Việc đó khiến cô đau và xấu hổ, dù bác sĩ tỏ ra bình thản cũng chẳng giúp cô cảm thấy bớt khó chịu hơn. Cora trả lời các câu hỏi của ông về những lần bị hành hung. Bác sĩ Campbell quay sang cô y tá và cô này viết chuẩn đoán về khả năng làm mẹ của Cora.

Một bộ dụng cụ bằng kim loại trông phát sợ nằm trên cái khay gần đó. Ông bác sĩ cầm một trong những dụng cụ trông đáng sợ nhất lên, một chiếc kim mỏng gắn với một cái ống hình trụ bằng thủy tinh. “Chúng tôi sẽ lấy một chút máu”, ông nói.

“Để làm gì ạ?”

“Máu cho chúng ta biết nhiều điều”, ông giải thích, “về các căn bệnh. Chúng lây lan như thế nào. Nghiên cứu máu là tiến bộ mới của y học”. Cô y tá nắm chặt cánh tay Cora, bác sĩ Campbell cắm phập kim vào đó. Hóa ra vì vậy mà lúc ở ngoài hành lang cô nghe thấy những tiếng hú. Cô cũng đã góp phần mình vào âm thanh ấy. Sau đó, cuộc kiểm tra sức khỏe kết thúc. Trong hành lang chỉ còn những người đàn ông. Ghế ngồi vẫn kín người.

Đó là lần cuối cùng cô đặt chân đến tầng mười tòa nhà. Một hôm, bà Anderson nói với cô rằng có một bệnh viện mới được mở, phòng khám của các bác sĩ thuộc chính phủ đang chuyển tới đó. Tầng ấy đã được người ta thuê hết rồi, ông Anderson nói thêm. Bác sĩ riêng của bà Anderson hành nghề ở Main Street, phía trên phòng khám nhãn khoa. Ông có vẻ là một người có năng lực. Trong những tháng Cora giúp việc cho gia đình đó, những ngày tồi tệ của bà mẹ đã giảm đi đáng kể. Những cơn thịnh nộ, những buổi trưa bà khóa cửa ở trong phòng riêng kéo rèm kín mít, cách cư xử khắc nghiệt của bà với các con không xảy ra thường xuyên như cơm bữa nữa. Bà ở bên ngoài nhiều hơn, và thuốc đã có tác dụng đáng ngạc nhiên.

Khi Cora xong việc giặt giũ ngày thứ Bảy của mình và ăn tối thì đã sắp đến giờ của buổi sinh hoạt tập thể. Cô mặc chiếc váy màu xanh dương mới. Đó là chiếc váy đẹp nhất ở chợ của người da màu. Cô mua nó ở đó với giá chỉ cao hơn giá vốn chút ít. Sau những lần đi mua hàng cho bà Anderson, cô phát hoảng khi nhận thấy hàng hóa ở khu của họ có giá cao gấp hai hoặc ba lần so với hàng hóa trong cửa hàng của người da trắng. Chẳng hạn, chiếc váy này có giá bằng tiền công cả tuần lao động và cô buộc phải sử dụng phiếu ghi nợ. Nhưng nhìn chung cô chi tiêu rất thận trọng. Tiền là một thứ mới mẻ, khó đoán trước và muốn đi đâu tùy thích. Có những cô gái nợ nhiều tháng lương và bây giờ phải sử dụng phiếu ghi nợ cho mọi món hàng. Cora hiểu tại sao - sau khi thành phố đã trừ tiền ăn, tiền nhà và các khoản như tiền bảo dưỡng khu tập thể, tiền sách vở, họ chẳng còn lại là bao. Tốt nhất nên dựa vào phiếu ghi nợ một cách tiết kiệm. Mua chiếc váy này là chuyện chỉ xảy ra một lần thôi, Cora cam đoan với bản thân.

Các cô gái trong phòng ngủ đang rất phấn khích trước buổi sinh hoạt tập thể tối hôm đó. Cora không phải là ngoại lệ. Cô kết thúc việc sửa soạn. Có lẽ Caesar đã có mặt ở bãi cỏ rồi.

Anh ngồi đợi cô trên chiếc ghế băng hướng về phía vọng lâu và các nhạc công. Anh biết cô sẽ không khiêu vũ. Từ phía bên kia bãi cỏ, Caesar dường như trông già hơn những ngày anh ở Georgia. Cô nhận ra bộ đồ anh mặc được chọn từ những đống quần áo ở chợ da màu, nhưng anh mặc chúng một cách tự tin hơn những người đàn ông ở tuổi của anh từ các đồn điền tới. Công việc ở nhà máy phù hợp với anh. Tất nhiên, các yếu tố khác trong hoàn cảnh tốt đẹp hơn của họ cũng “thuận buồm xuôi gió” như vậy. Trong lần họ gặp nhau gần đây nhất, cô đã thấy anh để râu.

Thế rồi cô nhìn thấy hoa. Cô trầm trồ và cảm ơn anh về bó hoa. Anh khen chiếc váy cô mặc. Một tháng sau khi họ bước ra khỏi đường hầm, anh đã thử hôn cô. Cô giả vờ như chuyện đó không xảy ra, và kể từ đó anh cũng vờ như chưa có chuyện ấy. Một ngày nào đó họ sẽ chính thức nói về nó. Có lẽ khi đó cô sẽ hôn anh, cô không biết nữa.

“Anh biết họ”, Caesar nói. Anh chỉ tay về phía ban nhạc khi họ vào vị trí. “Anh nghĩ có lẽ họ giỏi hơn George và Wesley”.

Nhiều tháng trôi qua, Cora và Caesar trở nên thiếu thận trọng hơn khi công khai nhắc tới Randall. Phần nhiều những gì họ nói có thể khiến bất cứ người nào từng là nô lệ đang nghe lỏm họ chú ý. Đồn điền là đồn điền; ai đó có thể nghĩ rằng không người nào phải chịu bất hạnh như mình, nhưng tất cả bọn họ đều phải chịu nỗi kinh hoàng thực sự. Ở bất cứ sự kiện nào, âm nhạc chẳng mấy chốc cũng che giấu cuộc trò chuyện về tuyến hỏa xa ngầm của họ. Cora hi vọng các nhạc công không nghĩ họ bất nhã vì đã tỏ ra thiếu tập trung. Đó là điều khó xảy ra. Chơi nhạc như người tự do, hoặc không phải là nô lệ, có lẽ vẫn là điều mới lạ được nâng niu. Bắt đầu chơi một giai điệu mà không có gánh nặng mang đến cho làng nô lệ một niềm an ủi hiếm hoi. Được tự do và vui thích biểu diễn.

Các giám thị sắp xếp những buổi sinh hoạt tập thể để khuyến khích mối quan hệ lành mạnh giữa đàn ông và phụ nữ da màu, đồng thời để loại bỏ phần nào tác hại mà chế độ chiếm hữu nô lệ gây ra cho tâm tính họ. Họ cho rằng, âm nhạc, khiêu vũ, thức ăn và rượu pân [11] , tất cả trải ra trên bãi cỏ trong ánh đèn lồng lung linh, là thuốc bổ cho những tâm hồn từng bị ngược đãi. Đối với Caesar và Cora, đó là một trong những cơ hội ít ỏi để gặp nhau.

Caesar làm việc trong nhà máy cơ khí ở ngoại ô thành phố và ca kíp luôn thay đổi của anh hiếm khi trùng với lịch làm việc của cô. Anh thích công việc đó. Mỗi tuần nhà máy lại lắp ráp một loại máy khác, tùy thuộc đơn đặt hàng. Cánh đàn ông đứng thành hàng trước băng tải, mỗi người chịu trách nhiệm lắp ráp bộ phận mà mình được giao để sản phẩm di chuyển tới vị trí khác trên băng chuyền. Ở đầu băng chuyền chẳng có gì, chỉ có một đống linh kiện đang chờ lắp ráp, và khi người cuối cùng làm xong, kết quả nằm trước mặt họ - một sản phẩm hoàn chỉnh. Caesar nói rằng anh mãn nguyện đến mức kinh ngạc khi thấy một sản phẩm hoàn chỉnh, trái ngược hẳn với công việc cực nhọc rã rời ở đồn điền Randall.

Công việc ấy đơn điệu nhưng không gây mệt mỏi; những sản phẩm luôn thay đổi khiến nó bớt tẻ nhạt. Các đốc công và người quản lý cho phép thợ nghỉ giải lao khá lâu, số lần nghỉ được phân chia trong toàn bộ ca làm việc, dựa theo ý kiến của một nhà nghiên cứu về lao động. Những người khác trong nhà máy đều là đồng nghiệp tốt. Một số người vẫn còn cư xử như thuở ở đồn điền, sẵn lòng điều chỉnh thái độ khinh rẻ mà họ cảm nhận được và hành xử như vẫn sống dưới cái ách thiếu thốn nhiều bề, nhưng những người đó tiến bộ từng ngày, nhờ cuộc sống mới khích lệ.

Hai nô lệ bỏ trốn tán gẫu với nhau. Maisie bị rụng một cái răng. Tuần này nhà máy sản xuất động cơ xe lửa - Caesar không biết liệu một ngày nào đó chúng có được sử dụng cho tuyến hỏa xa ngầm hay không. Giá các mặt hàng ở chợ da màu lại tăng, anh nhận xét. Đó không phải là tin mới đối với Cora.

“Sam thế nào ạ?” Cora hỏi. Caesar dễ gặp người trưởng ga ấy hơn Cora.

“Vẫn như mọi khi - vui vẻ, nhiệt tình. Một kẻ thô lỗ ở quán rượu đã đấm anh ấy tím mắt. Anh ấy lại còn tự hào. Anh ấy nói rằng từ lâu đã muốn có một bên mắt như thế rồi”.

“Thế còn chuyện kia?”

Anh bắt chéo hai tay để trên đùi. “Vài ngày nữa sẽ có một chuyến tàu. Nếu chúng ta muốn đi”. Anh nói câu sau như thể anh biết trước thái độ của cô.

“Có lẽ để chuyến sau”.

“Ừ, có lẽ để chuyến sau”.

