Xứ Hải Địa 2, Mê Cung Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 313 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CUỘC HÀNH TRÌNH

Ged đã giấu thuyền trong một cái hang cạnh mũi đất lớn lổn nhổn đá mà dân làng gần đó thường gọi là Mũi Mây, một người làng đã cho họ bát cá kho để ăn tối. Họ từ trên núi xuống bờ biển trong ánh sáng cuối cùng của ngày u ám. Cái hang chỉ là một khe nứt hẹp chạy vào trong vách đá khoảng ba mươi thước; nền hang phủ cát ẩm ướt, vì nó nằm ngay trên mực thủy triều. Từ ngoài biển có thể nhìn thấy cửa hang, và Ged nói họ không nên thắp lửa đề phòng dân đánh cá ban đêm trên những con thuyền nhỏ dọc bờ biển nhìn thấy và đâm ra tò mò. Vậy là họ nằm lại trên bãi cát, chẳng lấy gì làm dễ chịu, vì lớp cát mềm mại đến thế giữa các ngón tay lại trở nên cứng như đá đối với một tấm thân mệt mỏi. Tenar lắng nghe tiếng sóng biển vỗ cách miệng hang vài bước, ầm ầm âm vang đập vào đá, và cũng tiếng ầm ầm ấy trên bãi biển cách họ hàng dặm về phía Đông. Âm thanh ấy lặp đi lặp lại, nhưng không lần nào giống hệt lần nào. Biển không bao giờ ngừng nghỉ. Trên mọi bờ biển của mọi xứ sở trên toàn thế giới, những đợt sóng không mệt mỏi mãi nhấp nhô, không bao giờ ngừng lại, không bao giờ đứng yên. Sa mạc, núi non: chúng đứng yên. Chúng không bao giờ phát ra âm thanh trầm đục, vang vọng. Biển cả luôn luôn cất tiếng nói, nhưng thứ ngôn ngữ của nó hết sức xa lạ đối với nàng. Nàng không hiểu.

Khi ánh bình minh xám xịt mới ló rạng và thủy triều rút xuống, nàng tỉnh dậy sau giấc ngủ bất an và nhìn thấy chàng pháp sư đang rời khỏi hang. Nàng quan sát chàng bước đi, chân trần, áo choàng thắt ngang lưng, đang trèo lên các tảng đá phủ rêu đen phía dưới, tìm kiếm thứ gì đó. Rồi chàng quay lại, làm tối sầm cả cửa hang. “Đây,” chàng nói, chìa ra một nắm những vật ươn ướt, đáng sợ, nom như những viên cuội màu tím có môi màu da cam.

“Cái gì thế?”

“Trai, trên đá. Còn hai con này là sò, còn ngon hơn cả trai nữa. Nhìn nhé - như thế này này.” Dùng con dao găm nhỏ ở chùm chìa khóa nàng cho chàng mượn lúc ở trên núi, chàng cạy vỏ một con trai và ăn phần ruột màu da cam với nước biển làm nước sốt.

“Anh không nấu chúng lên sao? Anh ăn sống à!”

Nàng không nhìn chàng, trong khi chàng trai, ngượng nghịu nhưng không hề nao núng, vẫn tiếp tục cạy vỏ và ăn từng con trai một.

Ăn xong, chàng quay trở vào hang, đến chỗ con thuyền đang nằm trên mấy khúc củi rề dài xếp trên mặt cát, hếch mũi về phía trước. Đêm hôm trước Tenar đã ngắm nhìn con thuyền đó với vẻ hồ nghi và không hiểu. Nó lớn hơn nàng tưởng nhiều, dài gấp ba người nàng. Nó đầy những vật nàng không biết dùng để làm gì, và trông có vẻ nguy hiểm. Ở hai bên đầu thuyền (nàng gọi mũi thuyền như vậy) có vẽ một đôi mắt; và trong lúc mơ mơ màng màng nàng luôn có cảm giác con thuyền đang nhìn mình chằm chằm.

Ged lục lọi trong lòng thuyền một hồi lâu và mang ra một vật gì đó: một gói bánh mì khô, được bọc cẩn thận để bảo quản cho được lâu. Chàng bẻ cho nàng một miếng lớn.

“Tôi không đói.”

Chàng nhìn vào gương mặt rầu rĩ của nàng.

