Công tước xứ Ashmont, Công tước xứ Blackwood, và cậu bé Jonesy ngồi trên lưng ngựa, nhìn chằm chằm về phía cầu Battersea.
Đúng theo nguyên tắc của những băng nhóm đường phố, Jonesy không nói lời nào, chỉ ra hiệu hướng mà họ nên đi.
Khi đến cầu Battersea, cậu bé chỉ tay vào cây cầu, rồi chìa tay ra đòi đồng xu như đã hứa.
Dù giờ đây cậu bé đã nắm chặt nó trong bàn tay lấm lem, nó cũng không có dấu hiệu sẽ rời khỏi lưng ngựa của Blackwood. Nó khiến mình thoải mái ở đó—một điều mà Blackwood thì không hề thoải mái chút nào, vì cậu bé rõ ràng cần một trận tắm rửa. Hoặc, có lẽ, là cần cạo sạch và chà kỹ, bởi lớp bụi bẩn trên người dường như đã bám lâu ngày, và mùi hương đi kèm thì... rất chín muồi.
Khi họ tới nơi, như thường lệ, một nhóm trẻ đường phố lao tới, đề nghị giữ ngựa. Chúng nhanh chóng lao vào một cuộc khẩu chiến sôi nổi với Jonesy trước khi Ashmont bắt đầu hô gọi để hỏi thông tin. Lũ trẻ lập tức “không biết gì cả” rồi biến mất vào những chỗ trú ẩn của mình.
Những người khác trong khu vực thì hữu ích hơn. Một số người cho biết, một hoặc hai giờ trước đó, có một người đàn ông cao lớn, trông giống Công tước xứ Ripley, xuất hiện cùng một người phụ nữ luộm thuộm mặc váy trắng, đeo kính, và mang theo thứ gì đó trông như một mớ ren và hoa.
Cặp đôi này được trông thấy lên một chiếc thuyền nhỏ, nhưng không ai biết họ đi đâu ngoài việc họ “đi ngược dòng.” Một vài người chèo thuyền khác báo rằng hai người đã đưa cô dâu và người đi cùng vẫn chưa quay lại.
“Ripley định làm cái quái gì vậy?” Ashmont nói. “Ngược dòng? Cậu ta định đưa cô ấy đi đâu?”
“Cậu ta không thể đi xa được,” Blackwood nói. “Putney? Quán Bạch Sư tử?”
“Đi bằng thuyền à? Sao lại đi thuyền đến một nơi gần như vậy? Xe hackey có thể đưa họ đến Putney, và kín đáo hơn nhiều.”
“Có vẻ như họ không cố gắng tránh bị theo dõi,” Blackwood nói. “Họ không hề kín đáo.”
“Tôi không biết kín đáo là cái chi,” Jonesy nói.
“Kín đáo nghĩa là chẳng ai chú ý đến họ,” Blackwood giải thích. “Thế cháu nghĩ không kín đáo nghĩa là gì?”
“Là có thể nhận ra họ từ xa cả dặm,” cậu bé nói. “Vì cái váy cưới. Và vì ngài ấy.”
“Đúng vậy.”
Blackwood nghe thấy cậu nhóc lẩm bẩm từ kín đáo vài lần.
“Vấn đề là, mọi người đều quá bận nhìn Olympia mà không để ý họ đi đâu,” Ashmont nói.
“Cậu nghĩ Ripley đã để lại một gợi ý chứ?” Blackwood nói.
“Nếu có, tôi không hiểu nổi,” Ashmont nói. “Dẫu sao, nếu cậu ta định chứng minh mình thông minh hơn tôi, thì cậu ta nên nghĩ lại.”
“Tôi nghi là cậu ta chẳng nghĩ gì đâu,” Blackwood nói.
“Chúng ta sẽ phải theo họ bằng thuyền, chết tiệt thật,” Ashmont nói.
“Và dừng lại ở mọi điểm dừng dọc đường để tìm xem họ xuống chỗ nào à?” Blackwood nói.
“Cậu nói đúng. Cậu ta chắc đang cười nắc nẻ, nghĩ đến cảnh chúng ta theo sau như thế.”
“Chúng ta có thể dừng ở quán Thiên nga,” Blackwood nói, gật đầu về phía quán trọ nằm trên bờ sông. “Và chờ những người chèo thuyền quay lại. Chúng ta có thể thuê Jonesy trông chừng giúp. Cậu bé có thể dò la xung quanh trong lúc đó. Hay là cậu có kế hoạch gì khác không, Jonesy? Thế nào?”
“Tôi không biết,” Jonesy nói.
“Biết ‘kế hoạch khác’ nghĩa là gì không?” Blackwood hỏi.
Jonesy gật đầu. “Giống như hồi ông Truller không tới gặp tụi tôi được nữa vì ông nớ bận ‘kế hoạch’ với cái tàu chở tù.”
Nhờ thời gian từng lăn lộn ở những nơi phức tạp, hai công tước biết rằng “tàu chở tù” là từ khác để chỉ những con tàu đưa tù nhân tới Botany Bay, Pine Island và các vùng đất xa xôi khác.
“Thêm một đồng nữa liệu có làm cháu sắp xếp lại lịch trình bận rộn của mình không?” Blackwood nói.
“Tôi nghĩ là được,” Jonesy nói. Cậu nhóc nhanh nhẹn nhảy xuống ngựa, vỗ con ngựa một cái đầy thân thiện rồi bỏ đi.
***
Twickenham
Ripley và Tiểu thư Olympia nhìn nhau.
“Tôi đáng lẽ phải biết trước,” cô nói. “Dì Delia không hề bị ốm, chỉ là không muốn đến London để bị gia đình tôi làm phiền, khi bà ấy có một lời mời tốt hơn từ Quý ngài Clendower và em gái ông ấy. Tôi dám cá bất cứ thứ gì rằng ông ấy sẽ cầu hôn bà lần nữa, và lần này bà ấy sẽ đồng ý. Ông ấy làm bà vui, và bà ấy thích em gái ông—mà tôi cũng phải thừa nhận là họ thú vị hơn nhiều so với một đám cưới nhàm chán.”