Ba chuyến tàu đã đi qua kể từ khi hai người đặt chân tới đó. Lần đầu tiên họ nói chuyện hàng tiếng đồng hồ xem có nên rời khỏi miền nam tăm tối này ngay lập tức hay cứ ở lại xem Nam Carolina có thể mang tới cho họ điều gì khác không. Tới khi đó họ đã tăng được vài cân, kiếm được lương tháng, và bắt đầu quên cuộc sống hằng ngày đau khổ, cực nhọc ở đồn điền. Nhưng có một cuộc tranh luận thực sự giữa họ, bởi Cora nghiêng về tuyến hỏa xa ngầm, còn Caesar thì nghiêng về cơ hội ở chính nơi họ đang ở. Sam không giúp được gì trong việc này - anh yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình, vả lại anh là người ủng hộ Nam Carolina có tiến bộ trong vấn đề chủng tộc. Anh không biết cuộc thử nghiệm này sẽ thành ra thế nào, anh lại còn nằm trong số nhiều người kích động đám đông bất tin chính phủ, nhưng Sam là người giàu hi vọng. Họ ở lại. Có lẽ họ đợi chuyến tàu sau.

Chuyến tàu tiếp theo đến rồi đi, cuộc trao đổi ngắn ngủi hơn. Cora vừa ăn xong một bữa ăn ngon tuyệt tại khu tập thể. Caesar đã mua được một chiếc sơ mi mới. Ý nghĩ sắp bị chết đói trên đường chạy trốn chẳng hấp dẫn chút nào, và ý nghĩ bỏ lại tất cả những thứ họ đã mua sắm bằng sức lao động vất vả cũng vậy. Chuyến tàu thứ ba đến rồi đi, chuyến thứ tư cũng vậy.

“Có lẽ chúng ta nên ở lại đây mãi mãi”, Cora nói.

Caesar im lặng. Đó là một buổi tối đẹp trời. Như anh đã hứa, nhóm nhạc công rất giỏi, họ chơi những bản rác-ti [12] đã khiến mọi người hứng khởi trong những buổi sinh hoạt trước. Người chơi vĩ cầm đến từ một đồn điền nào đó, người chơi đàn ban-dô đến từ bang khác: hằng ngày nhạc công ở các khu tập thể chia sẻ âm nhạc đặc trưng cho vùng đất của họ, và thế là ban nhạc hình thành. Khán giả cũng đóng góp những vũ điệu phổ biến ở đồn điền của họ, và học các điệu nhảy của nhau. Gió thổi nhẹ, ai nấy đều cảm thấy mát mẻ khi tản ra ngồi nghỉ và tán tỉnh nhau. Sau đó họ lại nhập cuộc, cười vang, vỗ tay.

“Có lẽ chúng ta nên ở lại”, Caesar nhắc lại. Chuyện đã được quyết định rồi.

Buổi sinh hoạt tập thể kết thúc lúc nửa đêm. Nhóm nhạc công chìa một chiếc mũ ra để nhận chút tiền bồi dưỡng, nhưng vào tối thứ Bảy hầu hết mọi người đều “ngập” trong phiếu nợ nên chiếc mũ trống trơn. Cora tạm biệt Caesar, và trên đường về khu tập thể cô tình cờ chứng kiến một chuyện không hay.

Một phụ nữ trẻ chạy qua bãi cỏ gần trường học. Chị ta ngoài hai mươi tuổi, có dáng người mảnh dẻ, tóc xổ tung rối bời. Chiếc áo cánh chị mặc để mở phanh tới rốn, làm lộ cả bộ ngực. Trong chốc lát, Cora như phải trở lại đồn điền Randall và sắp sửa bị giáo dục đầy tàn bạo.

Hai người đàn ông túm lấy chị ta, một cách nhẹ nhàng nhất có thể, ngăn chị lại. Đám đông tụ tập. Một cô gái chạy đi gọi các giám thị. Cora lách qua đám đông. Người phụ nữ khóc thổn thức không sao hiểu được rồi bỗng nhiên nói: “Các con tôi, họ đã cướp mất các con của tôi!”

Người xem thở dài trước điệp khúc quen thuộc. Họ đã nghe thấy câu nói đó rất nhiều lần trong cuộc sống ở đồn điền, lời khóc than của người mẹ về lũ con bất hạnh. Cora nhớ lời kể của Caesar về những người đàn ông ở nhà máy bị cuộc sống đồn điền ám ảnh, họ mang cuộc sống đó tới đây dù cách xa nhiều dặm. Nó sống trong họ. Nó vẫn sống trong tất cả bọn họ, chực chờ hành động ngược đãi và thái độ chế giễu là lộ ra ngay.

Người phụ nữ trẻ đã phần nào bình tĩnh lại và được dẫn về dãy cuối của khu tập thể. Dù cuộc sống dễ chịu đã dẫn họ tới quyết định ở lại, đó vẫn là một đêm dài đối với Cora khi những ý nghĩ của cô quay lại với tiếng người phụ nữ kêu gào, với những bóng ma của riêng cô.

“Em có thể chào tạm biệt ông bà Anderson và bọn trẻ không?” Cora hỏi.

Cô Lucy quả quyết rằng có thể thu xếp được chuyện đó. Gia đình nọ thích cô, cô Lucy nói vậy.

“Em đã làm rất tệ, phải không ạ?” Cora nghĩ cô đã thích nghi để làm tốt hơn những việc nội trợ. Cô miết ngón tay cái lên lòng bàn tay. Bây giờ lòng bàn tay cô khá mềm mại.

“Em đã làm rất tốt, Bessie ạ”, cô Lucy nói. “Đó là lý do tại sao khi có việc làm mới, chúng tôi lại nghĩ đến em. Đây là ý của tôi, còn cô Handler cũng ủng hộ lắm. Bảo tàng cần một cô gái đặc biệt, và không nhiều người ở đây thích ứng tốt như em. Em nên coi đây là một lời khen nhé”.

Cora được cam đoan một lần nữa, nhưng vẫn nán lại ở ngưỡng cửa.

“Còn chuyện gì khác à, Bessie?” Cô Lucy vừa hỏi vừa vuốt phẳng đám giấy tờ.

Hai ngày sau sự việc không vui xảy ra ở buổi sinh hoạt tập thể, Cora vẫn lo lắng. Cô hỏi thăm người phụ nữ đã gào khóc tối hôm đó.

Cô Lucy gật đầu vẻ cảm thông. “Em đang nói đến Gertrude. Tôi biết em lo lắng. Cô ấy ổn. Họ giữ cô ấy nằm nghỉ vài ngày tới khi cô ấy bình thường trở lại”. Cô Lucy giải thích rằng có một y tá ở bên cạnh theo dõi Gertrude. “Đó là lý do tại sao chúng tôi dành dãy nhà tập thể đó cho những người bị rối loạn lo âu. Đối với những người đó, ở giữa đám đông là không hợp lý. Ở nhà số 40 họ được chăm sóc đúng như họ cần”.

“Em không biết số 40 là nhà tập thể đặc biệt”, Cora nói. “Đó là Hob của các cô gái”.

“Gì cơ?” Cô Lucy hỏi, nhưng Cora không giải thích thêm.

“Họ chỉ ở đó trong một thời gian ngắn”, người phụ nữ da trắng bổ sung. “Chúng tôi lạc quan”.

Cora không biết lạc quan nghĩa là gì. Tối hôm đó cô hỏi những cô gái khác. Không ai từng nghe thấy từ đó. Cô quyết định rằng nó có nghĩa là đang cố gắng.

Đường tới bảo tàng cũng chính là đường cô đã đi bộ tới nhà Anderson, đến khi cô rẽ phải ở trụ sở tòa án. Viễn cảnh rời khỏi gia đình đó khiến cô buồn. Cô không giao tiếp nhiều với người cha, bởi hằng ngày ông rời khỏi nhà sớm và cửa sổ văn phòng của ông là một trong những ô cửa sáng đèn muộn nhất trong tòa nhà Griffin. Ngành sản xuất bông cũng đã biến ông thành nô lệ. Nhưng bà Anderson là một bà chủ đầy kiên nhẫn, đặc biệt sau khi bà dùng các đơn thuốc của bác sĩ, và bọn trẻ nhà họ thật dễ thương. Maisie mười tuổi. Ở tuổi đó tại đồn điền Randall mọi niềm vui đều đã bị giết chết. Ngày hôm trước một đứa trẻ da đen còn hạnh phúc, thế nhưng ngày hôm sau ánh sáng đã biến mất khỏi cuộc sống của nó; giữa khoảng thời gian đó nó được giới thiệu với một thực tế mới - cảnh nô lệ. Rõ ràng Maisie hư vì được nuông chiều, nhưng có nhiều điều tồi tệ hơn cả thói hư, nếu bạn là người da màu. Cô bé ấy khiến Cora tự hỏi những đứa con của mình sau này như thế nào.

Cô đã nhìn thấy Bảo tàng Kỳ quan Thiên nhiên nhiều lần khi đi dạo nhưng chưa bao giờ biết tòa nhà thấp, to bè bằng đá ong ấy được trưng dụng làm gì. Bảo tàng chiếm toàn bộ khối nhà. Những bức tượng sư tử đứng gác dọc thềm đá phẳng và dài nhìn đài phun nước bằng con mắt đang khát. Khi Cora bước vào khuôn viên bảo tàng, tiếng nước xối mạnh át cả tiếng ồn ào của đường phố, đưa cô vào trong bảo tàng.

Ở bên trong, cô được dẫn qua một cánh cửa đề không phận sự miễn vào, và tới một mê cung hành lang. Qua những cánh cửa nửa khép nửa mở, Cora liếc thấy các hoạt động gây tò mò. Một người đàn ông luồn chiếc kim xâu chỉ vào xác một con lửng. Một người khác giơ những viên đá màu vàng lên trước ánh đèn sáng chói. Trong một căn phòng đầy những chiếc bàn gỗ và dụng cụ thí nghiệm, lần đầu tiên trong đời cô thấy kính hiển vi. Chúng ngồi chồm hỗm trên bàn như lũ ếch đen. Sau đó cô được giới thiệu với ông Fields, người phụ trách khu Lịch sử Sống.

