“Dì để họ đi mất á,” Ripley nói với dì mình. “Họ đã ở đây và dì để họ đi.”
Họ vừa bước vào Đại Sảnh một lúc trước và biết được Ashmont và Blackwood đã ghé qua.
Ripley đứng đó, chống tay lên thành chiếc ghế gần lò sưởi. Anh ngước nhìn các hiện vật thời Elizabeth treo trên tường và tự hỏi vì sao Định Mệnh lại quyết định hành hạ anh ngay khi anh vừa trở về nước Anh như vậy.
“Cháu nên ngồi xuống thì hơn,” dì Julia nói. “Trông cháu xanh như tàu lá chuối ấy.”
“Ngồi xuống đi,” Olympia nói. “Cố bớt bướng bỉnh một cách ngu ngốc đi được không.”
Ripley ngồi phịch xuống ghế. Anh chỉ muốn nằm dài ra. Và bất tỉnh. Cái chân của anh đau nhức, nhưng chẳng thấm gì so với những ý nghĩ đang cuộn xoáy trong đầu anh. Anh không quen phải suy nghĩ nhiều đến vậy. Thảo nào anh cảm thấy kiệt sức.
“Nếu cháu dùng chiếc xe lăn của bác cháu, có lẽ cháu sẽ hồi phục nhanh hơn đấy,” dì anh nói.
“Một chiếc xe lăn dành cho người bệnh! Sao không đút cháo cho cháu ăn luôn đi?”
“Xe lăn có chỗ để chân,” Olympia nói.
Ripley ngước nhìn lên trần nhà.
“Để kê chân bị thương lên,” cô tiếp tục.
Trong đầu anh hiện lên hình ảnh những bệnh nhân béo ục ịch, bị bệnh gút, lăn lóc trong xe lăn ở Bath. Anh đã từng thấy bao nhiêu bức tranh biếm họa như thế rồi? Và cười ngặt nghẽo?
“Nếu kê chân bị thương lên như vậy, thưa Đức Ngài, nó sẽ mau lành hơn nhiều đấy.”
“Một chiếc xe lăn,” anh nói. Ai đó làm ơn bắn chết tôi đi, anh thầm nghĩ.
“Ôi, người hùng đã ngã xuống,” dì anh nói.
Anh nhìn cô. “Thôi được rồi, cứ chế giễu cháu đi. Cháu đã ngã, không chỉ một lần. Cháu thấy mình như quỷ dữ vậy. Tiểu thư Olympia nói đúng. Dì cũng đúng. Cháu không nên ra ngoài hôm nay. Cháu nên có mặt ở đây khi Ashmont và Blackwood tới.”
“Nhưng cháu đã không có mặt,” dì Julia nói. “Và ta đã hành động theo cách ta cho là tốt nhất. Có thể ta đã hành động trong lúc tức giận, nhưng chuyện cũng rồi.”
“Tức giận vì điều gì chứ? Không phải dì cũng đồng ý với cháu Ashmont sẽ tới tìm Olympia sao?”
“Ta không hài lòng với thái độ của thằng bé đó, chưa kể đến vẻ ngoài,” dì của anh nói. “Cả hai đều không thể làm yên lòng một thiếu nữ đang bất an. Thay vào đó, cậu ta như đang phô trương sự thiếu suy nghĩ, cẩu thả và liều lĩnh của mình vậy.”
“Ồ, anh ta chẳng cần phô trương đâu,” Olympia nói. “Cháu không ảo tưởng gì, cháu hứa với bác đấy.”
“Cháu đáng lẽ phải có,” dì Julia nói. “Ít nhất cháu cũng nên có vài hy vọng và mơ mộng về ngày cưới của mình. Quan trọng hơn, cậu ta không nên coi thường cháu. Hôm nay, trong mắt ta, dường như cậu ta chẳng bận tâm đến việc làm hài lòng cháu chút nào. Vậy mà đến giờ, cậu ta phải nhận ra rằng sự biến mất của cháu không phải một trò đùa hay một trò hề, và cậu ta còn rất nhiều việc phải sửa đổi.”
“Công Tước có Gương Mặt Thiên Thần chắc hẳn trông thảm hại lắm mới khiến dì lo đến vậy,” Ripley nói.
Nếu anh có mặt ở đây, có lẽ anh đã ném Ashmont qua phòng. Gã đàn ông đó bị làm sao vậy, tỏ ra kém cỏi như thế trong khi hoàn toàn có thể làm tốt hơn? Cậu ta đang cố đẩy Olympia đi xa hơn ư? Hay là cậu ta quá kiêu ngạo đến mức nghĩ rằng mình luôn luôn không thể cưỡng lại được?
“Cậu ta trông tồi tệ, ngửi cũng tệ và cư xử còn tệ hơn,” dì anh nói. “Ta đã mắng cho nó một trận, và hy vọng rằng ta đã khiến cậu ta phải suy nghĩ lại. Chắc chắn rồi, cậu ta đã khiến ta phải suy nghĩ rất nhiều. Cả hai người họ đều vậy. Ta không thích phải liều lĩnh để họ chạm mặt Tiểu thư Olympia trên đường và cháu phải tự mình đối phó với hai thằng ngốc đó. Nhưng ta biết con bé là một cô gái thông minh và mạnh mẽ. Và ta cũng cược rằng khả năng đó khó xảy ra. Dường như khả năng hai tên phóng đãng đó rẽ sang đường đua ngựa hoặc một trận đấu quyền anh, hoặc ngồi trong quán rượu đợi mưa tạnh, là cao hơn rất nhiều.”