“Đám cưới của cô không hề nhàm chán, như đây là chứng minh,” Ripley nói. Thực tế mà nói, đây là một trong những ngày thú vị nhất mà anh từng trải qua trong một thời gian rất dài. Anh tự hỏi liệu mình có làm Tiểu thư Olympia thấy thú vị hay không, và liệu cô ấy có thích em gái của anh không, nếu có dịp để họ làm quen.
“Tiếc là bà ấy bỏ toàn bộ sự náo nhiệt,” Olympia nói. “Còn kế hoạch khéo léo của chúng ta, xem ra đã thất bại.”
“Đợi một chút,” anh nói. “Cứ để tôi nghĩ xem sao,”
“Tôi không chắc đó là một ý hay,” cô nói. “Không phải anh là người đã nghĩ ra ý tưởng thiên tài rằng đăng quảng cáo giả mạo tên người khác sao? Kết quả nếu tôi nhớ không nhầm, bảy mươi lăm nhạc công kèn túi đổ đến nhà Quý ngài Eddingham lúc nửa đêm. Trong một lần khác, mười xe chở đầy cá ươn được giao đến nhà của Quý ngài Adderley. Và còn vụ một trăm hai mươi lăm người tóc đỏ xuất hiện vào bình minh ở nhà Phu nhân Igby.”
“Đó là công sức cả nhóm,” anh nói.
“Tôi ngạc nhiên là chưa ai trả đũa anh theo cách tương tự,” cô nói.
“Họ thiếu trí tưởng tượng,” anh đáp. “Tôi thấy cô theo sát hoạt động của bọn tôi nhỉ.”
“Một người phải điếc, câm, và mù mới không biết về chúng,” cô nói. “Từ khi tôi ra mắt trong giới thượng lưu—và thậm chí từ trước đó—ba người các anh đã luôn là tâm điểm chú ý.” Cô ngừng lại và nhìn ra cửa sổ về phía con chó.
Ripley cũng hướng mắt theo.
Cato đứng dậy để quan sát xung quanh. Ripley nhận thấy người gác cổng đã lùi lại một khoảng cách khá xa khỏi con chó săn.
“Anh đã cứu con chó,” cô nói.
“Tôi có sự lựa chọn sao?” anh nói. “Tôi là hiệp sĩ trong bộ giáp sáng lấp lánh, nhớ không?”
Cô cắn môi.
Đôi môi mà anh từng nếm qua, và nó ngọt ngào đến mức khiến anh không muốn nghĩ tiếp, vì chẳng ích gì.
“Tôi phải thừa nhận, ý tưởng chơi khăm Ashmont khá hấp dẫn,” cô nói. “Dù tôi rất muốn chơi khăm cả ba người các anh. Một bài học trả đũa.”
“Còn sớm mà,” anh nói. “Rồi cô sẽ có cơ hội. Bắt đầu nhỏ thôi, với một trong ba chúng tôi. Rồi cô có thể tiến xa hơn. Còn bây giờ, điều quan trọng là đưa cô đến một nơi đáng tin cậy trước khi trời tối.” Và đừng để những người đàn ông trong gia đình cô có lý do để thách đấu ai đó. “Cô không thể ở đây hay bất cứ nơi nào khác một mình được. Cô còn người dì nào không?”
“Tất cả dì của tôi, kể cả những dì lớn tuổi hơn và bà dì cố, đều đến đám cưới,” cô nói. “Mọi người đều đến. Trừ dì Delia.”
“Và Alice,” anh nói.
Cô quay khỏi cửa sổ để nhìn anh.
“Theo lời Blackwood, em tôi buộc phải đến nhà chúng tôi gần Guildford,” anh nói. “Chuyện gì đó liên quan đến dì Julia bị một cơn—tôi không chắc đó là gì, và Blackwood dường như cũng mù tịt. Dù sao, đó là nơi cách đây hơn hai mươi dặm.”
“Hai mươi dặm!”
“Không xa lắm,” anh nói. “Chỉ vài giờ thôi. Nếu đi nhanh, chúng ta sẽ tới trước khi trời tối. Quan trọng hơn, Alice đang ở đó, và dù người ta nói gì về chồng của em ấy, nó vẫn là một phụ nữ đã có gia đình đáng kính. Không có sự không đứng đắn—hoặc những khái niệm ngớ ngẩn về sự không đứng đắn của xã hội chúng ta—khi cô ở lại với nó.”
“Em gái anh,” cô nói. “Tôi không chắc đó là ý hay.”
“Cô biết nó mà.”
“Ai cũng biết cô ấy,” Tiểu thư Olympia nói. “Nhưng cô ấy có biết tôi không lại là chuyện khác.”
“Ai cũng biết cô,” anh nói. Với vị hôn thê của Ashmont, anh dễ dàng nhớ mặt, cả dáng người. Nhưng rồi anh nhận ra rằng mình không thể làm điều tương tự về hầu hết các quý cô khác, kể cả bạn bè của Alice. Họ không thú vị. Họ không lẩn tránh giữa những người đi kèm, người lớn tuổi và cả mấy kẻ buồn tẻ ở mọi lứa tuổi. Và cũng không ai trong số họ có phong thái như cô. Sự kiên nhẫn vừa đủ trong mọi bước đi, như một lời thách thức.
“Tôi nổi tiếng vì làm mọi người chán chết, tôi biết rồi,” cô nói. “Điều đó không hoàn toàn giống như việc quen biết ai đó để mà nhờ họ chứa chấp tôi.”
“Khi Alice biết cô chạy trốn khỏi Ashmont, nó sẽ dang tay chào đón cô,” anh nói. “Tôi chỉ hy vọng nó không làm tổn thương đứa bé chưa chào đời khi ngã ra cười trước cảnh xác cô dâu của cô.”
Anh bảo Cato nằm xuống và chỉ đường cho người lái xe đến Điện Camberley.
***
Không còn lựa chọn nào khác.