Chàng gói chiếc bánh lại và cất đi, rồi ngồi xuống bên cửa hang. “Còn hai giờ nữa thủy triều mới lên,” chàng nói. “Khi đó chúng ta có thể lên đường. Cả đêm cô đã trằn trọc rồi, sao bây giờ cô không chợp mắt một chút đi.”

“Tôi không buồn ngủ.”

Chàng không đáp lại. Chàng ngồi đó, mặt quay nghiêng, chân xếp bằng dưới vòm đá tối sẫm; những đợt sóng biển lấp lánh nhấp nhô trước mặt chàng trong khi nàng ngắm nhìn chàng từ trong lòng hang. Chàng không hề cử động. Chàng ngồi im lìm chẳng khác gì tảng đá. Sự im lặng của chàng lan tỏa khắp xung quanh, như những sóng nước tạo ra bởi một viên sỏi rơi xuống mặt nước. Sự im lặng ấy không phải là cái im lặng vì không có tiếng nói, mà tự thân nó là một điều riêng biệt, giống như sự im lặng của sa mạc vậy.

Một hồi lâu sau Tenar đứng dậy và đi ra cửa hang. Chàng trai vẫn không nhúc nhích. Nàng nhìn xuống gương mặt chàng. Nó như được đúc bằng đồng - cứng nhắc, đôi mắt đen không nhắm lại mà nhìn xuống dưới, miệng bình thản.

Chàng đang ở cách xa nàng cũng như chính biển khơi kia vậy.

Giờ chàng đang ở đâu, tâm hồn chàng đang phiêu diêu ở nơi nào? Có thể nàng sẽ không bao giờ đi theo chàng được.

Chàng đã bắt nàng đi theo mình. Chàng đã gọi tên nàng, và nàng đã cúi rạp mình chạy đến với chàng, cũng như chú thỏ hoang sa mạc bé nhỏ đã đến với chàng từ trong bóng tối. Và giờ chàng đã có chiếc vòng, giờ khu Lăng tẩm đã đổ nát và nữ tu của nó đã vĩnh viễn bị truất phế, giờ chàng không còn cần nàng nữa, và sẽ bỏ đến một nơi nàng không thể đi theo. Chàng sẽ không ở lại với nàng. Chàng đã lừa dối nàng, và sẽ bỏ mặc nàng.

Nàng cúi xuống và nhanh tay giật khỏi thắt lưng chàng con dao găm nhỏ bằng thép nàng đã đưa cho chàng. Chàng vẫn không hề cử động, chẳng khác nào một pho tượng mặc quần áo.

Lưỡi dao chỉ dài độ mười phân, một cạnh rất sắc; nó là hình mẫu thu nhỏ của con dao dùng trong lễ tế thần. Nó là một phần trong y phục Đại Nữ tu của Lăng tẩm, người phải đeo nó cùng với chùm chìa khóa trên dải thắt lưng bện bằng lông ngựa, cùng với nhiều vật khác không biết dùng để làm gì. Nàng chưa bao giờ dùng con dao vào bất cứ việc gì, ngoại trừ lúc trình diễn điệu múa trong tuần trăng non trước Ngai vàng, nàng phải ném nó lên rồi đưa tay ra bắt lấy. Nàng rất thích vũ điệu ấy; đó là một điệu múa hoang dã, không có nhạc đi kèm mà chỉ có tiếng chân nàng giữ nhịp. Khi tập điệu múa ấy nàng đã bị đứt tay không biết bao nhiêu lần, cho đến khi học được cách bắt lấy cán dao sau mỗi lần tung nó lên. Lưỡi dao nhỏ sắc đến độ có thể cắt ngón tay thấu đến tận xương, hoặc cắt đứt mạch máu ở cổ họng. Nàng sẽ vẫn phục vụ những Chủ nhân của nàng, dù họ đã phản bội nàng, ruồng bỏ nàng. Họ sẽ chỉ đường, hướng dẫn bàn tay nàng thực hiện hành động hắc ám cuối cùng này. Họ sẽ đón nhận vật hiến tế.

