Tuyến Hỏa Xa Ngầm

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BẮC CAROLINA

Một đứa con gái da đen tên là Matha đã bỏ trốn hoặc được chở đi khỏi tư dinh của người ký tên dưới đây - gần Henderson, vào ngày 16. Ả có nước da nâu sẫm, dáng mảnh khảnh, ăn nói tự tiện, khoảng 21 tuổi; ả đội một chiếc mũ lụa đen gắn lông chim; trong mớ tư trang của ả có hai tấm ga giường bằng vải trúc bâu. Tôi hiểu rằng ả sẽ cố đi qua các trạm kiểm soát như một đứa con gái tự do.

RIGDON BANKS

Granvillecounty, ngày 28 tháng Tám, 1839

Cô đã mất những cây nến. Một con chuột làm Cora tỉnh giấc bằng răng của nó và khi Cora ngồi dậy, cô bò qua nền ga bẩn thỉu để tìm kiếm. Cô chẳng tìm thấy gì. Đó là cái ngày sau hôm ngôi nhà của Sam đổ sập, mặc dù cô không thể biết chắc chuyện gì đã xảy ra. Tốt nhất bây giờ tính thời gian bằng một trong những cách cân bông ở đồn điền Randall, cái đói và nỗi sợ hãi chất đống ở một bên, trong khi niềm hi vọng của cô bị dỡ bỏ rất nhiều khỏi bên kia. Cách duy nhất để biết cô đã bị lạc trong bóng tối bao lâu là thoát ra khỏi nó.

Lúc này, sau khi đã dò dẫm được đường đi nước bước trong nhà tù này, Cora chỉ cần ánh nến làm bầu bạn. Ga tàu dài khoảng hai mươi tám bước chân, và rộng khoảng năm bước rưỡi tính từ tường tới rìa của đường ray. Chỗ này cách thế giới ở bên trên hai mươi sáu bậc thang. Khi áp lòng bàn tay vào cánh cửa lật cô thấy nó âm ấm. Cô biết bậc nào đã làm rách váy của cô khi cô bò lên (bậc thứ tám) và bậc nào muốn cào xước da cô nếu cô quờ quạng quá nhanh (bậc thứ mười lăm). Cora nhớ đã nhìn thấy một cái chổi ở một góc thềm ga. Cô dùng nó để dò mặt đất như bà lão mù trong thành phố, như cách Caesar đã dò đường trong đầm lầy khi họ bỏ trốn. Sau đó vì lóng ngóng hoặc chủ quan cô ngã lăn vào đường ray, mất cả cái chổi lẫn bất cứ khao khát nào ngoài khao khát chui lên mặt đất.

Cô phải thoát khỏi đây. Trong những giờ dài đằng đẵng ấy, cô không thể không nghĩ ra những cảnh tàn bạo, không thể không sắp xếp cái bảo tàng Những Kỳ Quan Khủng Khiếp của riêng cô. Caesar bị một đám người cười xếch đến mang tai treo cổ; Caesar bị hành hung đến mức thân tàn ma dại trên sàn xe của kẻ săn nô lệ đã đi được nửa đường tới đồn điền Randall, đến với những hình phạt đang đợi anh. Sam tốt bụng đã bị bỏ tù; Sam bị làm nhục và bị tra khảo về tuyến hỏa xa ngầm, bị đánh gãy xương rồi bất tỉnh. Một viên cảnh sát da trắng vô danh săm soi đống đổ nát vẫn còn đang cháy âm ỉ của căn nhà, nhấc cánh cửa lật lên và đẩy cô vào cảnh khốn đốn.

Đó là những cảnh tượng mà Cora đã vẽ lên bằng máu khi cô tỉnh dậy. Trong những cơn ác mộng, các triển lãm trông gớm ghiếc hơn nhiều. Cô đi tới đi lui trước tấm kính trưng bày như một khách tham quan khổ sở. Cô bị khóa trong khu trưng bày Cuộc Sống Trên Tàu Nô Lệ sau khi bảo tàng đóng cửa, giữa các lỗ thông hơi và trông ngóng những cơn gió trong khi hàng trăm người bị bắt cóc kêu gào dưới hầm tàu. Phía sau gian trưng bày ở bên cạnh, cô Lucy rạch bụng Cora bằng con dao mở thư và hàng nghìn con nhện đen bò túa ra từ trong ruột cô. Hết lần này đến lần khác cô bị đưa trở lại cái đêm ở nhà hun khói, bị các y tá trong bệnh viện giữ chặt còn Terrance Randall vừa rên gừ gừ vừa thúc mạnh trên người cô. Lũ chuột hoặc lũ rệp đánh thức cô dậy khi chúng quá tò mò, làm gián đoạn cơn ác mộng và đưa cô trở lại với bóng tối của thềm ga.

Bụng cô run dưới những ngón tay cô. Trước đây cô đã suýt chết đói, khi Connelly quyết định phạt làng nô lệ vì họ dám láu cá và cắt khẩu phần ăn của họ. Nhưng họ phải ăn để lao động, và việc sản xuất bông đòi hỏi hình phạt chỉ ngắn thôi. Ở đây, không có cách nào để biết bao giờ thì cô được ăn. Tàu trễ. Cái đêm Sam nói với họ về chương trình huyết học đầy ám muội ấy - khi ngôi nhà vẫn còn đứng đó - anh tiết lộ rằng hai ngày nữa chuyến tàu tiếp theo sẽ đến. Đáng lẽ nó phải đến rồi. Cô không biết tàu trễ bao lâu, nhưng sự chậm trễ này chẳng báo hiệu điều gì tốt lành cả. Có thể nhánh hỏa xa ngầm này đã ngừng hoạt động. Toàn bộ tuyến đường này đã bị phát hiện và bị bỏ hoang. Sẽ chẳng có ai đến hết. Cô quá yếu nên đâu thể đi bộ (bao nhiêu dặm không biết nữa) đến ga tiếp theo, trong bóng tối, chứ nói gì đến việc phải đối mặt với bất cứ điều gì đang đợi ở ga sau.

Caesar. Nếu cô và Caesar có óc xét đoán và cứ tiếp tục chạy trốn thì bây giờ họ đã ở các bang tự do rồi. Tại sao họ lại tin rằng hai nô lệ hèn mọn xứng đáng với sự hào hiệp của Nam Carolina chứ? Rằng một cuộc sống mới tồn tại ở rất gần, ngay bên kia đường biên của bang? Đây vẫn là miền nam mà quỷ dữ thì có những ngón tay dài lanh lẹ. Sau tất cả những gì cuộc đời đã dạy họ, họ vẫn không nhận ra xiềng xích khi nó đóng đánh tách một cái vào cổ tay, cổ chân họ. Những cái xích của Nam Corolina là loại xích mới được sản xuất - chìa khóa và lẫy khóa của chúng mang đặc trưng của vùng - nhưng vẫn hoàn thành mục đích của xiềng xích. Hóa ra họ chưa đi được bao xa.

Cô không thể nhìn thấy bàn tay mình để trước mặt, nhưng nhiều lần cô đã thấy cảnh Caesar bị bắt. Bị bắt tại nhà máy, bị chộp trên đường đến gặp Sam ở quán Drift. Đang đi dọc Main Street, tay trong tay với cô bạn gái Meg. Meg kêu gào khi chúng túm lấy anh, và bọn chúng đánh cô ấy ngã xuống vỉa hè. Có một điều sẽ khác đi nếu Caesar là người yêu của cô: Họ sẽ bị bắt cùng nhau. Họ sẽ không ở một mình trong hai nhà tù riêng biệt. Cora ngồi bó gối, cúi gục mặt. Rốt cuộc cô đã làm anh thất vọng. Suy cho cùng cô là một kẻ bơ vơ. Một kẻ bơ vơ không chỉ ở đồn điền - một đứa trẻ mồ côi, không có ai quan tâm - mà ở mọi nơi khác nữa. Ở nơi nào đó, nhiều năm trước, cô đã bước khỏi con đường của cuộc sống và không tìm thấy lối trở lại với cái gọi là “gia đình” của con người.

Đất khẽ rung. Trong những ngày tới, khi cô nhớ lại lúc chuyến tàu muộn đến, cô sẽ không liên hệ cơn rung chuyển ấy với con tàu mà với một sự thật lúc nào cô cũng biết: Cô là một đứa trẻ lạc, xét theo mọi nghĩa. Người cuối cùng thuộc bộ lạc của cô còn sót lại trên cõi đời này.

Ánh đèn của con tàu chập chờn tại khúc quanh. Cora đưa tay vuốt tóc trước khi hiểu ra rằng sau khi chôn chân ở đó bộ dạng của cô chẳng có chút cải thiện nào. Người lái tàu sẽ không đánh giá cô; tổ chức bí mật của họ là một hội nhóm gồm những con người kỳ quặc. Cô vẫy tay rối rít, tận hưởng ánh sáng màu cam khi nó lan ra trên thềm ga như một ảo tưởng ấm áp.

Con tàu chạy qua ga và khuất dạng.

Cô suýt khuỵu xuống đường ray khi hú lên phía sau con tàu, họng khản đặc và đau buốt sau những ngày đói khát. Cora đứng đó, choáng váng, hoài nghi, tới khi cô nghe thấy con tàu dừng lại và chạy giật lùi trên đường ray.

Người lái tàu xin lỗi. “Cô dùng bánh kẹp thịt của tôi nhé?” Cậu ta mời trong khi Cora uống lấy uống để nước đựng trong chiếc túi da của cậu. Cô ăn chiếc bánh, quên phắt trò đùa của cậu, mặc dù cô chưa bao giờ thích ăn thịt lợn.

“Tôi không nghĩ có cô ở đây”, cậu con trai nói, chỉnh lại cặp kính. Cậu chỉ mười lăm tuổi là cùng, gầy giơ xương và rất nhiệt tình.

“Cậu không nhìn thấy tôi sao?” Cô liếm ngón tay, nếm vị của bụi đất.

Cậu thốt lên “Trời!” và “Ối mẹ ơi!” trước mỗi biến cố trong câu chuyện của cô, giấu ngón tay cái trong túi áo khoác ngoài và xoay xoay gót chân. Cậu nói năng giống một đứa trẻ da trắng mà Cora từng nhìn thấy đang chơi đá bóng trong quảng trường thành phố, với thái độ tự tin tự nhiên không phù hợp với màu da của cậu, chưa kể đến bản chất công việc cậu đang làm. Duyên cớ nào khiến cậu nhận điều khiển con tàu này là cả một câu chuyện, nhưng bây giờ đâu phải lúc dành cho những câu chuyện lịch sử lạ lùng về những cậu bé da màu.

“Ga Georgia đóng cửa rồi”, cuối cùng cậu nói, gãi da đầu bên dưới chiếc mũ màu xanh dương. “Chúng ta nên tránh xa. Tôi cho rằng đám tuần tra chắc hẳn đã phát hiện ra nó”. Cậu trèo lên ca-bin lấy cái bô vệ sinh xuống rồi đi ra rìa đường hầm đổ bô. “Những người đứng đầu không có tin tức gì của trưởng ga đó, vậy nên tôi mới chạy thẳng. Trong lịch trình của tôi không có trạm dừng này”. Cậu muốn lên đường ngay.

Cora chần chừ, không thể không nhìn về phía những bậc cầu thang lần cuối. Người hành khách không thể có mặt. Sau đó cô bắt đầu trèo lên ca-bin.

“Cô không thể lên đây được!” Cậu con trai nói. “Đó là quy định”.

“Cậu không thể mong tôi ngồi đằng kia”, Cora đáp.

“Tất cả mọi hành khách trên tàu này đều ngồi trên toa đó, thưa cô. Họ có quy định rất nghiêm rồi”.

Gọi chỗ ấy là “toa tàu” là lạm dụng từ đó. Giống y như chỗ mà cô đã leo lên để đến Nam Carolina, nhưng chỉ có sàn không mà thôi. Cái mặt phẳng gồm những tấm ván gỗ được đóng bằng đinh tán xuống bộ khung gầm, không có vách chắn, chẳng có mái che. Cô bước lên đó và con tàu xóc nảy lên sau bước khởi động của cậu con trai. Cậu ngoái lại, vẫy hành khách của mình với vẻ nhiệt tình thái quá.

Quai giằng và dây thừng dành cho tải trọng quá cỡ nằm dưới sàn toa ngoằn ngoèo như lũ rắn. Cora ngồi giữa sàn, buộc một cái dây quanh thắt lưng ba vòng, nắm chặt hai cái khác để tạo thành dây bám như dây cương. Cô kéo dây thật căng.

Con tàu chuyển động lắc lư trong đường hầm. Hướng về phía bắc. Cậu lái tàu kêu to: “Tất cả lên tàu!” Cora quyết định rằng cậu ta thật ngớ ngẩn, bất kể những trách nhiệm của cậu. Cô nhìn về phía sau. Nhà tù dưới lòng đất khuất dần, bóng tối tái chiếm nó. Cô tự hỏi liệu mình có phải là hành khách cuối cùng không. Có thể hành khách tiếp theo không nấn ná và sẽ tiếp tục di chuyển suốt con đường dẫn đến tự do.

Trong hành trình tới Nam Carolina, Cora đã ngủ trong cái toa tàu lộn xộn, nép vào cơ thể ấm áp của Caesar. Trên chuyến tàu tiếp theo này cô không ngủ. Toa tàu này vững hơn cái toa kín ngày trước, nhưng không khí dồn đẩy khiến chuyến đi trở thành một thử thách đầy bão táp. Thỉnh thoảng Cora phải xoay người để lấy lại hơi thở. Người lái tàu này liều lĩnh hơn người tiền nhiệm của cậu ta, cho tàu chạy nhanh hơn, luôn thúc máy tàu tăng tốc. Toa tàu trần xóc nảy mỗi khi họ tới một khúc quanh. Cái lần cô cảm thấy giống như trên biển nhất là khi cô làm việc ở Bảo tàng Các Kỳ Quan Thiên Nhiên; những tấm ván gỗ này dạy cô về tàu thủy và gió giật. Tiếng ầm ì của động cơ vọng lại phía sau, những bài ca cô không nhận ra, những mảnh vụn từ miền bắc bị gió mạnh cuốn tung lên. Cuối cùng cô đầu hàng, nằm sấp xuống, dùng những ngón tay bấu chặt lấy những đường mấu.

“Cô ở đó ổn chứ?” Cậu trai lái tàu hỏi khi họ dừng lại. Họ đang ở giữa đường hầm, không có ga nào trong tầm mắt.

Cora quất cái dây cương của cô kêu đen đét.

“Tốt”, cậu trai nói. Cậu lau bồ hóng và mồ hôi trên trán. “Chúng ta đã đi được nửa đường tới đó. Tôi cần duỗi chân cái đã”. Cậu vỗ vỗ vào thành đầu máy. “Cô gái già này, cô ấy phản ứng rồi đấy”.

Không đợi tới khi họ tiếp tục lên đường Cora mới hiểu ra rằng cô đã quên hỏi họ đang đi đâu.

Những hòn đá màu được lát tỉ mỉ theo mẫu, trang trí cho ga tàu nằm bên dưới trang trại của Lumbly, và bức tường ga của Sam còn được ốp gỗ.

Nhóm xây dựng trạm dừng này đã đào phá và cho nổ mìn để tạo nên một ga tàu từ địa hình khắc nghiệt, họ không hề nỗ lực trang trí thêm, điều đó cho thấy khó khăn vất vả trong kỳ công của họ. Những cái vạch màu trắng, màu da cam và những đường vân nâu đỏ chạy qua những mỏm đá nhọn, những hố và chỗ gồ ghề. Cora đang đứng trong lòng một ngọn núi.

Người lái tàu đốt một trong những ngọn đuốc trên tường. Nhóm lao động sau khi đào đường hầm xong đã không buồn dọn dẹp chỗ này. Đống sọt đựng dụng cụ và các thiết bị hầm mỏ bị vứt đầy trên thềm ga, biến nó thành một xưởng máy. Hành khách chọn chỗ ngồi giữa những thùng đựng thuốc nổ. Cora thử nếm nước trong một cái thùng. Nước có vẻ sạch. Sau cơn mưa mạt đá trong đường hầm, miệng cô là một cái hót rác cũ. Cô uống nước một thôi một hồi từ cái gáo trong khi người lái tàu nhìn cô sốt ruột. “Đây là đâu?” Cô hỏi.

“Bắc Carolina”, cậu đáp. “Tôi nghe nói đây từng là một trạm dừng quen thuộc. Bây giờ không còn được như vậy nữa”.

“Người trưởng ga thế nào?” Cora hỏi thăm.

“Tôi chưa bao giờ gặp ông ấy, nhưng tôi chắc ông ấy là một người tốt”.

Ông ấy cần có đức tính tốt và sức chịu đựng không gian u ám để hoạt động dưới cái hầm này. Sau những ngày ở bên dưới ngôi nhà của Sam, Cora không còn muốn bị thử thách gì nữa. “Tôi sẽ đi với cậu”, Cora nói. “Ga tiếp theo là đâu?”

“Đó là điều tôi cố nói với cô từ trước đấy thôi. Tôi đang học việc”. Cậu nói rằng vì còn ít tuổi, cậu được giao tập điều khiển con tàu chứ đâu phải chở người. Sau khi ga Georgia đóng cửa - cậu không biết thông tin chi tiết, nhưng nghe đồn nó đã bị phát hiện - họ đang chạy thử nghiệm tất cả các nhánh để tái xác lập tuyến giao thông này. Con tàu mà lúc trước cô đợi đã bị hủy lịch trình, và cậu không biết khi nào thì một chiếc khác sẽ chạy qua. Cậu được lệnh lập báo cáo về tình trạng của tuyến đường rồi quay về ga đầu mối.

“Cậu có thể đưa tôi đến trạm dừng tiếp theo được không?”

Cậu ra hiệu cho cô đi tới bên rìa thềm ga và giơ chiếc đèn xách lên. Phía trước họ, cách đó khoảng năm mươi bước chân, đường hầm cụt ngay ở một điểm lởm chởm đá.

“Chúng ta đã đi qua một chỗ rẽ, nhánh dẫn xuống phía nam”, cậu nói. “Tôi phải lấy đủ than để đi kiểm tra tuyến đường đó rồi đưa tàu về ga đầu mối”.

“Tôi không thể đi về phía nam”, Cora nói.

“Trưởng ga sẽ có mặt ở đây cùng cô. Tôi chắc chắn điều đó”.

Khi cậu đi rồi, cô cảm thấy nhớ cậu, nhớ tất cả sự ngớ ngẩn của cậu.

Cora đã có ánh sáng, và một điều khác mà cô không có ở Nam Carolina - âm thanh. Nước đen thẫm tạo thành vũng giữa những thanh ray, được bổ sung bằng những giọt đều đặn nhỏ xuống từ nóc hầm. Vòm đá phía trên có màu trắng với những đốm đỏ trông như máu sau một trận roi quất ngấm vào tấm áo. Mặc dầu vậy, âm thanh đó khiến cô vui. Cô cũng vui vì có thừa nước uống, đuốc, và vì cô đã đi được một chặng khá xa khỏi chỗ có những kẻ săn nô lệ. Bắc Carolina, ở bên dưới mặt đất, là một sự tiến bộ.

Cô khám phá. Ga đó tiếp giáp với một đường hầm sơ sài. Những thanh xà đỡ cái trần bằng gỗ và những hòn đá được đặt trên sàn khiến cô suýt ngã bổ chửng. Cô chọn đi về phía bên trái trước, bước trên đống đất đá do tường lở tràn xuống. Những dụng cụ han gỉ nằm bừa bãi trên lối đi. Những cái đục, búa tạ, xẻng - những vũ khí để chiến đấu với ngọn núi. Không khí ẩm thấp. Khi cô rờ tay dọc bức tường, tay cô bị phủ một lớp bụi trắng lạnh lẽo. Ở cuối hành lang, chiếc thang được chốt vào đá dẫn lên một lối đi hẹp. Cô giơ ngọn đuốc lên. Không thể biết được các bậc thang kéo dài bao xa. Cô chỉ dám trèo lên đó sau khi phát hiện ra rằng đầu kia của hành lang thu hẹp thành một đường cụt u ám.

Trèo được lên thang vài bước, cô đã hiểu tại sao nhóm thợ bỏ lại các thiết bị trong đường hầm. Cả một đống đá và bụi đất, chất cao từ sàn lên trần, đã cắt đứt đường hầm. Đối diện với chỗ sụt, đường hầm kết thúc sau khoảng một trăm bước, xác nhận nỗi sợ hãi trong cô. Một lần nữa cô lại bị mắc kẹt.

Cora khuỵu xuống đám đá sỏi khóc cho đến khi cơn buồn ngủ ập đến.

Người trưởng ga đánh thức cô dậy. “Này cô!” người đàn ông nói. Khuôn mặt tròn đỏ bừng của ông hiện ra qua khoảng không mà ông đào bới trên đỉnh đống đá sỏi. “Ôi chao”, ông nói. “Cô đang làm gì ở đây vậy?”

“Tôi là một hành khách, thưa ông”.

“Cô không biết ga này đã ngừng hoạt động sao?”

Cô húng hắng ho, ngồi dậy vuốt chiếc váy bẩn thỉu.

“Ôi chao, ôi chao”, ông nói.

Tên ông là Martin Wells. Họ cùng nhau phá rộng cái lỗ trên bức tường đá và cô chui qua đó để sang phía bên kia. Người đàn ông giúp cô tiếp đất như giúp một tiểu thư bước xuống từ cỗ xe song mã đẹp nhất. Sau vài khúc quanh, miệng đường hầm hiện ra, mời gọi mơ hồ. Làn gió nhẹ mơn man da cô. Cô há miệng nuốt từng ngụm không khí như nước, như bầu trời đêm, như bữa ăn ngon nhất cô từng được thưởng thức, sau thời gian cô ở dưới lòng đất, những vì sao đối với cô như trái cây bổ dưỡng, chín mọng.

Trưởng ga là một người đàn ông to béo sắp bước qua tuổi trung niên, có nước da nhẵn nhụi. Là một trưởng ga thuộc tuyến hỏa xa ngầm, và có lẽ ông chẳng xa lạ gì trước hiểm nguy và rủi ro, song ông lại tỏ ra lo lắng, bồn chồn. “Không ai nghĩ cô lại có mặt ở đây”, ông nói, lặp lại câu của cậu trai lái tàu. “Đây là một lối rẽ rất đáng tiếc”.

Martin giải thích bằng giọng gắt gỏng, vừa nói vừa gạt đám tóc muối tiêu đẫm mồ hôi xõa xuống mặt. Ông giải thích rằng toán người cưỡi ngựa đi tuần tra đêm đẩy cả trưởng ga và hành khách vào vòng nguy hiểm. Khu mỏ mica cũ rất hẻo lánh, đã bị người da đỏ làm cho kiệt quệ từ lâu và bị hầu hết mọi người lãng quên, nhưng toán kiểm soát viên vẫn thường xuyên kiểm tra những đoạn hầm sập, bất cứ nơi nào một kẻ bỏ trốn có thể ẩn náu.

Đoạn hầm sập khiến Cora rất đỗi thất vọng hóa ra là mưu mẹo để ngụy trang hoạt động ở bên dưới. Tuy việc đó có hiệu quả nhưng luật mới ở Bắc Carolina đã khiến ga phải ngừng hoạt động - Martin đi thăm hầm mỏ đơn giản để báo tin cho người của tuyến hỏa xa ngầm rằng ông không thể tiếp nhận hành khách nữa. Martin hoàn toàn không được chuẩn bị gì để đón Cora hay bất cứ nô lệ bỏ trốn nào. “Đặc biệt xét trong hoàn cảnh hiện tại”, ông nói thầm, cứ như toán người tuần tra đang đợi ở đầu đường hầm.

Martin bảo với cô rằng ông cần đi lấy xe ngựa, Cora không tin ông sẽ quay lại. Ông quả quyết rằng không đi lâu - trời sắp sáng mà sau đó thì không thể chở cô ra khỏi chỗ đó được. Nhưng rồi Cora cảm thấy biết ơn vì được ở ngoài trời, trong thế giới của người sống nhiều đến mức cô quyết định tin ông, và suýt nữa thì ôm chầm lấy ông khi thấy ông xuất hiện trở lại, điều khiển chiếc xe ngựa ọp ẹp được hai con ngựa gầy giơ xương kéo. Họ sắp xếp lại những bao lúa mỳ và hạt giống để có một chỗ ẩn nấp khiêm tốn. Lần cuối cùng Cora ẩn thân theo cách này - họ cần chỗ cho hai người. Martin phủ tấm vải dầu lên chỗ hàng hóa của ông và cho xe chạy ầm ầm ra khỏi nhánh đường xe lửa, người trưởng ga lầm bầm những lời thô tục đến khi họ ra tới đường cái.

Họ đi chưa được bao xa thì Martin dừng ngựa lại. Ông lật tấm vải phủ ra. “Mặt trời sắp mọc, nhưng tôi muốn cô nhìn thấy cảnh này”, ông nói.

Cora không hiểu ngay lập tức ông muốn nói gì. Con đường ngoại ô yên tĩnh, với rừng cây rậm rạp ở cả hai bên. Cô nhìn thấy một hình người, sau đó là một hình người nữa. Cora bước ra khỏi xe ngựa.

Những xác chết bị treo trên cây như đồ trang trí đang thối rữa. Một số xác chết trần truồng, những người khác được che thân một phần thôi, và quần đen xỉn ở chỗ họ tháo dạ khi bị treo cổ. Những vết cắt, vết thương hằn trên da thịt của những xác chết gần chỗ cô nhất, hai xác chết ở trong vùng ánh sáng từ chiếc đèn xách của trưởng ga. Một người bị thiến, vết thương há miệng ở chỗ từng có dương vật. Người kia là phụ nữ. Bụng cô ta vồng lên hình cánh cung. Cora chưa bao giờ giỏi nhận ra một phụ nữ có chửa. Những con mắt lồi ra của họ dường như trách mắng cô vì đã nhìn họ, nhưng sự chú ý của một cô gái, khuấy động chốn yên nghỉ của họ, có thấm gì so với cách cuộc đời đã trừng phạt họ kể từ ngày họ được sinh ra trên thế gian này?

“Bây giờ họ gọi con đường này là Đường Tự Do”, Martin giải thích khi ông đậy thùng xe lại. “Những xác chết bị treo dọc con đường này tới tận thành phố”.

Con tàu ấy đã thả cô xuống địa ngục nào thế này?

Xuống khỏi chiếc xe ngựa kéo, Cora lén đi vòng ra hông ngôi nhà sơn xanh của Martin. Bầu trời lấp lánh sáng. Martin đã dám đưa chiếc xe quay lại nhà của ông. Những ngôi nhà lân cận đều đóng cửa im ỉm - bất cứ ai bị đánh thức bởi tiếng chân ngựa đều có thể nhìn thấy cô. Đằng trước ngôi nhà, Cora nhìn thấy đường cái, và ở bên kia đường là một bãi cỏ. Martin giục cô vào, và cô bò lên thềm sau vào trong nhà. Một phụ nữ da trắng cao ráo mặc bộ đồ ngủ đang đứng dựa vào lớp ván ốp tường trong bếp. Bà nhấm nháp ly nước chanh, nói mà không nhìn Cora: “Ông sẽ làm chúng ta bị giết mất thôi”.

Đó là Ethel. Bà và Martin lấy nhau được ba mươi lăm năm. Vợ chồng họ im lặng khi ông rửa tay ở bồn rửa bát. Trong khi cô đợi ở hầm mỏ, họ đã cãi nhau vì cô, Cora biết, và sẽ lại tiếp tục cuộc cãi vã khi họ đối diện với vấn đề đặt ra trước mắt.

Ethel dẫn Cora lên gác trong khi Martin đánh chiếc xe ngựa kéo vào nhà kho. Cora liếc qua phòng khách có đồ đạc đơn sơ; sau những lời cảnh báo của Martin, ánh bình minh qua ô cửa sổ khiến cô bước nhanh hơn. Mái tóc xám của Ethel dài đến ngang lưng. Cách người phụ nữ ấy bước đi khiến cô mất can đảm - cô dường như đang trôi trên đỉnh cơn tức giận của bà. Đến đầu cầu thang, Ethel dừng lại, chỉ vào phòng tắm. “Người cô bốc mùi”, bà nói. “Rửa ráy khẩn trương lên”.

Khi Cora bước trở lại hành lang, người phụ nữ ấy gọi cô lên cầu thang đến phòng áp mái. Đầu Cora suýt chạm vào cái trần nhỏ của căn phòng nóng nực. Giữa những bức tường dốc của cái mái nhọn, phòng áp mái bị nhét đầy đồ bỏ đi của nhiều năm. Hai chiếc ván giặt vỡ, những đống chăn ga bị mối xông, những chiếc ghế nứt toác. Một con ngựa gỗ, được phủ nệm bằng da sống [15] , đứng lặng ở góc phòng bên dưới một mảng giấy dán tường màu vàng bị tróc.

“Bây giờ chúng tôi phải che nó lại”, Ethel nói, chỉ tay về phía ô cửa sổ. Bà đẩy một chiếc thùng thưa từ chân tường tới sát cửa sổ, đứng lên nó và huých cái cửa lật ở trên trần nhà. “Xuống đi, xuống đi”, bà nói. Mặt bà nhăn nhó. Bà vẫn chưa nhìn kẻ lánh nạn lần nào.

Cora trèo lên trên trần giả, ép người vào cái xó chật hẹp đó. Nó cách sàn phòng áp mái khoảng ba bước chân, và chạy dài mười lăm bước. Cô dẹp những chồng sách báo gọn lại để lấy chỗ cho mình. Cora nghe thấy Ethel đi xuống cầu thang, và khi bà chủ nhà trở lại, bà đưa cho Cora thức ăn, một bình nước và một cái bô.

Ethel nhìn Cora lần đầu tiên, khuôn mặt ủ dột của bà được đóng khung trong ô cửa lật. “Đứa con gái giúp việc kia sắp đến đấy”, bà nói. “Nếu phát hiện ra cô thì nó sẽ báo cảnh sát và họ sẽ giết tất cả chúng ta. Con gái tôi và gia đình nó cũng sẽ đến đây trưa nay. Chúng không thể biết cô đang ở đây. Cô hiểu chứ?”

“Bao lâu ạ?”

“Đồ ngớ ngẩn. Không được gây ra tiếng động đâu đấy. Không một tiếng động nào. Nếu bất cứ ai phát hiện ra cô ở đây, tất cả chúng ta sẽ toi đời”. Bà đóng sập cánh cửa lại.

Nguồn ánh sáng và không khí duy nhất lọt vào đó là từ cái lỗ trên tường hướng ra đường cái. Cora bò tới đó, cúi lom khom dưới những thanh xà. Cái lỗ nham nhở ấy được trổ từ bên trong, “công trình” của người lánh nạn trước đây, người không bằng lòng với chỗ nương náu này. Cô tự hỏi người đó bây giờ ở đâu.