“Cô sẽ làm tốt lắm đây”, ông vừa nói vừa kĩ lưỡng quan sát cô như cánh đàn ông trong những căn phòng ban nãy, đang chăm chú quan sát các vật phẩm trên bàn. Lúc nào ông cũng nói chuyện nhanh và hăng hái, không gợn dấu vết của miền nam. Sau này, cô phát hiện ra rằng ông Fields được một bảo tàng ở Boston thuê cập nhật các tập quán địa phương. “Tôi có thể thấy từ khi tới đây cô ăn uống tốt hơn”, ông bình luận. “Bình thường thôi, cô sẽ làm tốt”.

“Tôi bắt đầu lau dọn ở đây trước tiên phải không, ông Fields?” Trên đường Cora đã quyết tâm tránh nói giọng đồn điền hết sức có thể ở chỗ làm mới.

“Lau dọn ư? Ồ, không. Cô biết những gì chúng tôi làm ở đây…” Ông ngừng lời. “Cô đã đến đây bao giờ chưa?” Ông giải thích công việc tại bảo tàng. Trong bảo tàng này, trọng tâm là lịch sử nước Mỹ - đối với một quốc gia trẻ, có nhiều điều để giáo dục công chúng. Hệ động thực vật chưa được thuần dưỡng của lục địa Bắc Mỹ, những mỏ khoáng sản và thế giới kỳ diệu phía dưới chân họ. Ông nói rằng một số người chưa bao giờ bước chân ra khỏi hạt nơi họ sinh ra. Giống như một tuyến hỏa xa, bảo tàng này cho phép họ thấy phần còn lại của đất nước nằm ngoài trải nghiệm ít ỏi của họ, từ Florida tới Maine, tới biên giới phía Tây. Và thấy được con người trên những vùng đất. “Những con người như cô”, ông Fields nói.

Cora làm việc ở ba phòng. Ngày đầu tiên, những bức rèm màu xám che kín các ô cửa kính ngăn ba phòng đó với công chúng. Buổi sáng hôm sau các bức rèm biến mất, các đám đông kéo tới.

Phòng đầu tiên là châu Phi Thời Tăm Tối Nhất. Một túp lều chiếm vị trí chủ đạo trong phòng trưng bày, các cọc gỗ dựng lên làm tường được cột lại với nhau bên dưới mái tranh hình chóp. Cora lùi vào trong bóng lều khi muốn trốn những khuôn mặt. Có một đống lửa bếp, ngọn lửa được phản chiếu qua những tấm kính đỏ; một chiếc ghế băng được đóng sơ sài, cùng những dụng cụ được xếp thành từng loại, những bầu đựng nước và những chiếc vỏ, mai của động vật. Ba con chim lớn màu đen được treo trên trần nhà bằng một dây kim loại. Khi trưng bày như thế, người ta mong đợi hình ảnh đó gợi ra cảnh đàn chim bay vòng vòng phía trên cảnh sinh hoạt của thổ dân. Chúng nhắc Cora nhớ tới lũ ó rỉa xác chết ở đồn điền khi những xác chết bị đem bêu.

Những bức tường xanh dịu tại phòng triển lãm Cuộc Sống Trên Tàu Nô Lệ gợi về bầu trời Atlantic. Ở đây, Cora đứng nghiêm trên boong của một chiếc tàu khu trục, xung quanh là cột buồm, những chiếc thùng tròn nhỏ và những cuộn dây thừng. Trang phục châu Phi của cô là tấm áo choàng sặc sỡ; bộ đồ thủy thủ khiến cô trông như một đứa trẻ đường phố, với khăn tunic, quần dài và giày da. Câu chuyện về cậu bé châu Phi tiếp diễn sau khi cậu lên tàu, lao động ở trên tàu theo kiểu học việc. Cora giấu mái tóc bên dưới chiếc mũ đỏ. Trên tàu còn có bức tượng một thủy thủ đang đứng dựa vào thành tàu với chiếc ống nhòm chĩa ra. Mắt, miệng và màu da trên cái đầu bằng sáp đó được sơn màu lộn xộn.

Phòng trưng bày Ngày Trên Đồn Điền cho phép cô ngồi quay sợi và đôi chân cô được nghỉ ngơi, ghế ngồi chắc như khúc gỗ thích của cô ngày trước. Lũ gà nhồi mùn cưa mổ mổ xuống mặt đất; thỉnh thoảng Cora lại giả làm động tác tung hạt cho chúng. Cô hết sức nghi ngờ tính chân thực của cảnh con tàu và người Phi, mà cảnh ở phòng này cũng vậy. Cô lên tiếng nhận xét. Ông Fields thừa nhận rằng các guồng quay sợi không mấy khi được sử dụng ngoài trời, ở chân lều của nô lệ, nhưng ông phản bác rằng dù tính chân thực là khẩu hiệu của bảo tàng, diện tích căn phòng bắt buộc họ phải nhượng bộ đôi chút. Thử hỏi làm sao ông có thể đưa cả một cánh đồng bông vào trưng bày rồi trả thù lao cho cả tá diễn viên. Một ngày nào đó, có lẽ vậy.

Cora không có ý kiến gì về trang phục Ngày Trên Đồn Điền bằng vải thô của người da đen. Hai lần một ngày cô phát ngượng khi cởi quần áo rồi mặc bộ trang phục đó vào.

Ông Fields có ngân sách dành cho ba diễn viên mà ông gọi là “mẫu”. Cũng được tuyển từ trường của cô Handler, Isis và Betty ở cùng độ tuổi và có dáng vóc như Cora. Họ dùng chung trang phục diễn. Trong lúc nghỉ giải lao, ba người bàn tán về ưu điểm và cái bất lợi của công việc mới. Sau một, hai ngày điều chỉnh, ông Fields để họ tự làm việc. Betty thích một điều rằng ông Fields không bao giờ tỏ ra tức giận, trái ngược với gia đình mà cô từng giúp việc cho, những chủ nhân nói chung là tốt nhưng luôn có khả năng hiểu lầm hoặc cáu giận vô cớ. Isis thích im lặng không phải nói. Cô đến từ một trang trại nhỏ - nơi cô được để mặc cho tự xoay xở, trừ những đêm ông chủ cần có người ở bên và cô buộc phải hầu hạ lão ta. Cora nhớ những cửa hiệu của người da trắng và những giá bày hàng ngồn ngộn, nhưng cô vẫn đi bộ về nhà vào buổi tối và trò chơi với dãy cửa hiệu luôn thay đổi.

Mặt khác, phải phi thường lắm mới có thể không để ý đến khách tham quan bảo tàng. Trẻ con gõ lên mặt kính và chỉ tay vào các nhân vật nhập vai một cách thiếu tôn trọng, làm họ giật mình khi họ đang đóng cảnh thắt dây thừng. Các ông bầu thỉnh thoảng hò hét trước các diễn viên kịch câm, nhận xét các cô gái không thể diễn cho ra hồn, và kèm theo mọi gợi ý thô lỗ. Mỗi giờ diễn viên lại di chuyển luân phiên qua các phòng trưng bày để cảnh giả vờ lau boong tàu, đẽo các dụng cụ săn bắn, và vuốt ve những củ khoai lang bằng gỗ bớt đơn điệu. Ông Fields chỉ hay nhắc họ đừng ngồi quá nhiều, nhưng ông không thúc ép họ. Trên ghế đẩu khi ngồi mân mê sợi dây thừng được bện từ cây dầu gai, họ trêu chọc Skipper John, chàng thủy thủ hình nộm mà họ đã đặt tên thân mật cho.

Những cuộc triển lãm khai trương cùng ngày với bệnh viện, một phần của hoạt động biểu dương thành tựu mới của thành phố. Ông thị trưởng mới đã được bầu vào danh sách ứng cử viên cấp tiến, và ông muốn bảo đảm rằng cư dân kết nối ông với những sáng kiến hướng tới tương lai của người tiền nhiệm - đã được thực hiện từ hồi ông còn là một luật sư về quyền sở hữu ở tòa nhà Griffin. Cora không tham gia hoạt động lễ hội đó, dù tối hôm ấy từ cửa sổ phòng tập thể cô có xem bắn pháo hoa và buộc phải đặt chân tới bệnh viện mới ở gần đó khi lại đến lịch kiểm tra sức khỏe. Khi người da màu quen với cuộc sống tại Nam Carolina, các bác sĩ theo dõi thể chất của họ bằng lòng tận tụy y như các giám thị đánh giá khả năng thích nghi về mặt tinh thần nơi họ. Một buổi trưa khi họ đi dạo trên bãi cỏ, cô Lucy nói với Cora rằng tất cả các con số, số liệu và thông tin đều góp phần quan trọng giúp mọi người hiểu về đời sống của người da màu.

Nhìn từ mặt tiền, bệnh viện là một công trình phức hợp một tầng, có chiều dài bằng chiều cao của tòa nhà Griffin. Cora chưa từng thấy kiến trúc bệnh viện “mộc” như vậy bao giờ, cứ như để thông báo về hiệu quả của nó ở đằng sau các bức tường. Lối vào dành cho người da màu vòng qua hông tòa nhà, nhưng ngoài điều đó thì thiết kế trông giống hệt cổng dành cho người da trắng và không kèm lời giải thích muộn mằn, như thường thấy. Sáng hôm ấy, khi Cora khai tên với nhân viên lễ tân, khu khám chữa bệnh dành cho người da màu đã đông đúc lắm rồi. Một nhóm đàn ông, trong đó có vài người cô nhận ra từ các buổi sinh hoạt tập thể và buổi trưa trên bãi cỏ, đứng ngồi chật kín phòng kế bên, đợi được điều trị bệnh về máu. Trước khi đến Nam Carolina, cô chưa từng nghe nói đến bệnh về máu, nhưng nó làm khối người ở các khu nhà tập thể khổ sở và các bác sĩ ở khu vực này của thành phố phải nỗ lực hết sức. Chắc chuyên gia có khu riêng của họ, và bệnh nhân sẽ mất hút phía cuối một dãy hành lang dài khi được gọi tên.

