Vẫn chưa đủ.
Nhưng đó là tất cả những gì Ripley có.
Anh ôm cô thật chặt, vì có lẽ đây là đêm cuối cùng anh được ôm cô.
Anh nói, “Giờ thì đúng như vậy chứ.”
“Ra thế,” nữ công tước của anh cất lời. “Quan hệ vợ chồng chắc chưa trọn vẹn nếu người phụ nữ không ngất đi.”
“Hoặc hét lên. Tốt nhất là cả hai.”
Cô hơi trở mình trong vòng tay anh, ngước lên nhìn anh. “Chả trách em tìm mãi chẳng thấy gì trong mấy cuốn sách ở Dinh thự Newland. Chả trách mẹ em bắt đầu nói năng chẳng đâu vào đâu.”
“Ồ, sách thì có chứ,” anh nói. “Anh có cả một bộ sưu tập sách dâm đãng đồ sộ. Có cuốn cổ lắm, nhưng chẳng gì sánh được với bản Kinh Thánh Mazarin năm 1450 in bằng chữ rời.”
“Là cuốn đầu tiên in bằng chữ rời,” cô đính chính.
Anh bật cười. “Anh còn tự hào sở hữu một bộ tranh khiêu dâm kha khá, trong đó có cả một tuyển tập tác phẩm tục tĩu của Thomas Rowlandson. Nhân tiện, theo hệ thống phân loại của em, em sẽ xếp mấy cuốn sách hư hỏng ấy vào đâu?”
“Triết học tự nhiên,” cô nói. “Hoặc vào một nhóm nào đó của văn học, tùy trường hợp.”
Anh nheo mắt nhìn cô. “Có vẻ em đâu hoàn toàn ngây thơ về khoản này. Lẽ ra anh phải nhận ra mới phải.”
“Boccaccio,” cô nói. “Ovid. Chaucer. Nhưng khi chẳng biết gì, mấy thứ đó cũng chẳng có ý nghĩa mấy. Giờ thì em sẽ đọc lại bằng con mắt hiểu biết hơn.”
“Nếu từng đọc cuốn The School of Venus, em hẳn đã hiểu hơn. Hình như từ thời vua Charles II. Nó mô tả rất thẳng thắn những chuyện các cặp đôi hay làm. Có cả minh họa.”
Mắt cô mở to. Trong ánh nến chập chờn, anh cũng không chắc bây giờ chúng có màu gì. “Thật sao? Nghe đúng là thứ em từng tìm khi lục thư viện của chú em. Nhưng em gần như không biết phải tìm ở đâu.”
“Nếu ông ấy có loại sách đó, chắc chắn đã giấu kỹ,” Ripley nói. “Cha em cũng vậy thôi.”
“Em không chắc Cha biết trong thư viện mình có gì nữa,” cô nói. “Mà dù sao rồi cũng sẽ chuyển về cho chúng ta, ông sẽ chẳng bao giờ phát hiện. Em mong anh sẽ nghĩ xem nên để chúng ở đâu.”
Đổi lại một thỏa thuận tài chính hào phóng, bộ sưu tập thư viện của Bá tước xứ Gonerby sẽ là một trong những thứ Olympia mang theo vào hôn nhân. Đây là một trong các điều kiện Ripley thêm vào khế ước hôn nhân.
“Em muốn để sách ở đâu cũng được,” Ripley nói. “Chúng có thể mở rộng thư viện ở đây, hoặc chuyển chúng về ngôi nhà ở Lincolnshire. Hoặc một trong những căn nhà khác. Em muốn chuyển tập nào đi đâu tùy ý. Cũng có thứ vớ vẩn, em sẽ muốn loại bỏ. Việc cho em làm thì nhiều, chỉ e anh không giúp được bằng Mends.”
Cô chống một khuỷu tay ngồi nhổm dậy. “Em đâu định dành hết thời gian làm thủ thư riêng cho anh đâu, thưa công tước.”
“Nghe vậy anh nhẹ cả người. Vì anh còn có… tưởng tượng.” Anh nghĩ về tất cả những gì mình đã bỏ lỡ khi không có vợ. Nhưng không, với bất kỳ người vợ nào khác cũng chẳng thể như thế này. Phải là Olympia. Và phải là bây giờ. Sai thời điểm, sai hoàn cảnh… Thôi nào. Đừng ủy mị. Anh đang ở hiện tại.
“Vâng, nếu em phải dành phần lớn thời gian trên giường—”
“Không nhất thiết phải trên giường,” anh nói.
“Nếu em sẽ dành phần lớn thời gian cho… chuyện vợ chồng, biết anh có trí tưởng tượng phong phú cũng hay đấy. Những… phóng tưởng.”
Anh cười tủm tỉm. “Anh có chứ, em yêu. Và táo bạo nữa kìa. Anh hình dung em là nữ chủ nhân các buổi tiếp đãi của anh—”
“Nữ chủ nhân của anh ư?”