Ngày đầu tiên Cora tìm hiểu cuộc sống nơi công viên, bãi cỏ mà cô nhìn thấy ở bên kia đường. Cô dán mắt vào cái lỗ, thay đổi vị trí để nắm bắt toàn cảnh. Những ngôi nhà gỗ hai hoặc ba tầng viền quanh công viên, cấu trúc giống hệt nhau, họa chăng phân biệt được nhờ màu sơn và nội thất sau những hàng hiên dài. Những lối đi bằng gạch ngay ngắn đan chéo trên bãi cỏ công viên, hiện ra ngoằn ngoèo và mất hút dưới tán cây cao cùng đám cành lá xum xuê. Một đài phun nước róc rách ở gần lối vào, có những chiếc ghế đá bao quanh - chẳng bao lâu sau khi mặt trời mọc đã có đủ người ngồi, và dãy ghế đá tiếp tục được ưa chuộng đến tận tối.

Những ông già cầm những chiếc khăn tay đầy vụn bánh mỳ dành cho lũ chim, lũ trẻ với diều, với bóng, và từng đôi nam nữ đang trong cơn say tình ái thay nhau ngồi trên ghế đá. Một con chó lai màu nâu coi chỗ đó như nhà của nó - ai cũng biết nó - vừa sủa vừa chạy nhắng lên. Giữa trưa, lũ trẻ đuổi nó từ bãi cỏ lên cái bục trắng vững chắc ở rìa công viên. Con chó nằm ngủ dưới bóng râm của hàng ghế đá và cây sồi cổ thụ to lớn như thống lĩnh bãi cỏ với vẻ thảnh thơi uy nghiêm. Cora quan sát thấy con chó được cho ăn đầy đủ, nó nhai thức ăn và xương mà các công dân ở đó mang đến cho. Dạ dày của cô lúc nào cũng réo sôi khi nhìn thấy cảnh này. Cô gọi con chó là Thị Trưởng.

Khi mặt trời đã lên đến cực đỉnh, và công viên náo nhiệt vì người qua người lại tấp nập buổi giữa ngày, cái nóng biến nơi ẩn nấp của Cora thành lò nung khủng khiếp. Sau khoảng thời gian thức nhìn ra công viên, Cora phải bò tìm những chỗ đỡ nóng trong cái ngách ấy, tìm những ốc đảo mát mẻ tưởng tượng. Cô biết chủ nhà không lên thăm cô vào ban ngày, khi Fiona, cô gái giúp việc, có mặt. Martin thường bận việc trong nhà kho, còn Ethel về rồi lại đi - bà bận với các hoạt động ở bên ngoài, nhưng Fiona thì luôn ở dưới nhà. Đó là một cô gái trẻ, nói giọng Ireland rất dễ nhận ra. Cora nghe thấy cô gái đó đi lại, thở dài một mình và làu bàu toàn lời cáu kỉnh về những người chủ hiện vắng mặt. Trong ngày đầu tiên đó, Fiona không lên tầng áp mái, nhưng tiếng bước chân của cô ta khiến Cora cứng người chẳng khác gì anh bạn người nộm Skipp John của cô ở bảo tàng. Những lời cảnh báo của Ethel đã gây ra ấn tượng đúng như mong đợi.

Hôm cô đến đó nhà Martin còn những vị khách khác - Jane, con gái của cặp vợ chồng và gia đình của cô. Dõi theo thái độ dễ chịu, tươi vui của cô con gái, Cora quyết định rằng cô ấy giống ông bố, và lấy Martin làm hình mẫu, cô mường tượng ra con gái họ có khuôn mặt tròn. Anh con rể và hai đứa cháu gái hoạt động không ngừng, gây tiếng ồn khắp nhà. Có lúc mấy đứa bé gái định chạy lên phòng áp mái, nhưng sau khi bảo nhau những chuyện ma tà thì chúng từ bỏ ý định. Quả thực trong nhà có một con ma, nhưng nó đã bị xích, chỉ phát ra những tiếng lách cách hoặc hoàn toàn im lặng.

Buổi tối công viên vẫn tấp nập. Cora nghĩ chắc hẳn phố chính ở gần đó, phía trung tâm thành phố. Mấy người phụ nữ lớn tuổi mặc váy kẻ bông màu xanh dương cắm cờ trang trí màu xanh - trắng lên bục sân khấu. Những vòng hoa được kết bằng lá cam bổ sung thêm chút hoa mỹ cho chỗ ấy. Các gia đình nhận chỗ trước sân khấu, trải những tấm chăn và bày đồ ăn tối đựng trong giỏ ra. Những người sống gần công viên tập trung ngay trên hiên nhà với những bình đựng đổ uống và ly cốc.

Do nơi ẩn náu không hề dễ chịu, và cô bị những sự cố kể từ khi đám săn nô lệ phát hiện ra họ ám ảnh, Cora không chú ý ngay đến điểm đặc biệt quan trọng của công viên: Tất cả mọi người đều là người da trắng. Trước khi cô và Caesar bỏ trốn, cô chưa từng bước chân ra khỏi đồn điền, vậy nên Nam Carolina mang đến cho cô ý niệm đầu tiên về sự pha trộn chủng tộc nơi thành thị. Ở Main Street, trong các cửa hiệu, nhà máy và văn phòng, trong mọi lĩnh vực, người da đen và người da trắng hòa nhập với nhau hằng ngày như một lẽ dĩ nhiên. Không có sự hòa nhập ấy, quan hệ của con người héo mòn đi. Trong cuộc sống tự do hay trong cảnh nô lệ, người Phi không thể tách khỏi người Mỹ.

Ở Bắc Carolina chủng tộc da đen không tồn tại ngoại trừ ở tận đáy.

Hai nam thanh niên thạo việc giúp các mệnh phụ treo một biểu ngữ lên phía trên bục: Lễ hội ngày thứ Sáu. Một ban nhạc xuất hiện trên sân khấu, tiếng nhạc của họ báo cho những người còn tản mát trong công viên tập trung lại khu vực sân khấu. Cora ngồi xổm, áp mặt vào tường. Người chơi đàn ban-jô cũng có chút tài năng, người thổi kèn và người kéo vĩ cầm chơi kém hơn. Những giai điệu của họ nhạt nhẽo so với những điệu nhạc của cánh nhạc sĩ da màu mà cô đã nghe, nhưng cư dân thành thị vẫn thích thứ âm nhạc biến chất đó. Ban nhạc kết thúc phần biểu diễn của họ với diễn xuất sôi nổi gợi nhớ hai bài hát của người da màu mà Cora nhận ra, phần được ưa thích nhất của buổi tối. Chỗ hàng hiên ở bên dưới, mấy đứa cháu của Martin và Ethel vỗ tay, kêu ré lên.

Một người đàn ông mặc bộ com-lê bằng vải lanh nhàu nhĩ chiếm lĩnh sân khấu để đọc lời chào mừng ngắn gọn. Sau này, Martin nói cho Cora biết đó là thẩm phán Tennyson, một nhân vật được nể trọng trong thành phố. Tối hôm đó ông ta đi lảo đảo. Cô không thể hiểu được lời giới thiệu một tiết mục hài của người da đen. Cô đã nghe nói đến nhưng chưa bao giờ được xem trực tiếp; buổi tối dành cho người da màu ở nhà hát Nam Carolina có giá vé khác so với dành cho người da trắng. Hai người da trắng với khuôn mặt bị bôi đen bằng than bẩn, nhảy cỡn qua đám đông, khiến cả công viên cười phá lên. Mặc trang phục lố lăng, những bộ quần áo lòe loẹt và những chiếc mũ chóp cao, họ nặn thứ giọng cường điệu của người da màu; dường như đó là nguồn cơn gây cười. Một bản nhạc nhịp đơn nổi lên, một diễn viên tháo đôi giày cao cổ rách tướp của mình ra và đếm đi đếm lại những ngón chân, đang đếm lại quên không nhớ đã đếm đến ngón nào, cảnh đó gây ra những tràng cười dữ dội nhất.

Tiết mục cuối cùng, nằm sau thông báo của ông thẩm phán về vấn đề kinh niên thoát nước trong hồ, là một vở kịch ngắn. Theo những gì Cora góp nhặt được qua động tác của các diễn viên và một vài mẩu hội thoại bay tới chỗ ẩn náu ngột ngạt của cô, cô biết vở kịch nói về một nô lệ - lại là một người đàn ông da trắng được bôi than bẩn lên mặt trong khi để lộ làn da trắng hồng ở cổ và cổ tay - người đã chạy trốn lên miền bắc sau khi bị ông chủ của anh ta mắng nhẹ. Trong hành trình ấy anh ta chịu nhiều khổ cực, độc thoại đầy hờn dỗi về đói, rét và thú dữ. Ở miền bắc, một người quản lý quán rượu thuê anh ta vào làm. Người quản lý ấy là một ông chủ độc ác, liên tục đánh đập và nhục mạ anh chàng nô lệ, cướp trắng cả tiền công và phẩm giá, một hình ảnh tàn nhẫn về thái độ của người da trắng miền bắc.

Cảnh cuối cùng của vở kịch mô tả người nô lệ trên bậc cửa của chủ anh ta, lại bỏ trốn một lần nữa, nhưng lần này là trốn khỏi hứa hẹn hão huyền tại các bang tự do. Anh ta xin được trở lại cuộc sống trước kia ở nhà chủ cũ, than thở về cái dại dột của mình và cầu xin được tha thứ. Với những lời tử tế và kiên nhẫn, ông chủ của anh giải thích rằng điều đó là không thể. Trong khi anh ta vắng mặt, Bắc Carolina đã thay đổi. Ông chủ huýt sáo, hai viên tuần tra liền dẫn người nô lệ đang phủ phục trước cửa ra khỏi tư dinh của ông ta.

Các công dân của thành phố đánh giá cao bài học từ vở kịch, tiếng vỗ tay của họ vang khắp công viên. Lũ trẻ mới chập chững biết đi ngồi trên vai các ông bố cũng vỗ tay, và Cora nhìn thấy con chó mà cô gọi là Thị Trưởng rùng mình. Cô không biết thành phố này lớn cỡ nào, nhưng cảm thấy rằng mọi công dân của nó giờ đây đều có mặt ở công viên và đang chờ đợi. Mục đích chính của buổi tối được tiết lộ. Một người đàn ông cường tráng mặc quần âu trắng cùng chiếc áo khoác đỏ bước lên sân khấu. Bất chấp khổ người ục ịch, ông ta di chuyển dứt khoát và với vẻ quyền uy -Cora nhớ tới con gấu trưng bày trên giá ở bảo tàng, nó đứng yên trong khi cái giá đỡ nó chuyển động mạnh. Người đàn ông vân vê một đầu bộ ria, tỏ vẻ thích thú đầy kiên nhẫn trong khi đám đông im lặng. Giọng nói của ông ta mạnh mẽ, rành rọt và lần đầu tiên trong buổi tối hôm đó Cora không bỏ sót một từ nào.

Ông ta giới thiệu mình là Jamison, mặc dù ai trong công viên cũng biết nhân dạng của ông. “Cứ mỗi thứ Sáu tôi lại tràn đầy sinh lực”, ông nói, “tôi biết rằng vài giờ nữa chúng ta sẽ lại tập trung ở đây và mừng vận may của chúng ta. Trước đây, khi các kiểm soát viên chưa bắt đầu nhiệm vụ canh đêm, tôi hầu như không ngủ được”. Ông ta chỉ tay về phía một nhóm hùng hậu đã tập trung sẵn bên bục sân khấu. Dân thị trấn reo hò khi toán đàn ông ấy vẫy tay, cúi đầu chào trước Jamison.

Jamison thông báo với đám đông. Chúa đã ban cho một kiểm soát viên một món quà là đứa con trai mới chào đời, và hai người khác vừa kỷ niệm sinh nhật của họ. “Tối nay chúng ta tuyển được người mới”, Jamison nói tiếp, “một chàng trai trẻ xuất thân trong một gia đình tử tế gia nhập đội ngũ tuần tra đêm trong tuần này. Hãy bước lên nào, Richard, và hãy để mọi người nhìn thấy cậu”.

Một cậu trai tóc đỏ ngập ngừng bước ra sân khấu. Giống như các đồng sự, cậu ta mặc đồng phục quần âu đen và sơ mi trắng may bằng vải dày, cổ cậu ta “bơi” trong cổ áo. Cậu ta lúng ba lúng búng. Qua bài diễn văn của Jamison, Cora biết được rằng thành viên mới kia đã đi nhiều vòng quanh quận, học cách làm việc của đội tuần tra.

“Và cậu đã khởi đầu đầy triển vọng phải không, con trai?”

Cậu trai cao lêu nghêu khẽ lắc lư cái đầu. Độ tuổi và vóc người mảnh khảnh của cậu khiến Cora nhớ tới cậu lái tàu trong chuyến tàu cuối cùng của cô, bị hoàn cảnh đưa đẩy vào công việc của người đàn ông trưởng thành. Làn da lấm chấm tàn nhang của cậu trắng hơn cậu trai kia, nhưng họ đều có niềm háo hức mong manh. Có lẽ họ sinh cùng ngày, nhưng lại bị hoàn cảnh và những quy tắc đưa đẩy tới con đường phải phục vụ các tổ chức khác hẳn nhau.

“Không phải viên tuần tra nào cũng bắt được nô lệ bỏ trốn ngay trong tuần đầu làm việc”, Jamison lên tiếng. “Hãy xem chàng trai trẻ Richard có gì cho chúng ta này”.

Hai viên tuần tra lôi một cô gái da màu lên sân khấu. Cô có vóc người mảnh dẻ của một cô hầu gái, với vẻ ngơ ngác trông cô càng nhỏ bé hơn. Chiếc áo chùng màu xám của cô rách tả tơi, lốm đốm vết máu và vết bẩn, đầu cô bị cạo trọc lốc. “Lúc ấy, Richard đang ở trên boong kiểm tra chiếc tàu thủy đi Tennessee thì phát hiện ra đứa con gái này trốn dưới hầm tàu”, Jamison nói. “Tên ả là Louisa. Nhân lúc hỗn loạn, ả đã trốn khỏi đồn điền và ẩn nấp trong rừng suốt những tháng qua. Ả tin rằng đã thoát khỏi hệ thống của chúng ta”.

Louisa đảo mắt quan sát đám đông, ngẩng đầu lên một chút, và vẫn đứng yên. Với đôi mắt đầy máu đọng, thật khó để cô nhìn rõ những kẻ hành hạ mình.

Jamison giơ nắm đấm lên cao, như thể thách thức điều gì đó trên trời. Đêm tối là đối thủ của ông ta, Cora nghĩ, đêm và những bóng ma mà ông ta nhồi vào đêm. Ông ta nói, trong bóng đêm những kẻ da màu đê tiện ẩn nấp để hãm hiếp vợ và con gái của các công dân. Trong bóng đêm khôn cùng, di sản miền nam của họ nằm đó, không được bảo vệ và ở trong vòng hiểm nguy. Nhóm tuần tra sẽ bảo vệ họ. “Mỗi người chúng ta cần hi sinh cho Bắc Carolina mới này, cũng như cho các quyền của nó”. Jamison nói. “Vì quốc gia riêng mà chúng ta đã hun đúc, một quốc gia tự do, không chịu ảnh hưởng từ miền bắc và sự ô uế của một chủng tộc thấp kém hơn. Lũ mọi đen đã bị đẩy lùi, sửa chữa lầm lẫn nhiều năm trước trên lá số tử vi của quốc gia này. Một số người, như anh em của chúng ta, ở bên kia ranh giới, lại có quan niệm ngớ ngẩn về sự tiến bộ của lũ mọi đen. Dạy số học cho lừa còn dễ dàng hơn”. Ông ta cúi xuống xoa đầu Louisa. “Khi phát hiện ra con ranh kỳ quặc này, nhiệm vụ của chúng ta trở nên rõ ràng”.

