Về Nhà

Lượt đọc: 2540 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 42
người ngu, kẻ trí

Từ đầu tuần này, sau khi nghe giảng pháp buổi sáng, tôi đến các bệnh viện tâm thần để quan sát và phỏng vấn bệnh nhân và bác sĩ. Hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Việt Nam còn rất lạc hậu, nhất là so với Mỹ. Từ những năm 60, Mỹ và các nước châu Âu đã có phong trào xóa bỏ chăm sóc tập trung trong các trại và bệnh viện tâm thần để đưa về chăm sóc trong cộng đồng nhưng ở Việt Nam, mặc dù chủ trương chăm sóc trong cộng đồng bắt đầu có từ cuối thập kỷ 90 nhưng thực tế cho đến nay, mô hình này không tồn tại. Việt Nam vẫn dựa vào mô hình khám và phát thuốc; nặng thì điều trị nội trú, nhẹ thì ngoại trú.

Các bác sĩ nói với tôi rằng cả nước hiện chỉ có một đến hai cơ sở điều trị tâm thần có các dịch vụ trị liệu vật lý, trị liệu lao động, trị liệu nghệ thuật và trị liệu thiền nhưng ở dạng hết sức thô sơ. Vẫn có các khu điều dưỡng mà bản chất là các trại tâm thần; bệnh nhân ở đây cho đến lúc chết, việc chăm sóc không mang ý nghĩa chữa trị và giúp họ phục hồi để trở về sống tự lực tại nhà mà chỉ đơn thuần là giữ họ biệt lập với xã hội cho đến lúc chết. Có nơi tôi đến, gần trăm bệnh nhân nữ được nhốt chung trong một khu sân hẹp; nhà vệ sinh hôi thối; đến giờ ăn, hộ lý đẩy vào một xe cải tiến cơm lõng bõng nước, bốc mùi tanh nồng nặc. Ở khu nặng hơn, bệnh nhân bị xích vào chân giường bằng xích sắt. Ngoài thuốc, hầu như không hề có trị liệu tâm lý xã hội hoặc các can thiệp vào môi trường sống tại gia đình, cộng đồng, nơi làm việc cho bệnh nhân. Theo tiêu chuẩn nhà nước, bệnh nhân được phát 80 ngàn tiền thuốc mỗi tháng nhưng thường chưa hết tháng đã hết thuốc; khi đó, bệnh nhân bị bỏ mặc gào thét khi lên cơn; nếu có biểu hiện bạo lực quá mức thì sẽ bị xích lại.

Lần đầu nhìn thấy các bệnh nhân tâm thần, tim tôi sa xuống. Cả trẻ và già đều xanh xao, da tái nhợt, mặt thiếu thần khí, cử động lờ đờ, người bốc ra mùi thuốc hoặc mùi hôi vì không tắm gội thường xuyên. Nếu ở chùa, có lẽ họ sẽ bị gọi là “mất vía” - vì không đầy đủ vía nên thần sắc như vậy.

Sáng nay, tôi tiếp tục đến một bệnh viện theo mô hình điều trị ban ngày và có cả trị liệu thiền. Trong phòng trị liệu có khoảng 25 người, 6 nữ, còn lại là nam, tuổi từ 17 đến ngoài 60, đa phần trong khoảng tuổi 20 đến 30. Khi tôi đến, một số đang đạp xe đạp tại chỗ, một số tập chuyền bóng, một số quét phòng hoặc tưới cây. Nhưng họ chỉ cử động chân tay theo quán tính mà không hề có sự tập trung. Nhiều bệnh nhân không tự sinh hoạt được nên hằng ngày mẹ hoặc bố đưa đến từ sáng rồi ngồi chờ để trưa đưa về và chiều lại đưa đến. Mấy sáng liền, tôi thấy một người phụ nữ ngoài 60, người nhỏ bé, đưa cậu con trai ngoài 20 tới và kiên nhẫn ngồi nhặt rau trong lúc cậu tập. Thực tế là ở đây có một hội phụ huynh biết nhau rõ vì sáng nào cũng đưa con tới, chờ, rồi đưa con về. Trong lúc con tập hoặc chờ phát thuốc thì họ ngồi đan len, nhặt rau, gọt mướp, làm thủ công. Có người bệnh dạng nhẹ mà có con nhỏ thì mang cả con đến bệnh viện và để con cho phụ huynh khác hoặc y tá trông hộ trong lúc họ tập. Có người tiện đường đi chợ mua cả hoa quả tới cho các bác sĩ và bệnh nhân. Ở bệnh viện này, bệnh nhân ngày nào cũng tới lấy thuốc và trị liệu nên bác sĩ, y tá, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân thân quen như một gia đình vậy. Có hôm, có người khệ nệ bê tới phòng tập một chậu hoa.