Nàng quay về phía chàng trai, bàn tay phải giấu sau hông nắm chặt con dao. Đúng lúc ấy chàng từ từ ngước mặt lên nhìn nàng. Chàng có dáng vẻ của một người vừa trở về từ nơi xa xôi, một người đã nhìn thấy những điều khủng khiếp. Gương mặt chàng hết sức bình thản nhưng cũng đầy đau đớn. Khi ngước lên nhìn nàng và dường như thấy nàng mỗi lúc một rõ hơn, nét mặt chàng tươi tỉnh trở lại. Cuối cùng chàng nói, “Tenar,” như thể cất lời chào, rồi đưa tay lên khẽ chạm vào chiếc vòng bạc có đục lỗ và chạm trổ trên cổ tay nàng. Chàng làm điều này như để tự trấn an mình, một cách đầy tin cậy. Chàng không chú ý tới con dao găm trong tay nàng. Chàng quay đi nhìn những con sóng đang đập vào những tảng đá bên dưới, rồi khó nhọc nói, “Đã đến lúc rồi... Đã đến lúc chúng ta phải lên đường.”

Nghe giọng chàng, mọi nỗi oán giận trong nàng bỗng tiêu tan. Nàng thấy sợ.

“Cô sẽ bỏ lại chúng sau lưng mình, Tenar à. Giờ cô đã được tự do rồi,” chàng nói và đứng dậy, đột nhiên lại có vẻ tràn đầy sức sống. Chàng vươn vai, thắt chiếc áo khoác chặt hơn. “Giúp tôi một tay đẩy con thuyền ra nào. Nó được đặt trên các khúc gỗ này để làm con lăn. Đúng rồi, đẩy đi... một lần nữa nào. Rồi, rồi, thế là được rồi. Giờ thì sẵn sàng để nhảy lên thuyền khi tôi nói ‘nhảy’ nhé. Hạ thủy ở chỗ này thì kể cũng khó - lại lần nữa nhé. Rồi! Lên thuyền đi!” - và chàng nhảy lên thuyền theo nàng, đỡ lấy khi nàng bị mất thăng bằng, đặt nàng ngồi xuống lòng thuyền, rồi đứng dạng hai chân, nắm lấy mái chèo và đẩy con thuyền lao ra theo một con sóng đang rút xuống khỏi những tảng đá, vượt qua mũi đất sóng đang ngầu bọt gào thét, và tiến ra biển.

Chàng gác mái chèo khi họ đã ra khỏi vùng nước nông và dựng cột buồm lên. Giờ khi nàng đã ở trên thuyền, với mặt biển mênh mông xung quanh, con thuyền dường như bỗng nhỏ hẳn lại.

Chàng giương buồm lên. Mọi thứ trên thuyền đều có vẻ đã được sử dụng nhiều lần và rất cũ, dù tấm buồm đỏ xỉn màu được vá víu hết sức cẩn thận còn con thuyền thì hết sức sạch sẽ và gọn gàng. Chúng cũng giống như chủ nhân của chúng: đã đi đến những nơi xa xôi, và không được đối xử một cách nhẹ nhàng.

“Giờ thì,” chàng nói, “giờ thì chúng ta đã ra đi, giờ thì chúng ta đã rời hẳn khỏi đó, chúng ta không còn vướng víu gì nữa, Tenar ạ. Cô có cảm thấy thế không?”

Quả là nàng có cảm thấy điều đó. Móng vuốt của bóng tối vốn nắm chặt trái tim nàng tự bao lâu nay giờ đã buông tha nàng. Nhưng nàng không cảm thấy vui sướng như khi họ ở trên núi. Nàng gục đầu lên cánh tay và khóc nức nở, nước mắt tràn ra ướt đẫm hai má, mặn chát. Nàng khóc vì những năm tháng của đời mình đã bị phí hoài trong cảnh làm nô lệ cho một quyền năng xấu xa và vô dụng. Nàng đau đớn nức nở vì mình đã tự do.

Cái mà giờ đây nàng bắt đầu cảm nhận được chính là sức nặng của tự do. Tự do là gánh nặng, một gánh nặng lớn lao và kỳ lạ mà tinh thần con người phải đảm nhận. Nó không dễ dàng gì. Nó không phải món quà ta được nhận, mà là lựa chọn do chính ta quyết định, và có thể là một lựa chọn hết sức khó khăn. Con đường đó sẽ dẫn lên cao, hướng về phía ánh sáng nhưng người lữ hành với gánh nặng trên vai có thể sẽ không bao giờ đến được đoạn cuối con đường.