Theo thông lệ đám đông giãn ra. Với Jamison dẫn đầu, những kẻ tuần đêm lôi cô gái da đen tới chỗ cây sồi lớn mọc giữa công viên. Cora đã nhìn thấy cái bục có bánh xe ở góc công viên ngày hôm ấy; lũ trẻ con trèo lên và nhảy nhót trên đó suốt buổi trưa. Buổi tối người ta đẩy nó tới bên dưới cây sồi. Jamison kêu gọi những người tình nguyện, và đám người ở đủ lứa tuổi chạy ùa đến bên cái bục. Chiếc thòng lọng hạ xuống quanh cổ Louisa và cô gái bị dẫn lên các bậc. Đã quen việc, một gã tuần đêm vắt sợi dây thừng lên một cành cây to vững chắc chỉ sau một lần quăng.

Một trong số những người xúm lại đẩy cái bục bị đuổi ra - anh ta đã được đẩy bục trong lễ hội lần trước nên bây giờ không được làm việc đó nữa. Một phụ nữ trẻ mặc chiếc váy chấm bi màu hồng chạy lên thế chỗ anh ta.

Cora quay mặt đi chỗ khác trước khi người cô gái da đen đung đưa trên bục treo cổ. Cô bò sang góc đối diện của nơi ẩn nấp, trong góc cái chuồng mới nhất của mình. Trong mấy tháng tiếp theo, vào những đêm không quá ngột ngạt, cô thích ngủ ở góc ấy. Nó cách xa công viên, xa trái tim khốn khổ của thành phố, chỗ xa nhất cô có thể tìm đến.

Thành phố im lặng. Jamison cầm trịch.

Để giải thích tại sao ông và người vợ lại giữ Cora như tù nhân trên phòng áp mái, Martin phải đi ngược thời gian một chặng dài. Với tất cả những chuyện ở miền nam, câu chuyện bắt đầu với cây bông. Cỗ máy bông hoạt động không ngừng nghỉ đòi hỏi nguồn nhiên liệu là người Phi. Vượt đại dương, đoàn tàu mang người Phi tới lao động trên đất này và sinh đẻ thêm nhiều người Phi nữa.

Những pít-tông của cỗ máy bông chuyển động không ngừng. Nhiều nô lệ hơn dẫn đến sản lượng bông cao hơn, các ông chủ có nhiều tiền hơn để mua thêm đất đai, để trồng nhiều bông hơn. Thậm chí khi không còn cảnh buôn bán nô lệ, trong gần một thế hệ các con số cũng không thể biện hộ được: tất cả những người da đen ấy. Người da trắng đông hơn nô lệ, ở Bắc Carolina cứ hai người da trắng thì có một nô lệ, nhưng tại Louisiana và Georgia dân số da trắng và da đen suýt soát nhau. Ngay ở bên kia biên giới, tại Nam Carolina, dân da đen đông hơn dân da trắng một trăm nghìn người. Không khó hình dung ra điều tất yếu khi các nô lệ phá bỏ được xiềng xích để theo đuổi tự do - và báo thù.

Ở Georgia và Kenturky, ở Nam Mỹ và vùng đảo Caribbe, người Phi tấn công chủ trong những cuộc chạm trán chóng vánh nhưng đáng lo ngại. Trước khi cuộc nổi loạn ở Southampton bị dập tắt, Turner và nhóm của ông ta đã giết sáu mươi lăm đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Nhằm đáp trả, các dân quân và nhóm tuần tra liền hành hình theo kiểu lin-sơ nhiều gấp ba số đó - những người da màu mang âm mưu nổi loạn, cảm tình viên và người vô tội - để làm gương. Để chỉ rõ giới hạn. Nhưng những con số vẫn tồn tại, nói lên một sự thật được thành kiến làm cho dễ hiểu.

“Ở đây, viên tuần tra chẳng khác gì cảnh sát”, Martin nói.

“Ở hầu hết mọi nơi”, Cora nói. “Những viên tuần tra quấy rối ông bất cứ lúc nào họ thích”. Đó là cuộc chuyện trò sau nửa đêm của ngày thứ Hai đầu tiên cô ở đó. Con gái Martin và gia đình của cô đã trở về nhà riêng, còn Fiona, cô giúp việc sống ở khu phố của người Ireland cũng vậy. Martin ngồi trên một cái thùng thưa trong phòng áp mái, quạt phành phạch. Cora đi đi lại lại, duỗi đôi chân, đôi tay nhức mỏi. Ban ngày cô không được đứng dậy. Ethel không xuất hiện. Những tấm rèm màu xanh sẫm che các ô cửa sổ và cây nến nhỏ phát ra tiếng lách tách trong cảnh u ám.

Thậm chí vào giờ đó Martin vẫn nói thầm. Con trai của người hàng xóm là một viên tuần tra.

Là những kẻ trấn áp của chủ nô, những viên tuần tra là luật: da trắng, xảo quyệt, tàn nhẫn. Được chiêu mộ từ tầng lớp xấu xa và thấp hèn nhất của xã hội, thậm chí quá tối dạ để được trở thành đốc công. (Cora gật đầu đồng tình trước nhận xét đó.) Ngoài lý do màu da, viên tuần tra không cần bất cứ lý do nào để chặn đường bất kỳ ai. Các nô lệ bị bắt gặp bên ngoài đồn điền phải có giấy phép đi lại, trừ khi họ muốn bị đòn và muốn viếng thăm nhà tù của hạt. Người da đen tự do phải luôn mang theo giấy chứng nhận được giải phóng, nếu không sẽ đối mặt với rủi ro bị đẩy vào móng vuốt của chế độ nô lệ, đôi khi bị đưa lậu tới các sàn đấu giá. Những người da đen cứng đầu, không chịu phục tùng có thể bị bắn. Đám tuần tra tùy ý lùng sục khắp các làng nô lệ và tùy tiện lục soát nhà của người da màu tự do, cướp những tấm vải lanh mà chủ nhà đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được, rồi buông những lời tán tỉnh dâm đãng.

Trong chiến tranh - dập tắt một cuộc nổi loạn của nô lệ là lời hiệu triệu tuyệt vời nhất khiến người ta cầm vũ khí - đội ngũ tuần tra vượt quá chức năng hoạt động ban đầu, trở thành một đội quân thực sự. Cora hình dung ra những cuộc khởi nghĩa lớn, những trận đánh đẫm máu nổ ra dưới bầu trời đêm rực sáng vì cháy lớn. Theo Martin mô tả, những cuộc nổi dậy trong thực tế có quy mô nhỏ và lộn xộn. Các nô lệ đi trên những con đường nối giữa các thành phố với vũ khí thô sơ: rìu, hái, dao, gạch. Được những kẻ phản bội da màu mách nước, lực lượng da trắng trấn áp bèn tổ chức phục kích tinh vi, tàn sát người nổi dậy bằng súng và truy đuổi họ bằng ngựa, với sự tăng viện của quân đội Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nghe tiếng còi báo động đầu tiên, lập tức các tình nguyện viên tham gia vào đội tuần tra đàn áp bạo động tràn vào các khu dân cư, đốt nhà của người da đen tự do. Nhà tù chật ních người bị tình nghi và người bàng quan. Chúng treo cổ kẻ có tội và, “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, chúng cũng làm như vậy với không ít người vô tội. Sau cuộc báo thù - và quan trọng hơn, sau khi hành vi xúc phạm trật tự của người da trắng đã bị đáp trả với niềm hân hoan - các thường dân trở về trang trại, nhà máy và cửa hiệu, còn toán tuần tra lại tiếp tục tuần tra.

Những cuộc nổi dậy được dẹp yên, nhưng dân số da màu đông đúc vẫn tồn tại. Lời phán quyết của cuộc điều tra dân số nằm trong những cột số buồn tẻ.

“Chúng tôi biết điều đó, nhưng không nói ra”, Cora nói với Martin.

Cái thùng thưa kêu cọt kẹt khi Martin cử động.

“Và nếu có nói thì nói cho ai nghe kia chứ”, Cora nói. “Nói cho ai nghe rằng dân số da màu lớn đến mức nào”.

Vào một buổi tối cuối thu lạnh lẽo, những người đàn ông quyền lực của Bắc Carolina tập trung nhau lại để bàn tính vấn đề về người da màu. Cánh chính trị gia hiểu rõ cuộc tranh luận về chế độ nô lệ phức tạp và dễ thay đổi chừng nào; các chủ trang trại giàu có điều khiển con quái thú nhả bông và họ cảm thấy dây cương đang tuột; luật sư được vời đến để nung những kế hoạch như nung đất sét dẻo trở thành vĩnh cửu. Martin nói với Cora rằng Jamison sẽ hiện diện với tư cách là thượng nghị sĩ và chủ đồn điền ở địa phương. Đó là một đêm dài.

Họ tập trung trong phòng ăn của Oney Garrison. Oney sống trên đỉnh Đồi Công Lý một khu dân cư được gọi như vậy bởi nó cho phép người ta nhìn thấy mọi thứ bên dưới trong bán kính hàng dặm, thu cả thế giới vào tầm mắt. Sau buổi tối đó, người ta gọi cuộc họp của họ là Hội nghị Công lý. Cha của chủ nhân ngôi nhà - nơi diễn ra cuộc họp - từng là thành viên của đội tiên phong trong giới trồng bông, và là nhà tiên phong am hiểu về giống cây thần kỳ đó. Oney lớn lên giữa những khoản lợi nhuận từ cây bông, và điều khó chịu thiết yếu của nó: người da đen. Càng trăn trở nhiều, - khi ông ta ngồi đó trong phòng ăn gia đình, nhìn chăm chú những khuôn mặt dài thượt, xanh xao của đám khách đang uống rượu của mình và ngồi dai quá - ông ta càng muốn có nhiều lợi nhuận và ít người da đen đi. Tại sao ở Nghị viện người ta cứ mất nhiều thời gian lo lắng về các cuộc nổi dậy của nô lệ và sự ảnh hưởng của miền bắc trong lúc vấn đề thực sự là, ai sẽ hái tất cả những biển bông mắc dịch này?

Martin nói trong những ngày sau đó báo chí đã đăng tải những con số cho mọi người cùng thấy. Có gần ba trăm nghìn nô lệ ở Bắc Carolina. Mỗi năm bằng chừng đó người châu Âu - chủ yếu là người Ireland và người Đức, chạy khỏi những nơi có nạn đói và tình hình chính trị bất ổn - đổ đến các cảng Boston, New York, Philadelphia. Tại tòa nhà nghị viện, trên các trang báo, câu hỏi được đặt ra là: Tại sao lại nhượng nguồn cung cấp lao động này cho người Yankee [16] ? Tại sao không đổi dòng để nó “chảy” về miền nam? Mục quảng cáo trên báo hải ngoại quảng bá cho quyền lợi của lao động theo thời hạn, cánh đại lý lao động giải thích chi tiết trong các quán trọ và những buổi sinh hoạt tập thể ở thành thị hoặc nhà tế bần, và theo đúng trình tự đoàn tàu chở nhung nhúc người đưa những kẻ mộng mơ cập bến bờ của quốc gia mới. Sau đó họ lên bờ để lao động trên đồng ruộng.

“Tôi chưa từng thấy một người da trắng hái bông”, Cora nói.

“Trước khi đến Bắc Carolina, tôi đã nhìn thấy một đám người xé toạc tứ chi của một người đàn ông”, Martin nói. “Nhìn thấy cảnh đó, cô sẽ thôi nói con người sẽ làm gì và không làm gì”.

Quả thực, bạn không thể đối xử với một người Ireland, “mọi trắng” hoặc không, như với một người Phi. Kiểu gì cũng tốn kém, một mặt thì mua nô lệ và nuôi họ ăn; mặt khác, phải trả cho người lao động da trắng đồng tiền công còm cõi nhưng duy trì được cuộc sống. Về lâu dài, thực chất của hành động cưỡng bách nô lệ đối nghịch với sự ổn định. Người châu Âu trước kia là chủ trang trại; họ sẽ lại trở thành chủ trang trại. Một khi người di cư hết hợp đồng lao động của họ (trả xong chi phí di cư, mua công cụ và nhà ở) và có chỗ trong xã hội Mỹ, họ sẽ là đồng minh của hệ thống miền nam đã nuôi họ. Trong ngày bầu cử, khi họ tiến đến hòm phiếu, lá phiếu của họ là lá phiếu trọn vẹn chứ đâu phải ba phần năm [17] . Phải tính đến khía cạnh tài chính nữa, nhưng khi xung đột xoay quanh vấn đề chủng tộc đang tiến gần, Bắc Carolina mới là vùng đất thuận lợi nhất của tất cả các bang có nô lệ.

Trên thực tế, họ đã bãi bỏ chế độ nô lệ. Nhưng Oney Garison đã lên tiếng bất bình. Chúng tôi bãi bỏ lũ mọi đen thì có.

“Tất cả phụ nữ, trẻ em và đàn ông - họ đã đi đâu?” Cora hỏi. Ai đó hét lên trong công viên và hai người trên tầng áp mái im lặng một lát.

“Cô đã nhìn thấy rồi đấy”, Martin đáp.

Chính phủ Bắc Carolina - một nửa chính phủ tập trung trong phòng ăn của Garrison tối hôm đó - đã mua sự tồn tại của nô lệ từ những chủ trang trại với giá phải chăng, như nước Anh đã làm khi bãi bỏ chế độ nô lệ cách đây vài thập kỷ. Các bang khác của đế chế bông thu hút số lao động dư thừa; Florida và Louisiana, bấy giờ đang phát triển bùng nổ, rất “đói” lao động da màu, đặc biệt là các lao động dày dạn. Chỉ cần dạo một vòng ngắn ngủi quanh phố Bourbon, bất cứ nhà quan sát nào cũng có thể thấy dự báo: một bang người lai gớm guốc - trong đó nòi giống da trắng, do hợp chủng với dòng máu da đen, bị làm cho nhem nhuốc, tối tăm, lộn xộn. Cứ để chúng làm ô nhiễm huyết thống châu Âu với cái đen đúa của dân Ai Cập, để chúng sinh ra biển người lai có một phần tư dòng máu da đen, đám con hoang da vàng cáu bẩn, lai tạp - thì chẳng khác nào họ đang rèn lưỡi dao để cắt cổ mình.

Luật chủng tộc mới cấm đàn ông và phụ nữ da màu đặt chân lên đất trồng trọt ở Bắc Carolina. Những người da màu tự do không chịu rời bỏ đất đai của họ bị đuổi đi hoặc bị tàn sát. Đám cựu binh từng tham gia chiến dịch tàn sát người da đỏ kiếm được ối tiền nhờ lão luyện. Khi đội quân đó kết thúc công việc, những kẻ từng là viên tuần tra khoác áo choàng của lực lượng tuần đêm vào, vây ráp người lang thang - các nô lệ cố chạy vượt trật tự mới, những người tự do bị tước quyền sở hữu không có phương tiện để kịp chạy lên phía bắc, những người đàn ông và đàn bà mất hút trong đất vì vô vàn nguyên cớ.

Sáng thứ Bảy đầu tiên khi Cora thức dậy, cô khoan nhìn qua cái lỗ đó. Cuối cùng khi cô lấy can đảm để nhìn thì họ đã cắt dây treo cổ và bỏ xác Louisa xuống rồi. Lũ trẻ nhảy nhót bên dưới chỗ lúc trước cô gái bị treo lủng lẳng. “Con đường đó”, Cora nói, “đường Tự Do mà người ta đặt tên. Nó dài bao nhiêu?”