“Mẹ cháu tặng phòng cây hoa hoàng yến.”

Đầu buổi sáng, bác sĩ vào phòng tập, hỏi bệnh nhân có ngủ được không. Có người nói không ngủ được vì cứ nhắm mắt ngủ là mơ thấy người mẹ đã mất 15 năm rồi. Một số nói tôi ngủ nhiều quá, không làm sao mà thức được, cứ ngủ li bì suốt ngày. Bác sĩ lại hỏi họ có nhớ mình đang dùng thuốc gì không. Hầu hết nhớ được tên thuốc nhưng nhớ một cách máy móc do được bác sĩ và người nhà nhắc đi nhắc lại hằng ngày chứ không phải do hiểu. Cũng có vài người hoàn toàn không nhớ; họ dường như không cả hiểu câu hỏi của bác sĩ; họ chỉ ngơ ngác vậy thôi, bác sĩ phải gọi tên nhiều lần họ mới nhận ra là gọi họ, thậm chí người bên cạnh phải chạm vào; nhưng họ nghe bác sĩ hỏi mà trên mặt không có bất cứ biểu hiện nào của việc hiểu lời.

Trong số 25 người sáng nay, một nửa được chẩn đoán trầm cảm, còn lại là tâm thần phân liệt, rối loạn lo âu, thần kinh lưỡng cực và các trạng thái khác. Một bác trai đã ngoài 60 kể rằng hồi trẻ, bác sang Lào làm việc; rồi bị lũ cuốn suýt chết đuối; từ đó bác bị sang chấn, không làm việc được nữa, phải về Việt Nam chữa trị.

“Cô ạ, có thời gian tôi điên khùng chạy khắp Hà Nội. Tôi tự tử nhiều lắm rồi mà không chết. Tôi đóng đinh vào đầu. Tôi lao vào tàu hỏa. Thế mà không chết. Cứ lúc nào mưa là tôi sợ. Cứ gặp con gái là tôi sợ. Bây giờ đỡ rồi đấy.”

Một thanh niên ngoài 20, rất dễ thương, thì luôn có một cô người yêu tưởng tượng trong đầu mà cậu gọi là Hằng. Ngày nào cậu cũng nghĩ chuyện hôm nay sẽ làm gì cho Hằng - sẽ mua hoa, hay hát tặng, hay rủ người yêu đi xem phim. Lúc nào cậu cũng phơi phới trong tình yêu tưởng tượng mặc dù không hề gặp người yêu bao giờ. Một cậu bé khác thì lúc nào cũng sầu muộn vì nhìn thấy ma đi theo mình.

“Ma như thế nào? - tôi hỏi - Là nam hay nữ hả em?”

“Là nam.”

“Người ta cứ ở cạnh mình?”

“Vâng.”

“Người ta nói chuyện gì?”

“Cái đấy em không để ý.”

“Già hay trẻ?”

“Trẻ.”

“Người ta lúc nào cũng đi theo mình?”

“Vâng.”

“Lúc mình ngủ thì sao?”

“Ngủ em cũng sợ.”

“Thế à, thế là mình không ngủ được à?”

“Vâng.”

“Tại vì mình cứ thấy người ta ở đấy?”

“Vâng.”

“Thế người ta có nói gì không hay người ta chỉ có ở đấy?”

“Chỉ có ở đấy.”

“Thế làm sao em biết là ma?”

“Em biết là ma thôi.”

“Thế trông họ có ghê sợ không?”

“Không.”

“Trông cũng như người bình thường thôi?”

“Vâng”

Sau giờ thể dục, các bác sĩ cho bệnh nhân học hát và học kỹ năng tự lập - tức là tập làm những việc mà với đa số chúng ta là đơn giản nhưng với người bệnh tâm thần là kỳ công. Giặt quần áo, vệ sinh cá nhân, nói chuyện với người trong nhà, đi xe buýt, đi chợ. Họ học cái đơn giản nhất cũng khó, nhưng đã học được rồi thì họ tuân thủ rất kỹ lưỡng, chính xác, không làm tắt làm ẩu.

“Muốn giặt quần áo thì ta phải làm gì đầu tiên nhỉ?” - bác sĩ hỏi.

“Sau khi cho quần áo vào chậu thì ta làm gì?”

“Khi lấy xà phòng thì phải để ý điều gì nhỉ”?