Lần này cô gặp một bác sĩ khác, dễ chịu hơn bác sĩ Campbell. Tên bác sỹ là Stevens. Anh là người miền bắc, có những lọn tóc đen loăn xoăn đầy nữ tính được anh khỏa lấp đi bằng bộ ria tỉa tót cẩn thận. Bác sĩ Stevens dường như còn rất trẻ để làm bác sĩ. Cora coi đó là dấu hiệu của tài năng. Trong lúc được kiểm tra sức khỏe, Cora trộm nghĩ mình đang di chuyển trên một băng chuyền, như mớ sản phẩm của Caesar, dưới vẻ chăm chú và chuyên cần.

Cuộc thăm khám thể chất đó không kéo dài như cuộc đầu tiên. Vị bác sĩ tham khảo thông tin từ lần khám trước và bổ sung ghi chú của mình vào tờ giấy màu xanh dương. Trong lúc kiểm tra anh hỏi han cô về đời sống ở khu tập thể. “Nghe có vẻ hiệu quả đấy”, bác sĩ Stevens nói. Anh nhận xét công việc ở bảo tàng là “việc phục vụ công chúng khá hấp dẫn”.

Sau khi cô mặc quần áo vào, bác sĩ Stevens kéo một chiếc ghế đẩu ra. Vẫn với thái độ nhã nhặn, anh hỏi: “Chị có quan hệ tình dục rồi. Chị đã nghĩ tới biện pháp kiểm soát sinh đẻ chưa?”

Anh mỉm cười. Nam Carolina đang triển khai một chương trình sức khỏe cộng đồng lớn, bác sĩ Stevens giải thích, để phổ biến một kỹ thuật phẫu thuật mới cho người dân: đặt “ống” bên trong người phụ nữ để ngừa thai. Phương pháp này đơn giản, lâu dài và không có rủi ro. Bệnh viện mới được trang bị đặc biệt, và chính bác sĩ Stevens đã học kỹ thuật này từ người tiên phong áp dụng nó, một kỹ thuật đã hoàn thiện trên những bệnh nhân da màu ở một dưỡng trí viện của Boston. Một phần lý do anh được tuyển dụng là nhằm mục đích truyền dạy kỹ thuật cho các bác sĩ địa phương và trao tặng món quà ấy cho dân cư da màu.

“Nếu tôi không muốn thì sao?”

“Tất nhiên, cô có quyền lựa chọn”, bác sĩ nói. “Nhưng từ tuần này, một số đối tượng trong bang bắt buộc phải làm. Phụ nữ da màu đã có hơn hai con, theo chương trình kiểm soát dân số. Những người chậm phát triển trí tuệ hoặc năng lực tinh thần yếu, vì lý do hiển nhiên. Những kẻ phạm tội thường xuyên. Nhưng với cô thì không bắt buộc, Bessie. Họ là những phụ nữ đã có đủ gánh nặng rồi. Đây chỉ là cơ hội cho cô kiểm soát số phận mà thôi”.

Cô không phải là bệnh nhân biết cãi đầu tiên của anh. Bác sĩ Stevens gạt vấn đề đó sang một bên mà vẫn giữ thái độ ấm áp. Anh nói rằng các giám thị của cô có nhiều thông tin hơn về chương trình đó và sẵn sàng nói chuyện với cô nếu cô có bất cứ băn khoăn gì.

Cô bước nhanh dọc hành lang bệnh viện, thèm bầu không khí thoáng đãng. Cora đã quá quen với việc thoát khỏi những cuộc trạm trán với giới quyền lực da trắng mà không hề hấn gì. Những câu hỏi thẳng thắn của anh đi kèm sự tỉ mỉ khiến cô bối rối. So sánh chuyện đã xảy ra trong đêm ở nhà hun khói với những gì giữa một người đàn ông và vợ anh ta - hai người yêu nhau. Lời bác sĩ Stevens làm hai việc ấy trở nên giống nhau. Bụng cô quặn lại trước ý nghĩ đó. Rồi lại còn vấn đề bắt buộc nữa chứ, nghe cứ như phụ nữ - những người đàn bà ở Hob - chẳng có quyền nói lên ý kiến. Cứ như họ là tài sản mà các bác sĩ có thể làm gì tùy thích. Bà Anderson có sức khỏe tinh thần yếu đấy thôi. Điều đó có khiến bà trở thành người thiếu khả năng không? Bác sĩ của bà có đưa ra đề nghị tương tự không? Không.

Miên man với dòng suy nghĩ, cô chợt nhận ra mình đã ở trước cổng nhà Anderson. Chân cô giành quyền điều khiển khi đầu óc cô mải nghĩ chuyện đẩu đâu. Có lẽ sâu thẳm trong lòng, Cora đang nghĩ về bọn trẻ. Maisie giờ này đang ở trường, nhưng chắc Raymond thì ở nhà. Hai tuần vừa qua cô quá bận nên chưa chính thức chào tạm biệt gia đình họ.

Cô gái, người ra mở cửa, nhìn Cora bằng ánh mắt nghi ngờ, thậm chí sau khi cô tự giới thiệu.

“Tôi cứ nghĩ tên cô là Bessie cơ”, cô gái nói. Cô gái gầy gò, bé nhỏ nọ chặn cánh cửa như thể cô thích dồn cả trọng lượng cơ thể vào đó, ngăn vị khách không mời vào nhà. “Cô vừa nói cô là Cora”.

Cora thầm nguyền rủa vị bác sĩ làm cô đãng trí. Cô giải thích rằng tên thật của mình là Bessie, nhưng ở khu dân cư mọi người đều gọi cô là Cora bởi vì cô trông rất giống mẹ cô.

“Bà Anderson không có nhà”, cô gái đáp. “Còn bọn trẻ đang chơi với các bạn. Tốt nhất cô nên quay lại khi bà chủ ở nhà”. Nói rồi cô gái đóng sập cửa.

Chỉ duy nhất lần này Cora đi đường tắt về chỗ mình ở. Nói chuyện với Caesar sẽ giúp ích cho cô, nhưng giờ này anh đang ở nhà máy. Cô nằm trên giường đến tận giờ ăn tối. Từ hôm đó cô đi đường khác tới bảo tàng để tránh đi qua nhà Anderson.

Hai tuần sau ông Fields quyết định cho các diễn viên của ông đi một vòng quanh bảo tàng. Thời gian ở sau vách kính phòng triển lãm đã cải thiện kỹ năng diễn xuất của Isis và Betty. Họ vờ thể hiện mối quan tâm đáng tin cậy khi ông Fields giải thích về mặt cắt ngang của những quả bí ngô và vòng tròn sinh tử của những cây sồi trắng dễ tổn thương, những hốc tinh nứt toác với những tinh thể màu mận chín giống hàm răng bằng thủy tinh, những con bọ cánh cứng và loài kiến bé xíu mà các nhà khoa học đã bảo quản bằng một hợp chất đặc biệt. Các cô gái cười thầm trước nụ cười băng giá của con chồn nhồi, con chim ưng đuôi đỏ có dáng bay bổ nhào, và con gấu đen ì ạch đang tấn công ô cửa sổ. Những con thú ăn thịt đông cứng đúng lúc chúng sắp sửa vồ mồi.

Cora nhìn trừng trừng những khuôn mặt bằng sáp của người da trắng. Triển lãm của ông Fields là triển lãm sống duy nhất. Song những người da trắng trong bảo tàng không phải người thật mà được làm bằng thạch cao, dây kim loại và sơn. Trong một gian trưng bày, hai tín đồ thanh giáo Anh mặc áo chẽn và quần ống túm bằng len dày chỉ tay về phía đá Plymouth [13] , trong khi đó trên tấm bích họa những người khác đứng trên những con thuyền đang nhìn ra. Sau chuyến hải hành đầy gian nguy, họ đã cập bến an toàn, đến với khởi đầu mới. Trong một ô kính trưng bày khác, bảo tàng dựng cảnh cảng biển; nơi thực dân da trắng mặc giống người của bộ tộc da đỏ Mohawk quăng những thùng chè qua thành tàu với vẻ hân hoan thái quá. Trong đời mình người ta mang các loại xiềng xích khác nhau, nhưng không khó để nhận thấy sự nổi loạn, ngay cả khi đám người nổi loạn mặc trang phục phủ nhận điều đó.

Nhóm diễn viên rảo bước trước các ô kính trưng bày như khách tham quan bảo tàng vậy. Hai nhà thám hiểm đầy quyết tâm đứng trên một chỏm núi nhìn những ngọn núi ở phía tây, một đất nước bí ẩn với bao hiểm nguy và khám phá trước mắt họ. Ai biết có gì nằm ở đó? Họ làm chủ cuộc đời mình, dấn bước vào tương lai không hề sợ hãi.

Trong gian trưng bày cuối cùng, một người da đỏ nhận một mảnh giấy da từ ba người da trắng đứng đó trong tư thế cao nhã, bàn tay họ xòe ra như muốn đàm phán.

“Đó là gì vậy ạ?” Isis hỏi.

“Một cái lều vải thật”, ông Fields nói. “Trong mỗi gian trưng bày chúng tôi muốn kể một câu chuyện để giải thích trải nghiệm của người Mỹ. Ai cũng biết sự thật của cuộc gặp lịch sử này nhưng thấy nó diễn ra trước mắt các bạn thì…”

“Họ ngủ trong đó sao?” Isis hỏi.

Ông Fields giải thích. Và sau đó các cô gái trở lại những gian trưng bày.

“Anh nói gì nào, Skipper John”, Cora hỏi chàng thủy thủ đồng nghiệp của cô. “Đây là sự thật của cuộc gặp gỡ lịch sử giữa chúng ta chăng?” Mới đây cô bắt đầu nói chuyện với người nộm đó nhằm bổ sung phần diễn xuất phục vụ công chúng. Sơn trên má người nộm đã bong tróc, để lộ lớp sáp xám xịt bên dưới.