Nó kéo dài đến chừng nào các xác chết còn được cấp cho nó, Martin trả lời. Những xác người thối rữa, những cái xác đã bị lũ động vật ăn xác thối ăn hết, liên tục bị thay thế, nhưng con đường luôn kéo dài về phía trước. Thành phố nào, lớn hay nhỏ, cũng đều tổ chức Lỗ hội ngày thứ Sáu, một lễ hội khép lại đầy tàn bạo. Một số nơi còn đặt trước các tù nhân trong tù cho tuần “thất thu” - khi đám tuần tra trở về tay trắng.

Theo luật mới, người da trắng mắc tội chỉ bị treo cổ chứ không bị đem bêu xác. Martin nói rõ, dù vậy, vẫn có trường hợp một chủ trang trại da trắng che giấu cả một nhóm người da màu; khi soi kỹ đống tro của ngôi nhà bị phóng hỏa, họ không thể phân biệt được thi thể của ông với thi thể những người mà ông che giấu, bởi lửa đã xóa bỏ khác biệt màu da, khiến ai cũng như ai. Tất cả năm cái xác đều bị treo ở đường Tự Do và không ai thắc mắc gì.

Nhắc tới chuyện người da trắng dám che giấu nô lệ bị trừng phạt ra sao, họ đã bóng gió đến thời hạn của cô ở cái xó này. “Cô hiểu hoàn cảnh khó khăn của chúng tôi rồi đấy”, Martin lên tiếng.

Những người ủng hộ bãi nô luôn bị đuổi khỏi đây, Martin nói. Virginia hoặc Dataware có thể tha thứ cho họ, nhưng các bang trồng bông thì không. Chỉ sở hữu tài liệu in ấn ủng hộ phong trào bãi nô thôi cũng đủ để bị bỏ tù, và khi được thả bạn sẽ sớm phải rời thành phố. Theo hiến pháp đã sửa đổi, hình phạt cho tội cất giữ tài liệu kích động nổi loạn, hoặc giúp đỡ và xúi bẩy người da màu là do nhà cầm quyền địa phương quyết định. Trên thực tế, đó là cái chết. Kẻ mang tội sẽ bị giật tóc lôi ra khỏi nhà. Các chủ nô không tuân thủ pháp luật - do bản tính thương người, hoặc do quan niệm khác biệt về quyền sở hữu tài sản - sẽ bị treo cổ, như những công dân tốt bụng che giấu người da đen trên tầng áp mái, dưới hầm hoặc trong thùng chứa than nhà họ.

Sau một thời gian những vụ bắt bớ người da trắng tạm lắng, một số thành phố liền tăng mức thưởng cho ai tố giác kẻ đồng phạm. Người ta tố giác đối thủ trong kinh doanh, rồi kẻ có mối thâm thù, hàng xóm, thuật lại tỉ mỉ những cuộc trò chuyện trước kia, trong đó những lời đồng cảm bị cấm từng được thốt ra. Được các bà giáo chỉ dạy nhận biết dấu hiệu xúi giục nổi loạn, lũ trẻ bô bô tiết lộ thông tin về bố mẹ chúng. Martin kể chuyện một người đàn ông trong thành phố suốt nhiều năm đã cố tống khứ bà vợ nhưng vô ích. Thế rồi bằng chứng tội trạng của bà ta được xem xét qua loa, nhưng bà đã phải trả một cái giá cực đắt. Ba tháng sau ông chồng tái hôn.

“Ông ta có hạnh phúc không?” Cora hỏi.

“Gì cơ?”

Cora phẩy tay. Giọng châm biếm khi kể chuyện của Martin khiến cô buồn cười.

Trước đây, đám tuần tra lục soát nơi ở của người da màu tùy thích, dù họ là người tự do hay là nô lệ. Quyền hạn được tăng cường cho phép chúng gõ bất cứ cánh cửa nào hòng buộc tội, hòng lục soát dù bị phản đối - nhân danh sự an toàn chung. Kiểm soát viên gọi cửa nhà dân vào tất cả các giờ trong ngày, ghé thăm từ người bẫy thú nghèo nhất đến vị quan tòa giàu có nhất. Xe ngựa và xe chở hàng bị chặn lại tại các chốt kiểm tra. Mỏ mica chỉ cách đó vài dặm - dù Martin có gan chạy trốn cùng Cora, họ sẽ không đến được hạt lân cận mà không bị kiểm tra.

Cora nghĩ rằng người da trắng miễn cưỡng từ bỏ sự tự do của họ, thậm chí nhân danh sự an toàn. Martin nói với cô rằng, thay vì lấy làm căm phẫn, hết hạt này đến hạt khác lại tỏ ra hãnh diện về các tuần tra viên. Đám ái quốc huênh hoang rằng họ thường “được” tìm đến và “được” công nhận là trong sạch. Một gã tuần đêm viếng thăm nhà một phụ nữ trẻ đẹp dẫn tới không chỉ một cuộc hẹn hò vui vẻ.

Trước khi Cora đến, đã hai lần chúng lục soát ngôi nhà của Martin và Ethel. Toán tuần tra rất thích thú, khen lấy khen để món bánh gừng của Ethel. Chúng không dõi ánh mắt ngờ vực tới cánh cửa lật dẫn lên phòng áp mái, nhưng điều ấy chẳng bảo đảm rằng lần tới mọi chuyện sẽ vẫn chỉ dừng ở đó. Lần viếng thăm thứ hai của chúng khiến Martin từ bỏ nhiệm vụ của ông với tuyến hỏa xa ngầm. Chẳng có kế hoạch nào cho chặng tiếp theo trong hành trình của Cora, không có tin tức gì từ những người cộng tác. Họ sẽ phải đợi tín hiệu.

Một lần nữa Martin xin lỗi vì cách xử sự của vợ ông. “Cô biết đấy, bà ấy sợ chết. Chúng ta phó mặc cho số phận thôi”.

“Ông có cảm thấy mình như một nô lệ không?” Cora hỏi.

Martin nói rằng Ethel không chọn sống như thế này.

“Ông sinh ra để sống như thế? Như một nô lệ, đúng không?”

Câu hỏi đó đã đặt dấu chấm hết cho cuộc trò chuyện của họ đêm hôm ấy. Cora trèo lên nơi ẩn náu cùng khẩu phần ăn mới cùng chiếc bô sạch.

Thói quen hằng ngày của cô nhanh chóng hình thành. Nếu ở trong một hoàn cảnh khác, nó đã không buộc phải hình thành nhanh chóng đến thế. Sau khi đầu cô va phải mái nhà hơn chục lần, cơ thể cô ghi nhớ giới hạn di chuyển. Cora ngủ, rúc vào giữa những thanh xà như ở trong khoang thuyền chật hẹp. Cô quan sát cái công viên ấy. Cô đọc sách, tận dụng nền giáo dục bị rút ngắn ở Nam Carolina, nhìn trong nguồn ánh sáng lờ mờ lọt vào từ cái lỗ. Cô tự hỏi tại sao chỉ có hai kiểu thời tiết: khắc nghiệt vào buổi sáng và ảo não vào ban đêm.

Thứ Sáu nào thành phố cũng tổ chức lễ hội và Cora lùi vào góc xa của cái ngách.

Trong hầu hết các ngày, ở đó nóng không thể chịu nổi. Vào những lúc khó chịu nhất cô phải mò ra trước cái lỗ ngớp ngớp như một con cá trong xô. Thỉnh thoảng cô quên không chia khẩu phần nước, uống ừng ực vào buổi sáng để rồi suốt thời gian còn lại trong ngày nhìn hau háu cái đài phun nước ở công viên. Con chó đáng ghét nhảy cỡn lên giữa màn mưa từ đài phun nước. Khi cái nóng khiến cô ngất xỉu, cô tỉnh dậy và đập đầu vào xà nhà, cổ cô có cảm giác như cổ của con gà sau khi bị Alice, mụ đầu bếp ở đồn điền, cố vặn để làm bữa tối. Chút thịt cô đắp được lên xương mình ở Nam Carolina đã tiêu biến. Chủ nhà mang cho cô chiếc váy mà con gái ông thải ra để thay cho chiếc váy bẩn. Jane gầy đét, vậy mà Cora mặc đồ của cô ấy còn rộng.

Gần nửa đêm, sau khi mọi ngọn đèn trong những ngôi nhà quay mặt ra công viên đều đã tắt và Fiona đã về nhà cô ta từ lâu, Martin mang thức ăn lên cho Cora. Cora trèo xuống sàn của tầng áp mái, duỗi chân tay và thở bầu không khí khác. Họ nói chuyện một lát, rồi đến một lúc nào đó Martin đứng yên với vẻ mặt nghiêm trang còn Cora trèo trở lại xó ẩn nấp chật hẹp. Cứ vài ngày Ethel lại cho phép Martin để cô xuống phòng tắm trong chốc lát. Cora luôn buồn ngủ sau khi Martin lên thăm cô, đôi khi cô ngủ sau một trận khóc thổn thức, đôi khi cô chìm vào giấc ngủ nhanh như thể cô là một ngọn nến bị thổi tắt phụt. Cô trở lại với những cơn ác mộng đầy bạo lực.

Cô lần theo những bóng người quen thuộc qua lối đi của họ trong công viên, thu gom các dấu hiệu và suy đoán như sưu tập dữ liệu cho bộ niên lịch của mình. Martin cất những tờ báo và cuốn sách tuyên truyền cho phong trào bãi nô trên cái ngách đó. Chúng là một mối hiểm họa; Ethel muốn tống khứ chúng, nhưng đó là sách báo của bố Martin và đã tồn tại trong nhà này trước cả họ, vậy nên Martin nghĩ rằng họ có thể phủ nhận quyền sở hữu. Khi Cora lượm lặt được những gì cô có thể từ đống sách tuyên truyền đã ngả vàng, cô bắt đầu đọc những cuốn niên lịch cũ, với những dự đoán và suy ngẫm về thủy triều và tinh tú, cùng vài nhận xét mơ hồ. Martin mang lên cho cô một cuốn Kinh Thánh. Trong một lần leo xuống tầng áp mái, cô nhìn thấy cuốn Người Mohican cuối cùng bị thấm nước, cong queo và phồng lên. Cô rúc vào sát cái lỗ để lấy ánh sáng, và buổi tối cô ngồi cúi gập bên ngọn nến đọc nó.

Lần nào Martin lên thăm cô, Cora cũng mở đầu bằng câu hỏi: “Ông có tin tức gì không?"

Sau vài tháng, cô thôi không hỏi câu đó nữa.

Tuyến hỏa xa ngầm bặt vô âm tín. Các báo in phóng sự về những ga tàu bị đột kích và các trưởng ga bị trừng phạt, nhưng đó chỉ là chuyện phiếm thường gặp ở các bang có chế độ nô lệ. Trước đây, những người lạ gõ cửa nhà Martin để truyền tin về các tuyến đường và mỗi lần đều báo tin về một hành khách đã được xác nhận. Chưa bao giờ có một người đến hai lần. Martin nói, lầu rồi không ai đến. Ông tin rằng chẳng có gì cho ông làm với tuyến hỏa xa ngầm nữa.

“Ông sẽ không để tôi đi”, Cora nói.

Câu trả lời của ông là một lời thì thầm: “Tình hình rất dễ hiểu”. Ông nói đó là một cái bẫy hoàn hảo đối với tất cả mọi người. “Cô sẽ không nhận ra nó đâu. Họ sẽ bắt cô. Sau đó cô sẽ khai ra chúng tôi”.

“Ở đồn điền Randall, khi họ muốn ông bị xích thì họ sẽ xích ông lại”.

“Cô sẽ đẩy tất cả chúng ta đến chỗ chết”, Martin nói. “Cô, tôi, Ethel và tất cả những ai đã giúp cô, tất cả”.

Ừ thì bỗng dưng cô không công bằng đấy nhưng cô không quan tâm lắm, Cora cảm thấy mình thật ương bướng. Martin đưa cho cô tờ nhật báo của ngày hôm đó rồi kéo cánh cửa lật.

Bất cứ tiếng động nào do Fiona cũng đều khiến cô bất động. Cô chỉ không thể hình dung nổi cô gái Ireland đó trông thế nào. Thỉnh thoảng Fiona kéo lê những đồ tạp nham không dùng được nữa lên phòng áp mái. Cái cầu thang ca thán trước sức ép nhẹ nhất, một cách báo động hiệu quả. Khi cô gái giúp việc đi xuống nhà, Cora trở lại với những hoạt động nho nhỏ của mình. Những câu nói thô tục của cô ta khiến Cora nhớ tới đồn điền và hàng tràng lời nguyền rủa mà đám người lao động thổ ra khi ông chủ không để ý. Đâu đâu cũng có những cuộc nổi loạn nho nhỏ của các đầy tớ. Cô cho rằng Fiona là kẻ ăn cháo đá bát.

Cô gái giúp việc không bao giờ đi sang công viên. Cora chưa bao giờ nhìn thấy mặt cô ta - thậm chí khi cô đã trở thành nhà nghiên cứu tiếng thở dài của cô gái đó. Cora hình dung Fiona: thích cãi cọ và kiên quyết ra trò, đã sống sót qua nạn đói cũng như thời kỳ tái thiết đầy khó khăn. Martin kể rằng cô ta đến Mỹ bằng tàu thủy cùng mẹ và em trai. Người mẹ mắc bệnh phổi qua đời sau khi đặt chân lên bờ một ngày. Cậu em trai còn quá nhỏ, không thể lao động và rất ốm yếu; cậu ta hầu như được các mệnh phụ lớn tuổi người Ireland cưu mang. Phố Ireland cũng giống như khu phố của người da màu ở Nam Carolina chăng? Mỗi con phố là một thế giới khác, cách nói năng của con người ta khác, tầng lớp, gốc gác và giấc mơ của những người sống ở đó cũng khác.

Vài tháng nữa là tới vụ thu hoạch. Ở ngoại ô, trên những cánh đồng, bông sẽ nổ lốp bốp thành những quả nang và dồn vào các bao tải, và lần này sẽ được những bàn tay của người da trắng hái. Có phiền không khi người Ireland và người Đức lại đi làm cái công việc của “mọi đen”, liệu tiền công có đủ xóa bỏ ô danh? Người da trắng không một xu dính túi tiếp quản những hàng bông từ người da đen nghèo kiết xác, chỉ khác là vào cuối tuần người da trắng còn được chút tiền. Không giống những người anh em da đen của mình, họ có thể thanh toán các hợp đồng bằng đồng lương nọ và bắt đầu một chương mới.

Ở đồn điền Randall, Jockey từng nói về chuyện những kẻ buôn nô lệ cần tiến sâu hơn vào châu Phi như thế nào để tìm bầy nô lệ mới, bắt cóc hết bộ lạc này đến bộ lạc khác mà nạp cho ngành sản xuất bông, làm cho các đồn điền trở thành thế giới đa ngôn ngữ và thị tộc. Cora nghĩ rằng một làn sóng mới những người nhập cư sẽ thay thế người Ireland, chạy trốn đến một nước khác nhưng không kém phần khốn khổ, quá trình đó lại bắt đầu. Guồng máy đó cứ nạt nộ, gầm gừ và hoạt động không ngừng. Họ chỉ thay đổi nguồn nhiên liệu khiến các pít-tông chuyển động mà thôi.