“Anh thấy em tổ chức những dạ vũ hoành tráng nhất London, những bữa tiệc tối khiến người ta thèm muốn,” anh nói. “Anh tưởng tượng cảnh lái xe ngựa đưa em dạo công viên, cùng cưỡi ngựa với em. Anh hình dung những bộ cánh lộng lẫy em sẽ mặc, trở thành người dẫn dắt thời trang.”
“Quả là em… choáng thật.”
“Một công tước độc thân là một chuyện,” anh nói. “Còn công tước có vợ thì có bổn phận xã hội. Và em biết rồi đấy, anh rất thích đãi tiệc. Nhưng từ nay, dạ tiệc của anh sẽ khiến cả thành phố xôn xao vì lý do khác hẳn. Hãy tưởng tượng giới thượng lưu há hốc mồm khi đọc trên tờ Foxe’s Morning Spectacle rằng chúng ta tiếp đãi cả nhà vua lẫn nữ hoàng.”
“Em có thể hình dung mấy quý ông trong các câu lạc bộ rơi khỏi ghế vì sốc,” cô nói. “Thật lòng thì em cũng đã rơi khỏi giường nếu anh không chắn mất.”
Cô nghiêng người, luồn những ngón tay qua tóc anh.
Sự chạm vào của cô. Cái chạm ấy.
Giọng nói cô.
Cảm giác làn da cô, những đường cong ấm áp của cơ thể cô, cách cô mỉm cười, cau mày, bật cười. Cách cô nhìn anh như thể anh là cả thế giới. Sao anh lại chờ lâu đến vậy? Sao anh lại ngu ngốc và mù quáng đến thế?
“Và cuối cùng, chúng ta sẽ khiêu vũ cùng nhau chứ?” cô khẽ nói.
“Chúng ta sẽ khiêu vũ,” anh đáp.
Anh nghĩ đến mọi lời hứa mình có thể buộc phải thất hứa—bất đắc dĩ thôi—tùy vào ngày mai mang đến điều gì. Rồi anh nói thêm, “Thực ra, bắt đầu luôn bây giờ đi.”
“Ý anh là giả vờ khiêu vũ thôi phải không,” cô nói.
“Không.” Anh ngồi dậy và hôn lên đỉnh đầu cô. Rồi lên chóp mũi.
Sau đó anh trượt xuống khỏi giường. Tìm chiếc áo ngủ của cô và ngoắc tay gọi.
“Cứ khỏa thân nhảy thì nghịch ngợm hơn,” anh nói. “Nhưng như thế thì đòi hỏi quá mức với khả năng tự kiềm chế còm cõi của anh.”
Cô ra khỏi giường, anh trùm áo ngủ qua đầu cô. Cô bật cười, luồn tay vào tay áo và buộc dải ruy băng.
Anh khoác áo choàng và thắt đai.
“Em đứng cạnh lò sưởi đi,” anh nói. “Giả vờ đang nói chuyện với ông Mends quý báu của em, và hãy làm ra vẻ mô phạm hết mức có thể.”
“Em cần kính,” cô nói. Cô chộp kính trên bàn đầu giường, đeo vào, rồi bước về phía lò sưởi bằng đúng dáng đi mà cô sẽ đi băng qua một phòng khiêu vũ: phảng phất nét sốt ruột mời gọi. Chắc Nữ hoàng Sheba cũng đi như thế. Và cả Cleopatra.
Cô làm mặt nghiêm trang và bắt đầu trò chuyện với một món đồ sứ trên bệ lò—một quý ông mặc trang phục thời ông nội của Ripley, ngồi bên bàn viết thư. “Tôi e ngài nhầm rồi, ngài Mends. Theo tôi được biết, cuốn Monte Santo di Dio của Antonio di Siena, kèm ba bản khắc hiếm của Baldini theo mẫu của Sandro Botticelli, được đánh giá là cuốn sách đầu tiên in bằng bản khắc đồng.”
Ripley sải bước băng qua phòng về phía cô. Mắt cá chân phải của anh nhói một cái, nhưng anh nhất quyết không để mình khập khiễng.
“Tiểu thư Olympia,” anh nói, “tôi đến cho điệu nhảy của mình.”
Cô ngước lên nhìn anh, hơi cau mày khó chịu. “Tôi không nhớ ngài đã ngỏ lời, thưa công tước, cũng chẳng nhớ tôi đã đồng ý.”
“Tôi không ngỏ lời. Đây là điệu nhảy anh muốn. Và tôi là công tước, nhớ chứ.”
Từ dưới hàng mi cụp, cô đảo mắt nhìn anh từ đầu xuống chân rồi ngược lên, và anh thấy nhiệt độ cơ thể mình tăng dần. Cái nhìn ấy. Đôi mắt ấy.