“Chúng ta vò quần áo ra sao?”

“Trước khi đem phơi thì phải làm gì?”

“Chúng ta phải chú ý điều gì khi phơi quần áo?”

Kiểm tra kỹ năng giặt quần áo xong, bác sĩ lại hỏi họ về kỹ năng đi xe buýt.

“Lên xe buýt, chúng ta phải nhường ghế cho những ai?” - bác sĩ hỏi.

“Cho người già ạ.”

“Cho phụ nữ có thai ạ.”

“Cho người tàn tật ạ.”

“Khi đứng trong xe buýt ta phải đứng như thế nào?”

“Phải bám ạ.”

“Phải làm gì nữa?”

“Đề phòng mất cắp ạ.”

“Khi trên xe buýt chúng ta không được làm gì?”

“Nói chuyện ạ.”

“Khạc nhổ ạ.”

“Xả rác ạ.”

“Phải đeo khẩu trang phòng bệnh ạ.”

“Không được ăn uống ạ.”

“Nhai kẹo cao su thì được ạ. Vì kẹo cao su nhai cho sạch.”

“Thế đi xe buýt có được trốn vé không?”

“Không ạ.”

“Trốn được thì trốn ạ.”

Cả bệnh nhân và bác sĩ đều cười ồ.

Học kỹ năng tự lực xong là giờ sinh hoạt. Bệnh nhân thi nhau giơ tay xin hát. Người này chưa hát xong, người kia đã đứng lên hát. Hát từ “Một con vịt” sang “Happy birthday”, sang “Tình ca”.

Những người tâm thần ở bệnh viện này - họ hồn nhiên quá. Mà tôi nghĩ, ngay cả những người “tâm thần” đang được gia đình gửi vào chùa cũng vậy. Có hôm, cả chùa đang niệm Phật rất miên mật thì Quyên phá lên cười khanh khách làm mọi người cũng bật cười theo. Ngày nào ông Nhượng nhập vào cô Xuyến cũng đuổi bắt với Thảo, rồi cãi nhau chí chóe như hai đứa trẻ. Những lúc ấy, nhìn hình tướng bên ngoài thì Thảo, một cô gái ngoài 20, đang cãi nhau với bà Xuyến, một bà già đã hơn 60; nhưng hai người lại đang cãi nhau trong tư thế một ông đánh giậm ngọng líu ngọng lô mà láu cá với một con rồng dễ bị khích bác. Hai bên chành chọe đủ thứ chuyện - chủ yếu xung quanh một “viên ngọc” vô hình nào đó không ai nhìn thấy; chành chọe nhau không bên nào chịu bên nào thì đi tìm thầy hoặc các sư ông để phân xử. Có lúc thầy cười, nói đùa mà cũng có phần thật:

“Cô Việt thấy chùa của thầy có giống một bệnh viện tâm thần không?”

Rồi có hôm thầy lại cười:

“Lâu lâu không có con ma nào gây sự cũng thấy vắng vắng nhỉ?”

Nhiều khi tôi nhìn tất cả chúng tôi ngồi trong Tam Bảo tụng kinh hoặc trong nhà trai niệm Phật - thầy, các sư ông sư bác sư chú, các bà vãi, rồi cô Xuyến, Quyên, Thảo, Tuấn, những người ở chùa chữa bệnh, những người ở chùa làm công quả, những người thợ xây, rồi lại còn nảy nòi ra tôi vào đây ở để làm nghiên cứu - mà như thấy cả mười pháp giới, tất cả tam thiên đại thiên thế giới ở cả đây. Tuy hình tướng tên gọi bên ngoài thì khác nhau, định danh khác nhau, có nam có nữ, có cao có thấp, có béo có gầy, có giàu có nghèo, có người ít học người học nhiều, người khỏe mạnh người dường như bệnh hoạn, nhưng thực sự thì có khác gì nhau đâu. Chúng tôi quây quần rất an lạc. Ai là Phật, là Bồ Tát, là thánh, là người, là ma quỷ, chỉ là tên gọi cho các hiện tượng, đâu có quan trọng và có ý nghĩa thật nào. Cả ông Nhượng, những con ma và những vong đang ám người này người kia đã trở thành một phần trong đại gia đình lớn. Tất cả có chỗ của mình, có việc của mình, đều trợ giúp tương hỗ nhau. Hoán chuyển chỉ trong tích tắc. Khi đang niệm Phật, chỉ trong tích tắc có thể phân tách thành những người khác nhau đang niệm Phật bằng các giọng và ý khác nhau, và cũng trong tích tắc lại tụ về, tất cả là một thể không chia cắt.