Cora cho rằng đàn sói đồng cỏ - thú nhồi được trưng bày ở đó - không nói dối. Những tổ kiến, hòn đá nói sự thật về chính chúng. Nhưng triển lãm về người da trắng có nhiều điều không chân thực và mâu thuẫn, chẳng hạn ba nơi mà Cora nhập vai. Chẳng có những đứa bé trai bị bắt cóc lau sàn tàu và bị kẻ bắt cóc da trắng đánh vào đầu. Đứa con trai da đen đi đôi giày da cao cổ đẹp đẽ mà cô đóng vai không bị xích dưới hầm tàu, ngập trong chất thải của chính nó. Nô lệ đôi khi phải quay sợi thật đấy; nhưng phần lớn thời gian không như thế. Không nô lệ nào chết gục bên guồng quay sợi hoặc bị giết vì một mớ sợi rối. Nhưng nào ai muốn nói về sự sắp đặt thật của cuộc đời. Và nào ai muốn nghe sự thật đó. Dĩ nhiên lúc này ở bên ngoài mặt kính không có những quái vật da trắng áp cái mõm béo nhờn lên mặt kính, nhếch mép và hú hét. Sự thật lại là một bài trí thay đổi sau tấm kính, được những đôi bàn tay khéo sắp đặt khi chúng ta không ở đó mà nhìn, trông đến là quyến rũ và nằm ngoài tầm với.

Người da trắng đến lục địa này vì một khởi đầu mới và cũng để trốn khỏi những ông chủ bạo ngược, như người nô lệ trốn khỏi chủ của họ. Nhưng họ lại từ chối ý định đó ở người khác, họ chỉ biết giữ cho bản thân. Cora đã nghe Michael đọc Tuyên Ngôn Độc Lập tại đồn điền Randall nhiều lần, giọng cậu bay bổng khắp ngôi làng như một hồn ma giận dữ. Cô không hiểu những từ cậu đọc, hầu hết những từ đó, nhưng mấy từ sinh ra đều bình đẳng không vô giá trị đối với cô. Những người da trắng viết ra bản tuyên ngôn cũng không hiểu nó, không hiểu mọi người thực sự đâu có nghĩa là tất cả mọi con người. Không hiểu họ đã giật mất những gì thuộc về người khác, không hiểu đó là thứ người ta nắm trong tay như dòng cát, hoặc là thứ bất khả nắm giữ, như tự do. Đất đai nơi cô trồng trọt và lao động trên đó từng là đất của người da đỏ. Cô biết người da trắng đã khoác lác về thành quả của những trận thảm sát - họ giết cả phụ nữ và trẻ em, bóp chết tương lai của những đứa trẻ từ trong nôi.

Những thân thể bị đánh cắp làm việc quần quật trên đất đai bị đánh cắp. Đó là một cỗ máy liên tục hoạt động, đầu máy được tiếp nhiên liệu bằng máu. Với phương pháp phẫu thuật mà bác sĩ Stevens miêu tả, Cora nghĩ người da trắng bắt đấu quyết tâm đánh cắp tương lai. Mổ phanh bạn ra, bóc toạc, để máu chảy tong tỏng. Bởi đó là cái ta làm khi cướp những đứa con sơ sinh của người khác - đánh cắp tương lai của họ. Hành hạ họ hết mức có thể khi họ còn ở trên trái đất này, sau đó cướp đi niềm hi vọng rằng một ngày nào đó chủng tộc của họ sẽ có tương lai tốt đẹp hơn.

“Không đúng vậy sao, Skipper John?” Cora hỏi. Thi thoảng nếu Cora quay đầu đủ nhanh, cô thấy dường như bức tượng đó đang nháy mắt với cô.

Mấy đêm sau đó cô nhận ra nhà số 40 không sáng đèn, mặc dù vẫn còn sớm chưa tới giờ đi ngủ. Cô hỏi những cô gái khác. “Họ được chuyển tới bệnh viện rồi”, một cô nói. “Để họ khỏe hơn ấy mà”.

Đêm trước khi Ridgeway đặt dấu chấm hết cho cuộc sống ở Nam Carolina của Cora, cô nán lại trên sân thượng tòa nhà Griffin, cố xác định xem mình đến từ đâu. Còn một tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ gặp Caesar và Sam, và cô không thích cái ý tưởng mình cứ nằm buồn bực trên giường, nghe các cô gái khác ỏn ẻn. Thứ Bảy trước, sau giờ học, Martin - một người đàn ông làm việc ở Griffin, từng là nô lệ trong đồn điền trồng thuốc lá, đã nói cho cô biết cửa dẫn lên sân thượng tòa nhà không khóa. Lên trên đó rất dễ. Martin dặn nếu Cora sợ có ai đó trong đám người da trắng làm việc ở tầng mười hai hỏi han cô khi cô bước ra khỏi thang máy thì cô có thể dùng thang bộ.

Đây là lần thứ hai cô lên sân thượng lúc chạng vạng. Độ cao khiến cô chóng mặt. Cô muốn nhảy lên, chộp những đám mây xám đang vần vũ phía trên đầu. Cô Handler đã dạy cả lớp về những kim tự tháp ở Ai Cập và những kỳ quan khác mà người nô lệ đã tạo tác bằng bàn tay và mồ hôi. Kim tự tháp có cao bằng tòa nhà này không, có phải các Pha-ra-ông vừa ngồi trên đỉnh vừa ước chừng vương quốc của họ không, xem thế giới được thu nhỏ ra sao khi ta ngự ở độ cao thích hợp? Ở Main Street dưới kia công nhân đang xây dựng những tòa nhà ba, bốn tầng, cao hơn dãy nhà hai tầng cũ kỹ. Hằng ngày Cora đi qua công trường xây dựng ấy. Chưa tòa nhà nào sánh bằng vẻ đồ sộ của Griffin, nhưng một ngày nào đó tòa nhà này sẽ có anh chị em. Bất cứ khi nào cô cho phép những giấc mơ đưa cô đến đại lộ hi vọng, ý niệm này lại khuấy động cô, rằng thành phố sẽ trở nên thịnh vượng, sầm uất.

Ở phía đông của Griffin là nhà của người da trắng và các dự án mới của họ - khu quảng trường thành phố được mở rộng, bệnh viện và bảo tàng. Cora nhìn về phía tây, nơi có những khu nhà tập thể của người da màu. Từ độ cao này, những “khối hộp” gạch đỏ trườn trên những khu rừng chưa được phát quang hẳn theo từng hàng ấn tượng. Đó là nơi mà một ngày nào đó cô sẽ sống chăng? Căn nhà nhỏ trên một con phố chưa được lập tên chăng? Đưa cậu con trai và cô con gái lên gác ngủ. Cora cố hình dung khuôn mặt của người đàn ông là chồng mình, cố gợi lên tên của lũ trẻ. Trí tưởng tượng của cô không đủ cho việc đó. Cô liếc nhìn về phía nam, phía đồn điền Randall. Cô mong nhìn thấy gì? Đêm đã đưa miền nam vào bóng tối rồi.

Còn miền bắc? Có lẽ một ngày nào đó cô sẽ tới thăm.

Làn gió nhẹ khiến cô rùng mình, cô bắt đầu rảo bước để xuống phố. Giờ này đã đủ an toàn để đi gặp Sam.

Caesar không biết tại sao người trưởng ga muốn gặp họ. Sam đã ra hiệu cho anh khi anh đi qua quán rượu và hẹn: “Tối nay”. Cora không quay lại ga tàu ấy kể từ khi tới đây, nhưng ngày cô được giải thoát còn sống động đủ để dễ dàng tìm ra đường đến đó. Âm thanh của động vật trong khu rừng tối, những cành cây phát ra tiếng lách tách, rì rào nhắc cô nhớ cuộc bỏ trốn của họ, và nhớ tới cảnh Lovey biến mất trong đêm.

Cô bước nhanh hơn khi ánh đèn từ ô cửa sổ nhà Sam rung rinh qua những cành cây. Sam ôm cô nồng nhiệt như thường lệ, hơi ẩm nơi áo sơ mi của anh và mùi mồ hôi bốc lên cũng như nhiệt huyết nơi anh vậy. Lần trước tới nhà anh, vì quá bối rối nên cô không để ý thấy căn nhà thật lộn xộn, chồng đĩa cáu bẩn, mạt cưa và hàng đống quần áo. Để vào trong bếp cô phải bước qua một hộp dụng cụ bị đổ lộn tùng phèo, các món đồ bên trong rơi vương vãi khắp sàn, những chiếc đinh tóe loe như trong trò rút que [14] . Trước khi rời khỏi đó, cô khuyên anh liên lạc với văn phòng việc làm để kiếm một cô gái giúp việc.

Caesar đã đến và uống một chai bia bên bàn bếp. Anh mang một chiếc bát tự làm đến cho Sam, anh mân mê đáy bát như để kiểm tra một vết nứt không thể nhìn thấy được. Cora gần như đã quên anh thích làm đồ gỗ. Gần đây cô không gặp anh nhiều. Anh đã sắm thêm những bộ đồ bắt mắt ngoài chợ của người da màu, cô thích thú nhận ra điều đó, một bộ com-lê đen thật hợp với anh. Ai đó đã dạy anh thắt cà vạt, hoặc có lẽ đó là một vật lưu niệm hồi anh ở Virginia, khi anh tin rằng người phụ nữ da trắng cao tuổi ấy sẽ giải phóng cho anh và anh đã cố gắng cải thiện vẻ bề ngoài.

“Có một chuyến tàu sắp đến ư?” Cora hỏi.

“Trong vài ngày nữa”, Sam nói.

Caesar và Cora ngồi vào chỗ.

“Tôi biết các bạn không muốn bắt chuyến tàu đó”, Sam nói. “Không vấn đề gì”.

“Chúng tôi đã quyết định ở lại”, Caesar lên tiếng.

“Chúng tôi muốn chắc chắn điều đó rồi mới nói với anh”, Cora bổ sung.

Sam thở hổn hển, dựa lưng vào chiếc ghế cọt kẹt. “Tôi mừng khi các bạn bỏ qua những chuyến tàu và an cư lạc nghiệp ở đây”, trưởng ga nói. “Nhưng sau câu chuyện của tôi biết đâu các bạn sẽ cân nhắc lại”.

