Xứ Hải Địa 2, Mê Cung Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 312 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
DÃY NÚI PHÍA TÂY

Tenar thức giấc, cố gắng thoát khỏi cơn ác mộng, trong đó nàng đã lang thang lâu đến nỗi da thịt tan rữa hết và nàng có thể nhìn thấy xương ống tay mình trắng nhờ nhờ trong bóng tối. Nàng mở mắt ra, nhìn thấy ánh sáng vàng, và ngửi thấy mùi ngải đắng hăng hắc. Vừa tỉnh giấc nàng đã cảm thấy vô cùng dễ chịu, cảm giác thoải mái từ từ tràn ngập trong nàng, và nàng ngồi dậy, duỗi hai cánh tay giấu dưới ống tay áo dài đen, và ngắm nhìn xung quanh với vẻ thích thú không chút nghi ngại.

Trời đã tối. Mặt trời đã khuất sau rặng núi phía Tây cao vòi vọi gần đó, nhưng ánh hoàng hôn vẫn bao phủ mặt đất và bầu trời: một bầu trời mùa đông bao la, trong trẻo, một mặt đất bao la, cằn cỗi, vàng rực, với những dãy núi và thung lũng rộng. Gió đã dịu lại. Trời lạnh và im phăng phắc. Không có gì chuyển động. Lá ngải đắng trên các bụi cây gần đó đã khô và ngả sang màu xám, những cọng thảo mộc nhỏ xíu được gió sa mạc sấy khô đâm vào tay nàng nhồn nhột. Ánh sáng huy hoàng câm lặng vẫn rực rỡ trên từng cành cây, từng chiếc lá khô, từng cọng cỏ, trên khắp rặng đồi và trong không trung.

Nàng nhìn sang bên trái và thấy chàng trai đang say sưa nằm ngủ trên mặt đất sa mạc, áo khoác quấn chặt quanh người, đầu gối lên một cánh tay. Trong giấc ngủ, gương mặt chàng vẫn có vẻ nghiêm nghị, trán gần như nhăn lại; nhưng bàn tay trái thanh thản đặt trên đất, bên cạnh một bông kế nhỏ vẫn còn giữ được cụm bông xám lù xù và đám gai tự vệ bé tí xíu. Chàng trai và bông kế sa mạc nhỏ bé; bông kế và chàng trai đang ngủ...

Chàng là người có được sức mạnh tương tự và không kém phần mạnh mẽ so với các Quyền năng Cổ của trái đất; một người biết nói chuyện với loài rồng, chặn đứng trận động đất chỉ bằng một lời nói. Và chàng đang nằm kia, ngủ say trên nền đất, với một bông kế bé bỏng vươn lên cạnh tay chàng. Thật kỳ lạ biết bao. Sống, tồn tại trên đời này, là một điều vĩ đại và lạ lùng hơn nàng tưởng nhiều. Ánh sáng rực rỡ của bầu trời chạm vào mái tóc đầy bụi của chàng trai, và nhuộm vàng cây kế trong chốc lát.

Ánh sáng đang nhạt dần. Trong lúc đó cái lạnh dường như mỗi lúc một thêm khắc nghiệt. Tenar đứng dậy và gom những bụi ngải đắng khô, nhặt cành gãy, bẻ những nhánh cây cứng to và xương xẩu đến nỗi nếu so với bụi cây thì chúng chẳng khác nào cành sồi cổ thụ. Họ đã dừng lại ở đây lúc giữa trưa, khi trời còn ấm, và quá mệt nên không thể đi tiếp được nữa. Mấy cây bách xù còi cọc và sườn núi phía Tây mà họ vừa đi xuống đã cho cả hai một chỗ trú ẩn tạm ổn; họ uống một ít nước trong bình, rồi nằm xuống ngủ.

Dưới các gốc cây con có nhiều cành cây to hơn, và nàng gom chúng lại. Nàng đào một cái hố trên nền đất đầy sỏi đá rồi dùng đá lửa và que thép nhóm lửa. Mớ bùi nhùi bằng lá và cành ngải khô bắt lửa ngay tức khắc. Cành khô bập bùng ánh lửa hồng, tỏa mùi nhựa thông. Lúc này không gian quanh đống lửa có vẻ tối hơn; và những ngôi sao lại hiện ra trên bầu trời mênh mông.

Tiếng lửa cháy và tiếng củi gãy răng rắc đã đánh thức chàng trai. Chàng ngồi dậy, đưa tay xoa khuôn mặt đầy bụi, rồi cuối cùng khó nhọc đứng lên và đến gần đống lửa.

“Tôi đang băn khoăn...” Chàng nói giọng ngái ngủ.

“Tôi biết, nhưng chúng ta không thể qua nổi đêm nay ở đây nếu không có lửa. Trời quá lạnh.” Một phút sau, nàng nói thêm, “Trừ phi anh có pháp thuật nào có thể giữ ấm cho chúng ta, hoặc che giấu được đống lửa này...”

Chàng ngồi xuống, chân gần như chạm vào đống lửa, vòng hai tay quanh đầu gối. “Brừ,” chàng nói. “Lửa tốt hơn là pháp thuật nhiều. Tôi đã đặt một bùa ảo thuật nho nhỏ xung quanh chúng ta; nếu có người đi qua thì cũng chỉ coi chúng ta như đá hay cành cây thôi. Cô nghĩ sao? Liệu họ có đuổi theo chúng ta không?”

“Tôi rất sợ chuyện đó, nhưng tôi không cho là họ sẽ làm vậy. Ngoài Kossil thì không ai biết anh có ở đó. Kossil, và Manan. Và cả hai đều đã chết. Chắc chắn bà ta đang ở trong Đại sảnh khi nó sụp xuống. Bà ta đã rình ở bên ô cửa sập. Và những người khác, những người còn lại, hẳn họ sẽ nghĩ rằng tôi cũng đang ở trong Đại sảnh Ngai vàng, và đã bị đè chết trong trận động đất.” Nàng cũng vòng hai tay ôm đầu gối, rùng mình. “Hy vọng các gian nhà khác không bị đổ. Đứng trên đồi thì chẳng nhìn thấy gì cả, bụi dày quá. Chắc hẳn các đền thờ và nhà cửa không bị đổ, gian Nhà Lớn nơi các nữ tập sự đang ở ấy.”

“Tôi nghĩ không đâu. Chính Lăng tẩm đã tự nuốt mình. Khi chúng ta bỏ đi tôi đã nhìn thấy một mái đền dát vàng nào đó; nó vẫn đứng vững. Và dưới chân đồi có mấy bóng người đang chạy.”

“Họ sẽ nói gì đây, họ sẽ nghĩ gì đây... Penthe tội nghiệp! Giờ có lẽ chị ấy sẽ phải làm Nữ tu Tối cao cho Thần Vương thôi. Và chính chị ấy mới là người luôn muốn bỏ đi. Không phải tôi. Có lẽ giờ chị ấy sẽ bỏ đi.” Tenar mỉm cười. Trong nàng có một nỗi vui sướng mà không một ý nghĩ hay sự sợ hãi nào có thể dập tắt nổi, chính cái niềm vui chắc chắn đã trào dâng trong nàng khi nàng thức giấc trong ánh sáng vàng rực. Nàng mở túi lấy ra hai ổ bánh mì dẹt nhỏ; nàng với tay qua đống lửa trao cho Ged một ổ, và cắn một miếng ở ổ bánh còn lại. Bánh cứng, hơi chua, nhưng vẫn rất ngon.

Họ cùng lặng lẽ nhai bánh một hồi lâu.

“Chúng ta còn cách biển bao xa?”

“Lúc đến tôi phải đi mất hai ngày hai đêm. Giờ có lẽ chúng ta sẽ mất nhiều thời gian hơn.”

“Tôi đủ sức mà,” nàng nói.

“Cô thì đủ sức. Và đủ can đảm nữa. Nhưng người bạn đường của cô thì mệt lắm,” chàng mỉm cười nói. “Và chúng ta lại không có nhiều bánh.”

“Chúng ta sẽ tìm được nước chứ?”

“Ngày mai, trên núi.”

“Anh có thể tìm được thức ăn cho chúng ta không?” Nàng rụt rè hỏi.

“Để đi săn thì phải có thời gian và vũ khí.”

“Ý tôi là, anh biết đấy, bằng pháp thuật ấy.”

“Tôi có thể gọi một con thỏ đến,” chàng nói, lấy một cành bách xù cong queo cời đống lửa. “Giờ thì quanh chúng ta, thỏ đang rời hang. Buổi tối là giờ kiếm ăn của chúng. Tôi có thể gọi đích danh một con thỏ, và nó sẽ đến. Nhưng cô có muốn bắt, lột da và nướng một con thỏ mà cô đã gọi đến với mình bằng cách ấy không? Có lẽ là có, nếu cô đang chết đói. Nhưng tôi nghĩ nó sẽ là sự bội tín.”

“Đúng thế. Tôi tưởng là anh có thể chỉ...”

“Triệu tập một bữa tối chứ gì,” chàng nói. “Ồ, tôi có thể chứ. Trên những chiếc đĩa vàng, nếu cô muốn. Nhưng nó sẽ chỉ là ảo ảnh thôi, và khi ăn ảo ảnh xong thì cô sẽ còn thấy đói hơn cả lúc chưa ăn nữa. Cũng bổ dưỡng chẳng khác gì nuốt lời nói của mình vậy.” Nàng thấy hàm răng trắng của chàng thoáng hiện trong ánh lửa.

“Thứ pháp thuật của các anh thật là kỳ lạ,” nàng nói, với vẻ nghiêm trang của người ngang hàng một Nữ tu trò chuyện với một Pháp sư. “Dường như nó chỉ có ích cho những việc trọng đại mà thôi.”

Chàng bỏ thêm củi vào đống lửa, và những tàn lửa bùng lên như pháo hoa, thơm mùi nhựa bách.

“Anh có thể gọi một con thỏ đến thật sao?” Tenar đột nhiên hỏi.

“Cô có muốn tôi gọi thử không?”

Nàng gật đầu.

Chàng liền quay mặt khỏi đống lửa và khẽ cất tiếng gọi vào bóng tối mênh mông chỉ có ánh sao nhạt nhòa, “ Kebbo... Kebbo ơi...

Im lặng. Không âm thanh. Không chuyển động. Thế rồi, ngay bên cạnh quầng lửa bập bùng một con mắt tròn xoe như hạt huyền hiện ra, sát mặt đất. Tiếp theo là một cái lưng lông lá; một chiếc tai dài, dựng thẳng lên đầy vẻ cảnh giác.

Ged lại cất tiếng gọi. Cái tai khẽ vẫy vẫy, rồi một cái tai khác bất thần hiện ra từ bóng tối; và khi con thú nhỏ bé đó quay lại thì Tenar nhìn thấy toàn bộ hình thù của nó trong một khoảnh khắc, nhìn thấy nó nhảy một cách nhẹ nhàng, uyển chuyển để vô tư quay về với việc kiếm ăn trong bóng tối của mình.

“A!” nàng thốt lên, thở phào. “Hay quá.” Rồi nàng hỏi, “Tôi có làm thế được không?”

“Ờ ...”

“Đó là một bí mật,” nàng nói ngay, lại tỏ vẻ nghiêm trang.

Cái tên của con thỏ thì đúng là một bí mật. Hay ít ra thì ta cũng không được dùng nó một cách tùy tiện, vì những lý do không chính đáng. Nhưng quyền năng triệu tập thì không phải bí mật, cô hiểu không, mà là một năng lực, một điều bí ẩn thì đúng hơn.”

“Ồ,” nàng nói, “đó là năng lực của anh. Tôi hiểu rồi!” Giọng nàng đầy phấn khích, không hề bị che giấu bởi vẻ giễu cợt giả tạo. Chàng chăm chú nhìn nàng nhưng không trả lời.

Chàng vẫn còn kiệt sức sau khi phải chống chọi lại những Quyền năng Vô danh; chàng đã phải vận hết sức lực để chặn cơn động đất. Dù giành được thắng lợi nhưng chàng cũng chẳng còn chút hơi sức nào để vui mừng nữa. Chẳng mấy chốc chàng lại nằm co tròn gần đống lửa, ngủ thiếp đi.

Tenar ngồi bỏ thêm củi vào đống lửa và ngắm những chòm sao mùa đông từ chân trời bên này đến chân trời bên kia cho đến khi đầu nàng quay cuồng vì sự huy hoàng và tĩnh lặng, rồi nàng cũng thiu thiu ngủ.

Cả hai thức dậy cùng một lúc. Lửa đã tàn. Những ngôi sao nàng chiêm ngưỡng lúc trước giờ đã khuất sau rặng núi và những ngôi sao mới đã mọc lên ở phương Đông. Hơi lạnh đã đánh thức họ, cái lạnh khô khan của đêm sa mạc với làn gió buốt như một lưỡi dao băng. Một đám mây đang từ phía Tây Nam kéo đến, che phủ bầu trời.

Đống củi dự trữ của họ đã gần cạn. “Đi tiếp thôi,” Ged nói, “sắp sáng rồi.” Răng chàng đập lập cập đến nỗi nàng gần như không hiểu nổi chàng nói gì. Họ lên đường, trèo lên con dốc dài thoai thoải hướng về phía Tây. Cây và đá hiện lên tối sẫm dưới ánh sao, và họ bước đi dễ như giữa ban ngày. Sau cái giá lạnh lúc đầu, việc đi bộ đã khiến họ ấm người lên; họ không phải khom mình run rẩy nữa, và bắt đầu bước dễ dàng hơn. Vì vậy đến lúc mặt trời mọc họ đã lên được con dốc đầu tiên của rặng núi phía Tây, vốn từ trước tới giờ chính là bức thành bao quanh cuộc sống của Tenar.

Họ dừng lại dưới một cụm cây vẫn còn sót lại trên cành những chiếc lá vàng run rẩy. Chàng nói đó là cây dương lá rung; nàng không biết loài cây nào ngoài cây bách xù, những cây dương cằn cỗi bên bờ sông, và bốn mươi cây táo trong vườn quả của Thành. Một con chim nhỏ đậu trên cành dương lá rung khẽ kêu lên, “điii, điii.” Dưới gốc cây là một dòng suối nhỏ, hẹp nhưng nước chảy rất xiết, kêu rào rào, tràn qua những tảng đá và những khúc quanh, quá vội vã không thể đóng băng được. Tenar gần như thấy sợ dòng suối ấy. Nàng đã quen với vùng sa mạc nơi mọi vật đều im lìm và di chuyển một cách chậm chạp: những dòng sông chảy lờ đờ, những bóng mây uể oải, những con diều hâu chao liệng.

Họ chia nhau miếng bánh mì và mẩu pho mát vụn cuối cùng làm bữa sáng, nghỉ chân một chút, rồi lại đi tiếp.

Đến tối hôm đó thì họ đã lên được đỉnh núi. Trời u ám, lộng gió và lạnh buốt. Họ nghỉ lại trong thung lũng nơi có một dòng suối khác chảy qua, ở đó có rất nhiều củi, và lần này họ đã có thể nhóm một đống lửa lớn để giữ ấm suốt đêm.

Tenar rất vui vẻ. Nàng đã tìm thấy dưới gốc cây rỗng kho dự trữ của một con sóc nào đó: có đến cả cân hạt óc chó còn tươi và một thứ hạt vỏ nhẵn mà Ged gọi là ubir vì không biết tên của nó trong tiếng Kargad là gì. Nàng đặt từng hạt lên tảng đá phẳng và dùng một tảng đá khác đập vỏ, rồi chia cho chàng trai một nửa số nhân.

“Giá mà chúng ta có thể ở lại đây,” nàng nói, ngắm nhìn thung lũng lộng gió mờ tối nằm giữa hai quả đồi. “Tôi thích nơi này.”

“Đây đúng là một nơi tốt đẹp,” chàng đồng tình.

“Sẽ không ai đến đây cả.”

“Không nhiều... tôi sinh ra ở vùng núi,” chàng nói, “trên núi Gont. Nếu đi theo hướng Bắc thì trên đường về Havnor chúng ta sẽ đi qua nơi đó. Núi Gont về mùa đông rất đẹp, vươn lên trắng xóa trên mặt biển, như một ngọn sóng khổng lồ. Làng tôi nằm cạnh một dòng suối giống hệt như thế này. Cô sinh ra ở đâu, Tenar?”

“Phía Bắc Atuan, hình như là Entat. Tôi không nhớ.”

“Họ mang cô đi khi cô còn nhỏ thế sao?”

“Tôi mới lên năm. Tôi chỉ nhớ có một đống lửa trong lò sưởi, và... không còn gì nữa.”

Chàng xoa xoa quai hàm, dù đã lún phún râu nhưng ít ra cũng đã sạch sẽ; bất chấp cái lạnh, cả hai người đã rửa ráy trong suối. Chàng xoa quai hàm, vẻ trầm ngâm và nghiêm nghị. Nàng ngắm nhìn chàng, và không bao giờ nàng có thể biết được trái tim nàng cảm thấy như thế nào khi nàng nhìn chàng trong ánh lửa dưới bầu trời hoàng hôn vùng núi ấy.

“Cô sẽ làm gì ở Havnor?” Chàng hỏi, nhưng lại nhìn ngọn lửa chứ không nhìn nàng. “Lúc trước tôi đã không nhận ra điều này... nhưng đúng là cô đã được tái sinh.”

Nàng gật đầu, thoáng mỉm cười. Quả thực nàng cảm thấy mình đã được tái sinh.

“Ít ra cô cũng nên học tiếng nói ở đó.”

“Tiếng nói của anh ư?”

“Phải.”

“Tôi cũng muốn học.”

“Được thôi. Đây là kabat ,” và chàng ném một viên sỏi vào vạt áo dài đen của nàng.

“Kabat. Đó có phải là tiếng nói của loài rồng không?”

“Không, không. Cô không học để làm phép, cô học để nói chuyện với người khác!”

“Thế viên sỏi trong tiếng rồng là gì?”

Tolk ,” chàng đáp. “Nhưng tôi không muốn biến cô thành phù thủy tập sự của mình. Tôi chỉ muốn dạy cho cô ngôn ngữ vùng Quần đảo, của Đảo Nội địa. Trước khi đến đây tôi cũng đã phải học tiếng nói của cô.”

“Anh nói nghe lạ lắm.”

“Chắc chắn rồi. Nào, arkemmi kabat ,” và chàng giơ tay ra cho nàng trả lại viên sỏi.

“Tôi phải đến Havnor sao?” Nàng hỏi.

“Cô còn có thể đi đâu được, Tenar?”

Nàng ngần ngừ.

“Havnor là thành phố tuyệt đẹp,” chàng nói. “Và cô mang đến cho họ chiếc vòng, biểu tượng của hòa bình, báu vật đã bị thất lạc. Ở Havnor, họ sẽ đón chào cô như nàng công chúa. Họ sẽ tôn kính cô vì món quà quý báu cô đem đến cho họ, sẽ tỏ lòng biết ơn cô và tiếp đãi cô hết sức trọng thể. Người dân thành phố này rất quý phái và hào phóng. Họ sẽ gọi cô là Bạch Tiểu thư vì nước da trắng của cô, và sẽ càng yêu quý cô hơn vì cô còn rất trẻ. Và xinh đẹp nữa. Cô sẽ có hàng trăm chiếc váy giống như cái váy tôi đã hóa phép cho cô thấy, nhưng sẽ là những chiếc váy thật. Cô sẽ được ca ngợi, được biết ơn, được yêu mến. Cô, người chưa bao giờ biết đến điều gì khác ngoài sự cô độc, lòng ghen ghét và bóng tối.”

“Tôi có Manan,” nàng cãi lại, môi hơi run run. “Lúc nào y cũng rất yêu thương và đối xử tốt với tôi. Y luôn cố gắng bảo vệ tôi, và chính điều đó đã giết chết y; y đã rơi xuống vực. Tôi không muốn đến Havnor. Tôi không muốn đến đó. Tôi muốn ở lại đây.”

“Ở lại đây... ở lại Atuan ư?”

“Ở lại vùng núi. Chỗ chúng ta đang ở đây.”

“Tenar,” chàng cất giọng nhẹ nhàng, nghiêm nghị, “thế thì chúng ta sẽ ở lại. Tôi không còn dao, và nếu trời đổ tuyết thì chúng ta sẽ rất vất vả đấy. Nhưng chừng nào chúng ta còn tìm được thức ăn...”

“Không. Tôi biết chúng ta không thể ở lại được. Tôi ngốc quá,” Tenar nói, đứng dậy làm vỏ óc chó rơi vương vãi khắp nơi, và bỏ thêm củi vào đống lửa. Nàng đứng đó, gầy guộc và thẳng đuỗn trong bộ áo dài và chiếc áo choàng đen rách nát, lấm bẩn. “Tất cả những gì tôi biết giờ chẳng còn ích lợi gì nữa,” nàng nói, “và tôi chưa học được điều gì mới cả. Tôi sẽ cố gắng học.”

Ged nhìn đi nơi khác, nhăn mặt như bị đau.

Hôm sau họ vượt qua đỉnh núi nhuốm màu nâu vàng. Dưới đèo, gió thổi hun hút lạnh thấu xương, khiến họ không thể nhìn rõ được. Mãi đến khi họ đã đi được một quãng dài ở sườn núi bên kia, thoát ra khỏi những đám mây nặng trĩu tuyết trên đỉnh núi, thì Tenar mới trông thấy vùng đất sau rặng núi. Khắp nơi chỉ thấy một màu xanh - màu xanh của rừng thông, đồng cỏ, của những cánh đồng mới gieo hạt. Ngay cả giữa mùa đông, khi các bụi cây đều trụi lá và các cánh rừng đầy những cành cây xám ngắt, đó vẫn là một vùng đất xanh tươi, hiền hòa, nhũn nhặn. Họ đứng trên một sườn núi cao, dốc đứng, lởm chởm đá, nhìn xuống vùng đất ấy. Không nói một lời, Ged chỉ về phía Tây, nơi vầng mặt trời đang chìm dần sau một đám mây lớn, trắng đục. Mặt trời bị che khuất, nhưng ở chân trời vẫn có một ánh lấp lánh, gần giống như ánh phản chiếu trên những bức vách pha lê của Hầm mộ, một ánh sáng lung linh vui vẻ ở rìa trái đất.

“Cái gì thế?” Cô gái hỏi, và chàng trai đáp, “Biển đấy.”

Ngay sau đó, nàng nhìn thấy một cảnh tượng tuy không kỳ diệu bằng nhưng vẫn vô cùng tuyệt vời. Họ tiến vào một con đường, và men theo nó; đến lúc chạng vạng tối thì đến một ngôi làng: khoảng chục ngôi nhà nằm dọc con đường. Nàng hốt hoảng nhìn người bạn đường của mình khi nhận ra họ đang đến chỗ có người ở. Nàng nhìn, nhưng không trông thấy chàng. Bên cạnh nàng, trong bộ quần áo của Ged, với dáng đi của chàng, đôi dép của chàng, là một người đàn ông lạ mặt. Anh ta có nước da trắng, và không có râu. Anh ta liếc nhìn nàng, đôi mắt xanh thẳm. Anh ta nháy mắt.

“Tôi có đánh lừa được họ không?” Chàng hỏi. “Cô thấy y phục của mình thế nào?”

Nàng cúi xuống nhìn mình. Nàng đang mặc một chiếc áo dài màu nâu của phụ nữ nông thôn, và quàng chiếc khăn choàng lớn bằng len đỏ.

“Ồ,” nàng nói, đứng sững lại. “Ôi, anh là... anh đúng là Ged rồi!” Và khi gọi tên chàng, nàng lại nhìn thấy chàng rất rõ, khuôn mặt sẹo sạm nâu quen thuộc và đôi mắt đen; nhưng đứng đó vẫn là người lạ mặt với nước da trắng như sữa.

“Đừng gọi tên thật của tôi trước mặt người khác. Tôi cũng sẽ không gọi tên thật của cô. Chúng ta là hai anh em, đến từ Tenacbath. Và nếu gặp được một gương mặt nhân hậu nào đó thì tôi sẽ hỏi xin một chút gì để ăn tối.” Chàng nắm tay nàng và họ tiến vào làng.

Sáng hôm sau họ rời khỏi đó, bụng no nê, sau một đêm nghỉ ngơi thoải mái trong kho cỏ.

“Các pháp sư có hay phải xin ăn không?” Tenar hỏi, khi họ đi trên con đường chạy giữa những cánh đồng xanh tươi nơi bầy dê và những đàn gia súc nhỏ lông đốm khác đang gặm cỏ.

“Sao cô lại hỏi vậy?”

“Anh có vẻ rất thạo chuyện xin ăn. Thực ra anh xin ăn rất giỏi là đằng khác.”

“Ờ, cũng phải thôi. Cả đời tôi đã phải đi ăn xin, nếu cô nhìn mọi việc theo cách đó. Các pháp sư không có nhiều của cải, cô biết đấy. Thật ra, nếu là pháp sư lang thang, họ không có gì khác ngoài cây gậy pháp thuật và quần áo của mình. Nhưng rất nhiều người vui lòng đón tiếp họ, cho họ thức ăn và chỗ nghỉ. Họ cũng đền đáp lại những người đó.”

“Đền đáp gì cơ?”

“Ờ, người phụ nữ trong làng đó. Tôi đã chữa bệnh cho hai con dê của bà ta.”

“Chúng bị làm sao?”

“Cả hai con đều bị nhiễm trùng vú. Hồi nhỏ tôi đã từng chăn dê.”

“Anh có cho bà ta biết anh đã chữa lành cho chúng không?”

“Không. Tôi có thể nói như thế nào chứ? Mà tại sao tôi lại phải nói chứ?”

Sau một thoáng im lặng nàng nói, “Tôi đã thấy là pháp thuật của anh không chỉ hữu ích đối với những việc trọng đại.”

“Lòng hiếu khách,” chàng nói, “sự ân cần dành cho một người lạ, đó là một điều hết sức trọng đại. Tất nhiên, một lời cảm ơn thôi cũng đã đủ rồi. Nhưng tôi thấy thương lũ dê.”

Chiều hôm đó họ tới một thành phố lớn. Nhà cửa ở đó được xây toàn bằng gạch đất sét, và cũng như các thành phố Kargad khác, nó được bao quanh bởi một bức thành có lỗ châu mai và tháp canh ở bốn góc, chỉ có một cánh cổng duy nhất, nơi những người lái cừu đang lùa một bầy cừu đông đúc đi qua. Hàng trăm mái nhà ngói đỏ vươn lên trên bức tường gạch vàng khè. Đứng bên cánh cổng là hai lính canh thuộc quân đội Thần Vương đội mũ sắt gắn lông chim màu đỏ. Cứ mỗi năm một lần, Tenar lại nhìn thấy những người lính đội thứ mũ đó đến Thành, hộ tống bọn nô lệ hoặc tiền bạc đem cống nộp cho đền thờ của Thần Vương. Nàng kể với Ged điều này khi họ đi qua bên ngoài bức tường thành, chàng nói, “Khi còn nhỏ tôi cũng đã thấy chúng. Chúng đến tấn công đảo Gont. Chúng đã tiến vào làng của tôi để cướp phá. Nhưng đã bị đánh đuổi. Và đã có một trận chiến ở cửa sông Ar, trên bờ biển; rất nhiều người đã bỏ mạng, nghe nói có đến hàng trăm người chết. Có lẽ giờ đây khi chiếc vòng đã được gắn liền và Cổ tự Thất lạc đã được tìm thấy, sẽ không còn những chuyện cướp phá và giết chóc giữa Vương quốc Kargad và vùng Đảo Nội địa như vậy nữa.”

“Những chuyện như vậy nếu cứ tiếp diễn thì thật xuẩn ngốc,” Tenar nói. “Mà Thần Vương thì cần gì nhiều nô lệ đến thế?”

Người bạn đồng hành của nàng trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu. “Nếu Vương quốc Kargad đánh bại vùng Quần đảo, có phải cô định nói thế không?”

Nàng gật đầu.

“Tôi không nghĩ điều đó sẽ xảy ra.”

“Nhưng hãy xem Vương quốc này hùng mạnh đến nhường nào - thành phố lớn với tường bao quanh và vô số quân lính đó. Làm sao vùng đất của anh có thể chống lại nếu bị họ tấn công?”

“Đó không phải một thành phố quá lớn,” chàng nói, thận trọng và nhẹ nhàng. “Khi mới rời khỏi vùng núi quê hương tôi thì tôi cũng đã nghĩ đó là một thành bang hết sức rộng lớn. Nhưng trên toàn xứ Hải Địa này còn vô số thành phố khác, mà nếu so với chúng thì nơi này chỉ là một thị trấn nhỏ thôi. Có rất nhiều, rất nhiều xứ sở khác. Cô sẽ được thấy chúng, Tenar ạ.”

Nàng không nói gì. