Trên đường ra chuồng ngựa, Ripley càng lúc càng cảm thấy rõ cái mắt cá chân chết tiệt hơn là anh muốn. Anh đang nguyền rủa nó thầm thì trong đầu thì thấy Olympia rẽ khỏi con đường và nhặt một cành cây to.
Cô chìa nó ra cho anh. “Gậy chống,” cô nói. “Anh dùng nó đi.”
“Anh không cần cái nạng khốn kiếp đó.”
“Có khả thi không, hay em đang đòi hỏi quá nhiều, nếu yêu cầu anh bỏ qua lòng tự trọng đàn ông một lúc và tiếp cận vấn đề một cách bình tĩnh, hợp lý hơn?”
“Anh hoàn toàn bình tĩnh,” anh nói dối.
“Vậy ta giải quyết theo từng bước nhé,” cô nói, giọng giống hệt khi anh nói chuyện với cô lúc cô say xỉn. “Chúng ta đang cố đi thật nhanh ra chuồng ngựa vì anh bảo em chúng ta cần đến London càng sớm càng tốt.”
“Để cưới càng sớm càng tốt,” anh bắt chước giọng điềm tĩnh của cô. “Để làm điều đó, chúng ta cần một giấy phép đặc biệt. Có nghĩa là anh phải đến Doctors’ Commons. Và hy vọng họ không bắt anh đợi hàng giờ trong khi tin lan khắp nơi rằng Công tước xứ Ripley đang phát cuồng muốn cưới Tiểu thư Olympia Hightower, và chính Tổng Giám mục Canterbury triệu anh đến để hỏi tội. Bởi vì, em thấy đó, ông ta có thể vẫn còn nhớ rằng ông vừa mới cấp giấy phép đặc biệt cho Công tước xứ Ashmont để cưới chính vị tiểu thư ấy.”
“Em hiểu,” cô nói. “Điều em mong là anh đừng gãy cổ trước khi chúng ta kết hôn. Bởi vì, anh thấy đấy, nếu anh chết, thì không thể cưới em đâu, và như thế thì em sẽ khá là kẹt, anh không nghĩ vậy sao?”
“Khá là kẹt?” Anh bật cười.
“Em vốn đã có ý niệm khá rõ về chuyện tạo ra con nít,” cô nói, và tiếng cười của anh tắt ngay. “Nhờ anh, giờ em biết chính xác con người tạo ra chúng thế nào. Em không rõ khả năng chúng ta đã bắt đầu tạo một đứa là bao nhiêu. Nhưng em biết điều hợp lý và thiết thực là nên cưới cha của nó trước khi nó chào đời.”
Câu đó như cú đấm thẳng vào bụng. Mà anh cũng chẳng có lý do gì để bất ngờ cả. Anh biết quá rõ cách tạo ra một đứa bé. Lẽ ra anh nên có chút lịch thiệp mà rút ra—một lịch thiệp anh đã không ít lần dành cho các cô gái khác.
“Anh sẽ không gãy cổ đâu,” anh nói, mặt nóng bừng.
Cô lại chìa gậy ra. Ánh mắt cô khiến anh lập tức nhận ra điều gì sắp tới.
Chính là ánh mắt cô từng dùng trong sân quán Sư tử Ba ở Putney. Trước gã đàn ông to tiếng không chịu rút lại một lập trường nực cười.
Ripley cầm lấy gậy và dùng nó.
Khi tới chuồng ngựa, anh làm điều hợp lý và thiết thực—ra lệnh chuẩn bị xe bốn bánh thay vì hai bánh. Điều đó đồng nghĩa với một đời chờ đợi: chờ đóng yên ngựa, kiểm tra lại mọi thứ, rồi chờ người đánh xe, John, leo lên “ngai vàng” của mình.
Nhưng cú sốc Olympia gây ra làm đầu óc Ripley sáng suốt hẳn lên.
Chỉ có tên liều lĩnh mới đưa Olympia đi trong một chiếc xe thể thao nhỏ khi thời tiết đang thay đổi liên tục. Mái xe của hai bánh không đủ chắn mưa. Mưa và các cú xóc của chiếc xe kém thoải mái hơn sẽ khiến cô lo lắng cho cái mắt cá chân của anh và muốn anh có chỗ ngồi dễ chịu để nghỉ ngơi. Anh sẽ là kẻ ngu ngốc tự sát nếu không giữ cho mắt cá được nghỉ ngơi tối đa, xét tới những gì đang chờ phía trước. Quan trọng hơn, ngồi trong xe bốn bánh, với mái xe đóng lại, anh còn có thêm ít nhất bốn, năm giờ riêng tư bên Olympia, trong khi người khác cầm cương.
Dù đợi lâu, cuối cùng họ cũng xuất phát, suôn sẻ.
Ngựa của quý ngài Frederick vẫn chưa được đưa đi. Chắc hắn vẫn còn đang cãi nhau với dì Julia, đồng nghĩa với khả năng ông không thể lên đường ngay sau họ. Một cuộc chạm mặt lúc này sẽ thật khó xử, và Ripley chẳng hề có hứng giải thích với kẻ tay sai đầy thủ đoạn của Ashmont. Cuộc đối đầu đó phải là giữa bạn bè—một người với kẻ phản bội.