“Phải, đúng là thế,” cô nói. Cô thở dài rồi quay lại với quý ông bằng sứ. “Xin thứ lỗi, ngài Mends, nhưng như ngài thấy đấy, ngài ấy là công tước, mà ngài biết họ thế nào rồi đấy.”
Ripley nắm tay cô và dẫn ra giữa phòng. Anh cúi chào. Cô nhún gối. Anh khe khẽ ngân một khúc valse từ La Gazza Ladra của Rossini, ôm cô vào lòng, và họ bắt đầu nhảy.
Mắt cá chân đau của anh thỉnh thoảng phản đối, nhưng yếu ớt thôi. Chỉ là mỏi nhẹ.
Anh mặc kệ, và họ nhảy với nhau tự nhiên, ăn ý như cách họ vừa làm tình. Tự nhiên như cách họ bỏ trốn cùng nhau.
Anh ước gì mình đã nhảy với cô sớm hơn.
Biết bao cơ hội đã bỏ lỡ.
Nhưng họ đang nhảy đây, chân trần, xoay vòng quanh buồng ngủ của cô trong khi anh ngân nga giai điệu, thỉnh thoảng hát vài câu tiếng Ý nhớ được—có lẽ có chỗ sai, nhưng kệ. Họ nhảy từ đầu này đến đầu kia căn phòng lớn. Họ nhảy vào phòng thay đồ rồi lại ra, Olympia khúc khích cười. Họ nhảy vào buồng the, vòng quanh, rồi lại trở ra phòng ngủ. Anh không muốn dừng, nhưng đêm mùa hè quá ngắn, ngắn đến đau, và anh chẳng còn nhiều thời gian.
Cuối cùng anh choàng tay đưa điệu nhảy đến đoạn kết. Anh dạo bước cùng cô vòng quanh căn phòng như thể đó là phòng khiêu vũ, nhưng thay vì đưa cô về bên quý ông trên bệ lò, Ripley dẫn cô tới giường.
Anh cúi chào.
Cô nhún gối.
Họ cười, thở dốc.
Anh ôm lấy mặt cô. “Anh yêu em phát điên,” anh nói.
“Em yêu anh phát điên,” cô nói.
Tim anh lại đập thình thịch, không phải vì điệu valse. Anh tưởng trái tim muốn bật tung khỏi lồng ngực. Tưởng mình có thể bật khóc. Nhưng anh không được phép yếu lòng. Cô không được nghi ngờ, và anh không thể sướt mướt. Anh còn một con rồng phải giết, chỉ thế thôi. Không có lý do gì để làm hỏng đêm nay của cô, đêm tân hôn của họ.
Anh nói, “Tốt. Vậy là xong…”
Anh nhanh tay tháo đai áo choàng, tuột áo và quăng sang bên. Cô tháo dải ruy băng áo ngủ và kéo áo qua đầu.
Anh bế cô, đặt cô lên giường.
Anh lại yêu cô, dịu dàng và ngọt ngào hết mức anh biết.
Lần này, họ ngủ sau đó.
Nhưng ý nghĩ về điều chờ đợi vào ngày mai không rời anh. Nó tíc tắc đều đặn bên trong như chiếc đồng hồ, và anh tỉnh giấc khi trời vừa hửng sáng. Cô vẫn ngủ say, hầu như không cựa khi anh khẽ rời khỏi vòng tay cô.
Hơi thở cô vẫn đều đặn khi anh lặng lẽ trườn khỏi giường, tìm áo choàng. Anh rút từ túi áo ra mảnh giấy đã viết sẵn và đặt lên bàn đầu giường. Không một tiếng động, anh đi qua hành lang nối hai phòng của họ và vào phòng mình.
Người hầu của anh, Snow—một trong số ít người biết về cuộc hẹn sáng nay—mang cà phê và bánh quy vào.
Ripley uống cà phê và ăn bánh. Anh chẳng muốn thứ nào cả. Nhưng anh đã từng làm việc này. Phải có cà phê và chút gì lót dạ. Phải tỉnh táo, minh mẫn, và quan trọng nhất, đừng run vì đói hay mệt.
Anh mặc đồ đen. Tay đấu súng khôn ngoan luôn chọn màu sẫm, để khó thành mục tiêu hơn, nhất là trong một sáng London thường mù mịt mây.
Đến giờ hẹn, anh cùng Snow rời nhà. Họ đi ra phố South Audley, rẽ vào Stanhope, rồi vào Park Lane, nơi một cỗ xe thuê đang đợi. Pershore đã ngồi sẵn bên trong. Để Snow theo sau bằng xe khác, Ripley bước lên.
Cỗ xe lữ trạm lăn bánh về phía Putney Heath.
***
Olympia đang khiêu vũ ở Almack’s.