Ged để yên cho nàng khóc, không nói một lời an ủi nào; ngay cả khi nàng đã nín và ngồi nhìn lại vùng đất Atuan thấp và xanh tươi, chàng cũng không nói một lời. Mặt chàng nghiêm nghị, đầy cảnh giác, như thể chàng chỉ có một mình; chàng để ý giữ cho tấm buồm luôn căng và chăm chú lái thuyền, nhanh nhẹn và lặng lẽ, mắt luôn nhìn về phía trước.

Đến chiều, chàng chỉ về phía bên phải mặt trời, nơi họ đang hướng tới. “Đó là Karego-At đấy,” chàng nói, và khi nhìn theo tay chàng Tenar thấy lờ mờ hình bóng những ngọn đồi vươn lên ở đằng xa như những đám mây trên hòn đảo lớn của Thần Vương. Sau lưng họ, Atuan đã biến mất khỏi tầm mắt. Tim nàng trĩu nặng. Mặt trời như chiếc búa vàng đập vào mắt nàng.

Bữa tối có bánh mì và món cá khô hun khói mà Tenar thấy mùi vị thật không sao chịu nổi, cùng với nước trong thùng chứa trên thuyền do Ged múc từ một dòng suối ở bờ biển Mũi Mây đêm hôm trước. Màn đêm mùa đông lạnh lẽo nhanh chóng bao trùm mặt biển. Xa xa ở phía Bắc, họ thấy thấp thoáng những đốm sáng nhỏ xíu lấp lánh, ánh lửa vàng từ các ngôi làng trên bờ biển Karego-At. Những ánh sáng này biến mất trong màn sương dâng lên từ biển, và họ chỉ còn lại một mình giữa bóng đêm không một ánh sao đang bao trùm đại dương sâu thẳm.

Nàng nằm co tròn dưới đuôi thuyền; còn Ged thì ở đằng mũi, đầu gối lên thùng nước. Con thuyền vững vàng tiến về phía trước, những con sóng nhồi thấp đập vào mạn thuyền, trong khi gió chỉ thổi nhè nhẹ từ phía Nam. Ngoài khơi, cách xa những bờ biển lổn nhổn đá, mặt biển quá tĩnh lặng; chỉ khi nào chạm vào thuyền thì nó mới khe khẽ thì thầm.

“Nếu gió thổi từ phía Nam đến,” Tenar nói, cũng thì thầm vì sự im lặng của biển cả, “thì thuyền phải đi về phía Bắc, phải không?”

“Đúng thế, trừ phi chúng ta đổi hướng. Nhưng tôi đã dùng gió thần thổi vào buồm để thuyền đi về phía Tây. Đến sáng mai chúng ta sẽ rời khỏi vùng biển xứ Kargad. Khi đó tôi sẽ để thuyền đi theo gió thường.”

“Nó có tự lái được không?”

“Có,” Ged nghiêm nghị đáp, “nếu nhận được chỉ dẫn đúng đắn. Nó không cần nhiều lắm. Nó đã đi đến những vùng biển rộng, đi xa hơn cả hòn đảo xa nhất vùng Đông Hải; nó đã đến cả Selidor nơi Erreth-Akbe qua đời, ở vùng biển Tây xa xôi nhất. Thuyền Trông Xa của tôi là một con thuyền khôn ngoan nhanh nhẹn. Cô có thể tin tưởng nó.”

Trong con thuyền đang vượt qua vùng biển sâu thẳm nhờ pháp thuật, cô gái nằm nhìn bóng tối. Suốt cả đời mình nàng đã nhìn vào bóng tối; nhưng đêm nay trên biển, bóng tối rộng lớn hơn nhiều. Nó không có điểm kết thúc. Không có mái che. Nó vượt xa hơn cả những vì sao. Không Quyền năng nào của thế gian có thể lay chuyển được nó. Nó đã tồn tại trước ánh sáng, và sẽ vẫn tồn tại khi ánh sáng đã tắt. Nó đã tồn tại trước sự sống, và sẽ vẫn tồn tại khi sự sống đã ngừng. Nó vượt xa hơn cả quyền năng xấu xa.

Trong bóng tối, nàng cất tiếng: “Hòn đảo nhỏ, nơi anh được tặng miếng bùa, nó có nằm trên biển này không?”

“Có,” câu trả lời của chàng vang lên trong bóng tối. “Quanh quất đâu đó. Có lẽ là ở phía Nam. Tôi không thể tìm lại nó được nữa.”