Ripley đã bảo đám chăm ngựa giữ im lặng và không trả lời gì trừ khi bị hỏi. May mắn thì tin tức từ chuồng ngựa sẽ không sớm quay lại dinh thự. May mắn thì chẳng ai nghi ngờ gì sớm. May mắn thì người ta sẽ cho rằng anh và Olympia, hoặc mỗi người một ngả, đã tìm nơi trú bão. Trời vẫn chưa hửng, có lẽ phải một lúc nữa ai đó mới bắt đầu đi tìm họ.
Dẫu vậy, anh vẫn không hoàn toàn đặt cược vào may mắn. Anh còn dặn đám ngựa trì hoãn việc gửi ngựa đến cho Quý ngài Frederick càng lâu càng tốt.
***
Dù gì thì may mắn cũng ở phe họ suốt chuyến đi.
Trời vẫn mưa rải rác, nhưng cơn giông thì không đuổi theo họ.
Họ đến được Luân Đôn trước khi trời tối.
Và tiến thẳng đến Dinh thự Gonerby.
Nơi họ lập tức bị cả gia đình kéo vào, kể cả nhà Newland, tất cả ùa vào chỉ vài phút sau khi Olympia và Ripley bước chân qua tiền sảnh.
Sau những tiếng reo ban đầu lắng xuống đôi chút, đám đông lôi kéo hai người vào phòng khách, nơi nồng nặc mùi sơn mới và một cái thang chắn ngang một cánh cửa. Tức là nhà vẫn còn đang sửa.
Tại đó, ồn ào lại bắt đầu nổi lên.
Ripley nói, “Đủ rồi.”
Anh là một công tước. Sóng âm thanh lập tức hạ xuống.
“Cảm ơn mọi người đã chào đón nồng nhiệt,” anh nói. “Nhưng chuyện là, không hiệu quả nếu tất cả cùng nói một lúc. Tôi chỉ cần gặp Quý ngài Gonerby. À, và cả Quy ngài Newland. Tôi rất mong được nghe ý kiến của hai ngài.” Khác với người anh vợ mơ mộng của mình, Hầu tước xứ Newland là người luôn giữ đôi chân vững vàng trên mặt đất. “Nếu ba chúng ta có thể chuyển sang phòng khác. Một số vấn đề quan trọng cần được bàn.”
Mọi ánh mắt chuyển từ anh sang Olympia rồi lại quay về anh. Một thoáng hoang mang. Rồi ít nhất hai quý bà lớn tuổi bắt đầu hình dung ra điều gì đó trong đầu. Dựa vào biểu cảm của họ, thì bức tranh ấy khá là… khó hiểu.
“Phòng làm việc của ngài, Quý ngài Gonerby?” Ripley nói. “Hay thư viện? Miễn không phải ở đây. Chuyện của đàn ông. Càng sớm càng tốt.”
“Phải, phải rồi,” Quý ngài Gonerby nói. “Nhưng—”
“Cha, công tước đang đói lắm,” Olympia nói. “Chúng con đã ngồi xe nhiều giờ, chỉ nghỉ ngắn vài lần. Hơn nữa, như con đã nói trong thư, ngài ấy bị thương. Sẽ rất tốt nếu ngài ấy được ngồi nghỉ và có cái gì lót dạ trước khi các nhưng mà bắt đầu.”
Cô không dùng “Giọng Quyền Uy” như lúc đối đầu tên bắt nạt ở quán Sư tử Bạc. Nhưng giọng nói của cô vẫn có sức mạnh khiến người nghe răm rắp làm theo.
Ripley lớn lên trong một gia đình rất nhỏ, và phần lớn tuổi trẻ anh dành ở trường, xa cha mẹ và em gái, hoặc trong yên tĩnh tại Điện Camberley. Anh không quen với kiểu… gia đình thế này. Âm thanh. Hỗn loạn. Ở Dinh thự Gonerby, ai cũng có điều để nói. Kể cả những cậu bé con.
Anh chợt nhận ra, Olympia hẳn đã phải sống thế này suốt đời—tạo ra trật tự từ hỗn loạn. Không có gì lạ khi cô sắp xếp sách thành các mục nhỏ lắt nhắt. Sách dễ kiểm soát hơn con người.
Nhưng, với con người cũng có thể làm được điều đó. Đến một mức nào đó. Cô đã chứng minh điều đó rồi.
Nếu Quý ngài Frederick đã xúi Ashmont theo đuổi cô, Ripley hoàn toàn hiểu tại sao. Còn cô gái nào có thể khiến cậu ta nghe lời?
Quý ngài Frederick chắc chắn sẽ không vui vẻ gì khi chú rể bị đổi. Hôn lễ phải diễn ra trước khi ông biết về chuyện.
May mắn là Newland nhanh chóng tiếp quản từ người anh vợ mơ hồ, và chẳng mấy chốc—xét đến tình trạng ngôi nhà nửa như đang sập, nửa như đang xây—ba người đàn ông đã có mặt trong phòng làm việc của Gonerby.
Ripley lờ đi cái ghế mời. Anh đứng tựa lò sưởi. Biết rõ đêm nay sẽ dài, và phía trước còn nhiều chuyện, anh vào đề luôn.
“Tiểu thư Olympia và tôi mong muốn kết hôn.”
“Với nhau á?” Gonerby hỏi.