Có những khi ở chùa mà phiền não, tôi không đi tìm thầy hay các sư ông mà ngồi đối diện, chẳng nói chẳng rằng với Quyên, nghe Quyên cười khanh khách. Hoặc có lúc tôi phiền não mà cảm giác không thể nói với ai thì Tiểu Thánh sẽ từ đâu tìm tôi rồi rủ tôi đi thỉnh chuông hoặc đi dạo quanh chùa. Dường như Tiểu Thánh luôn đọc được chính xác ý nghĩ và cảm giác của tôi. Có hôm tôi kinh ngạc quá, hỏi thẳng Tiểu Thánh sao biết tôi đang nghĩ điều đó thì Tiểu Thánh bảo có các hộ pháp thiện thần mách cho; vả lại, “thân tâm ở trong vũ trụ rồi thì đều có thể cảm hiểu được mọi thứ trong vũ trụ”. Có hôm, Tiểu Thánh bảo tôi thỉnh chuông thử rồi nói tâm cô Việt đang không an, suy nghĩ nhiều quá nên đánh tiếng không đều, thôi để Tiểu Thánh thỉnh chuông không thầy nghe tiếng chuông không đều lại quở. Tiểu Thánh thỉnh từng tiếng một, cứ đánh mỗi tiếng đại hồng chung lại đọc lớn:

“Thế giới hòa bình!”

“Phật nhật tăng huy!”

“Pháp luân thường chuyển!”

“Nam mô Phổ Đà sơn đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát!”

Rồi Tiểu Thánh nói:

“Nam mô đại bi cô Việt.”

Tôi nói:

“Cô Việt đến tiểu bi còn chưa có làm sao có đại bi được.”

Tiểu Thánh nói:

“Vì xã hội có phân biệt nên mới có danh từ riêng chỉ Phật. Giờ thì thành ra chỉ trong Phật giáo mới có Phật. Giữa con người với con người lại quy định nhau là Phật hay không là Phật. Tiểu Thánh thấy mọi người đều là Phật.”

Tôi chắp tay:

“Mô Phật. Đúng quá!”

Đi đi lại lại giữa chùa và bên ngoài, tôi hay bắt quả tang mình nhớ chùa những lúc đang ngồi ăn cơm chiêu đãi hay họp hành bận rộn bên ngoài. Chính xác là nhớ cái không khí trong sạch ở đó, nhớ cảm giác không cần đề phòng ai, thấy ai cũng đáng yêu, đáng quý, dù ma hay người, dù chó mèo hay cây đại cây nhài. Tôi cứ nhớ đến sự hớn hở âm thầm mỗi sáng tắm gội sạch sẽ rồi mặc áo tràng, lên Tam Bảo trước giờ giảng pháp để phụ các sư chú sư bác chuẩn bị bàn cho thầy giảng pháp. Có khi tôi và bác Ngũ hút bụi, kê bàn, kê ghế, lót đệm ngồi, bày lọ hoa, đặt hai cây nến vàng lớn ở hai đầu bàn, rồi mở án kê kinh, khêu đèn, xông trầm. Những việc nhỏ nhưng việc nào cũng là một nghi lễ thiêng liêng. Chỉ có chỉnh đệm ngồi cho thầy mà cũng phải thử mấy lần, sao cho không xộc xệch, vừa khoảng cách với bàn. Tôi và bác Ngũ thay nhau ngồi ướm vào nhưng không ngồi hẳn xuống vì trong thâm tâm, ngôi vị chủ tọa đó chỉ có duy nhất thầy ngồi kể cả khi thầy không có đó.

Các sư bác sư chú làm việc hương đăng rất thuần thục, tự nhiên, như đã làm việc này cả trăm nghìn năm rồi. Nhiều khi tôi ngẩn ngơ nhìn bác Ngũ, chú Lục, chú Thất khêu đèn, rồi tưởng tượng 50 năm nữa, khi từng người đã già. Các tổ ngày xưa chắc trông cũng như vậy - dáng cao thẳng uy nghi, những ngón tay dài gầy, tâm tính thuần hậu tốt lành, chỉ cần ở gần là thân tâm bừng nở an lạc. Có hôm tôi thấy bác Đạo Ngũ chăm chú bóc từng cánh sen đã thâm khỏi những bông sen trắng trên bàn giảng pháp của thầy, rồi cẩn thận bỏ các cánh sen cũ vào túi áo nâu chứ không vứt đi. Thật là quá đẹp.

« Lùi
Tiến »