Những bức tường dốc của nhà tù này là tấm phông cho những câu hỏi không lành mạnh của cô, đặc biệt trong khoảng thời gian từ lúc mặt trời lặn đến khi Martin ghé thăm vào đêm khuya. Khi Caesar tới tìm cô để rủ cô bỏ trốn, cô đã hình dung ra hai kết quả: một cuộc sống đủ để hài lòng ở một thành phố miền bắc nhờ nỗ lực vô cùng, hoặc cái chết. Terrance sẽ không thỏa mãn nếu chỉ trừng phạt cô vì tội bỏ trốn; lão ta sẽ làm cho cuộc sống của cô trở thành địa ngục tới khi nào lão chán, sau đó sẽ khiến cái chết của cô trở thành cuộc triển lãm đẫm máu.

Trong những tuần đầu tiên ở phòng áp mái, hình dung của cô về miền bắc là bức phác họa dung dị. Những hình ảnh thoáng qua về lũ trẻ trong một căn bếp sáng sủa - luôn là một bé trai và một bé gái - cùng người chồng ở phòng bên, không thấy mặt nhưng đầy tình yêu thương. Thế rồi ngày lại ngày trôi qua những căn phòng khác tỏa ra từ căn bếp. Một phòng khách với đồ nội thất giản dị nhưng thể hiện gu thẩm mỹ, những thứ cô từng nhìn thấy trong cửa hàng của người da trắng ở Nam Carolina. Một phòng ngủ. Chiếc giường ngủ được phủ ga trắng tinh lấp lánh trong nắng, những đứa con của cô lăn trên đó cùng cô, nửa người của chồng hiện ra gần mép giường. Trong một ảo cảnh khác, nhiều năm kể từ đây, Cora bước đi trên đường phố nhộn nhịp ở thành phố mà cô đang sống và tình cờ gặp mẹ cô. Đi ăn mày vì khốn cùng, một bà già ốm yếu còng rạp vì toàn bộ lầm lỗi của bà. Mabel ngẩng lên nhìn nhưng không nhận ra con gái. Cora đá cái cốc ăn xin của bà ta đi, mấy đồng tiền xu bay tung tóe, rồi cô tiếp tục đi mua bột để làm bánh sinh nhật cho con trai mình.

Thế rồi đến cảnh Caesar thỉnh thoảng qua ăn tối, và họ cười buồn khi nhắc về đồn điền Randall cùng biết bao chông gai trong cuộc bỏ trốn, nhưng rốt cục tự do đã đến. Caesar kể cho bọn trẻ nghe do đâu anh có vết sẹo nơi lông mày, vừa kể vừa dùng ngón tay miết lên vết sẹo: Anh bị một kẻ săn nô lệ tóm được ở Bắc Carolina nhưng rồi được thả tự do.

Cora hiếm khi nghĩ đến cậu trai mà cô đã giết. Cô không cần biện hộ cho hành động của mình trong rừng đêm hôm đó; không ai có quyền bắt cô phải chịu trách nhiệm cả. Terrance Randall là hình mẫu để một bộ óc có thể hình dung ra hệ thống mới của Bắc Carolina, nhưng mức độ bạo lực thì cô khó mà mường tượng nổi. Thậm chí hơn cả vì tiền bạc do cây bông mang lại, nỗi sợ hãi đã dẫn dắt những con người đó. Cái bóng của bàn tay đen sẽ trả lại những gì nó nhận. Một đêm Cora chợt nghĩ rằng cô là một con quái vật đầy căm thù mà bọn chúng khiếp sợ: Cô đã giết một cậu bé da trắng. Tiếp đến cô có thể kết liễu một kẻ trong số bọn chúng. Vì nỗi sợ đó, bọn chúng dựng lên cả một giàn áp bức trên cái nền tàn bạo hình thành từ hàng trăm năm trước. Nô lệ đã gieo giống bông Sea Island cho các hàng bông của lão ta, nhưng nằm rải rác giữa các hạt bông là hạt giống của bạo lực và chết chóc, và mùa vụ đó phát triển rất nhanh. Người da trắng khiếp sợ cũng phải thôi. Một ngày nào đó hệ thống này sẽ sụp đổ trong biển máu.

Nhất tề nổi dậy. Cô mỉm cười trong phút chốc, trước khi thực tế của cái nhà tù mới nhất giam giữ cô lên tiếng. Cô quờ quạng bên trong bốn bức tường như một con chuột. Trên những cánh đồng, dưới lòng đất hay trong phòng áp mái, nước Mỹ vẫn là cai ngục của cô.

Đó là một tuần trước ngày Hạ chí. Martin nhồi một chiếc chăn cũ vào cái ghế không có mặt ghế và ngồi lún dần vào đó mỗi lần ông ghé thăm Cora. Đã thành thói quen, Cora nhờ ông giải thích cho cô nghe các từ ngữ. Lần này là những từ trong Kinh Thánh mà nhờ chúng cô có tiến bộ rời rạc: chối cãi, khát thèm, cổ kính [18] . Martin thú thật rằng ông không biết nghĩa của các từ chối cãi khát thèm. Sau đó, như thể chuẩn bị cho thử thách mới, Martin ôn lại những điềm xấu.

Điềm xấu đầu tiên xảy ra vào tuần trước khi Cora làm cái bô đổ lộn phộc. Cô đã ở trên cái ngách ấy bốn tháng và trước đó từng gây tiếng động, hoặc đập đầu vào mái nhà hoặc va đầu gối vào xà nhà. Những lần đó Fiona không phản ứng gì. Lần này khi Cora đá cái bô vào tường, Fiona đang đi lại trong bếp. Một khi Fiona lên gác chắc chắn cô ta không thể không nhận thấy nước tiểu đang chảy nhỏ giọt giữa các tấm ván xuống tầng áp mái, rồi thì mùi khai nữa.

Còi báo hiệu mười hai giờ trưa vừa vang lên. Ethel đi vắng. May thay, một cô gái khác từ khu phố của người Ireland qua chơi sau bữa trưa, hai cô tán chuyện với nhau trong phòng khách lâu đến nỗi sau đó Fiona phải vội vã làm cho xong các việc mình. Cô ta hoặc không để ý đến mùi khai hoặc vờ như không ngửi thấy, né tránh việc dọn dẹp bất cứ ổ chuột nào ở trên đó. Đêm hôm ấy khi Martin lên phòng áp mái và họ lau dọn, ông nói với Cora rằng tốt nhất ông không để Ethel biết chuyện thoát chết trong gang tấc đó. Trong thời tiết có độ ẩm tăng thế này dây thần kinh của bà dễ bị kích động lắm.

Nói cho Ethel biết hay không, việc ấy tùy thuộc vào Martin. Từ sau cái đêm cô đến đây, cô chưa nhìn thấy bà. Theo như cô biết, bà chủ nhà không nhắc đến cô - ngay cả khi Fiona không có ở đó - ngoài một số lần hiếm hoi bà nhắc tới “người ấy”. Tiếng đóng sập cánh cửa phòng ngủ thường báo trước Martin sẽ lên gác thăm cô. Cora nghĩ điều duy nhất khiến Ethel không giao nộp cô là vì bà sợ bị xử tội đồng lõa.

“Ethel là một người đơn giản”, Martin nói, ngồi lún sâu trong chiếc ghế. “Khi tôi bảo bà ấy giúp, bà ấy không lường trước được những rắc rối này”.

Cora biết Martin sắp kể chuyện ông tình cờ trở thành người của tuyến hỏa xa ngầm, và như thế nghĩa là Cora sẽ có thêm thời gian ở bên ngoài cái ngách. Cô duỗi chân tay và khích lệ ông: “Làm thế nào ông có thể, Martin!”.

“Lạy Chúa, làm thế nào tôi có thể”, Martin đáp.

Ông là một công cụ ít ai nghĩ tới của phong trào bãi nô. Trong ký ức của Martin, cha ông, ông cụ Donald chưa bao giờ bày tỏ ý kiến về chế độ đặc thù này, mặc dù gia đình họ nằm trong số những gia đình hiếm hoi không sở hữu nô lệ. Khi Martin còn nhỏ, người giúp việc ở cửa hàng thức ăn gia súc của gia đình là một người đàn ông nhăn nheo, lòng khòng tên là Jericho, đã được giải phóng từ nhiều năm trước. Năm nào cũng vậy, cứ vào Lễ Tạ ơn Jericho lại mang đến một hộp củ cải nghiền trong nỗi ngạc nhiên của mẹ ông. Donald cằn nhằn, tỏ thái độ bất tán thành hoặc lắc đầu trước những bài báo đưa tin về các vụ xô xát mới nhất xảy ra đối với người nô lệ, nhưng không rõ ông phán xét thói tàn bạo của chủ nô hay thói cứng đầu của nô lệ.

Mười tám tuổi Martin rời khỏi Bắc Carolina và sau một thời gian lang thang trong cô độc, ông xin được chân kế toán ở một văn phòng tàu biển tại Norfolk. Công việc lặng lẽ và không khí biển hợp với ông. Ông trở nên thích món hàu và thể tạng của ông nói chung được cải thiện. Một ngày nọ, khuôn mặt của Ethel xuất hiện giữa đám đông, tỏa sáng. Gia đình Delany đã gắn bó lâu đời với vùng đất này, xén tỉa cây phả hệ theo dáng không cân đối: ở phía Bắc thì xum xuê và đong đầy anh chị em họ, ở phía Nam thì lưa thưa và chẳng có gì nổi bật. Martin hiếm khi thăm cha mình. Tính cho đến ngày Donald bị ngã trong lúc sửa mái nhà, Martin vắng nhà đã năm năm.

Cánh đàn ông trong gia đình đó không bao giờ có thể trò chuyện với nhau một cách dễ dàng. Trước khi mẹ của Martin qua đời, phận sự của bà là dịch những hình ê-líp tay và tiếng thều thào tạo thành cuộc trò chuyện giữa người cha và con trai. Trong giờ phút lâm chung của ông cụ Donald, không có người phiên dịch ở đó. Ông bắt Martin phải hứa hoàn thành việc ông bỏ lại, và người con trai cho rằng ông bố muốn mình tiếp quản cửa hàng thức ăn gia súc. Đó là hiểu lẩm thứ nhất. Hiểu lầm thứ hai của Martin là dùng tấm bản đồ mà ông phát hiện được trong đống giấy tờ của cha để xác định chỗ giấu vàng. Sinh thời, Donald tạo ra cho bản thân một ấn tượng trầm lặng bao trùm - tùy thuộc vào người quan sát, nó báo hiệu bản tính yếu ớt hoặc bí ẩn. Martin cứ nghĩ cha của ông xử sự như một người nghèo túng trong khi lại giấu giếm của cải.

Kho báu, tất nhiên là tuyến hỏa xa ngầm. Một số người có thể gọi tự do là thứ của cải quý giá nhất, nhưng đó đâu phải điều Martin mong đợi. Cuốn nhật ký của Donald - được để trên một cái thùng tròn trên thềm ga và được những viên đá màu vây quanh tựa điện thờ - miêu tả cảm giác ghê tởm của ông khi đất nước ông đối xử với bộ lạc người Ethiopia. Chế độ chiếm hữu nô lệ là sự lăng nhục Chúa, và những kẻ buôn bán nô lệ là hiện thân của quỷ Sa-tăng. Donald đã cứu giúp nô lệ trong suốt cuộc đời mình, bất cứ khi nào có thể và bằng bất cứ cách nào. Từ khi còn nhỏ ông đã đánh lạc hướng lũ săn nô lệ, những kẻ đã quấy rầy ông vì một nô lệ bỏ trốn.

Trong thời thơ ấu của Martin, nhiều chuyến đi làm ăn của Donald thực chất là nhiệm vụ của người theo chủ nghĩa bãi nô. Các cuộc họp bàn vào lúc nửa đêm, những cuộc tranh cãi bên bờ sông, những mưu tính ở giao lộ. Thật mỉa mai là, dù chẳng thể giao tiếp trôi chảy, Donald lại hoạt động như một máy điện báo bằng người sống, truyền tin qua lại khắp miền duyên hải. Tuyến hỏa xa ngầm - U.G.R.R [19] (như ông ám chỉ trong nhật ký) - không có nhánh hoặc ga nào ở Bắc Carolina cho tới khi Donald thực hiện sứ mệnh của ông. Ai cũng nói làm việc này sâu trong khu vực miền nam chẳng khác gì tự sát. Ông làm thêm cái ngách trên tầng áp mái, và nếu cái trần giả có những mối ghép thì công việc của ông kết thúc lâu rồi. Trước khi tấm ván lợp lung lay làm hại ông, Donald đã đưa được hơn chục người nô lệ sang các bang tự do.

Martin giúp được ít nô lệ hơn thế nhiều. Cả ông và Cora đều quyết định rằng bản tính dễ bị kích động của ông không giúp được họ trong tình huống hú hồn xảy ra vào tối hôm trước, khi mà trong một điềm xấu nữa, lũ kiểm soát viên gõ cửa nhà ông.

Lúc đó trời đã tối và công viên đầy những người sợ về nhà. Cora tự hỏi điều gì đang chờ đợi họ ở nhà để đến nỗi họ chủ tâm nán lại đó, vẫn những con người ấy hết tuần này sang tuần khác. Người đàn ông với dáng đi nhanh nhẹn ngồi ở mép đài phun nước, thọc ngón tay vào đám tóc lưa thưa của mình. Người đàn bà hông nở trông nhếch nhác lúc nào cũng đội chiếc mũ đen có dây buộc dưới cằm và lẩm bẩm một mình. Họ không ở đây để hít thở không khí buổi tối hoặc để kiếm một nụ hôn lén lút. Những người này ngồi sụp xuống, nhìn hướng này hướng kia, không bao giờ nhìn về phía trước. Cứ như để tránh ánh nhìn của các linh hồn; những người quá cố đã xây dựng lên thành phố của họ. Những người lao động da màu đã xây dựng mọi ngôi nhà quanh công viên, lát những viên đá của đài phun nước và của các lối đi. Họ đã quai búa dựng lên cái sân khấu nơi đám tuần đêm trình diễn những màn gớm ghiếc và cái bục có bánh xe thì đưa những người đàn ông, đàn bà bị kết tội lên không trung. Thứ duy nhất người da màu không xây dựng là cây cổ thụ đó. Chúa đã tạo ra nó để thành phố này nghiêng về phía quỷ dữ.

Cora nghĩ khi cô áp trán vào vách gỗ, hèn gì những người da trắng kia cứ lang thang trong công viên khi đêm tối đang kéo đến. Chính họ là ma, bị kẹt giữa hai thế giới: thế giới thực tại với tội ác của chính họ và thế giới bên kia - nơi đã chối bỏ họ vì những tội ác đó.

Nhờ lớp sóng người di chuyển trong công viên, Cora biết được những đợt tuần tiễu của đám tuần tra. Đám đông buổi tối trố mắt nhìn một ngôi nhà ở phía đối diện. Một cô gái trẻ buộc tóc đuôi ngựa để cho bộ ba kiểm soát viên vào trong nhà cô ta. Cora nhớ cha của cô gái từng vấp ngã vì các bậc hiên. Đã nhiều tuần qua cô không nhìn thấy ông ấy. Cô gái túm chặt mép áo choàng quanh cổ và đóng cửa lại sau lưng họ. Hai viên tuần tra có dáng người cao, cân đối, đi vơ vẩn trong hiên hút tẩu, thong thả khoan khoái.

Nửa giờ sau cánh cửa bật mở và đội tuần tra túm tụm lại trên lối đi trong vùng sáng của chiếc đèn xách, tra cứu gì đó từ một cuốn sổ. Chúng đi qua công viên, và cuối cùng bước khỏi tầm quan sát từ cái lỗ của cô. Cora nhắm mắt lại khi tiếng gõ cửa gấp gáp khiến cô sững cả người. Chúng đang ở ngay dưới nhà.