“Tôi biết bà ấy là ai, bà cụ đã cho anh nửa chiếc vòng ấy.”

“Cô biết ư?”

“Tôi đã được nghe câu chuyện đó. Nó là một phần tri thức của Đại Nữ tu. Thar đã kể cho tôi, lần đầu tiên khi có mặt Kossil, sau đó chi tiết hơn khi chỉ có hai chúng tôi với nhau; đó là lần cuối cùng bà nói chuyện với tôi trước khi qua đời. Có một gia đình hoàng tộc ở Hupun đã nổi lên chống lại các Tu sĩ Tối cao ở Awabath. Ông tổ của dòng họ đó là vua Thoreg, và trong các báu vật ông ta để lại cho con cháu có nửa chiếc vòng do Erreth-Akbe trao tặng.”

“Đúng là câu chuyện đó đã được kể trong Chiến công của Erreth-Akbe . Chuyện kể rằng… trong tiếng Kargad, chuyện kể rằng, ‘Khi chiếc vòng bị gãy, một nửa nằm trong tay Tu sĩ Tối cao Intathin, còn nửa kia trong tay người anh hùng. Tu sĩ Tối cao đã gửi nửa vòng mình có đến cho các Quyền năng Vô danh, các Quyền năng Cổ đại của Thế gian ở Atuan, và nó rơi vào bóng tối, vào những nơi đã bị quên lãng. Nhưng Erreth-Akbe lại trao nửa vòng của mình cho trinh nữ Tiarath, con gái của vị vua thông thái, và nói, ‘Hãy giữ nó ở lại trong ánh sáng, trong của hồi môn của cô thiếu nữ, hãy giữ nó lại trên xứ sở này cho đến khi hai nửa vòng liền lại với nhau.’ Người anh hùng đã nói như vậy trước khi giương buồm đi về phía Tây.’”

“Vậy thì chắc hẳn nó đã được những người phụ nữ trong dòng họ đó truyền từ đời này sang đời khác. Nó không bị thất lạc như người dân xứ các anh vẫn nghĩ. Nhưng khi các Tu sĩ Tối cao tự phong mình là Quốc vương-Tu sĩ, rồi khi các Quốc vương-Tu sĩ lập nên Vương quốc Kargad và lấy hiệu là Thần Vương, thì dòng họ Thoreg ngày càng suy yếu. Và cuối cùng Thar kể với tôi rằng, chỉ còn lại hai người trong dòng họ đó, hai đứa trẻ, một trai một gái. Thần Vương của Awabath khi đó là cha của vị Thần Vương hiện nay. Ông ta đã cho người bắt cóc hai đứa trẻ khỏi cung điện của chúng ở Hupun. Có một lời tiên tri nói rằng một trong những hậu duệ của dòng họ Thoreg ở Hupun sẽ khiến Vương quốc bị sụp đổ, và điều đó khiến ông ta khiếp sợ. Ông ta sai người bắt cóc hai đứa trẻ, đem chúng đến một hòn đảo hoang ở nằm đâu đó giữa biển khơi, và bỏ chúng lại, không cho bất cứ thứ gì ngoài quần áo mặc trên người và một ít thức ăn. Ông ta không dám giết chúng bằng gươm đao, thắt cổ hay thuốc độc; chúng thuộc dòng dõi hoàng tộc, và nếu sát hại một người thuộc hoàng tộc thì ngay cả thánh thần cũng sẽ bị nguyền rủa. Hai đứa trẻ đó tên là Ensar và Anthil. Chính Anthil đã trao cho anh nửa vòng bị gãy.”

Chàng lặng im hồi lâu. “Vậy là câu chuyện đã trọn vẹn,” cuối cùng chàng nói, “ngay khi chiếc vòng được gắn liền. Nhưng đó là một câu chuyện tàn nhẫn, Tenar à. Hai đứa trẻ, hòn đảo ấy, ông cụ và bà cụ tôi đã gặp... Họ gần như không hiểu tiếng người.”

“Tôi muốn hỏi anh một điều.”

“Cứ hỏi đi.”