Olympia cần một nơi trú ẩn, và Nữ Công tước xứ Blackwood dường như là lựa chọn duy nhất trong phạm vi hợp lý.
Mặc dù Công nương không phải hoàn toàn xa lạ, nhưng cũng gần như vậy.
Họ chưa từng ở cùng một vòng tròn xã hội. Phần vì cô ấy đã sống ở nước ngoài cùng mẹ trong nhiều năm. Phần khác vì dù giới thượng lưu là một thế giới nhỏ bé đầy ràng buộc, nó lại chia thành nhiều nhóm nhỏ riêng biệt. Nhóm của Tiểu thư Alice Ancaster là nơi quy tụ những cô gái được săn đón nhất, còn Olympia lại sớm nhận ra mình thuộc về nhóm ngược lại.
Xã hội không thiếu những cô gái xinh đẹp, nhưng không phải cô gái xinh đẹp nào cũng được yêu thích. Olympia vẫn không thể hiểu nổi tiêu chuẩn để được chấp nhận là gì. Theo kinh nghiệm của cô, nhiều cô gái nổi tiếng lại chẳng hề thú vị khi nói chuyện, thậm chí không dễ chịu. Mặc dù cô thích buôn chuyện không kém ai, nhưng cô cũng thích các chủ đề khác. Tuy nhiên, những cô gái thời thượng dường như chỉ có hai chủ đề: buôn chuyện và chính bản thân họ. Và khi Olympia cố gắng bắt đầu một chủ đề khác, chẳng ai trong số họ quan tâm.
Các quý ông cũng vậy.
Sau mùa vũ hội đầu tiên, cô dần rời xa họ, tìm đến những nhóm người già, trí thức, và không hợp mốt.
Dù vậy, Tiểu thư Alice chưa bao giờ tỏ ra thô lỗ với cô như một số cô gái khác. Tiểu thư Alice cũng không thuộc nhóm em họ Edwina, những người từng bỏ phiếu bầu Olympia là Cô Gái Buồn Tẻ Nhất của Mùa vũ hội. Em gái của Ripley và Olympia hầu như chỉ trao đổi vài câu xã giao. Olympia biết rất ít về cô so với người anh trai tai tiếng của cô ấy.
Dẫu vậy, Tiểu thư Alice đã làm kinh ngạc ngay cả những người am hiểu thời cuộc nhất khi kết hôn với Công tước xứ Blackwood.
“Tôi không biết anh có một ngôi nhà gần Guildford,” Olympia nói.
“Là của bác Charles tôi,” Ripley trả lời. “Alice, tôi, và bạn bè đã dành nhiều thời gian ở đó khi còn nhỏ. Ông để lại cho tôi, nhưng dì Julia vẫn được ở đó suốt đời bà. Một ngôi nhà cũ kỹ, cần hiện đại hóa khẩn cấp, nhưng trong việc này cần phải cẩn trọng.”
Cô ngước nhìn anh. “Tôi đang cố hình dung cảnh anh cẩn trọng. Nhưng hình ảnh đó chẳng hiện lên được.”
Anh bật cười. “Tôi rất quý bà dì lập dị của mình.”
“Lập dị cỡ nào?” cô hỏi. “Có đốt gối vào lúc bất chợt không?”
Anh cười rạng rỡ.
Olympia biết anh là người dễ tính—với đạo đức dễ dãi và dễ bị làm cho vui. Nhưng cô vẫn không ngăn được phản ứng trước nụ cười ấy, như thể đó là một món quà. Anh khiến cô cảm thấy như mình vừa làm được điều gì đó, mặc dù tất cả những gì cô làm chỉ là lặp lại lời anh nói vài giờ trước. Đây là kiểu trò đùa đơn giản cô từng chia sẻ với anh em mình, nhưng cảm giác lại không giống. Nó mang một sự thân mật mà cô không quen thuộc.
Chỉ là sự quyến rũ thôi, cô tự nhủ.
Dù với tước vị và sự giàu có của mình, đáng lẽ anh và nhóm Những Kẻ Bất Hảo chắc hẳn đã bị xã hội thượng lưu đào thải từ lâu nếu họ không quyến rũ được quá nhiều phụ nữ và thu phục được quá nhiều đàn ông. Ngay cả Đức Vua, vốn là một thủy thủ với cách cư xử thô lỗ, cũng mất một thời gian dài mới hết chịu đựng được họ. Không nghi ngờ gì, bởi vì họ khiến ông cười.
“Lập dị đến mức nào?” cô lặp lại. “Bà ấy nuôi khỉ à? Tôi sẽ từ chối nếu có khỉ.”
“Không có khỉ,” anh nói. “Không có mèo, vì bà ấy thích chim. Và từ khi con chó cuối cùng qua đời, bà ấy do dự không muốn nuôi thêm con khác.”
“Ồ, thật đáng tiếc.” Cô nhìn ra cửa sổ trước, nơi Cato đang ngồi, miệng há, lưỡi thè ra, háo hức ngắm nhìn và hít hà khung cảnh bên ngoài.
“Bà ấy thích chó,” anh nói. “Chỉ là bà ấy đau lòng trước sự ra đi của chúng. Đừng lo. Bà ấy và em gái tôi sẽ dang rộng vòng tay đón Cato.”
“Đó là nếu mọi việc ổn,” cô nói. “Nếu em gái anh không đến đám cưới vì bà dì của anh, tôi đoán rằng mọi chuyện không ổn.”
“Điều đó chẳng ngăn ai chào đón Cato,” anh nói. “Một chú chó ngoan ngoãn và tốt tính. Không phải là con đẹp trai nhất, nhưng đủ ưa nhìn và thông minh. Nếu nó là một trong những con chó nhỏ xíu, cắn nhặng xị, thì tôi đã lôi cô đi—bằng vũ lực nếu cần—và để mặc nó tự lo liệu.”
“Theo kinh nghiệm của tôi,” cô đáp, “chúng trở nên ồn ào như thế vì bị chủ nuông chiều. Nhưng không gì có thể biện minh cho việc đánh đập một con vật. Anh sẽ phải vất vả lắm nếu muốn kéo tôi đi, tôi thề đấy.”