Bà quay sang Olympia. “Ta đã xa rời mọi chuyện hơn ba năm nay, từ khi Charles ngã bệnh. Trước đây ta luôn nhìn Hugh và bạn bè của nó như những cậu bé ngông cuồng, và ta đã bỏ qua cho chúng, như ta đã nói với cháu. Nhưng hôm nay ta chợt nhận ra rằng chúng đã là những người đàn ông rồi, và đã quá muộn để chúng tự nhìn lại bản thân. Tóm lại, ta không thể nào lương tâm thanh thản mà vội vã đưa cháu trở về bên vị hôn phu của mình. Cháu được chào đón ở lại đây bao lâu tùy ý, cháu yêu. Khi nào cháu muốn trở lại London, chỉ cần nói một lời, ta sẽ cùng cháu đi.”
Bà bước ra khỏi Đại Sảnh, tiếng bước chân vang vọng trên sàn gỗ sồi cổ kính.
***
Ashmont đã đến, như Phu nhân Charles và Ripley khẳng định. Giờ thì anh ta đi rồi.
Một phần trong Olympia muốn nhảy dựng lên vì thất vọng. Một phần khác lại muốn nhảy lên vì vui mừng.
Vì trạng thái tâm lý này không thể chấp nhận được, cô bắt đầu sắp xếp và phân loại những cảm xúc rối bời của mình về hai người đàn ông trong cuộc đời cô.
Việc Ashmont trông thế nào, có mùi ra sao hay thái độ của anh ta ra sao không thực sự khiến cô bận tâm. Những lời nhận xét của Phu nhân Charles về điều này không hề mới mẻ. Chúng hoàn toàn phù hợp với những gì Olympia đã kỳ vọng khi cô đồng ý lấy anh ta.
Cô không ảo tưởng. Làm sao cô có thể? Cô đã ở ngoài Xã hội đủ lâu, đã nghe, thấy và đọc đủ nhiều để hiểu rõ Ashmont là hạng người như thế nào. Dù vậy, bất kể anh ta trông thế nào, có mùi gì hay hành xử ra sao, anh ta vẫn là Công tước xứ Ashmont.
Nếu hôm nay cô ở lại Điện Camberley thay vì đuổi theo Ripley, cô đã để Ashmont đưa mình trở về London và biến cô thành nữ công tước của anh ta. Cô còn có lựa chọn nào khác chứ? Nếu trở về cùng anh ta, tất cả những hành động điên rồ ngày hôm qua của cô sẽ không còn ý nghĩa gì nữa. Xã hội sẽ chỉ nhún vai bỏ qua sự việc. Nó sẽ chỉ là một trò đùa khác trong kho những trò nghịch ngợm của Những Kẻ Bất Hảo. Trên hết, Mẹ, Cha và các anh em cô không phải chịu đựng những gì Olympia đã làm.
Nhưng nếu cô ở lại Điện Camberley, Ripley sẽ lên đường đến London và làm cho vết thương của mình tồi tệ hơn… và nụ hôn đó sẽ không bao giờ xảy ra, và tất cả những gì cô biết về đam mê sẽ chỉ là những gì trí tưởng tượng vẽ ra. Giờ đây, cô biết điều đó cách xa thực tế đến nhường nào.
Khi Phu nhân Charles giận dữ rời khỏi phòng, Olympia trở lại với thực tại và đối mặt với những sự thật của cuộc đời mình: cha mẹ phung phí và những đứa em trai không được chu cấp đầy đủ.
Hãy nhìn vào mặt tích cực, cô tự nhủ.
Công tước xứ Ashmont vẫn muốn cưới cô, dường như là vậy.
Cô đã trải nghiệm đam mê.
Tất cả những gì cô phải làm bây giờ là cố gắng giữ cho Ashmont không thay đổi ý định, dù bằng chứng cho thấy anh ta quá bướng bỉnh và sở hữu để làm vậy.
Còn về việc hôn Ripley, cô sẽ không để lương tâm mình quá bận tâm. So với những gì Ashmont đã làm trong suốt thập kỷ qua, và hẳn sẽ còn tiếp tục làm sau khi kết hôn, khoảnh khắc đam mê của cô chẳng đáng là bao. Trừ đối với chính cô.
Hơn nữa, với tất cả những gì cô biết—trong trường hợp này là chẳng biết gì cả—bất kỳ chàng trai trẻ đẹp nào có kinh nghiệm cũng có thể, trong hoàn cảnh phù hợp, khơi dậy một sự nhiệt thành tương tự.
Cô vội vã đuổi theo bà chủ nhà. “Phu nhân Charles, cháu xin lỗi,” cô nói. “Lẽ ra cháu nên nói—”
“Cô gái yêu quý, sau những thử thách như vậy, ta ngạc nhiên là cháu vẫn có thể nói chuyện mà không lảm nhảm,” phu nhân nói, chậm bước lại. “Ba người đó quả thật là giới hạn cuối cùng của sự chịu đựng. Dù dừng chân qua đêm ở đâu, Ashmont cũng có thể bảo người hầu giặt giũ quần áo cho mình. Cậu ta đáng lẽ phải cạo râu. Có lẽ cậu ta cho rằng như vậy sẽ chứng tỏ bản thân quá nóng lòng muốn gặp con đến nỗi không bận tâm đến những điều nhỏ nhặt như phục sức. Nhưng nếu vậy, người ta cũng sẽ nghĩ rằng quá nóng lòng muốn gặp con nên chẳng thể bận tâm đến việc đánh nhau và chè chén.”
“Người ta nghĩ vậy, nhưng đàn ông đâu phải lúc nào cũng lý trí.”
Họ đã đến chân cầu thang. Phu nhân Charles dừng lại và vỗ nhẹ lên tay Olympia. “Bắt cậu ta phải nỗ lực, cháu yêu à,” bà nói. “Bắt nó phải chú ý và cố gắng. Nó cần được quản lý nhiều hơn ta tưởng, nhưng ta không nghi ngờ khả năng của con.”
Olympia không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải thể hiện khả năng của mình. Cô nói, “Trong hoàn cảnh này, cháu sẽ thật ngốc nếu không nhận lời đề nghị tử tế của bác và ở lại đây, ít nhất là một hoặc hai ngày.”
“Tốt. Để cậu ta sốt ruột một chút cũng chẳng hại gì.” Phu nhân Charles bắt đầu bước lên cầu thang.