“Đúng vậy, thưa ngài. Với nhau.”
“Ờm... nhưng con bé đã đính hôn với Công tước xứ Ashmont. Lẽ ra hôm trước là cưới rồi.”
“Vâng, đó là hôm trước, còn hôm nay là hôm nay. Tiểu thư đã thay đổi ý định. Và đó là đặc quyền của phụ nữ. Chúng tôi muốn kết hôn.”
“Thế còn Công tước xứ Ashmont thì sao?” Newland hỏi. “Cậu ta đã biết chuyện thay đổi kế hoạch này chưa?”
“Cậu ta sẽ biết.”
“Trong trường hợp đó, có lẽ chúng ta nên chờ cho đến khi—”
“Vì rõ ràng là cậu ta không thể cưới Tiểu thư Olympia—vì cô ấy không muốn cưới cậu ta—và vì chúng tôi đang rất vội, nên tốt nhất là lập tức bắt đầu soạn thảo hợp đồng hôn nhân,” Ripley nói. “Ngày mai tôi sẽ cho luật sư của tôi tới gặp ngài.”
Sau khi anh sửa vài điều khoản trong di chúc của mình.
“Lễ cưới sẽ diễn ra chậm nhất là vào tối mai,” anh nói thêm.
“Ngày mai,” Quý ngài Gonerby lặp lại. “Chà, mọi chuyện thật là... thú vị. Hai người cầu hôn con bé Olympia nhà tôi. Cũng không có gì lạ. Con bé—”
“Là một người không ai sánh kịp, và có vô số người muốn theo đuổi,” Ripley nói. “Tuy nhiên, về phần Tiểu thư Olympia, thì chỉ có một người, và đó là tôi. Cô ấy đã bỏ chạy khỏi Ashmont. Tôi đuổi theo. Cô ấy không phản đối việc bị bắt lại. Thật ra, cô ấy rất háo hức được cưới. Tôi. Không phải Ashmont. Tôi hy vọng điều đó đã rõ ràng.”
Xét theo biểu cảm của Quý ngài Gonerby, thì chẳng có gì là rõ ràng cả.
Anh rể của ông thì khác. Vẻ mặt trầm ngâm của hầu tước cho thấy ông đã cộng hai với hai—ví dụ: Ashmont + tính khí của Ashmont = song đấu—và nhanh chóng hiểu lý do vội vã là gì.
Gonerby bắt đầu, “À, tôi không chắc là chúng ta nên—”
“Đã rõ ràng rồi, công tước,” Newland ngắt lời, dứt khoát. “Olympia lẽ ra đã kết hôn vài hôm trước,” ông nói với em vợ. “Càng giải quyết xong mọi việc nhanh bao nhiêu, lời đồn tai tiếng sẽ tan biến nhanh bấy nhiêu.” Trước khi Gonerby kịp phản ứng, ông nói tiếp, “Vì thời gian có vẻ gấp rút, ta có thể tạm thời dùng lại các điều khoản như đã thỏa thuận với Ashmont.”
“Cũng tạm được để bắt đầu,” Ripley nói. Anh đã trả lương hậu hĩnh cho đám luật sư để họ lo mấy chuyện tiểu tiết. “Tuy nhiên, tôi sẽ yêu cầu họ thêm vài điều kiện liên quan tới thư viện Dinh thư Gonerby. Tôi nghi ngài sẽ không thấy chúng phiền hà. Giờ thì, thưa các ngài, tôi xin phép.”
Một người hầu vừa lúc đó mang khay đồ ăn và thức uống đến.
Ripley để hai người kia lại dùng bữa.
Anh ra hành lang và thấy Olympia đang đi đi lại lại.
“Anh tưởng em sẽ ở với mẹ, bàn chuyện mặc gì trong lễ cưới cơ đấy,” anh nói.
“Em không quan tâm mình mặc gì,” cô nói. “Và em rất nghi ngờ anh thì khác.”
“Chỉ cần dễ cởi là được,” anh nói. “Không nhiều khuy, thì càng tốt.” Trong đầu anh hiện ra hình ảnh Olympia đang từ từ tháo hết hàng khuy dài vô tận… gương mặt cô khi tháo xong. “Nghĩ lại thì, nhiều khuy đi. Hàng trăm cái.” Nhưng không, lúc này anh không nên nghĩ tới mấy cái khuy đó. Cần đầu óc tỉnh táo. “Em nói đúng. Anh chẳng quan tâm em mặc gì. Miễn là có nhẫn cưới.”
“Vấn đề là, em muốn có một lễ cưới,” cô nói.
“Sẽ có ngay.”
“Và một cuộc hôn nhân,” cô nói.
À, đó lại là chuyện khác hẳn.
***
Olympia nhận ra biểu cảm đó ngay. Cô đã từng thấy trên mặt tất cả những người đàn ông trong gia đình mình, vào lúc này hay lúc khác.
Ripley sắp trở thành... đàn ông.
Dĩ nhiên. Anh là đàn ông.
Cô giấu đi nỗi tuyệt vọng, nhắc bản thân rằng đây là cuộc chiến: “Thống trị hay bị thống trị”, rồi dứt khoát nói: “Em biết là thật vô lý khi yêu cầu anh đừng làm gì dại dột hay liều lĩnh. Mà thực ra, nếu anh không dại dột liều lĩnh thì đâu còn là a nh nữa. Nhưng em vẫn phải yêu cầu—không, ra lệnh—anh phải đưa lá thư này cho Ashmont.”