“Ồ, tôi biết rồi,” anh nói. “Chỉ nghĩ đến viễn cảnh đó thôi cũng khiến tôi rùng mình thú vị.”
Không ai từng cảm thấy rùng mình thú vị chỉ vì Olympia, và cô cũng chẳng nên có cảm giác đó khi nghĩ đến việc gây ra nó ở anh.
Cô đã dành quá nhiều thời gian bên cạnh anh, đó là vấn đề. Nhiều hơn cả thời gian cô từng dành cho bất kỳ người đàn ông nào không phải người thân. Anh đang xâm chiếm tâm trí cô, khiến nó trở nên ngớ ngẩn và đầy hy vọng, đánh thức những mong ước và giấc mơ cũ.
Đã đến lúc quay lại với sự nhạt nhẽo quen thuộc.
“Anh có biết điều gì khiến tôi rùng mình thú vị không?” cô hỏi.
“Để tôi đoán nhé,” anh nhắm mắt lại.
“Tôi nghi ngờ lắm—”
“Cuốn Æsopi Fabulae(một tuyển tập truyện ngụ ngôn được cho là của Aesop, một người kể chuyện và nô lệ người Hy Lạp cổ đại sống từ năm 620 đến 564 trước Công nguyên) từ thư viện của Maioli,” anh nói.
Cô cảm nhận được mình đang há hốc miệng, nhưng không kịp khép lại trước khi anh bật cười.
“Bác Charles tôi là một nhà sưu tầm sách vĩ đại,” anh nói. “Tôi đã học được một vài điều.”
“Bác anh sở hữu Æsopi Fabulae?”
“Từ thư viện của Maioli. Tôi chú ý đến nó, cô biết đấy, vì đó là truyện ngụ ngôn của Aesop—một thứ quyến rũ với một cậu bé, như cô có thể hình dung, hơn là những quyển thánh kinh hay bản chép tay cổ.”
“Tôi rất muốn được xem qua,” cô nói. “Cha tôi đã bán cuốn của chúng tôi—hoặc ít nhất tôi nghĩ đó là cuốn sách ấy. Ông không lưu giữ hồ sơ cẩn thận—hay bất kỳ hồ sơ nào—và giấy tờ của ông nội tôi thì không theo trật tự như tôi mong muốn. Nếu không phải đến London mỗi mùa vũ hội, tôi đã tiến xa hơn nhiều trong việc phân loại thư viện. Hy vọng luôn tràn đầy trong trái tim của những bậc phụ huynh, anh thấy đấy. Và cha tôi thì không giỏi tính toán xác suất. Nếu giỏi, ông chẳng cần phải bán cuốn Aesop, hay bất kỳ cuốn sách quý giá nào khác.”
“Những cuốn sách đó không phải lúc nào cũng đáng giá như người ta nghĩ,” anh nói. “Bác tôi từng mua một số tác phẩm cổ với giá chẳng hơn mấy so với chi phí nửa năm đặt mua tạp chí The Library of Romance.”
“Ý anh là,” cô nói. “Anh đang nói chung chung, chứ không phải cụ thể. Nói cách khác, anh không mua truyện lãng mạn.”
“Nhưng tôi có mua,” anh nói. “Mỗi tháng.”
“Cho em gái anh.”
“Tại sao tôi phải làm vậy? Con bé tự mua được mà. Giờ nó còn có thể khiến Blackwood mua cho. Ngoài ra, chúng tôi không thích cùng loại sách. Con bé thích tiểu luận và những thứ khiến đầu óc nhức nhối. Trong thư mới nhất, nó nhắc đến Nước Anh và Người Anh của Bulwer. Chỉ cần đọc tiêu đề và tên tác giả thôi cũng đủ khiến tôi buồn ngủ rrooif.”
“Vậy điều gì không làm anh buồn ngủ?”
“Schinderhannes,Kẻ cướp vùng Rhine(Schinderhannes, hay còn gọi là Johannes Bückler (1779–1803), là một tên cướp khét tiếng hoạt động dọc theo vùng sông Rhine ở Đức vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Ông thường được gọi là Kẻ cướp vùng Rhine ‘The Robber of the Rhine’ và được xem như một nhân vật vừa bị căm ghét vừa được lãng mạn hóa trong văn hóa dân gian Đức). Tập hai sẽ ra mắt ngày mùng Một tháng Tám. Hoặc Vua Nô Lệ của Victor Hugo, tập sáu, cũng vào ngày đó. Những câu chuyện ly kỳ. Tôi rất háo hức chờ đợi. Các nhà sách gửi chúng cho tôi khi tôi ở nước ngoài, kèm theo danh sách các ấn phẩm sắp ra mắt. Smith, Elder, and Co., Cornhill, nếu cô có thể rời mắt khỏi các bản in của Gutenberg.”
“Tôi hoàn toàn hiểu sức hấp dẫn của những cuốn sách đó,” cô nói.
“Thật sao?”
“Dĩ nhiên. Một câu chuyện cuốn hút luôn là điều tuyệt vời.”
“Chính xác,” anh nói.
“Nhưng anh không thấy một số cuốn quá sướt mướt hoặc bi lụy sao?”
“Có chứ, nhưng tôi thực sự ngưỡng mộ những tác giả đủ tài năng để khiến một kẻ cứng rắn như tôi phải rơi nước mắt, ngay cả khi đáng lẽ tôi nên cười.”
Cô vẫn khó mà tưởng tượng được Công tước xứ Ripley là một người yêu thích truyện lãng mạn. “Thật thú vị,” cô nói, “đây là một khía cạnh khác của anh.”
“Tôi có nhiều khía cạnh thú vị,” anh nói. “Thực ra, tôi là một kẻ hấp dẫn.”
Anh quả thật đang trở nên cuốn hút hơn mức an toàn với cô.
“Tôi đoán phải như vậy, để anh có thể thoát khỏi mọi rắc rối suốt thời gian qua,” cô nói.