Sam mời họ vài miếng mứt - anh là khách hàng trung thành của hiệu bánh ngọt Ideal Bakery trên Main Street - đoạn tiết lộ mục đích của anh. “Tôi muốn cảnh báo các bạn hãy tránh xa quán Red”, Sam nói.

“Anh sợ cạnh tranh ư?” Caesar đùa. Đâu phải chuyện đó. Quán rượu của Sam không phục vụ khách da màu. Không, quán Red vốn dành riêng cho dân cư của các khu nhà tập thể thích uống rượu và khiêu vũ. Chẳng sao nếu họ dùng phiếu ghi nợ.

“Tai họa hơn nữa kìa”, Sam nói. “Nói thật, tôi không biết phải diễn tả chuyện đó như thế nào”. Đó là một chuyện lạ lùng. Caleb, chủ quán Drift, có bản tính cáu gắt mà ai cũng biết; còn Sam có tiếng là người trưởng quầy bar hay chuyện. “Hễ làm ở một chỗ nào đó, các bạn phải biết đời sống thực của nó”, Sam thích nói như vậy. Một trong những khách hàng thường xuyên của anh là bác sĩ Bertram, mới được tuyển vào bệnh viện. Anh ta không hòa hợp với các đồng nghiệp người miền bắc khác, và thích bầu không khí cũng như những bạn bè sắc sảo ở quán Drift. Anh ta thèm whisky. “Để dìm những tội lỗi của anh ta xuống”, Sam lý giải.

Vào một buổi tối như thường lệ, Bertram chỉ kiềm chế được tới ly thứ ba, khi whiskey “tháo nút” Bertram, khiến anh ta thao thao bất tuyệt về bão tuyết ở Massachusetts, những nghi thức rối rắm ở trường Y, rồi thì trí thông minh tương đối của loài thú có túi ở Virginia. Tối hôm trước anh ta còn quay sang chủ đề kết thân với phụ nữ. Tay bác sĩ đó là khách thường xuyên tại “ổ” của cô Trumball, anh ta thích chỗ đó hơn quán của Lanchester - nơi có những cô gái, như anh ta nhận xét, ủ dột như được nhập khẩu từ Maine hay các tỉnh chuộng-u-sầu khác.

“Sam?” Cora lên tiếng.

“Cora, tôi xin lỗi”. Sam đành rút gọn câu chuyện. Bác sĩ Bertram liệt kê những ưu điểm của các cô gái ở chỗ cô Trumball, sau đó nói thêm: “Dù làm gì cũng hãy tránh xa quán Red, nếu anh khoái mấy cô gái da đen”. Một số bệnh nhân nam của bác sỹ Bertram thường lui tới quán, và quan hệ với những cô gái hay đến đó. Bệnh nhân của anh ta cứ ngỡ họ được điều trị bệnh về máu, song thứ thuốc bổ mà bệnh viện phát cho đơn thuần chỉ là nước đường. Sự thực, người da đen là đối tượng của một cuộc nghiên cứu bệnh giang mai ở giai đoạn ba, hoặc giai đoạn ủ bệnh.

“Họ nghĩ các anh đang giúp họ à?” Sam hỏi tay bác sĩ. Anh cố giữ giọng bình thản, mặc dù anh đã nóng mặt.

“Đó là một nghiên cứu quan trọng đấy”, Bertram hé lộ. “Theo dõi xem căn bệnh lây lan ra sao, rồi đường lây nhiễm, sẽ giúp chúng tôi tìm ra thuốc chữa”. Red là quán rượu duy nhất dành riêng cho người da màu ở nội thành; biết đâu người chủ được thuê làm tai mắt. Chương trình nghiên cứu bệnh giang mai là một trong nhiều nghiên cứu và thử nghiệm tại khu vực người da màu ở bệnh viện đó. Sam có biết rằng bộ lạc Igbo của lục địa châu Phi dễ mắc các chứng rối loạn căng thẳng không? Tự tử và trầm cảm? Tay bác sĩ thuật lại câu chuyện về bốn mươi nô lệ bị xích giằng vào nhau trên một con tàu đã quyết định thà cùng nhảy xuống biển còn hơn phải sống trong cảnh nô lệ. Những người có tinh thần như vậy có thể suy nghĩ và giải quyết vấn đề dị thường đến thế! Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta điều chỉnh sinh sản cho người da đen và loại bỏ người có khuynh hướng trầm uất? Kiểm soát những bản tính khác nữa, chẳng hạn xu hướng tấn công tình dục và ưa bạo lực? Chúng ta có thể bảo vệ vợ và con gái chúng ta khỏi những ham muốn hoang dã nơi họ chứ, điều mà bác sĩ Bertram coi là một nỗi sợ hãi đặc biệt của đàn ông da trắng ở miền nam.

Tay bác sĩ ghé sát lại hỏi, Sam đã đọc báo hôm nay chưa?

Sam lắc đầu, đoạn rót đầy rượu vào ly của anh ta.

Tuy nhiên tay bác sĩ vẫn khăng khăng rằng sau nhiều năm chắc hẳn Sam đã đọc các bài xã luận bày tỏ mối lo ngại xung quanh chủ đề này rồi. Nước Mỹ đã nhập khẩu và gây giống nhiều người Phi đến nỗi trên nhiều bang người da trắng không đông bằng người da đen. Chỉ riêng vì lý do đó, giải phóng là bất khả thi. Nhờ biện pháp triệt sản có chiến lược - trước hết với phụ nữ, nhưng sau này với cả hai giới - chúng ta có thể giải phóng nô lệ mà không sợ họ sẽ giết chúng ta trong khi ta đang ngủ. Đám “kiến trúc sư” của phong trào nổi dậy ở Jamaica đều thuộc nòi giống Beninese và Congolese, ngang ngạnh, xảo trá. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta thận trọng làm dịu tính khí của những nòi giống này qua thời gian? Tay bác sĩ nói, dữ liệu được tổng hợp từ đoàn người di cư da màu và hậu duệ sau nhiều năm và nhiều thập kỷ sẽ chứng minh một trong những công trình khoa học táo bạo nhất của lịch sử. Biện pháp triệt sản có kiểm soát, hoạt động nghiên cứu các bệnh lây nhiễm, rồi quá trình hoàn thiện những kỹ thuật phẫu thuật mới trên nhóm đối tượng không có đủ khả năng hòa nhập với xã hội - có gì đáng ngạc nhiên khi những tài năng y khoa xuất sắc nhất đất nước lũ lượt kéo đến Nam Carolina chứ?

Một nhóm người ồn ào kéo vào quán, dồn Bertram vào góc quầy bar. Sam bận. Tay bác sĩ lặng lẽ uống một lúc rồi chuồn. “Các bạn không phải là hạng người hay lui tới quán Red , Sam nói, “nhưng tôi vẫn muốn các bạn biết”.

“Quán Red”, Cora nói. “Sam ạ, nó không chỉ là một quán rượu đâu. Chúng ta phải nói cho họ biết họ đang bị lừa dối. Họ bị ốm."

Caesar đồng ý.

“Liệu họ có tin các bạn hơn tin những bác sĩ da trắng của họ không?” Sam hỏi. “Lấy gì làm bằng chứng nào? Không có quyền lực nào sửa chữa được - thành phố đang chi tiền cho chương trình đó. Và rồi tất cả những thành phố khác nơi người da màu kéo tới đã được đặt vào hệ thống tương tự. Đây không phải là nơi duy nhất có một bệnh viện mới”.

Họ bàn bạc chuyện đó bên bàn bếp. Phải chăng không chỉ các bác sĩ mà tất cả những ai giúp đỡ người da màu cũng đều liên quan đến âm mưu không thể tin được này? Lái đoàn người di cư da màu theo đường này đường kia, mua họ từ các đồn điền và những cuộc bán đấu giá để tiến hành thí nghiệm? Đám người da trắng ấy phối hợp với nhau, ghi chép những dữ liệu và số liệu ra tập giấy màu xanh dương. Sau cuộc nói chuyện với bác sĩ Stevens, vào một buổi sáng trên đường đến viện bảo tàng, Cora bị cô Lucy chặn lại. Cora nghĩ gì về chương trình kiểm soát sinh sản của bệnh viện? Cora có thể nói cho những cô gái khác biết về chương trình được không, nói sao cho họ hiểu. Có biết bao việc làm mới trong thành phố này, biết bao cơ hội dành cho những người chứng minh được giá trị của họ.

Cora hồi tưởng cái đêm cô và Caesar quyết định ở lại, hồi tưởng cảnh người phụ nữ trẻ kêu gào trên bãi cỏ khi buổi sinh hoạt tập thể kết thúc. “Họ đã cướp mất những đứa con của tôi”. Người đàn bà đó không khóc than về sự bất công ở đồn điền cũ mà về một tội ác ở đây, ở chính Nam Carolina này. Các bác sĩ đã cướp con của chị ta chứ đâu phải các chủ nô trước đây.

“Họ muốn biết cha mẹ tôi có gốc gác ở vùng nào của châu Phi”, Caesar nói. “Làm sao tôi biết được chứ? Ông ta nói tôi có cái mũi của người Beninese”.

“Không có gì giống như lời tâng bốc trước khi họ thiến một anh chàng”, Sam nói.

“Tôi phải nói cho Meg biết mới được”, Caesar nói. “Mấy người bạn của cô ấy thường lui tới quán Red vào buổi tối”.

“Meg là ai vậy?” Cora hỏi.

“Cô ấy là một người bạn mà anh hay đi cùng”.

“Hôm nọ tôi đã thấy cậu và cô ta đi dạo ở Main Street”, Sam nói. “Cô ta trông nổi bật đấy”.

“Đó là một buổi trưa thú vị”, Caesar nói. Anh uống một ngụm bia, tập trung vào cái chai màu đen để tránh ánh mắt của Cora.