Cô chìa ra bức thư. Mép thư đã hơi nhàu do cô cứ nắm chặt và bước qua bước lại chờ Ripley ra khỏi phòng cha. Cô đã đoán anh sẽ tìm cách lẻn đi mà không chào tạm biệt.
Anh nhìn nó.
“Ripley.”
Anh lắc đầu. “Tối nay anh sẽ đến gặp cậu ta. Anh sẽ nói chuyện trực tiếp. Điều anh sẽ không làm là trốn sau váy phụ nữ.”
Cô không đảo mắt. Không túm cổ áo anh lắc mạnh. Cũng không giơ tay tát.
Cô chỉ nhìn anh như thể đang nhìn một trong các anh em trai khi họ cố chấp đến mức ngu ngốc.
Anh thở dài, rồi cầm lấy lá thư.
“Anh không được đốt nó,” cô nói.
“Anh có nằm mơ cũng không làm vậy.”
“Cũng không được hủy theo bất kỳ cách nào. Anh phải đưa nó cho Ashmont.”
“Olympia, chúng ta đã bàn về chuyện này rồi mà.”
Cái họ làm là cãi nhau suốt cả đoạn đường tới Luân Đôn. Rồi anh ngừng cãi và bắt đầu hôn cô, và từ đó, mọi chuyện chuyển hướng theo cách... khai sáng.
“Không phải là bàn bạc, anh nói với em là không cần viết thư. Anh là đàn ông, anh sẽ xử lý bạn mình, đàn ông với đàn ông. Nhưng anh đã sai, và nếu không dùng mấy chiến thuật không công bằng kia—”
“Trong tình yêu và chiến tranh, mọi thứ đều được phép.”
Yêu.
Cả hai chưa từng thốt ra từ đó. Cô vẫn đang tự nhủ đây chỉ là si mê—rất có thể là si mê chết người. Còn anh, cũng có thể dùng từ “yêu” theo nghĩa rộng.
“Câu đó hay đấy,” cô nói. “Hữu ích, nhưng không hẳn đúng. Sự thật là, em đã phá vỡ lời hứa với Ashmont. Dù sao thì đính hôn cũng là một lời hứa thiêng liêng. Ngày xưa—”
“Không có thời gian để mổ xẻ lịch sử hay pháp lý đâu, em biết đấy. Việc thì nhiều, thời gian thì ít.”
“Ashmont xứng đáng nhận được lời xin lỗi,” cô nói. “Từ chính em. Em đã sai khi mời anh ta giải thoát cho em thay vì nói thẳng rằng em không muốn cưới. Em đã sai khi bỏ chạy, thay vì dũng cảm—hay ít ra là thẳng thắn—nói rằng em không yêu anh ta.”
“Nhưng nếu em không làm tất cả những điều đó, thì em đã là một cô gái ngoan,” Ripley nói.
Cô vẫn đang làm quen với ý nghĩ mình là một cô gái hư. Ban đầu, đó là một cú sốc kinh hoàng. Giờ thì, rất nhiều điều từng vô lý trong đời cô bỗng nhiên trở nên cực kỳ hợp lý.
“Đàn ông có thể cư xử tệ nhưng vẫn làm điều đúng đắn và xin lỗi,” cô nói. “Thì em cũng có thể là một cô gái hư mà vẫn cư xử tử tế. Em đã làm vậy rồi. Trong thư. Và anh sẽ đưa nó cho Ashmont.”
“Em cho rằng cậu ta sẽ đủ tỉnh táo để đọc à?”
Cô như muốn khóc. Nhưng cô sẽ không cho phép mình làm vậy.
“Em không biết,” cô nói. “Không biết nó có ích gì không. Em chỉ biết là mình nợ anh ấy điều đó thôi.” Cô dừng lại, và lại nhắc bản thân không được bật khóc. “Và em không muốn anh đánh nhau với anh ta phải đánh nhau.”
Cô nói được hết câu đó mà giọng không hề nghẹn.
“Biết đâu cậu ta lại thở phào nhẹ nhõm, vỗ vai anh rồi nói, ‘Thôi, tốt cho cậu đấy,’” Ripley nói.
“Nếu còn chút lý trí, anh ta nên làm vậy.”
“Chúng ta thì ai có lý trí đâu, em yêu. Em biết rõ điều đó mà.”
“Ôi, Ripley!” Cô quàng tay ôm lấy cổ anh. “Anh không được đánh nhau với anh ta,“ cô thì thầm, áp má vào ngực anh. “Em không cho phép. Anh đã cố làm điều đúng. Em mới là người khiến mọi chuyện rối tung lên.”
“Anh mừng là em đã làm vậy,” anh nói. Anh nâng cằm cô lên và hôn cô. Không nhẹ nhàng, cũng chẳng dịu dàng hay trìu mến. Nụ hôn đó mãnh liệt, quyết đoán và nghiền nát mọi âu lo, mọi mặc cảm trong cô. Cô đáp lại không kém phần dữ dội, và tan chảy trong vòng tay anh.
Rồi nó kết thúc. Anh từ từ rời xa cô.