Những phút tiếp theo trôi đi chậm chạp đáng sợ. Cora nằm co ở một góc, cố thu mình lại thật nhỏ phía sau thanh xà cuối cùng. Những tiếng động cho biết các hoạt động dưới nhà. Ethel hồ hởi đón toán tuần đêm; bất cứ ai biết bà đều dám chắc bà đang giấu giếm điều gì đó. Martin đi một vòng thật nhanh qua phòng áp mái để bảo đảm rằng không có gì sơ sót, rồi xuống với đám người đang ở dưới nhà.

Martin và Ethel trả lời các câu hỏi mà không hề ngập ngừng trong lúc dẫn nhóm tuần tra đi quanh nhà. Chỉ có hai vợ chồng họ ở đây. Con gái họ sống ở chỗ khác. (Đám tuần tra kiểm tra căn bếp và phòng khách.) Cô giúp việc Fiona có chìa khóa nhà nhưng không một ai khác có thể vào nhà này được. (Lên cầu thang.) Lâu rồi chẳng có người lạ nào ghé thăm nhà họ, họ không nghe thấy tiếng động lạ nào, cũng không để ý thấy điều gì bất thường. (Chúng kiểm tra hai phòng ngủ.) Chẳng bỏ sót điều gì. Nhà không có tầng hầm - chắc chắn chúng thừa biết nhà ở gần công viên không có tầng hầm. Trưa hôm đó Martin đã lên phòng áp mái và không thấy gì sơ suất.

“Chúng tôi lên trên kia được chứ hả?” Một giọng nói vang lên, cộc cằn và ầm ĩ. Cora đoán đó là giọng của gã tuần tra viên có dáng người thấp hơn, và để râu.

Tiếng bước chân của bọn chúng nện thình thịch trên bậc cầu thang dẫn lên phòng áp mái. Chúng đi quanh đống đồ bỏ đi. Một người trong số họ khiến Cora giật mình - đầu ông ta chỉ cách chỗ cô vài phân. Cô nín thở. Chúng là những con cá mập lưa lưa cái mõm phía dưới một con tàu, đánh hơi miếng mồi mà chúng cảm thấy đang ở rất gần. Kẻ đi săn và con mồi chỉ cách nhau vài tấm ván mỏng.

“Từ khi chuột bọ làm tổ ở đây, chúng tôi không lên trên này nhiều”, Martin nói.

“Ông có thể ngửi thấy mùi hôi của chúng”, tên tuần tra kia nói.

Đám tuần tra rời khỏi đó. Martin thôi lên thăm phòng áp mái lúc nửa đêm, sợ rằng họ có nguy cơ rơi vào một cái bẫy tinh vi. Cora, trong bóng tối, dễ chịu vỗ nhẹ lên bức tường vững chãi: nó bảo vệ an toàn cho cô.

Họ đã sống sót qua vụ cái bô đổ và cuộc lùng sục của nhóm tuần tra đêm. Điềm xấu cuối cùng của Martin xảy ra vào sáng ngày hôm đó: Đám đông quá khích treo cổ một cặp vợ chồng dám che giấu mấy cậu bé da màu trong buồng kho nhà họ. Chính con gái họ đã tố cáo cha mẹ, bởi nó ghen tức khi họ quan tâm tới lũ trẻ khác. Dù còn nhỏ, mấy cậu bé da màu vẫn phải gia nhập cuộc trưng bày trên đường Tự Do. Một người hàng xóm của Ethel kể cho bà nghe chuyện đó ở ngoài chợ và Ethel ngất xỉu, ngã vào dãy hàng đồ khô.

Đám tuần tra tăng cường lục soát nhà riêng. “Chúng đã vây bắt người thành công đến nỗi giờ đây chúng phải cố gắng đạt chỉ tiêu”, Martin nói.

Cora đưa ra ý kiến rằng nhà của Martin đã bị kiểm tra rồi, như vậy cũng tốt - chắc phải một thời gian nữa chúng mới quay lại. Như vậy nghĩa là có thêm thời gian để tuyến hỏa xa vươn ra, hoặc một cơ hội nữa xuất hiện.

Martin luôn bồn chồn khi Cora nêu ý kiến. Ông cầm một trong những món đồ chơi của ông hồi nhỏ trong tay, một con vịt bằng gỗ. Mấy tháng gần đây ông cứ day đi day lại lớp sơn trên món đồ chơi ấy. “Hoặc như thế nghĩa là việc đi lại sẽ khó khăn gấp đôi”, ông nói. “Mấy gã trai đó đang thèm muốn một vật kỷ niệm”. Khuôn mặt ông bỗng sáng lên. “Khát thèm [20] - tôi nghĩ từ đó có nghĩa là ‘cực kì thèm muốn’”.

Cả ngày hôm đó Cora cảm thấy khó ở. Cô chúc Martin ngủ ngon rồi trèo lên cái trần giả. Trong tất cả những lần thoát chết trong gang tấc, cô đều ở đúng chỗ mà cô đã ở trong nhiều tháng trời: yên lặng. Kể từ khi bỏ trốn, giữa những lần đi và đến, cô luôn như một hành khách quá cảnh. Khi gió nổi lên cô sẽ lại rời đi, nhưng bây giờ chỉ có khoảng không và biển mênh mông.

Cora nghĩ, thế giới này là gì mà biến một nhà tù sống thành nơi ẩn náu duy nhất của mi thế này. Cô đã thoát khỏi chế độ nô lệ hay vẫn ở trong mạng nhện bùng nhùng của nó: biết miêu tả tình cảnh này của một nô lệ bỏ trốn ra sao đây? Tự do là điều sẽ thay đổi khi bạn nhìn vào nó, cũng giống một khu rừng, rậm rạp cây cối, nhưng nhìn từ bên ngoài, từ một đồng cỏ trống trải, ta sẽ thấy những giới hạn thực sự. Tự do chẳng liên quan gì dến xiềng xích hoặc không gian mà ta có. Ở đồn điền, cô không được tự do, nhưng cô không bị hạn chế khi di chuyển trên diện tích đó, hít thở không khí và tìm thấy những vì sao mùa hè. Nơi ấy rộng lớn trong sự nhỏ bé. Ở đây, cô tự do, không thuộc về một chủ nô nào, nhưng chỉ quanh quẩn trong cái xó chật hẹp đến mức không thể đứng dậy.

Nhiều tháng trời Cora không ra khỏi tầng áp mái của ngôi nhà nhưng viễn cảnh trong đầu cô trải rộng. Bắc Carolina có Đồi Công Lý của nó thì cô cũng có Đồi Công Lý của cô. Nhìn xuống vạn vật của công viên, cô thấy thành phố trôi dạt tới đâu nó muốn, được ánh mặt trời gội rửa trên một chiếc ghế đá, được làm mát dưới bóng râm của cái cây treo cổ. Nhưng dân cư ở đây cũng là tù nhân như cô, bị nỗi sợ hãi cùm chặt. Martin và Ethel sợ những con mắt cảnh giác phía sau mỗi ô cửa sổ tối. Mỗi tối thứ Sáu dân thành phố tập trung lại trong niềm hi vọng số đông bọn họ sẽ ngăn ngừa được những chuyện trong đêm tối: bộ lạc da đen nổi dậy; kẻ thù của họ bịa tạc những lời buộc tội họ; đứa con trả thù ngoạn mục vì bị cha mẹ rầy la và khiến đám đông vỗ tay nhiệt tình. Tốt hơn nên ẩn trong căn phòng áp mái thay vì đương đầu với những gì núp sau khuôn mặt của hàng xóm, bè bạn và gia đình.

Cái công viên ấy khiến họ tiếp tục tồn tại, nơi ẩn náu xanh tươi mà họ bảo tồn khi thành phố mở rộng ra hết tòa nhà này đến tòa nhà khác, hết ngôi nhà này đến ngôi nhà khác. Cora nghĩ tới mảnh vườn bé tí ở Randall, miếng đất cô coi như kho báu. Giờ đây cô coi nó như một trò đùa - một vuông đất nhỏ xíu đã khiến cô tin mình sở hữu một thứ gì đó. Nó là của cô, cũng giống như bông cô đã trồng, đã nhặt cỏ, đã hái là của cô. Miếng đất của cô là bóng của vật gì đó đang sống ở nơi khác, ngoài tầm nhìn. Tiếng Michael đọc Tuyên Ngôn Độc Lập là tiếng vọng của điều gì đó tồn tại ở nơi khác. Giờ đây cô đã bỏ trốn và thấy được một phần nhỏ của đất nước này, Cora không chắc bản tuyên ngôn ấy miêu tả một điều có thực. Nước Mỹ là một con ma trong bóng tối, giống như cô.

Đêm hôm đó cô đổ bệnh. Những cơn đau co thắt ở bụng làm cô tỉnh giấc. Trong cơn chóng mặt, cô thấy cái ngách chao đảo, chòng chành. Trong không gian nhỏ hẹp, cô nôn thốc nôn tháo và không kiểm soát được hoạt động bài tiết. Hơi nóng vây bủa gian phòng áp mái nhỏ xíu, đốt nóng không khí và ruột gan cô. Không biết bằng cách nào mà cô chịu đựng được đến tận sáng. Công viên vẫn ở đó; trong đêm cô mơ mình đang trên biển, bị xích dưới hầm tàu. Bên cạnh cô là một người bị bắt cóc khác, và một người khác nữa, hàng trăm người kêu khóc trong sợ hãi. Con tàu chồm lên ngọn của những cơn sóng cồn, lao xuống và đập mạnh vào những cái đe của nước. Cô nghe thấy tiếng bước chân trên cầu thang, tiếng cánh cửa được lật ra, và cô nhắm mắt lại.

Cora tỉnh dậy trong một căn phòng màu trắng, một tấm nệm êm đỡ lấy người cô. Ô cửa sổ mang đến nhiều hơn là một lỗ thủng chỉ đủ cho đôi chút ánh sáng bủn xỉn. Âm thanh của công viên tựa chiếc đồng hồ: đã xế trưa.

Ethel ngồi bên góc chiếc giường thuở nhỏ của chồng bà. Đồ đan len chất đống trong lòng bà, và bà nhìn Cora đăm đăm. Bà sờ trán của bệnh nhân mà bà đang chăm sóc. “Khá hơn rồi”, Ethel nói. Bà rót một ly nước rồi mang vào một tô nước thịt bò hầm.

Thái độ của Ethel đã dịu đi trong thời gian Cora mê sảng. Cô nô lệ bỏ trốn kêu rên suốt đêm và ốm nặng đến mức khi chủ nhà đưa cô từ cái ngách trên tầng áp mái xuống, họ buộc phải cho Fiona nghỉ việc vài ngày. Họ nói với cô gái Ireland rằng Martin bị bệnh đậu mùa Venezuela, nhiễm từ một túi thức ăn gia súc hỏng, và bác sĩ cấm bất cứ ai vào nhà cho tới khi bệnh dứt. Ông đọc được thông tin phải cách ly người bị bệnh đậu mùa trên một tạp chí, cái cớ đầu tiên xuất hiện trong đầu ông. Họ trả tiền công tuần đó cho cô gái. Fiona đút tiền vào ví, không hỏi gì thêm.

Đến lượt Martin vắng nhà trong khi Ethel đảm nhận trách nhiệm chăm sóc Cora trong suốt hai ngày cô sốt mê man và lên cơn co giật. Trong thời gian sống ở bang này vợ chồng họ chỉ kết bạn với vài người, vì vậy có thể dễ dàng cách ly với đời sống xung quanh. Trong khi Cora vật vã vì cơn mê sảng, Ethel đọc Kinh Thánh để cô mau phục hồi. Giọng của người phụ nữ đó lạc vào những giấc mơ của Cora. Trong đêm Cora từ hầm mỏ ra, giọng nói ấy sao mà lạnh lùng, song giờ đây đã chứa đựng âm sắc ân cần. Cô mơ thấy bà hôn lên trán mình như người mẹ. Cô lắng nghe những câu chuyện bà đọc, và để mặc mình trôi theo chúng. Chiếc thuyền lớn chở những người xứng đáng vượt khỏi tai ương. Trải qua bốn mươi năm trong hoang mạc, hậu duệ của những người ấy mới tìm thấy miền đất hứa [21] .

Buổi chiều làm bóng cây đổ dài như kẹo bơ và khi giờ ăn tối đã đến công viên thưa người hơn. Ethel ngồi trên chiếc ghế chao mỉm cười, đọc lướt qua cuốn Kinh Thánh, cố tìm một đoạn thích hợp.

Đã tỉnh táo và nói được, Cora bảo với bà chủ nhà rằng cô không cần nghe những đoạn Kinh Thánh nữa.

Miệng của Ethel mím lại. Bà gấp sách, một ngón tay gầy của bà giữ trang sách để đánh dấu. “Tất cả chúng ta đều cần ân huệ của Đấng Cứu Thế”, Ethel nói. “Tôi sẽ chẳng phải là tín đồ Cơ Đốc cho lắm nếu cứ để người ngoại đạo vào nhà mà không chia sẻ lời của Chúa”.

“Nó đã được chia sẻ rồi, bà ạ”, Cora đáp.

Đó chính là cuốn Kinh Thánh thời thơ ấu của Ethel mà Martin đã đưa cho Cora, cuốn sách còn in những vết bẩn từ ngón tay của bà. Ethel nhìn Cora chòng chọc, không chắc vị khách có thể đọc và hiểu được bao nhiêu. Cora không phải là một người sùng đạo bẩm sinh, nền giáo dục của cô đã kết thúc sớm hơn cô mong muốn. Trên phòng áp mái cô đánh vật với các từ, cố gắng đọc tiếp, và đọc đi đọc lại những đoạn khó. Những tình huống mâu thuẫn khiến cô bực mình, ngay cả những chi tiết cô chỉ hiểu được một nửa.

“Cháu không hiểu sách nói: ‘Kẻ nào bắt người đem bán, hoặc giam cầm trong tay mình, sẽ bị xử tử’. Nhưng sau đó lại nói: ‘Nô lệ nên phục tùng chủ nhân trong mọi chuyện - và nên vui lòng mà làm”’. Giữ người khác như tài sản là tội lỗi hay là may mắn được Chúa Trời ban. Đã thế lại còn vui lòng mà phục tùng ư? Chắc hẳn một nô lệ đã lén lút vào nơi in sách và đưa câu này vào sách.

“Nghĩa đúng như thế đấy”, Ethel đáp. “Một người Do Thái không được phép nô dịch hóa một người Do Thái. Nhưng các con trai của Ham không thuộc chủng tộc đó. Vì nước da đen và có đuôi nên họ bị nguyền rủa. Những đoạn Kinh Thánh lên án chế độ chiếm hữu nô lệ thì không có ý nhắc tới nô lệ da đen đâu”.

“Cháu có nước da đen, nhưng cháu không có đuôi. Theo cháu biết - cháu chưa bao giờ nghĩ rằng chiếm hữu nô lệ là sự nguyền rủa cả, dù đó là sự thật”. Chế độ chiếm hữu nô lệ là tội lỗi chỉ khi đặt ách nô lệ lên người da trắng chứ không phải người da đen. Mọi người sinh ra đều bình đẳng, trừ khi xã hội quyết định bạn không phải là con người.