“Tôi không muốn đến vùng Đảo Nội địa, đến Havnor. Tôi không thuộc về nơi ấy, trong những thành bang lớn, giữa những người xa lạ. Tôi không thuộc về nơi nào hết. Tôi đã phản bội người thân của mình. Tôi không còn người thân nữa. Và tôi đã làm một điều hết sức độc ác. Hãy để tôi lại một mình trên một hòn đảo, như hai đứa trẻ con vua ấy, trên một hòn đảo hoang không người. Hãy để tôi lại, và đem chiếc vòng đến Havnor. Nó là của anh, không phải của tôi. Nó không liên quan gì đến tôi hết. Người dân xứ anh cũng không liên quan gì đến tôi. Hãy để tôi được ở một mình!”

Từ từ, chậm rãi, nhưng vẫn khiến nàng sửng sốt, một ánh sáng ló rạng trong bóng tối trước mặt nàng như vầng trăng nhỏ đang mọc: ánh sáng thần đã hiện ra theo mệnh lệnh của chàng pháp sư. Nó bám vào đầu cây gậy được chàng giơ lên cao trong khi chàng ngồi đối diện với nàng ở mũi thuyền. Nó chiếu ánh sáng lấp lánh như bạc lên chân buồm, hai mép thuyền, ván thuyền và gương mặt chàng. Chàng đang nhìn thẳng vào nàng.

“Cô đã làm điều gì độc ác, Tenar?”

“Tôi đã ra lệnh nhốt ba người đàn ông vào một căn phòng dưới Ngai vàng, bỏ mặc cho họ chết đói. Họ đã chết vì đói và khát. Họ đã chết và được chôn trong Hầm mộ. Các tảng Bia mộ đã rơi xuống nấm mồ của họ.” Nàng ngừng lại.

“Còn gì nữa không?”

“Manan.”

“Tôi mới là người phải chịu trách nhiệm về cái chết của y.”

“Không. Y bỏ mạng vì yêu quý tôi và trung thành với tôi. Y tưởng y đang bảo vệ tôi. Y đã giơ cao thanh gươm trên cổ tôi. Khi tôi còn nhỏ, y rất tử tế với tôi - khi tôi khóc...” Nàng lại ngừng bặt, vì đôi mắt đang giàn giụa, nhưng nàng không khóc nữa. Hai tay nàng nắm chặt những nếp gấp trên chiếc áo dài đen của nàng. “Tôi chưa bao giờ tỏ ra tử tế với y,” nàng nói. “Tôi sẽ không đến Havnor. Tôi sẽ không đi cùng với anh. Hãy tìm một hòn đảo không ai lai vãng, để tôi lại đó, và mặc kệ tôi. Cần phải trả giá cho điều độc ác ấy. Tôi không được tự do.”

Ánh sáng dịu ngả sang màu xám vì sương mù trên biển nhưng vẫn hiện ra lờ mờ giữa hai người.

“Nghe này, Tenar. Hãy nghe tôi đây. Cô chỉ là công cụ của những quyền năng xấu xa mà thôi. Thứ xấu xa đó đã biến mất rồi. Nó đã kết thúc. Nó đã bị chôn vùi trong ngôi mộ của chính mình. Cô không được tạo ra cho bóng tối và sự độc ác, cô được tạo ra để nắm giữ ánh sáng, như một ngọn đèn đang cháy nắm giữ và trao tặng ánh sáng của nó. Tôi đã tìm thấy cây đèn tắt; tôi sẽ không để nó lại trên một hòn đảo hoang nào đó giống như một vật được tìm thấy rồi lại bị vứt đi. Tôi sẽ đưa cô đến Havnor và nói với các ông hoàng xứ Hải Địa rằng, Nhìn đây! Trong nơi ở của bóng tối tôi đã tìm thấy ánh sáng, tìm thấy linh hồn nàng. Nhờ có nàng một quyền năng xấu xa cổ xưa đã bị tiêu diệt. Nhờ có nàng vật bị gãy đã được gắn liền, và ở nơi trước kia chỉ toàn hận thù giờ sẽ có hòa bình.”

“Tôi sẽ không làm được như vậy,” Tenar đau đớn nói. “Tôi không thể. Đó không phải sự thật!”