“Thế đấy, người đàn ông nào mà lại không muốn quay lại vì thêm một lần như thế chứ?” anh nói, với nụ cười nghiêng nghiêng khiến tim cô thắt lại. “Mà trong trường hợp của anh thì... lết về lại. Giờ thì đi cãi nhau với mẹ về váy cưới lần hai của em đi, và để phần còn lại cho anh lo. Mọi chuyện sẽ ổn thôi, anh hứa.”
***
Trên đường về nhà, Công tước xứ Ripley nhận ra đã rất lâu rồi không có ai lo lắng hay bận tâm đến sức khỏe của anh.
Anh nhớ lại lúc Olympia hỏi, trên đường đến cầu Battersea, rằng anh có mang đủ tiền trả người chèo thuyền không.
À, cô có mấy người anh em trai. Một bầy. Việc lo lắng chăm sóc chắc ăn sâu vào máu cô. Cũng như cái thói ra lệnh cho đàn ông. Sẽ tuyệt biết bao nếu phần đời còn lại của anh được ai đó quan tâm chăm sóc—và anh thì cứ không chịu nghe lời.
Sẽ thật tuyệt… nếu cuộc đời anh không sắp kết thúc quá sớm.
Về đến nhà, anh yêu cầu một bữa tối nhẹ rồi viết vài bức thư, cho người hầu mang đến văn phòng luật sư cùng vài nơi khác. Anh giao bản thân cho người hầu riêng chăm sóc: tắm rửa, cạo râu. Rồi thay đồ: áo lót, áo ghi lê, quần, khoác áo choàng lụa.
Anh ăn trong phòng riêng thay vì dùng bữa ở phòng ăn lớn, cố gắng làm tròn phần mình với bữa ăn cầu kỳ mà đầu bếp Chardot đã chuẩn bị vội vàng nhưng xuất sắc. Lần đầu tiên kể từ tuổi thơ khắc khổ, Ripley không có cảm giác thèm ăn. Nhưng anh biết mình phải thực tế và hợp lý. Một người đàn ông không thể suy nghĩ thông suốt nếu bụng đang rỗng. Mà lúc này, anh cần suy nghĩ và hành động thật cẩn trọng—một trạng thái anh không hề quen thuộc.
Dẫu vậy, bất kể anh có suy nghĩ kỹ tới đâu, hành động thận trọng ra sao, chẳng mấy chốc anh sẽ phải đối mặt với một người chẳng hề biết suy nghĩ hay cẩn trọng gì cả.
Điều đó có nghĩa: đây có thể là một trong những bữa ăn cuối cùng của Công tước xứ Ripley. Nếu không phải cuối cùng.
Dù thế nào, anh vẫn sẽ cố thưởng thức. Đó là điều thực tế và khôn ngoan phải làm, nếu không muốn khiến đầu bếp giỏi nhất London phật lòng.
Anh hình dung cảnh Olympia ngồi bên tay phải, trong một bữa tiệc linh đình do Chardot dọn lên. Anh mỉm cười và ăn, dù chẳng nếm thấy gì cả.
Xong bữa, anh trở lại phòng thay đồ, hoàn tất việc chuẩn bị cho buổi tối, chọn cây gậy chống chắc chắn nhất, rồi rời khỏi nhà.
***
Quá muộn.
Vì bị Phu nhân Charles tra hỏi dồn dập và vì bản thân không muốn mạnh tay với phụ nữ—dù bà ta có khiêu khích cỡ nào—nên Quý ông Frederick rời khỏi Điện Camberley trễ hơn rất nhiều so với kế hoạch. Khi cuối cùng cũng cưỡi ngựa rời khỏi cổng, ông thậm chí còn thoáng có ý định quay lại để tiếp tục cuộc cãi vã đó. Sự do dự—bất thường với ông—có thể đã góp phần làm chậm hành trình về sau.
Lại còn mưa nữa.
Thỉnh thoảng mưa tạt vào ông trên đường quay lại quán trọ—nơi sáng nay ông đã dừng để chỉnh trang lại bản thân—và tiếp tục tạt vào xe ngựa suốt quãng đường về London.
Dù vậy, ông vẫn quay lại được. Nhưng tất cả là vô ích. Khi anh đến Dinh thự Gonerby thì Ripley đã đến và rời đi. Việc duy nhất Quý ông Frederick có thể làm là viện cớ rằng mình chỉ ghé qua để chắc chắn Tiểu thư Olympia đã về nhà an toàn. Rồi ông được thông báo tin “vui” và buộc phải giả vờ không có gì phản đối, cũng không cần lời xin lỗi. Ông bảo họ, với nụ cười trên môi, rằng, cũng đâu phải Ripley cướp cô gái ấy khỏi tay ông đâu.
Giờ thì ông chẳng biết làm gì để cứu vãn. Tới gặp Ashmont cũng vô ích. Đúng là có thể xảy ra chuyện kinh khủng. Với Ashmont thì điều đó gần như chắc chắn. Nhưng đời vẫn đầy rẫy những chuyện kinh khủng. Đàn ông—kể cả chính Qúy ngài Frederick—vẫn thường phạm sai lầm thay đổi cả cuộc đời. Phu nhân Charles đã nói rằng chuyện này không thuộc trách nhiệm của ông. Dù ông không đồng tình lắm, nhưng lúc này, mặc cho đang vô cùng bực bội, ông lại chẳng mặn mà gì chuyện tiếp tục giúp một thanh niên rõ ràng đang muốn tự hủy hoại đời mình. Có thể, thật ra, Qúy ngài Frederick lẽ ra nên đứng ngoài ngay từ đầu. Nếu ông không xen vào, có khi đứa cháu trai đã quên cô gái ấy ngay ngày hôm sau.