“Một công tước quốc hưng thịnh và đầu óc giỏi quản lý tài chính cũng giúp ích,” anh nói. “Dù không phải để dành cho những lĩnh vực trí tuệ cao siêu.”
“Tôi từng nghĩ,” cô nói chậm rãi, “sẽ thật tốt nếu cha tôi có đầu óc tài chính. Nhưng công bằng mà nói, ông là một người chồng tận tụy và một người cha yêu thương con cái. Còn nhiều điều tồi tệ hơn trong cuộc sống, nhiều kiểu gia đình tệ hơn.”
“Đúng vậy,” anh nói.
Cô thoáng cảm nhận được điều gì đó—một sự thay đổi trong cảm xúc? Hay chỉ là một khoảng lặng trước khi anh tiếp tục, “Nhưng công việc thư viện của cô làm tôi tò mò. Cô nói đã bán bớt sách, nhưng dường như vẫn còn nhiều việc để làm.” Anh ngả người ra ghế và duỗi dài đôi chân. “Sao tôi có cảm giác đó là một câu chuyện rất thú vị nhỉ?”
“Với tôi thì đúng là như vậy,” cô nói. “Đôi khi còn quá thú vị.” Nhiều lần thoát khỏi tai ương trong gang tấc. “Với anh, thì hoàn toàn khác.”
“Tôi là một người đàn ông có chiều sâu chưa ai đo lường được,” anh nói. “Chắc cô phải nhận ra điều đó rồi. Tôi đã làm cô ngạc nhiên không chỉ một lần trong quãng thời gian ngắn ngủi này. Tôi muốn nghe về những cuốn sách đó.”
“Để giúp anh ngủ à?”
Anh nhún vai. “Có quan trọng không? Chúng ta còn nhiều giờ đồng hành với nhau mà.”
***
Mười lăm dặm sau đó
Quả thật, Ashmont sẽ có cả hai tay bận rộn.
Tiểu thư Olympia Hightower có vẻ là một người yêu sách, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng cô chẳng giống chút nào với định nghĩa mọt sách mà Ripley quen thuộc. Đúng là cô dường như đã ghi nhớ hầu hết các cuộc bán đấu giá sách lớn trong hai mươi năm qua, và thường quên mất người nghe, vô tình sử dụng những thuật ngữ chỉ người sưu tầm sách mới hiểu. Nhưng với cô, việc sở hữu sách không đơn thuần chỉ là sưu tầm. Đó là một mối quan hệ đầy đam mê, và niềm đam mê ấy đã thúc đẩy cô làm những điều...
“Nghịch ngợm,” anh nói. “Cô là một cô con gái nghịch ngợm,thao túng.”
“Có những người cần được cứu khỏi chính mình,” cô đáp. “Cha tôi thực sự là người tốt bụng. Ông không cố ý phá hủy di sản quý giá của mình.”
Cụ cố nội của cô đã mua phần lớn bộ sưu tập. Nhưng Bá tước xứ Gonerby hiện tại lại chẳng biết gì về cách đóng sách kiểu Grolier (thường ám chỉ những ấn bản sách cao cấp, đẹp và được thiết kế tinh xảo), cũng giống như chú chó biết chơi cờ vua. Trước khi Olympia đủ lớn để hiểu được giá trị của bộ sưu tập, một số món đồ quý đã được bán với mức giá rẻ mạt tương tự như cái cách bác Charles thỉnh thoảng chi trả.
“Sẽ còn tệ hơn nếu tôi cố giáo dục ông ấy,” cô nói. “Ông sẽ hủy diệt thư viện trong chớp mắt. Lúc ấy, ông sẽ không chỉ ghé qua mỗi khi cần tiền nhanh chóng mà sẽ tổ chức một cuộc tàn sát quy mô lớn.”
Không giống như nhiều khoản nợ khác, những món nợ danh dự—chủ yếu là cờ bạc—phải được trả ngay lập tức. Và thư viện là cách của Gonerby để đổi lấy tiền mặt trong lúc cấp bách.
“Nhờ sự thờ ơ lẫn thiếu hiểu biết của ông, tôi đã cứu được nhiều tác phẩm quan trọng,” cô nói. “Ví dụ như cuốn Mazarin Bible (Kinh Thánh Mazarin, còn được gọi là Gutenberg Bible, là một trong những cuốn sách in đầu tiên bằng công nghệ in ấn loại chữ rời của Johannes Gutenberg. Đây là một cột mốc quan trọng trong lịch sử văn hóa và công nghệ, đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên in ấn hiện đại) do Gutenberg và Fust in khoảng năm 1450—ấn phẩm đầu tiên được tạo ra bằng cách sử dụng các chữ in di động!”
Giọng nói của cô ngân vang vì phấn khích. Ánh sáng rực rỡ trên khuôn mặt cô khiến anh gần như lóa mắt.
“Ashmont sẽ mua nó cho cô,” anh nói. Và đổi lại, chắc chắn cậu ta sẽ được thưởng một đêm vui vẻ—hoặc bất kỳ nơi nào cô muốn.
Hoặc Ripley có thể mua nó làm quà cưới, và cô sẽ nhìn anh bằng đôi mắt xanh-xám ánh biếc tràn ngập ham muốn, khiến Ashmont phải ghen tị lần đầu tiên trong đời.
“Ông sẽ không lấy được nó dưới hai nghìn bảng, nếu tôi còn tiếng nói trong chuyện này,” cô nói. “Ngài Mends sẵn sàng hiến một cơ quan nội tạng chỉ để sở hữu nó.”
“Cơ quan nào, tôi tự hỏi? Nếu đúng là người mà tôi đang nghĩ đến—ông già, hình trái lê, và cứng nhắc—đội tóc giả, phải không?”
“Phải,” cô nói.
“Không phải những cơ quan tươi mới nhất, tôi nghĩ vậy,” anh nói.
Cô kéo nhẹ kính xuống, liếc anh qua gọng kính, ánh nhìn khiến anh nhớ đến một gia sư từng dạy mình.