“Cháu biết bác hiểu rõ anh ấy nhất,” Olympia nói.
“Chúng nó là những đứa con trai mà ta không bao giờ có,” phu nhân nói. “Đáng tiếc là chúng không thực sự là con ta, và ta chỉ có thể tác động đến một mức độ nhất định. Ta cũng nên nói với cháu, vì đó không phải bí mật gì lớn, dù chuyện này xảy ra đã rất lâu nên ít người còn nhớ. Cha của Ashmont rơi vào trầm cảm nặng sau khi người vợ qua đời, và không đoái hoài gì đến thằng bé. Cha của Blackwood thì là một kẻ độc đoán cứng nhắc, chẳng làm gì ngoài việc chê bai nó. Cha của Ripley thì bị một cơn sốt não khiến ông ấy trở nên hoang tưởng: Ông ấy tin rằng mình hoàn toàn khánh kiệt và ai cũng đang cố chiếm đoạt tài sản của mình. Đó là lý do ta biết rõ bọn chúng như vậy.”
Olympia đứng sững lại. “Cháu hoàn toàn không biết điều đó.”
Phu nhân Charles dừng bước và quay lại nhìn cô. “Chúng nó đều thừa kế khi còn quá trẻ. Nhưng giờ đây chúng đã là những người đàn ông trưởng thành, và ta không còn bào chữa cho chúng được nữa. Ta hiểu rằng cháu đã hành động bột phát. Cảm thấy hoảng sợ, ta không nghi ngờ điều đó.” Bà khẽ mỉm cười. “Chút rượu mạnh đã thúc đẩy cháu, cho cháu thêm can đảm, hay liều lĩnh, hoặc bất cứ điều gì cần thiết để hành động. Nhưng chạy trốn có lẽ là điều khôn ngoan nhất mà cháu có thể làm. Cháu cần thời gian để suy ngẫm và lập kế hoạch, tránh xa ảnh hưởng của gia đình và thằng ngốc muốn cưới con kia. Điện Camberley là nơi thích hợp để bình tâm suy xét.”
Và người phụ nữ này là người dẫn đường đúng đắn, Olympia nhận ra điều đó. Mẹ và các dì rất yêu thương cô, nhưng họ không có trí tuệ hay sự am hiểu tâm lý con người như Phu nhân Charles.
Chỉ với vài lời, bà đã mang đến cho Olympia những hiểu biết quý giá. Và làm dịu đi phần nào cảm giác tội lỗi trong cô.
“Cảm ơn bác,” Olympia nói. “Cháu thực sự cần ở lại đây. Và suy nghĩ. Cháu cũng nên viết vài lá thư mà lẽ ra phải viết từ lâu. Đã đến lúc Ngài công tước cần nghe tin từ cháu. Cháu nghĩ rằng, sau cùng, sẽ tốt hơn nếu chúng cháu thảo luận trực tiếp với nhau về mọi chuyện.”
Phu nhân Charles nhìn cô một lúc. “Phải, như vậy sẽ tốt hơn.”
***
Dinh thự Ashmont, London, tối hôm đó
Công tước xứ Ashmont đang chuẩn bị ra ngoài thì hai lá thư được gửi hỏa tốc từ Surrey đến.
Bức thư của Ripley, như thường lệ, chỉ vỏn vẹn một dòng: Vì Chúa, đến và đưa cô ấy đi đi.
Lá thư còn lại là của Tiểu thư Olympia. Dày hơn với vài trang được viết kín chữ, nó mang vẻ đáng sợ hơn nhiều. Đây là lần thứ hai Ashmont đọc nó. Anh ngồi bên bàn trang điểm, ôm đầu, làm rối tung kiểu tóc gió thổi bồng bềnh mà người hầu của anh dày công tạo ra.
Công tước đang phân vân không biết nên đọc lại lá thư lần thứ ba hay gọi Blackwood đến giúp thì người hầu vội vã bước vào và thông báo: “Quý ngài Frederick đến, thưa Đức Ngài.”
Công tước xứ Ashmont nhảy vọt khỏi ghế và suy nghĩ liệu có nên thoát ra nhanh chóng bằng đường cửa sổ không. “Nói với ông ấy rằng ta không có ở nhà.”
“À, nhưng ta nghĩ là có đấy, Lucius,” tiếng nói vui vẻ của người bác vang lên.
Người hầu nhanh chóng tránh xa đường đi của chủ nhân giọng nói. Khi Quý ngài Frederick làm một cử chỉ nhỏ tỏ vẻ khinh thường, người hầu đi ra khỏi phòng, nhẹ nhàng đóng cửa lại sau lưng.
“Ta nghe nói cháu đã trở về,” Quý ngài nói.
Ashmont nhìn chằm chằm một cách thèm thuồng vào bình rượu đặt trên chiếc bàn nhỏ cạnh lò sưởi. Vấn đề là, nếu anh rót cho mình một ly, anh sẽ phải mời cả bác của mình, và điều đó sẽ khiến ông ở lại lâu hơn.
“Mới chỉ vài giờ trước thôi,” anh nói. “Bác thật có đôi tai kỳ diệu nếu đã nghe được chuyện đó rồi. Chính bản thân cháu còn hầu như chưa biết rõ nữa.”
“Cháu trở về mà không mang theo Nữ Công tước tương lai xứ Ashmont,” bác Fred nói.
“À… vâng. Về chuyện đó…” Ashmont liếc nhìn lá thư. “Hơi phức tạp. Một vở hài kịch những sai lầm, như Phu nhân Charles đã nói.”
Trong thoáng chốc, sự điềm tĩnh thường thấy của Quý ngài Frederick tan biến, và một nét sầu hiện lên trong đôi mắt xanh của ông. Nhưng nó biến mất gần như ngay lập tức, và ông trở lại vẻ bình thản như thường lệ.
“Cháu đã đến Điện Camberley,” ông nói, vừa phủi một sợi lông bụi khỏi tay áo khoác.