Nhưng… con bé hoàn hảo với nó, Quý ngài Frederick nghĩ. Con bé có thể đã cứu vớt được nó.
Có lẽ, Ashmont giờ đã đi quá xa, không còn cứu nổi nữa.
Và có lẽ, Quý ngài Frederick đáng ra nên cứ ở lại Điện Camberley và để Phu nhân Charles làm phiền tiếp. Ít ra thì bà ấy cũng không phải thằng cháu trai nghiện rượu ngu ngốc. Và rõ ràng là dễ nhìn hơn hẳn.
***
Chưa đến nửa đêm, Ripley đã tóm được Ashmont tại câu lạc bộ Crockford’s.
Cảm giác như đã một thế kỷ trôi qua kể từ lần cuối Ripley bước ra khỏi sòng bạc vào lúc rạng sáng. Cảm giác như một đời người đã trôi qua kể từ khi Ashmont chỉ định anh làm người giám sát đám cưới.
Mới chưa đầy ba ngày.
Anh tìm thấy Ashmont trong phòng hazard, đang chơi cùng Blackwood.
Chỉ liếc một cái là Ripley đã biết—mặc dù trời còn sớm, Ashmont đã say mèm.
Thôi xong. Hy vọng tìm được cậu ta trong trạng thái tỉnh táo chỉ là ảo tưởng.
“Ripley, đồ khốn! Cuối cùng cũng mò mặt ra rồi đấy à!” Ashmont hất người khỏi bàn, đứng dậy. “Đến muộn chết tiệt. Tôi chán muốn chết rồi đây.”
“Thưa Đức ngài, tiền thắng của ngài,” người chia bài nói.
“Phát cho mọi người đi, phát đều đi,” Ashmont phẩy tay. “Cho đám kia chút hy vọng.”
Ashmont vui vẻ đi theo Ripley ra hành lang, Blackwood theo sau.
Khi đã ra khỏi phòng và tránh xa tai vách mạch rừng, Ripley nói: “Tôi đến để đưa cậu về nhà.”
“Ha ha. Nhìn tôi thảm thế à? Nhưng tôi ổn. Nhìn thế thôi chứ chẳng sao hết. Chỉ đang đợi, hiểu không. Olympia về nhà an toàn rồi chứ? Hay vẫn ở với bà dì của cậu? Ông bác Fred tôi làm ầm lên. Nói tôi không đủ tư cách gặp cô ấy.”
Da cậu ta xám ngoét, mặt nhợt nhạt. Mắt đỏ ngầu, viền quanh quầng thâm sâu hoắm.
“Nhìn cậu không được tươi tắn lắm,” Ripley nói. “Có hơi mệt mỏi thì phải? Về nhà đi, chúng ta nói chuyện cho dễ.”
Sau lưng Ashmont, Blackwood nhướng mày một cách đầy hàm ý.
“Về nhà à?” Ashmont cười lớn. “Còn sớm chán để bắt tôi lên giường. Tôi vẫn còn đứng vững đây này. Nhưng có tin gì mới không? Cô ấy trả lời thư chưa? Gửi thư theo cậu à?”
“Có,” Ripley đáp. “Nhưng tôi nghĩ cậu sẽ muốn đọc nó ở chỗ kín đáo hơn một chút.”
Ashmont đảo mắt nhìn quanh, cuối cùng cũng nhận ra những nhóm quý ông đang đi ngang, giả vờ không chú ý nhưng rõ ràng đang lắng tai nghe từng từ. Khi nói đến chuyện buôn chuyện, đàn ông đâu có thua gì đàn bà.
“Ờ, bọn họ,” cậu ta gầm gừ, tâm trạng chuyển từ vui vẻ sang u tối, như thường lệ. “Khốn thật. Không phải ở đây.”
Cậu ta lảo đảo đi tiếp, Ripley đi bên cạnh, Blackwood theo sau. Vừa đi, cậu ta vừa lèm bèm, “Tụi nó cười sau lưng tôi. Không đứa nào dám nói thẳng mặt. Cứ tưởng tôi mù, điếc, câm. Như thể tôi không biết cái trò cá cược ở sổ của White’s. Đặt cược rằng tôi sẽ bị cô ấy đá. Mà đoán xem ai là ứng viên được chọn? Thử đoán xem! Không đoán được đâu. Lão Mends. Sáu mươi tuổi có dư. Ai cũng biết bộ răng giả đó là từ chiến trường Waterloo—lượm từ miệng một gã xấu số nào đấy tử trận vì vua vì nước. Mà đó mới chỉ là khúc dạo đầu. Tờ Foxe’s Morning Spectacle thì lôi tôi lên đoạn đầu báo mỗi ngày. Mỗi! Ngày!”
“Phải công nhận tụi nó làm cũng tới,” Blackwood nói.