“Cô đáng yêu khi nhìn như vậy,” anh nói. “Nhớ dùng ánh mắt đó với Ashmont. Cậu ta sẽ ngoan ngoãn nghe lời cô ngay.”
Cô chỉnh lại kính và quay đi. “Anh đúng là đầy ắp những lời khuyên về hôn nhân,” cô nói.
“Tình huống này khiến tôi có cảm hứng.”
Cô khẽ thở hắt ra, một cách duyên dáng.
“Điều quan trọng là cha tôi không biết gì về sách hiếm,” cô nói. “Ông chỉ nhặt cuốn nào trông ấn tượng nhất, ví dụ những cuốn mạ vàng lộng lẫy. Chúng tôi sở hữu khá nhiều cuốn như thế. Sách đắt tiền, nhưng không hiếm. Quá nhiều bản in, chẳng hạn. Những lúc tôi mua được với giá rẻ, tôi đặt chúng lên kệ ngang tầm mắt của ông.”
Anh tưởng tượng cảnh cô lén lút thêm những cuốn sách loè loẹt vào giá sách. Hình ảnh ấy thật sống động. Anh bật cười.
“Đúng vậy, tôi là một kẻ nói dối và lừa lọc cha mình,” cô nói. “Chỉ có anh mới thấy điều đó đáng ngưỡng mộ.”
“Ashmont cũng sẽ thích điều đó,” anh nói. “Tôi biết cô đồng ý lấy cậu ấy vì lý do tài chính. Với sự khuyến khích mạnh mẽ từ gia đình.” Thêm vào đó là sự thao túng ngấm ngầm của Quý ngài Frederick, liệu cô có cơ hội nào không? “Dù vậy, cậu ấy không phải người xấu hay khó chiều, nếu cô hiểu rõ tính cách.”
“Những gì xảy ra chẳng phải lỗi của ai cả,” cô nói. “Không ai ép buộc tôi đồng ý. Không ai nhốt tôi trong ngục tối và bắt ăn bánh mì mốc với nước lã. Họ chỉ... quá nhiệt tình. Tóm lại, tôi biết mình đang làm gì.” Cô cau mày nhìn đôi tay đang đặt ngay ngắn trong lòng. “Hoặc tôi đã nghĩ vậy.”
“Thực tế là, cô không thể nào kết hôn với một người đàn ông nhạt nhẽo, cũng như em gái tôi vậy. Nói về Alice, tôi tin rằng chúng ta sẽ đến nơi trước khi mặt trời lặn. Chúng ta đã đi khá nhanh, dù rằng—”
Anh ngừng lại khi con ngựa bên trái dựng đứng lên, như thể định bay lên những tán cây gần đó. Chiếc xe lắc mạnh, hất Tiểu thư Olympia về phía trước. Ripley vội giữ lấy cô trước khi đầu cô đập vào phía trước xe, kéo cô lại.
“Quỷ bắt cái gã kia đi, làm sao hắn để—chết tiệt thật! Giờ thì con chó chạy mất rồi.”
***
Olympia nhìn vào anh, và chỉ từ góc nhìn của cô, cô mới nhận ra con ngựa bên ngoài có vẻ sợ hãi vì điều gì đó. Điều đó gây ra một cơn chấn động nhỏ, khiến cô rơi khỏi chỗ ngồi—và ngay lập tức, gần như cùng lúc, Ripley kéo cô lại và nửa đẩy cô lên đùi anh. Vội vàng, cô lách người ra và trở lại chỗ ngồi của mình.
Cô không thể hiểu chuyện gì đang xảy ra, chỉ biết rằng người đánh xe đang vật lộn để giữ ổn định các con ngựa, và chiếc xe ngựa đang đi chậm lại.
“Chuyện gì vậy?” cô hỏi.
“Tôi không thấy gì hết,” anh đáp. “Một con chim. Một con sóc. Một con thỏ. Và con chó chết tiệt đã đuổi theo nó. Cato!”
Cô quay mắt nhìn vào thùng xe. Trống không.
Nhìn sang bên trái, cô thấy qua một khe hở trong hàng rào thấp, con chó lao qua một cánh đồng. Trên những đám cây rải rác, những đám mây xám di chuyển bất an.
Ngay cả khi chiếc xe ngựa chưa dừng lại hoàn toàn, Ripley phải vật lộn để mở cửa. Anh bước xuống khỏi xe và đi nhanh đến ven đường. “Cato!” anh gọi.
Mải mê trong cuộc rượt đuổi, con chó vẫn tiếp tục chạy.
Olympia nhảy xuống xe ngựa và đi nhanh đến bên Ripley.
“Nó không biết tên mình,” cô nói.
“Tôi không đời nào gọi nó là Sam.” Ripley đưa ngón tay lên miệng và huýt sáo một tiếng sắc lẹm.
Con chó vẫn tiếp tục chạy, ngày càng nhỏ dần khi nó lao qua cánh đồng hướng về phía những hàng cây xa xa. Nó nhảy qua một hàng rào.
“Chỉ có một mục tiêu duy nhất,” Ripley nói. “Cô đợi ở đây.” Anh bắt đầu đi qua cánh đồng.
Cô nhảy xuống xe ngựa. “Tôi không có ý định đứng đợi,” cô nói. “Nó là chó của tôi và là trách nhiệm của tôi.”
“Mười phút,” anh nói, đi nhanh. “Tôi không có ý định đuổi theo nó suốt hàng giờ. Tôi cho nó mười phút để tỉnh táo lại. Sau đó chúng ta quay lại xe và đi tiếp.” Anh liếc nhìn lại. “Anh chàng đánh xe đang loay hoay với dây cương, nhưng ngựa có vẻ ổn và không có gì bị hỏng. Mười phút. Không hơn không kém. Sau đó Cato muốn đi đâu thì đi.”
Cô gật đầu. Cô không muốn nghĩ đến cảnh con chó vui vẻ đuổi theo con mồi rồi lang thang suốt đêm trong một khu phố lạ, nơi những kẻ xấu như Bullard có thể bắt được nó. Nhưng nếu Cato đã chạy mất, thì đành vậy. Họ cần đến Điện Camberley trước khi trời tối.