Họ cũng nhất trí được chút ít khi xác định con đường hành động, họ sẽ hướng đến ai và những người da màu khác sẽ phản ứng thế nào. Caesar nói, có lẽ những cư dân da màu khác không muốn biết chuyện đó. Tin đồn này so với cảnh nô lệ mà họ đã trốn khỏi nào có thấm gì? Hàng xóm của họ tính toán ra sao đây, đặt hoàn cảnh mới với bao hứa hẹn và sự thật về quá khứ của họ lên bàn cân xem bên nào nặng hơn ư? Theo luật, hầu hết họ vẫn là tài sản, tên của họ nằm trong mớ giấy tờ được chính phủ Hợp chúng quốc lưu trữ trong các ngăn kéo. Hiện tại, cảnh báo mọi người là tất cả những gì họ có thể làm.

Cora và Caesar sắp vào tới thành phố thì anh lên tiếng: “Meg làm việc cho một gia đình trên phố Washington. Một trong những ngôi nhà lớn ở đó, em hiểu không?”

Cora nói: “Em mừng vì anh đã có bạn”.

“Em chắc chứ?”

“Chúng ta có sai lầm không khi quyết định ở lại đây?” Cora hỏi.

“Có thể đây là nơi chúng ta nên rời khỏi”, Caesar đáp. “Cũng có thể không. Lovey sẽ nói gì nhỉ?”

Cora không có câu trả lời. Họ thôi không nói nữa.

Cô ngủ kém. Trên tám mươi chiếc giường, những người phụ nữ ngáy và trở mình dưới chăn. Họ đi ngủ trong niềm tin rằng mình đã thoát khỏi sự điều khiển của người da trắng, thoát khỏi các mệnh lệnh bắt họ phải làm gì và phải trở nên như thế nào. Rằng họ được tự kiểm soát cuộc đời họ. Không còn là hàng hóa chẳng khác gì gia súc như trước đây; bị gây giống và bị thiến. Bị rào lại trong những khu lều chẳng khác gì chuồng gà, chuồng thỏ.

Vào buổi sáng, Cora đến chỗ làm cùng những cô gái khác. Khi họ sắp sửa thay trang phục để làm việc, Isis hỏi liệu cô ta có thể đổi chỗ cho Cora được không. Cô ta cảm thấy khó ở và muốn ngồi nghỉ bên guồng quay sợi. “Ước gì tớ có thể nghỉ ngơi một chút”.

Sau sáu tuần làm việc tại bảo tàng, Cora đã tìm ra cách quay vòng thích hợp với tính cách của cô. Nếu bắt đầu với phòng Ngày Ở Đồn Điền thì cô có thể xoay xở sao cho màn diễn hai ca ở đồn điền kết thúc ngay sau bữa trưa. Cora ghét đóng vai nô lệ lố bịch ở triển lãm và muốn kết thúc nó sớm nhất có thể. Màn diễn ở phòng Từ Đồn Điền Tới Tàu Nô Lệ sang phòng Châu Phi Thời Kỳ Tăm Tối Nhất còn tương đối hợp lý. Như thể ta đi ngược thời gian, một châu Phi được trải ra. Khép lại ngày làm việc trong phòng triển lãm Châu Phi Thời Kỳ Tăm Tối Nhất luôn đưa cô tới một dòng sông của không gian yên ả, sân khấu không chỉ là sân khấu mà là nơi ẩn náu thực sự. Nhưng Cora đồng ý đổi cho Isis. Cô sẽ kết thúc ngày làm việc trong vai nô lệ vậy.

Trên cánh đồng, cô luôn bị đốc công hoặc các ông chủ giám sát tàn nhẫn. “Cúi cái lưng xuống!” “Hái hàng này đi!” Ở nhà Anderson, khi Maisie đi học hoặc chơi với các bạn còn bé Raymond ngủ, Cora làm việc nhà mà không bị phiền nhiễu gì và không bị giám sát. Đó là một điều quý giá nho nhỏ giữa ngày. Việc làm mới của cô ở bảo tàng đã khiến cô trở về những luống cày của Georgia, rồi cái nhìn trừng trừng, đầy ngạc nhiên của khách tham quan lôi cô trở lại phòng triển lãm.

Một hôm, cô quyết định trả miếng một phụ nữ da trắng có mái tóc đỏ đã quắc mắt trước cảnh Cora làm việc “trên biển”. Có lẽ bà ta đã kết hôn với một thủy thủ có những ham muốn không thể sửa chữa được nên sinh lòng căm ghét bất cứ ai gợi nhớ đến anh ta - Cora không biết căn nguyên của phản ứng đó, hoặc không quan tâm. Bà ta làm cô khó chịu. Cô nhìn bà ta trừng trừng, dữ tợn và không hề nao núng cho tới khi bà ta chạy từ đó sang khu triển lãm nông nghiệp.

Từ đó trở đi cứ mỗi giờ Cora lại chọn một khách tham quan để lườm. Một thư ký trẻ trong văn phòng ở toà nhà Griffin; một doanh nhân; một mệnh phụ gây phiền nhiễu dẫn theo đàn con ương ngạnh; một gã thanh niên khó ưa thích đập liên hồi vào vách kính và làm bọn cô giật mình. Lúc thì người này, khi thì người kia. Cô chọn mắt xích yếu giữa đám đông, những người dễ mất can đảm trước cái nhìn trừng trừng của cô. Mắt xích yếu - cô thích cái vòng tròn của nó. Tìm khiếm khuyết trong sợi xích đã khiến ta phải sống kiếp nô lệ. Đứng riêng rẽ, mắt xích đó chẳng có nhiều sức mạnh. Nhưng kết hợp với đồng loại, khối sắt đồ sộ ấy đã nô dịch hóa hàng triệu người bất chấp sự yếu kém của nó. Thực ra những người mà cô chọn, người trẻ và người già, đều đến từ khu nhà giàu trong thành phố hoặc từ những con phố kém giàu sang hơn, không ngược đãi Cora. Nhưng hợp lại thành một cộng đồng, họ là gông cùm. Nếu cứ tiếp tục cố gắng làm điều đó, loại bỏ những mắt xích yếu bất cứ khi nào cô phát hiện thấy thì biết đâu cô sẽ đem lại một kết quả nào đó.

Cô trở nên giỏi lườm. Ngước lên khỏi guồng quay sợi của nô lệ, hoặc từ lò sưởi để ghim một người vào một chỗ như một con bọ cánh cứng hoặc con ve trong triển lãm côn trùng. Họ luôn mất can đảm, những người đó không ngờ tới hành động tấn công khó hiểu kia, loạng choạng lùi lại, nhìn xuống sàn nhà hoặc bảo những người đi cùng kéo họ đi chỗ khác. Cora nghĩ, việc nhận biết rằng nô lệ, người Phi ở giữa đám đông, cũng đang nhìn bọn họ là một bài học hay.

Đúng vào hôm Isis cảm thấy khó ở, và là phiên thứ hai của Cora trên tàu thủy, cô nhìn qua lớp kính và thấy cô bé Maisie với bím tóc đuôi sam, mặc một trong những chiếc váy mà Cora từng giặt và phơi trên dây. Đó là chuyến thăm quan được trường học tổ chức. Cora nhận ra những đứa bé trai và bé gái đi cùng Maisie, dù bọn trẻ không nhớ cô là cô gái giúp việc cho nhà Anderson. Thoạt đầu Maisie không nhớ ra cô. Sau đó Cora lườm cô bé chằm chằm, vậy là cô bé biết. Giáo viên giới thiệu tỉ mỉ ý nghĩa của phần triển lãm đó, những đứa trẻ khác chỉ tay vào chàng người nộm Skipper John có nụ cười rạng rỡ quá đáng, cười chế giễu - còn khuôn mặt của Maisie rúm ró trong sợ hãi. Nhìn từ bên ngoài, không ai có thể nói điều gì đã xảy ra giữa họ, y như cô và Blake đối mặt nhau vào một ngày tồi tệ khác. Cora nghĩ, ta cũng sẽ “đập vỡ” cô như đập vỡ một mắt xích, Maisie ạ, và cô đã làm như vậy, cô bé vội vàng chạy ra khỏi khu trưng bày đó. Cora không biết tại sao mình lại làm thế, và bối rối cho đến khi trút bỏ bộ trang phục ở bảo tàng, trở về khu tập thể.

Tối hôm ấy cô đến gặp cô Lucy. Suốt cả ngày hôm đó Cora đã suy nghĩ về tin tức mà Sam tiết lộ, bày nó ra như một món đồ chơi rẻ tiền gớm guốc rồi lật lên lật xuống. Người giám thị đã giúp đỡ Cora nhiều lần. Vậy mà giờ đây Cora cảm thấy những gợi ý hay lời khuyên của cô ta chẳng khác nào những thủ đoạn, mánh lới mà một nông dân dùng để khiến một con lừa tuân theo ý muốn của ông ta.

Khi Cora thò đầu vào văn phòng của cô Lucy, người phụ nữ da trắng ấy đang sắp xếp một đống giấy màu xanh dương. Liệu tên cô có bị viết trong đó không, những ghi chú bên cạnh cái tên ấy là gì? Không, cô sửa lại: tên của Bessie, không phải tên cô.

“Tôi chỉ có vài phút thôi”, người giám thị nói.

“Em đã nhìn thấy những người được chuyển về phòng 40”, Cora nói. “Nhưng trước kia họ chưa từng sống ở đó. Họ vẫn ở trong bệnh viện điều trị phải không ạ?”

Cô Lucy nhìn những tờ giấy và đờ người ra. “Họ được chuyển tới thành phố khác rồi”, cô nói. “Chúng tôi cần chỗ cho tất cả những người mới đến, vậy nên những phụ nữ như Gertrude, những người cần sự giúp đỡ, được chuyển đến nơi họ có thể được chăm sóc thích hợp hơn”.

“Họ sẽ không quay lại đây nữa sao ạ?”

“Họ sẽ không quay lại”. Cô Lucy liếc nhìn vị khách. “Tôi biết em lo lắng. Em là một cô gái thông minh, Bessie ạ. Tôi vẫn hi vọng em sẽ có trách nhiệm dẫn dắt các cô gái khác, dù em không nghĩ loại phẫu thuật đó là điều hiện giờ em cần. Em có thể làm vẻ vang chủng tộc của em nếu chú tâm vào việc đó đấy”.