“Chúng nó bảo không cô gái tỉnh táo nào lại muốn tôi,” Ashmont gầm gừ. “Tranh biếm họa thì vẽ tôi như một con quái vật đang rượt đuổi Olympia. Không dám ghi tên tôi đâu nhé. Chỉ dám ghi kiểu ‘một quý tộc tai tiếng’, ‘một công tước trụy lạc.’ Như thể tôi rảnh hơi đi kiện tụi chó má đó ý. Với lại, tối qua—”
Cậu ta ngưng lại khi một nhóm đàn ông bước ngang.
“Nghe nói cậu cũng bị lôi vào một vụ náo loạn ở Sư tử Bạc,” Blackwood nói, ngăn Ashmont tiếp tục.
“Vì một con chó,” Ripley đáp. Anh kể lại sự việc ở Putney trong lúc cả bọn đội mũ, rời khỏi sòng bạc, bước ra phố St. James’s đầy ồn ào.
Sương mù mỏng giăng trên phố. Khi xuống đến chân cầu thang, Ashmont khựng lại. “Cô ấy đuổi theo con chó thật à?” cậu ta cười khà khà. “Tôi không biết chuyện đó.”
“Ờ, cậu nghĩ hắn chịu kể chắc?” Ripley nói. “Cô ấy đòi lấy roi. Và hắn đưa cho cô ấy.”
Đám bạn phá lên cười.
“Tôi biết ngay cô ấy không phải hạng tầm thường mà,” Ashmont nói. “Chỉ cần năm phút là đủ biết. Nhưng tôi đã dạy hắn một bài học.”
“Bài tôi dạy hắn chưa đủ chắc?” Ripley nhướn mày.
“Hắn chặn đường bọn tôi, hét về con chó,” Blackwood nói. “Giờ thì hiểu rồi. Một cô gái chơi hắn một vố, hắn chịu không nổi.”
“Hắn xúc phạm Olympia,” Ashmont nói. “Không thể để yên được.”
“Vậy ra mắt cậu thâm tím là vì vụ đó sao?” Ripley hỏi.
“Không, cái đó là sau này. Tôi lăn từ cầu thang xuống. Nhưng nghe nói cậu cũng bị thương. Cổ chân, cô ấy viết vậy.”
Ashmont khom xuống, nhìn kỹ cổ chân Ripley—nhầm bên. Rồi lại lảo đảo đứng thẳng, nhìn cái gậy.
“Trẹo chân,” Ripley nói. “Không nghiêm trọng, nhưng đám phụ nữ làm ầm lên. Tôi định chuồn đi thì… À, mà dài dòng lắm. Về rồi kể.”
Đường phố London gần như lúc nào cũng ồn, nhất là St. James’s lúc gần nửa đêm. Ngựa, xe ngựa, tiếng người, bánh xe nghiến trên đá, tiếng vó lọc cọc—mọi thứ hòa thành một bản nhạc hỗn loạn.
Ripley cảm thấy ánh mắt của hành khách trên những chiếc xe lướt qua đang hướng về họ. Từ cửa sổ của Crockford’s cũng có người ló đầu ra hóng hớt. Chẳng bao lâu nữa, tin tức sẽ lan sang White’s đối diện, và từ khung cửa sổ nổi tiếng kia, một biển mặt người sẽ xuất hiện như mọi lần có chuyện giữa “Những Kẻ Bất Hảo”.
Mưa bắt đầu rơi—lác đác, như thể ông trời chưa quyết định xong.
Ripley quay mặt khỏi đám đông thì thấy Ashmont đang nhìn mình trừng trừng, mắt nheo lại.
“Cậu nhìn cái gì?” Ashmont hỏi.
“Khán giả khốn nạn ấy.”
Ashmont đảo mắt nhìn quanh. “Cười nhạo sau lưng. Tưởng tôi không biết.”
Mưa nặng hạt hơn.
“Gọi xe ngựa đi,” Ripley nói.
“Ý hay,” Blackwood nói. “Lại mưa nữa rồi.”
“Mặc kệ chúng nó,” Ashmont gầm. “Mặc kệ mưa. Đưa thư đây.”
Tất nhiên rồi. Phải là lúc này. “Giờ á?” Ripley nói. “Cậu định đọc thư Olympia giữa đường à? Trong mưa á? Trước cả một lũ tò mò hóng chuyện kia sao?”
“Ra khỏi mưa được không?” Blackwood nói. “Chúng ta tìm chỗ nào yên tĩnh, uống chút gì đó. Cậu không định đọc thư tình giữa phố đấy chứ?”
Ờ đấy. Nhưng đúng là Ashmont sẽ làm thế.
Ripley đúng là điên rồi khi hứa với Olympia sẽ đưa thư, khi không có tí đảm bảo nào rằng Ashmont sẽ đọc nó trong trạng thái tỉnh táo—hay ít nhất là ở nơi riêng tư như một người bình thường.
“Nếu hai người sợ tan chảy trong mưa thì cứ gọi xe đi,” Ashmont nói. “Tôi muốn đọc thư. Ngay bây giờ.”
Phải rồi. Phải là như thế. Giữa phố. Trong mưa. Có khán giả. Vì đó là Ashmont, bốc đồng, bùng nổ, lúc nào cũng náo động như núi lửa.
“Mưa thì chịu. Nhưng tôi không muốn biến thành trò cười tối nay,” Ripley nói.
“Đưa cái thư khốn kiếp đó đây!”