Khi bác Fred đã ở đó, không thể nào khiến ông rời đi cho đến khi ông tự muốn. Và bởi ông sẽ không muốn rời đi cho đến khi cạo sạch mọi ý nghĩ trong đầu Ashmont, công tước ngắn gọn kể lại hành trình tìm kiếm Ripley và Tiểu thư Olympia ngày hôm trước cũng như chuyến thăm Phu nhân Charles Ancaster hôm nay.
Khi Ashmont đến đoạn cuối của câu chuyện, anh nhận thấy sự chú ý của bác mình chuyển sang bàn trang điểm, nơi lá thư đang nằm, với các trang trải ra, hoàn toàn phơi bày trước mắt mọi người—hay đúng hơn là trước mắt một ông bác hay tò mò, biết mọi chuyện và luôn để ý đến mọi thứ.
Công tước bước đến bàn trang điểm một cách tự nhiên để che khuất tầm nhìn của ông bác đối với bức thư.
Nhưng đã quá muộn.
“Chữ viết tay đó trông giống của Tiểu thư Olympia,” bác anh nói.
“Vậy ạ?”
“Ta có thể nhận ra nó ở bất kỳ đâu,” Ngài Frederick nói. “Rất đặc biệt. Bọn ta từng trao đổi thư từ về một cuốn sách vào thế kỷ mười lăm. Hình như là De Consolatione Philosophiae(sách triết học) của Boethius. Có vẻ như con bé đang nói chuyện, hay đúng hơn là đang viết thư cho cháu. Ta xem đó là một dấu hiệu đầy hứa hẹn.”
“À, vâng. Chuyện là cô ấy vẫn còn ở Điện Camberley.”
“Ta đã suy đoán ra điều đó khi biết cháu nhận được hai lá thư, gửi hỏa tốc, từ Surrey rồi,” Ngài Frederick nói.”
Ashmont không hỏi làm thế nào hoặc ở đâu mà bác anh biết được chuyện này. Rõ ràng là ông có gián điệp ở khắp nơi. Rất có thể, một vài kẻ đang ở ngay dưới mái nhà của Ashmont. Bác anh từng là người giám hộ của anh. Thêm vào đó, đám gia nhân sợ ông. Ít ai bên ngoài có thể hiểu được điều này, bởi một người đàn ông lớn tuổi có vẻ ngoài hiền từ và gương mặt ngây thơ hơn thì không thể tìm thấy ở London, hoặc có lẽ là cả nước Anh.
“Đúng là hơi phức tạp,” Ashmont nói. “Bác biết đấy…” Anh cau mày. “Ý cháu là, cháu nghĩ mình nắm được ý chính, nhưng trời ơi, cô gái ấy dùng quá nhiều lời.”
“Và, nếu điều này không quá riêng tư, thì ý chính là…?”
“Cô ấy say rượu,” Ashmont nói. “Cô ấy uống brandy để trấn an tinh thần trước đám cưới, bác hiểu chứ. Nhưng nó không giúp cô ấy bình tĩnh mà lại khiến cô ấy bỏ chạy.”
Môi của Ngài Frederick khẽ giật. “À.”
“Ripley cố gắng đưa cô ấy quay lại, nhưng khi cô ấy không chịu quay về, cậu ta tự nhận trách nhiệm làm vệ sĩ cho cô ấy. Cuối cùng, cậu ta đưa cô ấy an toàn đến chỗ dì mình, nhưng vì cô ấy—Olympia—cậu ta gặp tai nạn, và cô ấy cảm thấy…” Anh nhặt lá thư lên, lật qua một trang và đọc, dùng ngón tay lần theo từng dòng chữ, “‘bắt buộc phải ở lại Điện Camberley, để ngăn cậu ta làm vết thương trở nặng hơn, vì cậu ta là đàn ông và có một ác cảm kỳ lạ với sự khôn ngoan.’ Nhưng bác có thấy lạ không, thưa bác, Phu nhân Charles không hề nhắc đến vụ tai nạn. Thật kỳ quặc, đúng không?”
Nét thoáng sầu lướt qua gương mặt của Quý ngài Frederick trong chốc lát rồi biến mất. “Không kỳ quặc chút nào,” ông nói. “Phu nhân ấy đôi khi rất khó đoán. Một phẩm chất hữu ích để quản lý chồng bà, và cả những người khác nữa.”
“Chẳng có chút ích lợi nào với cháu,” Ashmont nói. “Nhưng thôi, không bàn thêm chuyện đó nữa. Cô ấy—ý cháu là Olympia—đề nghị hủy hôn với cháu.”
“Hừm.”
“Cô ấy viết, ‘Không ai lý trí lại mong đợi ngài kết hôn với tôi lúc này.’ Nhưng cháu không lý trí, chết tiệt!” Vì không lý trí, anh thấy mình quá bối rối và khó chịu đến mức chẳng buồn quan tâm liệu bác Frederick có ở lại đến tận ngày tận thế hay không.
Ashmont tiến đến chỗ bình rượu, rót đầy hai ly, và đưa một ly cho bác mình.
“Cháu không ngại nói thật với bác là cháu chẳng hiểu gì,” công tước nói. “Trong tất cả những chuyện phiền phức trên đời. Giá mà chúng ta đến muộn hơn, hoặc ở lại lâu hơn, dù có bị tiếp đón lạnh nhạt đi nữa, Olympia và cháu đã có thể giải quyết mọi chuyện ngay tại đó.” Anh uống một ngụm. “Giờ thì cháu phải quay lại Điện Camberley vì Olympia nghĩ rằng cháu quan tâm đến những gì người ta nói. Cháu đã nói là sẽ cưới cô ấy, đúng không? Cô ấy nghĩ cháu sẽ thất hứa chỉ vì cô ấy buồn bực hay u sầu gì đó và bỏ chạy à?”
“Tóm lại, đây không phải là trò đùa của Ripley,” bác Fred nhận xét một cách trầm tư.
“Không, cậu ta chỉ định giao cô ấy cho một người họ hàng, rồi quay lại báo với cháu nơi để đến đón cô ấy. Nhưng mọi thứ cứ rối tung lên. Sau đó, cậu ta lại bị gãy tay hay gì đó.” Anh liếc xuống lá thư. “Không, là liên quan đến chân, nhưng cô ấy dùng những từ dài lê thê để giải thích. ‘Mất khả năng,’ cô ấy viết. Và cậu ta nói—”
“Những gì Ripley nói không quan trọng,” Ngài Frederick ngắt lời. “Cháu sẽ không quay lại Điện Camberley. Đây là một tình huống tế nhị hơn những gì cháu nhận thức được, điều này cũng không khiến ta ngạc nhiên, xét đến kiểu phụ nữ mà cháu thường giao du. Ta không lấy làm lạ khi cháu không biết cách cư xử với một cô gái đàng hoàng.”
“Bác đã nói cô ấy sẽ không bao giờ đồng ý cưới cháu, nhưng cô ấy đã đồng ý mà.”
“Và cháu lại không đủ khôn ngoan để giữ con bé lại.”
“Cháu đâu có buông cô ấy ra. Cô ấy—”“
“Cháu có biết mình đang có gì không? Cháu có nghĩ rằng những cô gái như vậy xuất hiện khắp nơi, chỉ kiên nhẫn chờ đợi cháu tỉnh ngộ sao? Cô gái trẻ đó sở hữu trí tuệ và bản lĩnh để trở thành một ảnh hưởng ổn định, thứ mà cháu đang rất cần.”
“Vâng, cháu biết cô ấy—”
“Cháu nghĩ mình biết, nhưng thực ra cháu chẳng biết gì hết. Cháu đang vứt bỏ cơ hội duy nhất và cuối cùng của mình để có được hạnh phúc thật sự. Cha cháu không thể thay đổi điều đã xảy ra với mẹ cháu. Nhưng ít nhất ông ấy đã có những năm tháng hạnh phúc bên bà. Còn cháu thì sẽ không có gì cả. Cháu sẽ nhìn lại, sau nhiều năm nữa, và hối tiếc.”
Nếu đây là tiếng nói của kinh nghiệm, Ashmont không nhận ra, giống như cách anh không nhận thấy cảm xúc bất thường trong giọng nói ấy.
“Tại sao ai cũng đổ lỗi cho cháu vậy?” anh nói. “Cháu đã theo đuổi cô ấy, đúng không? Chính bác đã nói cháu chỉ phí thời gian thôi. Bác bảo cô ấy sẽ không bao giờ đồng ý cưới cháu, vì cô ấy quá thông minh, bác đã nói vậy. Nhưng—”
“Cháu có thể khiến con bé nói ‘Tôi đồng ý’ được không?” bác anh ngắt lời. “Và nếu cháu nghĩ mình hoàn toàn vô tội, bác mời cháu nhìn lại chính mình. Ngay cả khi đã tắm rửa, cạo râu, và mặc quần áo sạch sẽ, trông cháu vẫn như một tên vô lại. Tệ hơn cả một thủy thủ sau ba ngày lên bờ. Không, so sánh vậy còn là bất công với các thủy thủ.”
“Cháu vừa đánh nhau!”
“Cháu lúc nào cũng đánh nhau. Nhưng lần này thì nó lộ rõ. Cháu không thể đơn giản xông tới chỗ một cô gái trẻ, người mà ta không nghi ngờ gì, đang ở trong trạng thái vô cùng lo lắng và rối bời trong bộ dạng như vậy.”
“Cháu không định xông tới!”
“Nhìn kỹ vào gương đi, Lucius,” bác anh nói. “Nếu trước đây con bé đã ngần ngại, nếu con bé nghi ngờ nhân cách của cháu hoặc lo lắng về cách cư xử của cháu, cháu nghĩ bây giờ nó sẽ lao vào vòng tay cháu sao?”
Ashmont siết chặt hai tay.
“Cháu định đánh ta sao?” bác anh nói một cách nhẹ nhàng.
“Thật không thể chịu nổi,” Ashmont nói. “Bác không thể mong cháu ở đây mà không làm gì cả.”
“Học cách chịu đựng đi,” bác Fred nói. “Ta mong cháu ở lại London cho đến khi cháu trở nên chỉn chu hơn cả về ngoại hình lẫn tâm trí. Ta sẽ đi nói chuyện với con bé.”
Ashmont buông lỏng tay, đi tới cửa sổ và nhìn ra ngoài. “Trong khi cháu ở lại đây, để mọi người tự cho mình là hóm hỉnh đến mỉa mai cháu, hỏi xem cô dâu của cháu đi đâu rồi. Và trong khi các họa sĩ biếm họa vẽ hình cháu với cặp sừng trên đầu.”
“Cháu dường như không nhận ra rằng bản thân đã trở thành trò cười từ lâu rồi à.”
Mặt Ashmont tối sầm lại, anh quay phắt đi khỏi cửa sổ.
“Cháu có thể đánh nhau với tất cả những ai thấy trò lố bịch của mình buồn cười,” bác anh nói, “hoặc lần này, hãy thể hiện một chút phẩm giá và trưởng thành, và cười xòa đi. Nếu cháu không thể nghĩ ra một lời đáp trả hài hước để đối phó với bọn chế giễu, hãy nhờ Blackwood nghĩ giúp. Nhưng nếu cháu muốn làm điều gì có ích, hãy viết một lá thư gửi tới Tiểu thư Olympia, từ chối lời đề nghị hủy hôn của cô ấy. Hãy viết một bức thư thật hay. Mà nghĩ lại, tốt hơn để ta đọc cho mà viết.”
***
Thứ sáu, ngày 14 tháng 6
Mặt trời lâu nay vắng bóng cuối cùng cũng chịu ban những tia sáng qua cửa sổ của cánh đông Điện Camberley khi Công tước xứ Ripley, vừa chửi thề vừa điều khiển một chiếc ghế cơ học từ phòng làm việc ra thư viện.