“Em có thể tự quyết định cho bản thân ạ”, Cora đối đáp. “Tại sao họ không thể chứ? Ở đồn điền, ông chủ quyết định mọi thứ cho chúng em. Em nghĩ ở đây thì không còn chuyện để người khác quyết định cho mình”.

Cô Lucy chùn lại. “Nếu em không thể thấy sự khác nhau giữa người khỏe mạnh, người có năng lực với người rối loạn thần kinh, tội phạm và người đần độn thì đúng là em không giống như tôi nghĩ”.

Tôi không như cô nghĩ đâu.

Một giám thị khác làm cuộc nói chuyện của họ bị gián đoạn, và đó là người phụ nữ lớn tuổi hơn - Roberta, người thường hợp tác với văn phòng việc làm. Vài tháng trước, chính bà ta đã xếp cho Cora đến giúp việc tại nhà Anderson. “Lucy? Họ đang đợi cô đấy”.

Cô Lucy làu bàu. “Tôi đã có tất cả những giấy tờ đó ở đây rồi”, cô Lucy nói với đồng nghiệp. “Nhưng các hồ sơ ở Griffin cũng tương tự thôi. Luật nô lệ bỏ trốn quy định rằng ta phải giao nộp người bỏ trốn và không được cản trở việc bắt giữ - không được từ bỏ mọi việc chúng ta đang làm chỉ bởi một người lùng bắt nô lệ bỏ trốn nào đó nghĩ rằng gã đang đứng trước món tiền thưởng. Chúng ta không che giấu những kẻ giết người”. Cô đứng dậy, ôm đống giấy tờ vào ngực. “Bessie, chúng ta sẽ bàn chuyện này vào ngày mai. Hãy suy nghĩ về quyết định của chúng ta nhé”.

Cora trốn ở cầu thang của khu buồng ngủ. Cô ngồi trên bậc thứ ba. Có thể họ đang tìm kiếm người nào đó. Các khu nhà tập thể đầy ắp nô lệ bỏ trốn trú ngụ, sau khi trốn thoát khỏi xiềng xích mới đây hoặc sau nhiều năm tự tạo dựng cuộc sống ở nơi khác. Có thể bọn họ đang tìm kiếm ai đó.

Họ đang săn lùng những kẻ giết người.

Trước tiên Cora tới khu tập thể của Caesar. Cô biết lịch làm việc của anh nhưng trong nỗi sợ hãi cô không nhớ anh đang trong ca làm việc. Ở bên ngoài, cô không nhìn thấy người đàn ông da trắng nào, loại người hung dữ mà cô mường tượng rằng đám trùm săn nô lệ chắc hẳn trông như thế. Cô chạy nhanh qua bãi cỏ. Người đàn ông lớn tuổi hơn liếc cô bằng ánh mắt đểu cáng - luôn có ngụ ý dâm đãng khi một cô gái đến thăm khu nhà tập thể của đàn ông - và nói cho cô biết rằng Caesar vẫn đang ở nhà máy. “Cô muốn ở đây với tôi để đợi cậu ấy không?” ông ta hỏi.

Trời sắp tối. Cô phân vân liệu có nên đánh liều ra Main Street hay không. Trong hồ sơ của thành phố tên cô là Bessie. Bức phác chân dung trên tờ rơi mà Terrance đã cho in sau khi họ bỏ trốn được vẽ sơ sài, nhưng đủ giống họ để bất cứ kẻ săn nô lệ có trí óc nào cũng sẽ nhìn cô hai lần. Cô không thể nghỉ ngơi tới khi bàn bạc được với Caesar và Sam. Cô chọn phố Elm, song song với Main Street, và đi tới dãy nhà có quán Drift. Mỗi lần rẽ vào một góc phố, cô lại ngỡ có một viên cảnh sát cưỡi ngựa, với đuốc, súng hỏa mai và nụ cười hèn hạ, sẽ xuất hiện. Đầu buổi tối quán Drift đầy những kẻ chè chén say sưa, những người đàn ông cô nhận ra và không nhận ra. Cora phải đi qua cửa sổ của quán rượu hai lần người trưởng ga mới nhìn thấy cô và ra hiệu cho cô đi vòng ra phía sau.

Những gã đàn ông trong quán cười hô hố. Cô đi nhanh qua chỗ đèn sáng ở lối đi bên trong. Cửa phụ của quán mở hé: không có ai. Sam đứng ở chỗ tối, chân anh gác trên một cái sọt trong khi anh buộc lại dây giày. “Tôi đang cố tính xem làm cách nào để báo tin”, anh nói. “Kẻ săn nô lệ đó là Ridgeway. Bây giờ hắn đang nói chuyện với tay cảnh sát về cô và Caesar. Chính tôi đã phục vụ hai gã đó whisky”.

Anh đưa cho cô một tờ rơi. Đó là một trong những tờ rơi mà Fletcher đã tả ở nhà của ông, nhưng có một thay đổi. Bây giờ cô biết chữ rồi, và từ “giết người” như một cái móc móc vào tim cô.

Trong quán rộ lên tiếng om xòm, Cora bước lùi hơn vào chỗ tối. Sam nói anh không thể rời quán rượu trong một giờ tới. Anh sẽ nghe ngóng nhiều thông tin nhất có thể và cố gắng chặn Caesar ở nhà máy. Tốt nhất Cora nên đến nhà anh trước rồi đợi ở đó.

Lâu lắm rồi cô không chạy như vậy, bám lấy lề đường và lao như tên bắn vào rừng khi nghe thấy tiếng người đi lại. Cô vào nhà Sam bằng lối cửa sau, thắp một cây nến trong bếp. Sau khi đi đi lại lại, không thể ngồi yên, Cora làm một việc duy nhất có thể khiến cô bình tĩnh. Khi Sam về đến nhà cô đã rửa tất cả bát đĩa trong bếp.

“Tình hình xấu”, người trưởng ga nói. “Ngay sau khi chúng ta nói chuyện thì một gã săn tiền thưởng mò đến. Gã đeo một xâu tai người quanh cổ như người da đỏ, một kẻ thực sự đáng gờm. Gã nói với những người khác rằng bọn gã đã biết cô đang ở đâu. Chúng kéo nhau đi gặp Ridgeway”. Anh thở hổn hển. “Tôi không biết bằng cách nào, nhưng chúng biết cô là ai”.

Nãy giờ Cora vẫn cầm chặt chiếc bát của Caesar. Cô lật lên lật xuống chiếc bát trong tay.

“Chúng đi cùng một viên cảnh sát”, Sam nói. “Tôi không gặp Caesar được. Cậu ấy biết phải tới đây hoặc tới quán rượu - chúng ta có kế hoạch. Có thể cậu ấy đang trên đường tới đó”. Sam định trở lại quán Drift đợi Caesar.

“Anh có nghĩ ai đó đã nhìn thấy chúng ta đang nói chuyện lúc ấy không?”

“Cô nên xuống thềm ga đi”.

Họ kéo chiếc bàn ăn và tấm thảm dày ra. Hợp sức lại, họ nhấc tấm cửa trên sàn nhà lên - nó quá khít - không khí ẩm mốc khiến những ngọn nến chập chờn. Cô lấy chút thức ăn và chiếc đèn xách rồi đi xuống hầm tối. Cánh cửa đóng lại phía trên đầu cô, chiếc bàn được kéo rầm rầm về chỗ cũ.

Cô tránh những buổi lễ dành cho người da màu ở các nhà thờ trong thành phố. Đồn điền của Randall cấm tôn giáo để trừ khử ý định cuồng giải thoát, và trước khi đến Nam Carolina cô không quan tâm đến nhà thờ. Đối với những người da màu đang cư trú ở đây điều đó khiến cô kỳ quặc, cô biết, nhưng dường như trong một thời gian dài cô không cảm thấy phiền vì vẻ kỳ quặc đó. Bây giờ cô phải cầu nguyện chăng? Cô ngồi bên bàn trong ánh đèn leo lét. Ga quá tối nên không thể nhận ra đường hầm bắt đầu từ đâu. Họ mất bao lâu để triệt hạ Caesar? Anh có thể chạy nhanh đến mức nào? Cô biết những cuộc mặc cả khi người ta tuyệt vọng. Để giảm cơn sốt của một đứa bé ốm yếu, để tạm dừng hành động tàn bạo của một đốc công, để cứu một người ra khỏi địa ngục của nô lệ. Từ những điều cô đã thấy, những cuộc mặc cả không bao giờ mang lại thành quả. Đôi khi cơn sốt giảm đi nhưng đồn điền vẫn luôn ở đó. Cora không cầu nguyện.

Cô ngủ thiếp đi trong lúc đợi. Sau đó cô bò lên các bậc thang, ngồi ngay bên dưới cánh cửa lật và lắng nghe. Ở trên kia thế giới đang là đêm hay là ngày. Cô vừa đói vừa khát. Cô ăn một ít bánh mỳ cùng xúc xích. Cô đã trải qua nhiều giờ bò lên bò xuống các bậc thang, áp tai vào cửa rồi một lúc sau cô rút xuống phía dưới. Khi ăn xong, cô rơi vào nỗi thất vọng hoàn toàn. Cô lắng nghe bên trên cửa lật. Không có một tiếng động nào.

Âm thanh ầm ầm như sấm ở bên trên khiến cô choàng tỉnh, sự trống rỗng kết thúc. Đó không phải là một người, hoặc hai, mà là nhiều người. Chúng lục soát kỹ ngôi nhà, quát tháo, đạp đổ những cái tủ và bàn ghế. Tiếng ồn vang động, dữ dội, rất gần, cô rút lui khỏi các bậc thang. Cô không thể hiểu được những lời chúng nói. Thế rồi chúng cũng lục soát xong.

Những đường ghép ở chỗ cửa lật không cho phép ánh sáng và gió lọt xuống. Cô nghe thấy tiếng kính vỡ, tiếng gỗ cháy nổ lốp bốp, lách tách.

Ngôi nhà đang cháy.

« Lùi
Tiến »