“Chúng ta có thể tránh cơn mưa chết tiệt này trước không?” Blackwood nói.
“Cậu tránh đi,” Ashmont nói. “Gọi xe đi. Còn tôi thì muốn có bức thư. Đưa ngay cái thư chó chết đó cho tôi!”
“Chúa ơi. Đưa cho cậu ta đi, Ripley.”
Ripley rút lá thư từ trong áo khoác và đưa cho bạn. Ashmont giật lấy, đi thẳng đến gần cột đèn đường. Cậu ta mở thư ra và bắt đầu đọc, nheo mắt. Mưa rơi trên giấy, làm nhòe đi nét mực.
Thư không dài—ít ra là theo tiêu chuẩn của Olympia.
Sau một hồi lâu như thiên thu, Ashmont ngẩng lên nhìn Ripley. “Đùa hả?”
“Tôi không biết trong đó viết cái gì,” Ripley nói.
“Biết,” Ashmont gằn từng chữ, giọng trầm và giận dữ. “Cậu thừa biết.”
“Tôi chỉ biết không phải đùa. Hoàn toàn không. Cô ấy rất xúc động khi viết nó.”
“Xúc động? Xúc động sao? Cậu gọi thế là xúc động á? Mà cậu còn mặt mũi đứng đây cười cợt, kể chuyện tào lao, trong khi cậu—”
“Tôi đâu có định giải quyết chuyện này giữa phố St. James! Tôi đến để đưa cậu về nhà và—”
“Chết tiệt cái gì thế này?” Blackwood quát. Cậu ta giật lấy lá thư từ tay Ashmont và đọc. “Trời đất. Ripley.”
“Đồ khốn,” Ashmont gầm lên. “Đồ khốn nạn. Đồ phản bội, lừa lọc, giả dối! Tôi đã tin tưởng cậu!” Cậu ta lao tới Ripley, đẩy mạnh anh va vào hàng rào đá trước cửa Crockford’s.
Ripley lập tức bật dậy, đáp trả ngay.
Đám đông bắt đầu ùa ra khỏi các câu lạc bộ.
Ashmont vung tay đánh, Ripley né được. Cậu ta chửi rủa rồi lao tới chộp lấy cổ Ripley. Ripley chắn lại.
Trước khi Ripley kịp vật Ashmont ra giữa đường, Blackwood đã kéo Ashmont lùi lại. “Không phải ở đây, chết tiệt cả hai người.”
Nhưng phải là ở đây. Phải là bây giờ. Cả người Ripley chỉ còn là cơn thịnh nộ, chỉ muốn xé Ashmont ra từng mảnh cho hả giận.
“Ngay ở đây cũng được,” Ashmont gầm gừ. “Ngay giữa đường, để thiên hạ thấy cái bộ mặt thật bẩn thỉu, dối trá, ti tiện của cậu ta, cái gã gọi là bạn thân của tôi.”
“Ti tiện à? Vậy ai là cái kẻ say bí tỉ không buồn đi tìm—”
“Không ở đây,” Blackwood nói, giọng trầm xuống. “Hai người muốn kéo tên cô ấy xuống bùn cùng với mình à?”
Câu đó khiến họ khựng lại. Gần như vậy.
Ripley cố gắng giãn các đốt ngón tay đang nắm chặt. Ashmont lắc đầu, giọng khàn đặc: “Không, không ở đây. Cậu biết chỗ. Biết giờ. Bình minh. Súng tay hai người, một người được ăn sáng (ai sống thì ăn sáng). Gặp nhau ở Putney Heath, Ripley.”
“Không, cậu sẽ không gặp tôi đâu,” Ripley nói. “Tôi sẽ không đấu súng với cậu. Ngày mai tôi còn phải cưới vợ.”
Ashmont như bị đánh thẳng vào mặt. Cậu ta giật đầu về sau, sững sờ. Dù vậy, trong cơn giận điên cuồng, Ripley vẫn muốn đấm cậu ta thêm một cú nữa, vì bạn thân mình là một thằng đại ngốc đang trên đà tự hủy.
Ashmont lại xông tới, nhưng Blackwood giữ chặt lại. “Bỏ đi,” cậu ta nói. “Suy nghĩ đi. Giờ họ phải cưới nhau. Chấm dứt tai tiếng. Ai cũng thấy hai người ở bên nhau, và cậu đã quá trễ rồi. Chấm dứt rồi, anh bạn. Bỏ qua đi.”
“Chưa,” Ashmont nói. “Chưa kết thúc đâu.”
Không thể nào kết thúc được. Mọi chuyện quá ồn ào, quá công khai. Lòng tự trọng của Ashmont không chịu nổi. Cậu ta muốn giết Ripley, và cậu ta có lý do làm vậy. Ripley đã cướp mất cô gái, phản bội tình bạn, và biến cậu ta thành trò hề.
Chỉ có một cách để xóa sạch mọi thứ. Chỉ một con đường danh dự còn lại.
Súng tay lúc bình minh.
“Tôi biết,” Ripley nói. “Nhưng không phải trước ngày mai.” Anh chống gậy, khập khiễng bước lên phía Piccadilly.
Sau lưng, anh nghe tiếng Ashmont hét vang. “Nhìn cái gì? Biến hết đi, lũ chết tiệt!”