“Và sau đó,” chàng lặng lẽ nói tiếp, tôi sẽ đưa cô rời khỏi những ông hoàng và những lãnh chúa giàu có; vì đúng là cô không thuộc về nơi ấy. Cô còn trẻ, và quá thông minh. Tôi sẽ đưa cô đến quê hương tôi, đến đảo Gont nơi tôi ra đời, đến với người thầy cũ Ogion của tôi. Giờ ông đã già rồi, một Pháp sư cao trên mọi bậc thầy hết sức vĩ đại, một con người có trái tim dịu dàng. Họ gọi ông là ‘người Im Lặng’. Ông sống trong một căn nhà nhỏ trên vách đá lớn của Re Albi, vươn lên cao cách xa mặt biển. Ông nuôi mấy con dê, và có một khoảnh vườn nhỏ. Vào mùa thu ông thường một mình lang thang khắp hòn đảo, vào rừng, lên núi, đến những thung lũng có sông chảy qua. Hồi còn ít tuổi hơn cô bây giờ, tôi đã từng sống ở đó với ông. Tôi không ở lại lâu, tôi không đủ khôn ngoan để ở lại. Tôi đã ra đi để tìm kiếm những điều xấu xa, và quả là tôi đã tìm thấy chúng... Nhưng cô đang trốn chạy khỏi những điều xấu xa, tìm kiếm tự do; tìm kiếm sự im lặng trong chốc lát, cho đến khi cô tìm thấy con đường của mình. Ở đó cô sẽ tìm được sự ân cần và tĩnh lặng, Tenar ạ. Ở đó, trong một thời gian, ngọn đèn sẽ tỏa sáng tránh xa gió thổi. Cô có muốn đến đó không?”

Màn sương xám trên biển trôi nổi giữa họ. Con thuyền nhẹ nhàng trôi trên những ngọn sóng dài. Quanh họ là màn đêm và bên dưới họ là biển cả.

“Tôi sẽ đến đó,” nàng đáp với một hơi thở dài. Rồi, một hồi lâu sau, “Ôi, giá mà chúng ta có thể đến đó sớm hơn... giá mà chúng ta có thể đến đó ngay bây giờ...”

“Sẽ không lâu đâu, cô bé.”

“Liệu anh có bao giờ đến đó không?”

“Khi nào có thể thì tôi sẽ tới.”

Ánh sáng đã tắt; quanh họ chỉ còn bóng tối.

Sau nhiều lần mặt trời mọc rồi lại lặn, sau nhiều ngày tĩnh lặng và nhiều ngày lộng gió lạnh buốt của cuộc hành trình mùa đông, họ đã đến Biển Nội địa. Họ lái thuyền xuyên qua những lối đi hẹp giữa các con tàu lớn, lên Eo biển Ebavnor và tiến vào vùng vịnh nằm giữa trung tâm Havnor, rồi vượt qua vịnh để đến Đại cảng Havnor. Họ nhìn thấy những ngọn tháp trắng và toàn bộ thành phố trắng xóa, huy hoàng trong màn tuyết. Mái cầu và những mái nhà ngói đỏ phủ đầy tuyết, và hàng trăm con thuyền đang neo lại bên cảng lấp lánh nhũ băng dưới mặt trời mùa đông. Tin họ sắp đến đã bay đi trước, vì tấm buồm đỏ vá víu của thuyền Trông Xa rất nổi tiếng ở vùng biển này; một đám đông đã tụ tập trên bến cảng phủ tuyết, và những lá cờ đuôi nheo sặc sỡ đủ màu phấp phới trong gió lạnh trên đầu đoàn người.

Tenar ngồi thẳng trên đuôi thuyền, trong chiếc áo choàng đen rách rưới. Nàng nhìn chiếc vòng trên cổ tay mình, rồi nhìn bờ biển đông đúc màu sắc rực rỡ, nhìn những cung điện và những tòa tháp cao. Nàng giơ bàn tay phải lên, và ánh mặt trời chiếu vào chiếc vòng bạc sáng lóa. Tiếng hoan hô yếu ớt và ngập tràn vui sướng vang lên trong gió, trên mặt biển đang chuyển động không ngừng. Ged cho thuyền cập bến. Hàng trăm bàn tay đưa ra bắt lấy sợi thừng chàng ném lên cọc buộc thuyền. Chàng nhảy lên cầu tàu và quay lại, đưa tay cho nàng. “Đi nào!” Chàng mỉm cười nói, và nàng liền đứng dậy, đi theo chàng. Một cách nghiêm trang, nàng sánh bước bên chàng đi lên những con phố trắng xóa của Havnor, nắm chặt tay chàng, như một đứa trẻ đang trên đường về nhà.

« Lùi
Tiến »