Quý ngài Charles đã xây dựng phòng làm việc dọc theo một bức tường phía ngoài bên trong thư viện, gần phía nam của nó. Bên cạnh đó, một hành lang hẹp dẫn đến cầu thang lên Phòng Trưng Bày Dài nằm ngay phía trên. Dù một phần thư viện đã được dành làm phòng làm việc, phần còn lại vẫn kéo dài khoảng 100 feet (~30m), gần như chiếm toàn bộ chiều dài của cánh nhà phía này. Tuy nhiên, nó chứa nhiều chướng ngại vật hơn hẳn, như bàn, ghế, đôn để chân và các bộ thang, so với Phòng Trưng Bày Dài ở phía trên. Nhưng vì ở phía trên, Phòng Trưng Bày Dài lại không thể tiếp cận được với Ripley.
Chân anh đặt trên bàn kê chân nâng cao, và tay anh nắm chặt các tay cầm nhô ra từ tay ghế. Xoay các tay cầm—riêng lẻ hoặc cùng nhau—sẽ di chuyển chiếc ghế theo nhiều hướng khác nhau. Mẹo nằm ở chỗ phải nhớ được sự kết hợp xoay nào sẽ di chuyển ghế theo hướng nào.
Sau khi giật mình xoay ghế qua phải, qua trái, rồi xoay tròn, anh nắm chặt cả hai tay cầm và xoay cả hai về phía mình.
Chiếc ghế lao ngược về phía sau, và anh nghe thấy một tiếng hét nhỏ phía sau lưng. Giật mạnh tay cầm theo hướng ngược lại, anh lao về phía trước. Với tiếng gầm đầy bực bội, anh xoay cả hai tay cầm về bên phải, và chiếc ghế quay sang phải, rồi lại quay phải thêm lần nữa.
Anh nghe thấy tiếng bước chân đến gần.
“Có lẽ, thưa công tước, ngài nên đọc hướng dẫn sử dụng thì hơn,” Tiểu thư Olympia nói.
Anh cảm thấy tóc gáy dựng lên khi nghe giọng nói của cô. “Không,” anh nói. “Nếu bà tôi có thể điều khiển thứ này, thì chắc chắn tôi cũng có thể.”
Cô tiến lại gần hơn và bước vòng quanh anh. “Chiếc ghế này trông chẳng giống bất kỳ chiếc ghế dành cho người bệnh nào mà tôi từng thấy.”
“Chúng từng rất thịnh hành vào một thời điểm nào đó,” anh nói. “Không biết có bao nhiêu chiếc được sản xuất. ‘Ghế Cơ Học Merlin.’” Anh vỗ nhẹ vào tay cầm đã sờn cũ. “Bác Charles thường nói về việc thăm bảo tàng cơ học của Merlin ở phố Princes. Bác ấy đã mua chiếc này cho bà tôi.”
Cô cúi xuống để quan sát hệ thống thanh kim loại nối với bánh xe. “Thứ này phức tạp hơn hẳn những gì người ta thường thấy.”
Cô mặc thêm một chiếc váy khác của dì anh, đơn giản và màu xám, chỉ ngoại trừ chiếc khăn quàng cổ trắng buộc quanh cổ. Tay áo bó hẹp, chỉ có một chút phồng nhỏ ở phần trên cánh tay. Phần thân áo cũng nghiêm nghị không kém. Giống như một chiếc áo khoác, chiếc váy cài khuy từ cổ đến gấu. Dù chiếc này vừa vặn hơn so với chiếc cô mặc hôm qua, nhưng vẫn không vừa như lẽ ra phải thế.
Mái tóc nâu dày của cô trông ổn hơn. Nó đã được búi lên một cách đơn giản, với vài lọn cuộn ở phía sau đầu và vài lọn xoăn nhẹ ôm lấy khuôn mặt cô.
Anh muốn cúi xuống để hít hà hương thơm từ mái tóc của cô, mùi hương tươi mát mà anh nhớ quá rõ. Nhưng anh ngồi thẳng lưng, nhìn chằm chằm về phía trước qua mũi giày của mình.
“Nó được thiết kế để giúp người bệnh di chuyển độc lập hơn,” anh nói. “Bà tôi từng tự mình đi qua bãi cỏ, sỏi đá và đủ loại địa hình. Tôi nghe nói từng có lý thuyết đùa cợt về việc gắn động cơ hơi nước vào nó, để di chuyển mọi người mà không cần sức người hay sức động vật. Tôi dám nói rằng bà vẫn sẽ còn lăn lóc khắp nơi trong chiếc ghế này, nếu như không bị cơn sốt ác nghiệt cướp đi.”
Chính cơn sốt ấy, anh từng nghe kể, đã khiến cha anh trở thành một con người hoàn toàn khác. Dù Ripley khi đó mới mười tuổi, anh gần như không nhớ được người cha trước kia, người mà mẹ anh đôi khi nhắc đến, một người đàn ông dí dỏm, quyến rũ, người đã chiếm được trái tim bà. Ký ức về người cha vui vẻ ấy đã bị người cha hiện tại, một kẻ bủn xỉn và đau khổ, xóa nhòa.
“Bác Charles hẳn đã rất chán nản khi phải sử dụng chiếc ghế này,” anh nói. “Giống như tôi bây giờ. Nhưng không còn cách nào khác. Các quý cô, quý bà trong nhà này mắng mỏ tôi đến mức tôi không còn tai để nghe hay trí óc để nghĩ mỗi khi tôi cố bước đi. Với cái chân đau này, tôi không đủ nhanh để chạy thoát khỏi họ.”
Cô đứng dậy, vuốt thẳng váy. “Cuộc sống của anh thật bi kịch và đau khổ.”
“Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày mình bị quản thúc và lăn lóc trong một chiếc ghế cho người bệnh. Nhưng giờ thì ngày ấy đã đến. Tôi còn cảm thấy cơn gút đang đến gần. Có lẽ tôi nên đội tóc giả và mang răng giả đi là vừa.”
Cô chỉnh lại cặp kính, dù chúng đã ngay ngắn. “Và biết bao người từng nghĩ rằng anh sẽ không sống đủ lâu để bị gút hay cần đến tóc giả và răng giả.”
“Thưa cô, liệu cô chỉ đến đây để chế nhạo tình trạng tàn tật của tôi, hay có một động cơ thầm kín nào khác?”
Cô chống tay lên hông, đưa mắt nhìn khắp thư viện. “Dì anh tình cờ nhắc rằng những quyển sách mà Quý ngài Charles thu thập gần đây chưa bao giờ được ghi vào sổ thư viện. Chúng đang chất đống đâu đó trong căn phòng này. Tôi đã đề nghị giúp dọn dẹp.”
Ripley xoay tay cầm của chiếc ghế, và nó bắt đầu lùi lại phía sau. “Xuống đây.”
“Anh nhất định phải làm theo cách khó nhất à?” cô nói.
“Làm cách khác thì chán lắm.”
“Hay là anh không biết cách làm cho cái ghế đó tiến về phía trước vậy?”
“Tất nhiên là biết chứ. Chẳng có gì khó.” Anh xoay các tay cầm, và chiếc ghế bắt đầu chạy vòng tròn. Anh nghe thấy một thứ gì đó rơi bịch xuống tấm thảm.
“Trời đất, Ripley, anh đang làm rơi sách—cẩn thận cái ghế đẩu!”
Anh tránh được cái ghế đẩu, nhưng lại xoay tay cầm quá nhanh, khiến chiếc ghế bắt đầu xoay tròn, và cô hét lên, “Không phải cái bình hoa!” rồi nhảy đến để bắt lấy nó. Cùng lúc đó, anh xoay ghế theo hướng ngược lại. Cô loạng choạng và ngã lên chiếc ghế… nằm ngang trên đùi anh… tay vẫn giữ chặt bình hoa, còn người thì chổng lên.
Trong một khoảnh khắc dài vô tận, cả hai đều không cử động. Anh cảm nhận rõ rệt sự ấm áp từ cơ thể cô và mùi hương sáp bôi thơm từ tóc cô thoảng lên. Anh cúi đầu xuống, khẽ nhắm mắt và hít một hơi sâu.
“Nặng quá,” giọng cô vang lên, hơi nghèn nghẹt.
Anh ngẩng đầu lên, rủa thầm bản thân.
“Nếu anh có thể giữ cái ghế này đứng yên tuyệt đối,” cô nói, “ thì tôi có thể đặt cái bình này xuống sàn.”
“Tôi không chắc về ‘đứng yên tuyệt đối,’” anh nói. Vùng dưới của anh đang phản ứng nhạy bén trước cơ thể phụ nữ ở cự ly gần. Anh có thể cảm nhận được ngực cô áp vào cánh tay mình.
“Anh có thể cầm lấy không?” cô hỏi.
“Cái gì?”
“Cái bình. Anh có thể lấy nó từ tôi không?”
Anh thận trọng vươn một tay ra. Chiếc ghế lùi lại.
“Khóa phanh đi,” cô nói.
“Tôi không chắc cái này có phanh,” anh nói.
“Đừng có ngốc,” cô nói. “Chắc chắn là có rồi.”
Thật khó để không trở thành kẻ ngốc khi có một người phụ nữ xinh đẹp nằm gần như này trên đùi mình, và bản thân anh lại chẳng phải loại thánh nhân gì cho cam.
“Nó ở bên phải anh đấy,” cô nói. “Ngay trên chỗ tay ghế cong. Cái cần nhỏ hơn. Anh đã phải nhấc nó lên để ghế có thể di chuyển.”
“À, đúng rồi. Quên mất.” Anh nhấn cần xuống và khóa bánh xe lại.
Cô cẩn thận đặt chiếc bình xuống. Điều này không dễ như người ta tưởng. Cô phải di chuyển cơ thể từ một tư thế khó chịu sang một tư thế khác cũng chẳng thoải mái hơn là bao. Mặc dù tốt hơn là nên nhìn đi chỗ khác—ví dụ như nhìn lên trần nhà—nhưng anh không đủ khôn ngoan để làm vậy. Ánh mắt anh dán chặt vào vòng ba của cô, thứ chỉ được che phủ sơ sài dưới lớp váy lót quá mỏng.
Vòng ba ấy chuyển động một cách đầy khiêu khích, chỉ cách bàn tay đang nắm lấy cần điều khiển vài inch.
Anh siết chặt tay cầm hơn.
Cô bắt đầu cẩn thận trèo xuống khỏi người anh, xoay người để tránh mặt anh.
Thật cẩn trọng, vì mỗi chuyển động nhỏ của cô cũng khiến anh bùng nổ những cảm giác mãnh liệt ở phần bản năng, chẳng màng đến tình bạn, chứ đừng nói đến sự đúng mực. Những phần ấy chỉ quan tâm đến cơ thể nữ tính mềm mại đang áp sát cánh tay, ngực, và nằm gọn trong lòng anh.
Nhịp tim anh tăng vọt, và những cảm giác khác ùa đến. Bàn tay đang siết chặt cần điều khiển bất giác giật mạnh lên.
Chiếc ghế bắt đầu lăn nhanh về phía cửa sổ.
“Ripley, đừng đùa nữa!”
“Đừng có cựa quậy.”
“Tôi đang cố xuống mà không làm đau chân anh. Hoặc không ngã sấp mặt. Dừng cái ghế lại trước khi chúng ta lao qua cửa sổ!”
Anh kéo tay cầm, và chiếc ghế quay ngoặt sang bên phải.
Cô loạng choạng cố rời khỏi người anh, nhưng chuyển động của cô lại khiến chiếc ghế càng lăn nhanh hơn. “Dừng lại, Ripley!”