Ripley tiếp tục bước. “Đúng là con chó của Satan. Cô có thấy nó nhảy không?”
“Tôi gần như nghĩ nó sẽ mọc cánh,” cô nói.
“Đó, và dù nó là gì đi nữa, chắc chắn một phần nó là giống greyhound (một giống chó nổi tiếng, đặc biệt vì tốc độ chạy cực kỳ nhanh của chúng).”
Olympia nhìn theo hướng anh chỉ. Con chó đã lao gần hơn một chút, nhưng nó vẫn tiếp tục đuổi theo. Dù là loài gì đi nữa, nó thật sự rất giỏi trong việc tránh né kẻ săn mồi. Cato chạy nhanh vô cùng. Nếu chạy một mạch thẳng, nó đã có thể bắt được con mồi, nhưng con mồi lại chạy theo đường zigzag.
Ripley huýt sáo lần nữa. Con chó vẫn làm ngơ.
“Nó vui quá rồi,” cô nói.
“Chúng ta phải làm sao phá vỡ sự tập trung của nó,” Ripley nói. Anh bước vào cánh đồng. “Cô đi theo hướng này.” Anh ra hiệu sang bên trái. “Làm ồn lên và vẫy tay. Cố gắng thu hút sự chú ý của nó. Tôi sẽ đi hướng ngược lại. Hy vọng chúng ta có thể khiến nó chạy giữa chúng ta và sẽ chơi với chúng ta.”
Anh đi nhanh trong khi nói, và Olympia vội vàng bước theo.
“Cato!” cô gọi. “Đến giờ ăn tối rồi!”
“Nó vừa ăn tối đấy!” Ripley hét lại.
Khi họ dừng lại vài dặm trước đó để thay ngựa và người đánh xe, Ripley đã cho con chó ăn, nói rằng nó trông có vẻ rất đói.
Như thể chó không bao giờ trông đói.
“Nó là chó,” cô nói. “Nó không nhớ đâu.”
“Ăn tối!” Ripley hét. “Thỏ. Thỏ ngon tuyệt!”
“Sóc!” cô gọi. “Cáo!”
“Chồn! Mắc câu! Thịt bò, dày và máu me, đúng kiểu mà nó thích!”
Họ cứ gọi như vậy, và con chó săn vẫn tiếp tục chạy, zigzag và vòng tròn, lúc gần lúc xa. Cô đưa ngón tay lên miệng và huýt sáo. Con chó dừng lại và nhìn về phía cô.
Cô nghe thấy Ripley hét lên, và quay lại đúng lúc để thấy anh ngã nhào xuống mặt đất.
***
Quán Thiên nga tại Cầu Battersea, với sự ra vào tấp nập không ngừng, hóa ra lại là lựa chọn khôn ngoan để chờ đợi thông tin.
Do nhiều sự chậm trễ đã làm mất thời gian, hai công tước ước tính rằng họ đang chậm hơn mục tiêu của mình khoảng hai tiếng. Tuy nhiên, khoảng thời gian này cũng đủ để tin tức về hoạt động của Công tước xứ Ripley tại Bạch Sư tử ở Putney được lan truyền qua các người chèo thuyền và những người khác, rồi quay lại với họ.
Tuy nhiên, ngay khi họ chuẩn bị lên đường, cậu bé Jonesy lại biến mất. Việc cố gắng tìm kiếm cậu bé làm trì hoãn hành trình của họ.
Những đứa trẻ đường phố rất hữu dụng, và những đứa lanh lợi như Jonesy có thể tiết kiệm cho một công tước rất nhiều thời gian nhàm chán khi phải dò hỏi mọi người, để thay vào đó có thể ngồi trong quán rượu và ăn uống.
Nhưng Jonesy đã biến mất, và như thường lệ, ai cũng “chả biết chi hết trọi,” khiến Blackwood và Ashmont phải tự mình lên đường đến Bạch Sư tử ở Putney.
Tại đó, họ nghe được rất nhiều chuyện. Putney đang xôn xao với những sự kiện vừa xảy ra, và dân địa phương không thể chờ để kể những phiên bản câu chuyện của họ.
Tuy nhiên, điều mà mọi người không mấy hữu ích chính là điểm đến của Ripley.
“Quái quỷ, không ai để ý họ đi hướng nào à?” Ashmont yêu cầu, trong khi chủ quán rượu và vợ ông ta tranh luận xem chiếc xe ngựa có đi đến London hay Twickenham, hay một nơi nào khác hoàn toàn.
“Ngài ấy rất thông minh, thưa Đức Ngài, và đúng là như ngài ấy, sẽ làm ra vẻ đi theo một hướng khi thực tế lại có ý định đi hướng khác,” chủ quán nói.
“Ngài ấy nói Twickenham,” vợ ông ta nói. “Chỉ là một chặng đường ngắn nếu ngài ấy định quay lại London. Ngài ấy không nói là Doncaster hay Brighton nếu ngài ấy định để họ đi một cuộc truy đuổi hoang đường?”
“Tôi tự hỏi liệu Twickenham có phải là một manh mối không,” Blackwood nói. “Còn không thì tôi không thể nghĩ ra—”
“Làm sao mà nghĩ được khi bụng đang đói và khát như này?” Ashmont nói. “Lẽ ra chúng ta nên ăn trước, ở Chelsea, thay vì đi tìm thằng nhóc đáng ghét đó.”
“Chắc chắn có ai đó ở địa phương đã quấy rối nó, và nó đã bỏ đi,” Blackwood nói. “Hoặc nó tìm được một con mồi khác để lừa. Chúng ta đã cho nó bao nhiêu tiền rồi nhỉ? Có thể nó đã đi mua một con ngựa đua tốt để tham gia Goodwood.”
“Chết tiệt thằng khốn đó,” Ashmont nói. Rồi quay sang chủ quán, cậu ta nói: “Cho chúng tôi cái phòng Sun hoặc Star hay cái nào đó để ngồi mà không có mấy thằng quê mùa làm phiền, và cho chúng tôi chút đồ ăn và uống. Càng nhanh càng tốt—phòng khi ai đó có gì thông minh để nói trước ngày thứ Tư về cái thằng bạn đáng ghét, ăn cắp vợ, nghĩ mình thông minh, tự xưng là bạn tôi đó.”
Họ vào phòng riêng có tên là Sun, nơi họ xoa dịu cơn đói và khát, mặc dù cơn bực bội của Ashmont vẫn chưa dịu đi.
“Cậu nghĩ cậu ta có quay lại London không?” Ashmont hỏi, sau khi chiếc cốc của đã được rót đầy lần thứ ba.
“Chắc chắn là thế,” Blackwood nói. “Dù sao thì, đó là điều tôi sẽ làm. Dẫn cô ấy ra khỏi thành phố một thời gian, để mọi người có thời gian náo loạn, rồi quay lại và lén lút đưa cô ấy về nhà.”
“Đúng, tôi cũng sẽ làm vậy.” Ashmont cau mày. “Tôi không hiểu sao cô ấy lại bỏ đi.”
“Tôi không biết,” Blackwood nói. “Cô ấy không phải kiểu người đó—thật ra, đó là điều tôi mong đợi từ Alice. Tôi cũng từng nghĩ vậy. Ngay đến khi thị trưởng nói chúng tôi là vợ chồng, tôi cứ tưởng mọi thứ hóa ra là một trò đùa, hoặc tôi sẽ nghe cô ấy phản đối—cậu biết đấy, khi thị trưởng hỏi có ai biết lý do gì khiến chúng tôi không thể kết hôn không? Tôi cứ chờ cô ấy nói, 'Tôi có lý do đây. Anh ta là kẻ ngốc. Được chưa?' Như cách cô ấy vẫn làm. Và rồi—nhưng cô ấy không làm vậy.” Anh nhún vai.
Sau một lúc, Ashmont nói: “Tôi nghĩ Olympia đã bỏ chạy.”
“Vậy thì sao?” Blackwood nói.
“Tôi không biết,” Ashmont nói. “Nhưng thật là khó chịu.”
“Chúng ta không phải là những món quà hôn nhân,” Blackwood nói.
“Đó là những gì bác Fred nói. Bác ấy nói đúng, chết tiệt ông đi. Tôi phải dùng thư viện để thuyết phục cô ấy. Và ngay cả vậy, tôi cũng phải nói chuyện rất nhiều.”
“Vậy thì.”
Ashmont đập mạnh chiếc cốc lên bàn, làm bia đổ ra ngoài. “Nhưng Ripley thì không. Cậu ta không làm tất cả công việc. Và bây giờ…” Anh suy nghĩ. “Không, đợi đã. Tôi bảo cậu ta lo liệu mọi thứ. Nếu cô ấy bỏ đi, và đây không phải một trò đùa, thì cậu ta đang chăm sóc cô ấy. Cậu ta phải làm thế. Bởi vì cô ấy là người mà tôi tìm thấy.”
“Không phải là cô ấy vẫn luôn ở ngay trước mắt, mấy năm qua à.”
“Nhưng chúng ta đã không thấy. Ít nhất là tôi không thấy. Nhưng rồi tôi đã thấy. Và tôi đã theo đuổi. Vậy là tôi có cô ấy. Không phải Ripley. Nếu cô ấy bỏ chạy…” Hàm răng anh nghiến lại. “Thì tôi sẽ phải sửa chữa mọi thứ và—và đưa cô ấy về.”
“Cậu sẽ làm được,” Blackwood nói.
“Phải tìm cô ấy trước đã. Cậu nghĩ sao? London?”
“Tôi nghĩ là London,” Blackwood nói. “Rất có thể là Dinh thự Gonerby.”
“Không phải cái dinh thự tổ chức đám cưới, phải không?” Ashmont nói. “Nhưng không, có lẽ không phải. Thật tiếc là phải làm ở Kensington. Nếu không thì cô ấy khó mà bỏ chạy khỏi Dinh thự Gonerby được. Có lẽ tôi nên đợi cho đến khi việc sửa chữa xong xuôi.”
“Cậu sẽ phải đợi một năm, có thể là hai. Vì tôi đảm bảo, là không thể xong trong chưa đầy một năm.”
Ashmont lắc đầu. “Không, tại sao phải đợi chứ? Tôi đã tìm thấy cô ấy. Tôi đã theo đuổi cô ấy. Cô ấy cũng nói đồng ý rồi. Không có lý do gì để—giờ thì sao?”
Vợ của chủ quán bước vào phòng. “Là Twickenham, thưa Đức Ngài. Cậu bé đưa tin đã về và nói họ đã đổi ngựa ở Twickenham. Và họ sẽ đi tiếp đến Guildford.”
Ashmont nhìn Blackwood. “Cái quái gì vậy?”
“Guildford,” Blackwood lặp lại, ngớ ngẩn. Rồi, “Cậu ta đang đưa cô ấy đến Điện Camberley. Đến chỗ Alice.” Cậu ta cười. “Điều này sẽ thú vị đây.”
Ashmont nhảy vọt khỏi ghế. “Chết tiệt! Bây giờ tôi phải đuổi theo tên ngốc đó đến Guildford.”
“Đúng vậy, và phải đưa Tiểu thư Olympia ra khỏi tay nữ công tước của tôi và dì của cô ấy. Điều đó sẽ vui lắm cho mà xem.”
Nhưng Ashmont đã lao ra ngoài, yêu cầu ngựa.
Ngay khi anh chuẩn bị nhảy lên yên ngựa, một người đàn ông mặt đỏ như gấc chạy ra sân quán, la hét về một con chó bị đánh cắp.
Ashmont không quan tâm đến con chó hay bất cứ điều gì mà gã kia có thể nói về Công tước xứ Ripley. Anh không có tâm trạng tốt, và muốn lên đường. Nhưng người đàn ông đã đưa ra một nhận xét khó chịu về cô gái đã đi cùng Ripley.
Lại thêm một sự chậm trễ khi Ashmont cố gắng giết gã đó.