Trên gác, ban nhạc của Weippert chơi một khúc valse từ La Gazza Ladra của Rossini. Cô mặc áo ngủ, khiêu vũ với Ripley. Anh ăn vận như một vị pasha Thổ Nhĩ Kỳ, để ria mép, đội khăn xếp nạm đá quý cắm lông, quần phồng và dép mũi cong. Họ là đôi duy nhất nhảy. Những người khác đứng nhìn, chỉ trỏ, cười. Rồi ai đó hét lên, “Chặn họ lại! Chặn họ lại! Họ sắp trốn mất!”
Cảnh thay đổi, và cô cùng Ripley đang chạy qua cầu Battersea, bị một con chó khổng lồ với cặp nanh dài nhỏ dãi đuổi theo. Họ phóng vào một cỗ xe ngựa thuê, sập cửa lại. Con chó lao ầm vào cửa, sủa điên dại. Bên trong họ gặp Ashmont, tay cầm súng lục. Olympia nhìn mà cứng người, không nói được gì, khi anh ta nâng súng, chĩa thẳng vào tim Ripley. Bên ngoài, con chó cào cửa, tru như quỷ dữ. Ashmont bóp cò.
Olympia bừng tỉnh, tim đập thình thịch như thể cô vừa thực sự chạy trốn lũ quỷ và bị kẹt chung xe với vị hôn phu cũ mang sát khí.
Trong thoáng chốc cô không thoát khỏi giấc mơ nổi và không biết mình ở đâu. Rồi cô nhận ra căn phòng không tối, mà tràn thứ ánh sáng ngọc trai của buổi sớm. Ánh mắt cô lướt qua những màn che giường đắt tiền, và cô nhớ ra.
Cô nhắm mắt lại. Đêm qua. Ripley, mãnh liệt mà dịu dàng. Như mơ, như những tưởng tượng thời con gái. Anh khiến cô thấy mình như công chúa trong chuyện cổ. Anh đã làm đêm tân hôn của cô hoàn hảo, đúng như anh hứa. Anh… không ở đây.
Cô bật dậy, lạnh sống lưng. Cô thấy rõ anh không ở đó, nhưng vẫn đưa tay sờ lên gối nơi đầu anh từng tựa. Gối đã lạnh.
Phải, đúng là vợ chồng có phòng riêng. Họ chỉ chung giường khi ân ái. Tất nhiên. Nhưng họ có tách nhau ngay trong đêm tân hôn không?
Anh đã âu yếm biết bao.
Anh yêu em phát điên.
Đó không phải là mơ.
Cô không hề mơ chuyện khiêu vũ chân trần, hay cảnh Ripley ngân nga khúc valse khi quay cô vòng vòng khắp phòng. Cô không hề mơ chuyện ân ái. Cơ thể cô đang đau mỏi ở những chỗ vốn chẳng quen. Cô không hề mơ cảnh ngủ trong vòng tay anh.
Tất cả đều là thật. “Cái này cũng thế.” Trời ạ, đúng là cô ngốc quá! Biết đâu anh chỉ ra ngoài dùng phòng vệ sinh. Và nếu anh về phòng mình, có lẽ anh chỉ muốn để cô ngủ yên… điều đó hoàn toàn bình thường, hợp lý, thậm chí là chu đáo. Nếu không vì cơn ác mộng kia, chắc cô còn đang ngủ say.
Ngôi chính của Dinh thự Ripley lùi sâu khỏi những phố xá ồn ào, lại có khu vườn rộng, nên đón ánh sáng tốt hơn đa phần nhà phố London. Dù lúc này trong năm mặt trời mọc từ bốn giờ sáng, và tuy sáng nay không hẳn rực rỡ, góc nắng và sự tĩnh lặng của cả nhà cho cô biết mình đã dậy sớm hơn lệ thường hàng giờ. Cô chắc đêm tân hôn của mình đã kéo dài quá nửa đêm.
Nếu không muốn trông phờ phạc, lẽ ra cô nên ngủ tiếp.
Cô vẫn ngồi y nguyên, lưng thẳng, nhìn chằm chằm bệ lò sưởi, nơi ông quý ông bằng sứ—người mà đêm qua cô giả vờ là Quý ngài Mends—đang ngồi bên bàn viết tí hon.
Cô tự nhủ không có gì sai.
Có gì đó không ổn.
Cô trườn ra mép giường, sắp tụt xuống thì thấy một tờ giấy dày gấp gọn đặt trên bàn đầu giường.
Em yêu dấu,
Đến lúc em đọc dòng này thì mọi chuyện hẳn đã ngã ngũ, tốt hay xấu. Em sẽ giận điên lên, anh biết, và gọi anh bằng cả trăm chữ đồng nghĩa với đồ ngốc. Tin anh đi, nếu anh có thể cư xử thông minh hơn thì anh đã làm rồi. Nhưng cái bộ óc của anh, em biết mà. “Y hệt của anh ta, ít nhiều—mặc dù ít hơn thì thật khó mà tưởng tượng.’’ Em đã nói với anh thế hôm thứ Ba. Em còn nhớ không? Anh nhớ rõ lắm. Anh nghe em nói, đôi mắt hay đổi sắc của em hơi lơ mơ vì rượu brandy, và anh bỗng cười như thằng ngốc.
Nếu có cách tránh được trò ngu xuẩn sáng nay, anh thề là anh đã tránh. Nhưng anh không thể trao cho bạn mình cái thỏa mãn mà cậu ta đòi hỏi. Anh hối tiếc vì phụ lòng tin của cậu ấy. Anh hối tiếc vì nỗi nhục mà cậu ấy phải chịu. Những điều này anh có thể xin lỗi. Nhưng anh không hề hối tiếc chuyện đâm đầu yêu em. Biết đâu anh đã yêu từ nhiều năm trước mà quá ngu ngốc nên không nhận ra. Dù sao đi nữa, giờ anh biết rồi, và anh kiên quyết không xin lỗi vì đã không trả em lại cho cậu ta. Nghĩ đến lúc anh suýt làm vậy, và thử tưởng tượng em là vợ cậu ấy chứ không phải vợ anh—thôi, không tưởng tượng nữa. Em là của anh, và anh đã tự cứu mình trong gang tấc.
Mất một tình bạn chắc chắn không phải là cái giá quá cao, khi anh sẵn lòng đánh đổi cả mạng sống vì em. Không phải anh định làm vậy đâu, nhớ nhé! Nhưng nếu mọi chuyện thành tệ với anh, em phải luôn nhớ rằng anh không hối tiếc gì ngoài nỗi đau mà chuyện hôm nay có thể gây cho em. Em phải luôn tin rằng anh sẽ không đánh đổi dù chỉ một phút nào trong bốn ngày qua, bằng bất cứ giá nào. Em phải luôn tin là anh yêu em, tha thiết, vô bờ.
Hãy tin anh, Olympia yêu dấu, nữ công tước thân yêu của anh,
Tên ngốc của em,
Ripley
“Đồ ngốc!” Olympia kêu lên.
Cô trượt xuống giường và giật dây gọi người hầu. Thấy không ai xuất hiện ngay, cô chạy băng qua phòng, bật tung cửa và quát chàng hầu đang gà gật ngoài hành lang, “Anh ấy đi khi nào?”
Anh hầu Joseph lồm cồm bật dậy khỏi ghế, chớp mắt liên hồi. “Thứ lỗi, thưa Đức Bà?”
“Công tước,” cô nói. “Anh ấy đi khi nào?”
Mắt Joseph đảo lia lịa, như thể trông chờ Ripley sẽ chui ra từ gầm một chiếc bàn bày dọc hành lang. “Tôi không rõ, thưa Đức Bà.”
“Hãy hỏi cho ra,” cô nói. “Và gọi người đánh thức hầu gái của ta với cả Wrenson. Ngay.” Wrenson là quản gia. Việc của ông là biết rõ mọi chuyện của mọi người, từng phút một.
Joseph thoáng hoảng hốt.
“Ngay,” cô lặp lại. “Nếu có ai biết thì Wrenson biết. Còn nếu ông ta không biết, hoặc giả vờ không, anh phải bắt gác cổng nói thật. Và bảo ông ta cho ta một xe hackney—không phải cỗ xe—đỗ trước cửa trong mười phút nữa. Đánh thức cả nhà cũng được. Ta không còn giây nào để mất.”
Cô dùng đúng giọng điệu mà cô biết sẽ trị được đàn ông mọi lứa tuổi, mọi địa vị. Anh hầu quay người chạy thục mạng.
Cô vội quay lại phòng, lao vào phòng thay đồ. Cô giật tung các ngăn tủ áo và lôi bừa quần áo ra. “Jenkins!” cô gọi. “Cô ở đâu rồi hả trời? Làm sao tôi tìm được thứ gì để mặc đây? Jenkins! Vì Chúa, nhanh lên!”
Cô đang kéo váy vóc khỏi ngăn tủ, quẳng cả giấy bọc lẫn váy xuống sàn thì Jenkins hấp tấp chạy vào, còn đang buộc dây áo choàng, mũ ngủ lệch hẳn sang một bên.
Mắt người hầu mở to khi thấy bãi chiến trường bà chủ vừa tạo ra.
“Tôi cần thứ gì mặc cho thật nhanh,” Olympia nói. “Không màu sặc sỡ.” Mặc đồ sặc sỡ thì ai cũng nhận ra cô từ xa, có khi lại thành mồi nhử chết người. “Mười phút, không hơn—mà khi ấy có khi đã muộn.”
“Thưa Đức Bà?”