“Tôi không thể với tới cái cần,” anh nói. “Váy của cô đang chắn đường.” Và cả vòng ba tuyệt mỹ của cô, hiện đang áp sát bụng anh, cũng chắn đường. Rõ ràng là cả khả năng suy nghĩ tỉnh táo của anh cũng bị cản trở.
Cô cựa quậy thêm một chút, cuối cùng xoay xở để ngồi gọn trên đùi anh với đôi chân lơ lửng qua đầu gối anh. “Dừng lại để tôi xuống được không?” cô nói.
Anh dừng chiếc ghế. Nhưng anh không hề muốn làm vậy.
Anh tự nhủ phải cư xử đúng mực, nhưng điều đó không theo lẽ thường tình của cả một đời làm để làm điều ngược lại. Anh nhìn dọc theo thư viện dài đầy chướng ngại vật, và một điều gì đó trong tâm trí anh thay đổi.
Khi cô bắt đầu rời khỏi đùi anh một cách thận trọng, anh xoay tay cầm.
Chiếc ghế lại bắt đầu di chuyển. Cô vươn tay về phía cần gạt để dừng bánh xe, nhưng chân anh chắn đường. Cô nắm lấy tay phải anh, cố xoay tay cầm, nhưng anh giữ chặt, không nhúc nhích.
Cô cắn môi. Khuôn mặt cô đỏ ửng, hơi thở gấp gáp, và kính cô bị lệch sang một bên.
Anh kéo tay cầm, và chiếc ghế lăn về phía trước.
Cô túm lấy cánh tay anh. “Ripley!”
“Và sau một cú khởi đầu chệch choạc, cuộc đua chính thức bắt đầu!” anh nói. “Ripley dẫn đầu, tay đua là Quý cô O bám chặt như thể sinh mạng phụ thuộc vào nó. Nhưng đối thủ Cái ghế và Cái ghế khác bám sát phía sau. Bàn đang tiến lên gần góc cua, nhưng Ripley vẫn giữ vững vị trí dẫn đầu. Tốc độ của chiến mã thật đáng kinh ngạc!”
Anh tiếp tục miêu tả như thể đang tường thuật một cuộc đua ngựa cho đám đông đang hồi hộp dõi theo, trong khi xoay tay cầm để chiếc ghế lăn nhanh về phía nam của thư viện.
“Ripley!”
Anh suýt đâm vào một cái ghế đẩu và tiếp tục lăn. “Liệu Ripley có đâm vào cái rương mà Vua James I tặng cho ai đó đã chết hàng trăm năm trước không? Nhưng không, Ripley thông minh tránh được trong gang tấc, và giờ lao về phía bàn viết của Vua Charles II—”
“Rẽ trái đi, đồ điên!” cô hét lên. “Trái!”
Anh bẻ gấp sang trái, rồi thêm vài cú cua gấp nữa, lượn vòng và zigzag, miệng vẫn liên tục tường thuật. Anh cảm thấy lưng cô rung lên, rồi tiếng cười bật ra khỏi cô: một tràng cười giòn tan.
Cả thế giới như đổi khác, rực sáng lên, và trái tim anh bừng vui. Anh cũng bật cười.
“Đây là một khúc cua khó,” anh nói. “Liệu Ripley có vượt qua hay mất lái—mất cả bánh—và làm tay đua ngã nhào xuống đất?”
“Trái!” cô ra lệnh, cười không ngớt. “Trái gấp. Giờ phải. Nhanh hơn đi, Ripley. Ghế Đỏ đang đuổi kịp. Cẩn thận! Cái bình đang cố lao vào đường đua. Đừng để mất đà. Đúng rồi! Nhanh nữa, Ripley!” Cô giả vờ quất nhẹ vào đầu gối anh, và anh cười đến mức suýt làm cả hai ngã khỏi ghế.
Họ cứ thế tiếp tục, chạy dọc một bên thư viện rồi vòng lại bên kia, suýt chút nữa làm hỏng cả gia tài cổ vật quý giá. Họ không hề thấy cánh cửa mở ra hay gương mặt nhìn trộm vào. Cũng không thấy cánh cửa đóng lại, nhanh và lặng lẽ, khi chiếc ghế lăn qua.
Họ cứ lao đi trong cuộc đua điên rồ, cho đến khi cả hai cười đến không còn sức làm gì nữa. Cuối cùng anh để chiếc ghế lăn chậm lại và dừng hẳn trên một đống thảm rối rắm, không xa mấy chỗ sách anh định dẫn cô tới.
“Và đây, tại vạch đích, chiếc cúp dành cho người chiến thắng: một đống sách cũ mốc meo to đùng,” anh nói.
Cô nhìn qua chỗ sách chất đống trên một cái bàn lớn, rồi ngước lên nhìn anh. Khuôn mặt cô đỏ ửng, tóc cô bung ra lòa xòa.
“Phanh đi,” cô nói, thở hổn hển. “Khóa bánh xe lại. Là một tay đua, tôi sẽ xấu hổ lắm nếu ngã khỏi ngựa khi cuộc đua kết thúc.”
Anh loay hoay với cái cần, không thể tập trung được.
Cô nắm lấy tay anh. “Thật đấy, không khó như anh nghĩ đâu,” cô nói.
Anh giữ lấy tay cô, các ngón tay anh siết quanh tay cô, rồi đan vào nhau. Anh kéo cô lại gần hơn.
Hơi thở anh trở nên gấp gáp. Lồng ngực anh phập phồng. Cô cũng vậy. Đôi mắt cô giờ xanh thẳm, sáng như những vì sao. Vẫn còn vương lại chút dư âm của tiếng cười trong ánh mắt cô, dù nụ cười đã dần phai. Tiếng cười trong trẻo, ngọt ngào ấy vẫn vang vọng trong đầu anh.
“Cô thắng rồi,” anh nói. Rồi anh cúi đầu xuống và hôn cô.