Dưới ánh mặt trời ở Georgia, Connelly đã đọc những đoạn Kinh Thánh khi lão trừng phạt nô lệ trên cánh đồng vì họ trót phạm lỗi. “Bọn mọi đen, hãy tuân lệnh ông chủ của chúng mày trong mọi chuyện, đừng có làm điều đó chỉ khi ông chủ giám sát chúng mày và để lấy lòng họ, hãy phục tùng họ bằng trái tim thành thực và lòng kính Chúa nghe chưa”. Những vết rạch của cái roi chín đuôi đặt dấu chấm cho mọi âm tiết, và tiếng kêu khóc của nạn nhân. Cora nhớ những đoạn khác về nô lệ trong Kinh Thánh và chia sẻ chúng với bà chủ nhà. Ethel nói rằng buổi sáng bà không thức dậy để đi tranh cãi về thần học.

Cora thích có bà ở bên và nhăn mặt khi bà ra khỏi phòng. Về phần mình, Cora trách những người đã viết ra câu đó. Người ta luôn hiểu sai sự việc, vô tình hoặc cố ý. Sáng hôm sau, Cora nhờ lấy một số cuốn niên lịch. Chúng đã lỗi thời, nhưng Cora thích những cuốn niên lịch cũ đó vì chúng chứa đựng cả một thế giới. Chúng chẳng cần người ta giải thích chúng có nghĩa gì. Bảng biểu và dữ kiện không thể bị nặn thành những gì không phải là chúng. Những đoản văn và thơ nhại được in xen vào các bảng lịch âm và dự báo thời tiết - về những góa phụ nhăn nheo hay đám mọi đen khờ dại - khiến đầu óc cô rối tung chẳng kém gì những bài học đạo đức trong Kinh Thánh. Cả hai cuốn sách đều miêu tả hành vi của con người vượt ngoài tầm hiểu biết của cô. Cora biết gì, hoặc cần biết gì, về những phong tục cưới đầy cuốn hút, hoặc về đàn cừu di chuyển qua sa mạc? Thôi thì chí ít đến một ngày nào đó cô có thể sử dụng những hướng dẫn trong niên lịch. Nào là bài Tụng ca Bầu khí quyển, nào là Tụng ca cây ca cao trên vùng đảo Nam Hải. Trước đó cô chưa từng nghe nói đến thơ tụng ca hay bầu khí quyển, nhưng khi cô đọc từng trang sách, chúng đến trú ngụ trong đầu cô. Nếu cô từng có một đôi giày cao cổ thì bây giờ cô đã biết bí quyết dùng mỡ trét và sáp để tăng tuổi thọ cho giày. Nếu một ngày kia một con gà của cô bị cúm thì chỉ cần chà bơ làm từ cây a ngùy [22] vào mũi nó sẽ khiến nó khỏe lại.

Người cha của Martin cần niên lịch để lập kế hoạch cho ngày trăng tròn - những cuốn sách chứa lời cầu nguyện cho đám người bỏ trốn. Trăng đầy, trăng khuyết, có ngày hạ chí, đợt sương giá đầu tiên và trận mưa xuân. Tất cả những sự kiện này diễn ra mà không bị con người can thiệp. Cô cố tưởng tượng ra cảnh thủy triều, dâng lên và rút xuống, bấu vào cát tựa một con chó nhỏ, không màng đến con người cùng mưu toan của họ. Sức mạnh nơi cô quay lại.

Chỉ dựa vào bản thân thì cô không thể hiểu tất cả những từ đó. Cora hỏi Ethel: “Bà có thể đọc vài câu cho cháu nghe được không?”

Ethel làu bàu. Nhưng bà mở một cuốn niên lịch bị rách gáy ra và gắng thỏa hiệp với bản thân, bà lấy giọng đọc giống như khi đọc Kinh Thánh. “Ghép cây xanh. Cây được ghép vào tháng Tư, tháng Năm hay tháng Sáu dường như không quan trọng…”

Khi ngày thứ Sáu đến, Cora đã khỏe hơn nhiều. Theo kế hoạch, Fiona sẽ trở lại làm việc vào thứ Hai. Họ thống nhất với nhau rằng sáng hôm đó Cora sẽ quay lại cái ngách trên tầng áp mái. Martin và Ethel sẽ mời dăm ba người hàng xóm món bánh nhà làm để xua tan bất cứ lời xì xào hoặc suy đoán nào. Martin tập giả vờ uể oải. Thậm chí họ còn định mời ai đó đến xem Lễ hội ngày thứ Sáu. Hiên nhà họ có góc nhìn lý tưởng ra công viên.

Tối hôm ấy, Ethel để Cora ở trong phòng ngủ phụ, miễn là cố giữ cho phòng tối om và tránh xa cửa sổ. Cora không có ý định xem cảnh ngoạn mục hằng tuần ở công viên mà chỉ mong được nằm thẳng người trên giường đêm cuối. Rốt cục, Martin và Ethel quyết định không mời ai sang hiên nhà họ cả, để rồi những vị khách duy nhất là đám người không mời mà tới - lách khỏi đám đông từ lúc bắt đầu tiết mục hài của người da đen.

Đám tuần tra muốn kiểm tra ngôi nhà.

Màn diễn dừng lại, thành phố xôn xao trước sự náo động bên kia công viên. Ethel cố giữ chân lũ tuần đêm. Chúng chen qua bà và Martin. Cora bắt đầu bước lên cầu thang, nhưng những bậc cầu thang kêu quá to, đã nhiều lần cảnh báo cô trong mấy tháng qua, thế là cô biết rằng cô sẽ không thoát được. Cô bò xuống gầm chiếc giường cũ của Martin và đó là nơi bọn chúng đã tìm thấy cô, chộp cổ chân cô như bấm chiếc cùm và lôi cô ra. Chúng quẳng cô xuống cầu thang. Vai cô đập vào lan can ở chân cầu thang. Tai cô ong ong.

Lần đầu tiên cố liếc nhìn hiên nhà Martin và Ethel. Đó là sân khấu cho cảnh bắt bớ cô, một cái bục thứ hai phục vụ cho buổi giải trí của thành phố, khi cô nằm trên sàn ván dưới chân bốn kiểm soát viên mặc đồng phục đen trắng. Bốn gã khác khống chế Martin và Ethel. Một người nữa đứng trên hiên, mặc áo gi-lê len sọc ô và quần âu xám. Ông ta là người đàn ông cao nhất mà Cora từng nhìn thấy, có thân hình rắn chắc với cái nhìn thu hút sự chú ý. Người đó quan sát cảnh tượng đang diễn ra, mỉm cười trước một điều gây cười mà chỉ ông ta biết.

Dân thành phố đứng đầy trên vỉa hè và dưới đường, chen lấn, xô đẩy nhau để xem tiết mục giải trí mới. Một cô gái có mái tóc đỏ hoe chen lên trên. “Bệnh đậu mùa Venezuela! Tôi đã nói là họ giấu ai đó ở trên ấy rồi mà!”

Vậy ra đây là Fiona. Cora gượng dậy để nhìn cô gái mà cô biết rất rõ nhưng chưa bao giờ thấy mặt.

“Cô sẽ nhận được tiền thưởng”, viên tuần tra có râu nói. Gã đã có mặt ở nhà Martin trong cuộc tuần tra trước.

“Ông đã nói gì, ông vụng về”, Fiona nói. “Rằng lần trước ông kiểm tra phòng áp mái đó rồi, nhưng không phải vậy, đúng chứ?” Cô ta quay ra đám đông để chứng minh lời mình với đám đông chứng kiến. “Các vị thấy đấy - đó là công của tôi. Tất cả chỗ thức ăn biến mất ư?” Fiona đá nhẹ Cora một cái. “Bà ta làm một cái bánh nướng to tướng, ấy thế mà hôm sau nó biến mất. Ai đã ăn tất cả chỗ thức ăn đó? Và lúc nào cũng nhìn lên trần nhà. Họ nhìn gì ở trên đó chứ?”

Cô ta còn rất trẻ, Cora nghĩ. Cô ta có khuôn mặt tròn lấm tấm tàn nhang, nhưng mắt cô ta toát lên vẻ khắc nghiệt. Thật khó tin những tiếng càu nhàu và nguyền rủa mà Cora nghe thấy trong mấy tháng qua lại bắt nguồn từ cái miệng nhỏ xinh đó, nhưng đôi mắt đã đủ là căn cứ.

“Chúng tôi đã đối tốt với cô kia mà”, Martin nói.

“Ông bà kỳ cục thì có, cả hai người”, Fiona nói. “Và các người đáng với những gì các người phải nhận”.

Dân thành phố này đã thấy luật pháp được thực thi quá nhiều lần - đến mức không đếm xuể, nhưng tuyên án lại là một trải nghiệm mới. Điều đó khiến họ bứt rứt. Đã là khán giả, bây giờ họ cũng là hội đồng xét xử ư? Họ nhìn nhau để tìm ám hiệu. Một công dân kỳ cựu khum tay lại làm loa, nói oang oang mấy lời vô nghĩa. Một quả táo cắn dở bị ném trúng bụng Cora. Trên bục, các diễn viên hài đứng cầm mũ trong tay, ỉu xìu.

Jamison xuất hiện, lau trán bằng một chiếc khăn mùi xoa màu đỏ. Kể từ cái tối đầu tiên ấy Cora không nhìn thấy ông ta, nhưng cô đã nghe mọi bài diễn văn trong tiết mục cuối cùng mỗi tối thứ Sáu. Mọi câu nói đùa và mọi lời tuyên bố hùng hồn, lời hiệu triệu đối với chủng tộc và tiểu bang, sau đó là mệnh lệnh giết vật hiến tế. Sự việc làm gián đoạn lễ hội ngày thứ Sáu này khiến ông ta ngạc nhiên, lúng túng. Không oang oang như mọi khi, giọng của Jamison giờ đây the thé. “Đây là chuyện quan trọng”, ông ta nói. “Ông là con trai của Donald ư?”

Martin gật đầu, thân hình vốn đã mềm của ông rung lên với tiếng khóc nấc lặng lẽ.

“Tôi biết cha ông sẽ xấu hổ lắm”, Jamison nói.

“Tôi không biết những gì ông ấy làm”, Ethel nói. Bà bám lấy gã tuần tra đang giữ chặt bà. “Một mình ông ấy làm việc đó! Tôi không biết gì hết!”

Martin nhìn đi chỗ khác. Không nhìn những người đứng trên hiên, chẳng nhìn đám đông dân thành phố. Ông quay mặt về phía bắc, về phía Virginia, nơi đã có thời ông tới để thoát khỏi thành phố quê hương mình.

Jamison ra hiệu và đám tuần tra kéo Martin cùng Ethel ra công viên. Lão chủ đồn điền nhìn Cora. “Một bữa tiệc vui vẻ”, Jamison nói. Nạn nhân đã được chuẩn bị trước của chúng đang ở đâu đó bên cánh gà sân khấu. “Chúng ta sẽ xử cả hai đứa chứ?”

Gã đàn ông có dáng người cao lêu nghêu nói: “Đứa này là của tôi. Tôi đã nói rõ rồi”.

Mặt của Jamison đanh lại. Ông ta không quen thấy người khác phớt lờ địa vị của ông ta. Ông ta hỏi tên người lạ mặt.

“Ridgeway”, gã đàn ông đáp. “Thợ săn nô lệ. Tôi đã đi hết nơi này đến nơi khác. Tôi đã săn tìm đứa này lâu lắm rồi. Thẩm phán của các ông biết tất cả về tôi”.

“Ông không thể cứ đến đây đột nhập vào chỗ này chỗ kia được”. Jamison biết rằng vị khán giả thường xuyên của ông ta, kẻ hay lởn vởn quanh đây đã quan sát ông ta với những toan tính khó đoán. Khi ông ta ra lệnh bằng giọng run run, hai viên tuần tra, đều rất trẻ, xông tới chặn Ridgeway.

Ridgeway không mảy may biểu lộ thái độ bực mình. “Các ông có tập tục địa phương - tôi hiểu. Các ông đang có trò vui.” Hắn phát âm từ “trò vui” như một nhà giảng đạo ôn hòa. “Nhưng đứa này không thuộc về các ông. Luật nô lệ bỏ trốn quy định rằng tôi có quyền mang tài sản này trả về cho chủ nó. Tôi sẽ làm điều đó đấy”.

Cora khóc thút thít, đưa tay sờ lên đầu. Cô chóng mặt, y như sau khi Terrance đánh cô. Gã này sẽ đưa cô về trả cho lão ta.

Tên tuần tra đã ném Cora xuống cầu thang hắng giọng. Gã giải thích với Jamison rằng tay trùm săn nô lệ này đã dẫn bọn chúng tới nhà của Martin. Tay trùm đã đến gặp thẩm phán Tennyson trưa hôm ấy và đưa ra đề nghị chính thức, mặc dù bấy giờ thẩm phán đang thưởng thức rượu whisky ngày thứ Sáu theo phong tục và có thể không nhớ chuyện đó. Chẳng ai thích tiến hành khám xét trong thời gian diễn ra lễ hội cả, nhưng Ridgeway cứ khăng khăng làm.

Ridgeway nhổ nước thuốc lá nhai xuống lối đi, ngay dưới chân của một công dân đang đứng xem. “Cô có thể giữ món tiền thưởng của mình”, hắn nói với Fiona. Hắn hơi cúi người xuống và nhấc cánh tay Cora lên. “Không phải sợ, Cora ạ. Mày sắp về nhà rồi”.

Một đứa con trai da màu, chỉ chừng mười tuổi, điều khiển chiếc xe ngựa kéo di chuyển qua đám đông trên đường phố, quát tháo hai con ngựa nhặng xị. Vào bất cứ dịp nào khác thì hình ảnh cậu bé trong bộ com-lê may đo và chiếc mũ chóp cao sẽ gây bối rối, khó hiểu. Sau màn bắt giữ các cảm tình viên và nô lệ bỏ trốn đầy kịch tính, cậu trai da màu lại khiến buổi tối trở nên dị thường. Chắc chắn không chỉ duy nhất một người nghĩ bụng những gì vừa mới xảy ra là một tiết mục giải trí mới cho tối thứ Sáu, một màn diễn được sắp đặt để tránh những vở kịch ngắn trào phúng đã trở nên đơn điệu cũng như những cuộc hành hình diễn ra hằng tuần quả thực đã dễ đoán trước.

Dưới hiên, Fiona đang thao thao bất tuyệt với một đám con gái từ phố của người Ireland. “Là thân gái thì phải tự lo cho lợi ích của mình nếu muốn phát triển ở cái đất nước này”, cô ta giải thích.

Ngoài cậu bé kia, Ridgeway còn đi cùng một gã đàn ông nữa, gã da trắng cao ráo có mái tóc nâu dài, đeo chuỗi vòng cổ tai người. Đồng sự của hắn xích chân Cora lại, rồi luồn sợi xích qua một cái vòng sắt gắn trên sàn xe ngựa. Cô ngồi xuống chiếc ghế băng trên xe, cứ mỗi nhịp tim đập lại khiến đầu cô đau nhói. Khi họ đi khỏi đó, cô nhìn thấy Martin và Ethel. Họ bị trói vào cái cây treo cổ. Họ khóc, nôn ọe khi bị trói. Con Thị Trưởng chạy vòng quanh chân họ như phát cuồng. Một đứa con gái tóc vàng nhặt một hòn đá ném Ethel, ném trúng mặt. Một tràng cười nổi lên trước tiếng rú thảm thiết của Ethel. Hai đứa trẻ khác nhặt đá ném vợ chồng họ. Con Thị Trưởng sủa và nhảy chồm chỗm khi có thêm những người khác cúi xuống. Họ giơ tay lên. Dân thành phố đổ xô tới chỗ ấy, sau đó Cora không thể nhìn thấy vợ chồng họ nữa.

« Lùi
Tiến »