“Tí nữa tôi sẽ giải thích. Giờ không kịp.” Olympia nhìn ra cửa sổ phòng thay đồ. “Chúng ta vẫn có hi vọng tới kịp. Mùa hè họ sẽ không bắt đầu trước sáu giờ. Mấy giờ rồi, Jenkins?”
“Gần năm giờ kém rưỡi, thưa Đức Bà.”
“Vẫn kịp,” Olympia nói. “Nhưng trong mười phút nữa tôi phải mặc đồ xong—và xe hackney ấy phải đỗ sẵn trước cửa.”
“Thưa Đức Bà, như thế là không thể—”
“Hãy biến điều không thể thành có thể, Jenkins. Đây là chuyện sống còn. Nếu cô không mặc kịp cho tôi, tôi sẽ mặc mỗi lót mà ra đường đấy.”
Viễn cảnh Nữ công tước xứ Ripley xuất hiện ngoài phố trong chiếc áo lót khiến Jenkins bật chế độ “làm điều không thể”.
Mất chừng một phần tư giờ, nhưng Olympia đã tính bụng tối thiểu cũng phải hai mươi phút cho cả hackney lẫn quần áo. Jenkins xoay xở mặc xong cho cả bà chủ lẫn cho mình trong thời gian gần như bằng không vì cô nằng nặc đòi đi theo, còn Olympia thì bảo sẽ không chờ.
Thế là Nữ công tước xứ Ripley cùng hầu gái rời nhà đúng lúc—hay đúng như mức con người có thể—theo lời gác cổng thì có lẽ chỉ chậm chồng không quá nửa giờ.
“Người làm chứng sẽ phải đo và kẻ vạch bãi đấu,” Olympia giải thích với Jenkins khi chiếc hackney lắc lư qua các con phố London. “Việc này mất thời gian, vì mỗi người sẽ muốn đặt đấu thủ của mình vào vị trí thuận lợi nhất. Phút chót có thể họ sẽ cố hòa giải hai bên. Dù cuộc hẹn chắc là sáu giờ—giờ thông lệ mùa hè—cũng có thể lùi tới bảy. Dù thế nào thì cũng chưa thể nổ súng trước khi làm đủ mọi thủ tục và kiểm tra, thỏa thuận xong xuôi.”
Olympia cố nghĩ về thủ tục của một trận đấu súng, để khỏi nghĩ tới cảnh những viên đạn chết người lao vào hai gã đại ngốc vốn đáng ra là bạn thân nhất của nhau.
May cho thần kinh của cô, xe hackney chạy khá hanh thông. Vì Dinh thự Ripley ở không xa Park Lane, họ đi trên những con phố rộng của đại lộ. Các xe hàng đang lục tục vào London, nhưng hackney của Olympia vẫn qua Hyde Park Corner1 mà không bị cản trở. Chẳng lâu sau, bánh xe đã lăn trên Fulham Road, hướng thẳng tới Putney Heath.
***
Trên đường đến nơi “gặp gỡ”, Pershore đưa Ripley một chai nước soda pha chút brandy.
Ripley nhận lấy, bật cười. “À, để lên dây cót.”
“Có thể anh không cần,” Pershore nói. “Nhưng tôi thì có.”
“Dù cần hay không, vào giờ này nó cũng là thứ kích thích dễ chịu.” Ripley uống một ngụm. “Lẽ ra tôi muốn ngủ thêm một giờ nữa, hoặc hơn.” — với vợ trong vòng tay. Nhưng ít nhất anh đã có đám cưới và đêm tân hôn. Và, ôi, một đêm tân hôn như thế!
“Một trận đấu súng ngay ngày hôm sau lễ cưới,” Pershore nói. “Ashmont đúng là quá quắt thật.”
“Trong mắt cậu ta, quá quắt là việc tôi cưới vị hôn thê của cậu ta.”
“Nếu chờ lâu hơn, có khi anh ta sẽ nguôi giận.”
“Rồi sao nữa?” Ripley nói. “Cậu ta đang là đề tài của cả London — điều chẳng mới mẻ gì — nhưng lần này lại bị thương ở chỗ nhạy cảm nhất của đàn ông: lòng kiêu hãnh. Cậu ta cần màn ‘gặp gỡ’ này — và tôi thừa nhận tôi cũng vậy. Không còn cách nào khác để dẹp yên chuyện này.” Họ buộc phải đấu. Bằng không, giữa họ sẽ mãi có hiềm khích. Không còn phương thuốc nào ngoài việc một trong hai — hoặc cả hai — bắn một viên đạn vào đối phương.
Man rợ, Olympia sẽ gọi thế. Nhưng đàn ông vốn man rợ.
Nếu những người làm chứng tìm được cách giảng hòa, Ripley sẽ vừa ngạc nhiên vừa mừng. Nhưng như anh đoán, nhiệm vụ đó bất khả thi. Vì không thể làm hòa, anh phải tập trung vào việc chiến đấu và chiến thắng.
Anh không thể bước vào chuyện này nửa vời. Ashmont sẽ không như thế.
Ripley không thể nghĩ mãi về lịch sử dài dằng dặc giữa anh với Ashmont và Blackwood, về việc họ từng không ít lần cứu nhau, nhất là khi cả ba là những cậu bé khốn khổ trong những ngày đầu thê thảm ở Eton. Đấu với anh em ruột mình cũng như thế này. Nhưng không thể nghĩ theo hướng ấy.
Đây là chuyện danh dự.
Danh dự đòi hỏi Ripley phải dốc hết sức giết bạn mình, và bạn anh cũng phải dốc hết sức giết anh.
Họ đến Putney Heath kịp giờ. Họ dặn xe post chaise2 đợi ở một chỗ kín gần đó, để có thể nhanh chóng chở người bị thương — hoặc kẻ phải chết. Chiếc xe cũng cần đỗ ở nơi khó lọt vào mắt lực lượng Cảnh sát Đô thị, những người đang rình đúng kiểu cuộc hẹn trái phép vào sáng sớm như thế này.
Sau khi lấy hộp súng, Pershore và Ripley đi bộ một quãng ngắn tới điểm đã hẹn.
Họ đến trước, đúng như Ripley mong.
Anh thản nhiên đi dạo quanh bãi đấu như thể chỉ tới sớm hơn khách mời của một buổi tiệc. Mắt cá vẫn chưa hoàn toàn dễ chịu, nhưng anh nhất quyết không khập khiễng hay chống gậy.
Vị bác sĩ và người hầu của Ripley — đến ngay sau Ripley và người làm chứng — để mặc anh một mình và tránh cản đường Pershore. Ông ta đang rà soát xem có vật gì cản tầm ngắm thì Ashmont và người làm chứng của cậu ta, Morris, xuất hiện từ một lối mòn, phía sau là bác sĩ và người hầu của họ.
***
Chiếc hackney của Olympia dừng ở trạm thu phí cầu Putney; trả phí thì như mất cả đời, mà chờ cổng mở lại như mất thêm một đời nữa. Họ lọc cọc qua cây cầu cũ kỹ xiêu vẹo, rẽ vào High Street, lướt qua quán Sư tử Bạc.
Trong đầu cô hiện lên từng cảnh: cô rơi tõm xuống nước… Ripley bế cô vào quán trọ giữa tiếng huýt sáo reo hò của người xem… bà thợ may cùng đám phụ việc và cái áo nịt ngỗ nghịch của họ… Ripley đứng trần trong một chiếc chậu… cảnh với Bullard ở sân…
Bấy nhiêu chuyện chỉ trong một ngày, mà khoảng thời gian ở Putney cũng chỉ là một phần của ngày không thể quên ấy.
Không thể kết thúc nhanh như vậy được.
Họ không thể vừa mới tìm thấy nhau chỉ để rồi chấm dứt ngay bây giờ.
Không thể kết thúc bằng việc anh gục chết trên một cánh đồng lầy lội vào một sáng mùa hè, ngay ngày sau lễ cưới của họ.
“Em sẽ giết anh,” cô lầm bầm. “Anh không được làm thế với em, Ripley.”
“Thưa Đức bà?”
“Mấy giờ rồi?” Olympia hỏi.”
***
Nỗ lực hòa giải cuối cùng thất bại, như lẽ tất nhiên.
Mặt vô cảm như đeo mặt nạ, Ripley bình thản sải bước đến vị trí của mình và nhìn chằm chằm Ashmont, kẻ trông lạnh lùng, điềm tĩnh chẳng kém gì anh.
Pershore trao khẩu súng cho Ripley.
Súng đấu tay đôi của Ripley lúc nào cũng được giữ trong tình trạng hoàn hảo. Bên trong nòng không vương một hạt rỉ. Bộ khóa nổ và cò nhẹ đều chỉnh chu. Ripley thuộc nằm lòng cách súng của mình “đi” thế nào. Dù vậy, anh đã kiểm tra chúng từ sớm trước khi rời nhà, và anh với Pershore lại kiểm tra lần nữa khi nạp đạn. Tất cả đã lên liều đúng quy cách. Anh không lo trục trặc, tịt ngòi hay tai nạn vặt nào khác.
Từ hồi còn nhỏ, anh, Blackwood và Ashmont đã luyện bắn—không chỉ bắn bia. Họ dùng một mô hình “mục tiêu giả” vận hành bằng dây, sẽ khai hỏa—dĩ nhiên là súng không đạn—về phía họ ngay khi họ bóp cò, nhờ thế học được cách giữ bình tĩnh dưới làn đạn. Ấy là kỹ năng mà người cha khắt khe của Blackwood đã nhồi vào họ. Dù vị công tước Blackwood đời trước ghét các trận đấu súng, ông vẫn hiểu đôi lúc không thể tránh. Đã thế thì đàn ông phải biết làm cho đúng phép.
Từng làm người làm chứng cho Ashmont quá nhiều vụ, Ripley quen các thói của cậu ta y như quen chính mình. Anh không bao giờ xem nhẹ cậu ta, dù say hay tỉnh. Hôm nay, cậu ta có vẻ tỉnh. Ngay cả cậu ta cũng chẳng dại gì mà thức trắng đêm chè chén trước một trận đấu.
Ripley đứng nghiêng người, căn thẳng hàng với đối thủ, súng trong tay phải, nòng chĩa thẳng xuống. Anh dậm chân ghì chặt xuống đất. Đứng thẳng đơ như cây sào và giơ tay phải lên, mắt không nhìn Ashmont mà ghim vào một chiếc cúc trên áo khoác cậu ta. Anh biết Ashmont cũng làm y hệt, chọn một vật nhỏ để ngắm, và chỉ tập trung vào nó.
Họ hiểu nhau quá rõ. Họ đã làm việc này quá nhiều lần, dù đây là lần đầu họ chĩa súng vào nhau.
Khả năng họ giết nhau là rất cao.
Xin lỗi, Olympia.
Nhưng đó là khoảnh khắc duy nhất Ripley cho phép mình mềm lòng. Trên bãi đấu không có chỗ cho cảm xúc.
Những người làm chứng lui về khoảng cách an toàn sau lưng hai đấu thủ.
Các bác sĩ đứng chốt ngay phía sau họ vài bước.
Đám người hầu lùi nữa, ra sau các bác sĩ.
Ripley lên cò và nâng súng.
Cả tâm trí, cả con người anh dồn hết vào việc bắn trúng Ashmont. Anh biết Ashmont cũng thế, gạt ra ngoài mọi suy nghĩ, mọi hối tiếc, mọi ký ức.
“Các ngài sẵn sàng chứ?”
“Rồi,” Ripley và Ashmont đáp cùng lúc.
***
Khi thoáng thấy cỗ post chaise nép giữa rặng cây, Olympia bảo người đánh hackney dừng lại, và cô đã đẩy cửa sổ cổ lỗ xuống, với tay nắm chốt cửa khi xe còn chưa đứng hẳn.
Cô phóng xuống đường và chạy về phía xe poót chaise, Jenkins bám theo sau.
“Họ đâu?” cô hỏi người xà ích. “Họ ở đâu rồi?”
“Không biết,” ông ta đáp.
“Ông biết mà. Họ—”
Cô ngừng lại, nghe thấy tiếng người.
“Cô đừng lao vào như thế, thưa phu nhân,” người xà ích nói. “Chẳng biết cô sẽ lao trúng chỗ nào đâu. Họ vào đó cũng khá lâu rồi.”
Ông nói đúng. Cô chẳng biết chuyện gì đã xảy ra, và điều cuối cùng cô muốn là gây xao lạc để ai đó chết oan vì sơ sẩy.
Khác gì chết có chủ đích, mấy tên ngốc.
Nhưng xin hãy để họ còn đang lằng nhằng đo đất với canh khoảng cách.
Cô rón rén đi theo con lối người xà ích chỉ đám đàn ông đã đi… và khựng lại, sững sờ, khi khoảng trống mở ra trước mặt.
Họ đã vào vị trí, đang giương súng.
Y như cơn ác mộng khiến cô đông cứng, không nhúc nhích, không thét nổi. Giờ cô cũng không dám. Cô chỉ biết đứng im như tượng, cầu cho Ripley không bắt gặp cô ở khóe mắt. Giờ đã quá muộn để ngăn anh. Cô không được làm anh xao lạc mà lệch tay.
Tất cả những điều ấy vụt qua não cô trong chớp mắt nhưng dài như cả đời trong lúc cô bất lực dán mắt vào bức tranh sống, tay Ripley giương súng chĩa vào bạn mình. Súng của Ashmont chĩa vào Ripley. Cả hai đứng cứng đờ. Từ chỗ cô đứng, họ như hóa đá.
Một giọng hô, “Các ngài sẵn sàng chứ?”
Ngay lúc đó, cả hai người cùng nói, “Rồi,” còn cô thì đưa tay bịt miệng, nuốt nghẹn tiếng thét đang dâng, Khônggggg!
Cô thấy chiếc khăn hiệu lệnh rơi xuống. Nó rơi chậm đến mức như treo giữa không, chao liệng, rơi, rơi, rơi. Hai tiếng nổ xé toạc sự tĩnh lặng buổi sớm, cái nọ chồng lên cái kia chỉ trong chớp mắt.
Cùng khoảnh khắc bất tận ấy, cô thấy tay Ripley hất lên, khẩu súng nổ chỉ thiên. Đàn chim tung bay khỏi tán cây, kêu chói lói, còn cô bất lực nhìn anh xoay người và gục xuống đất.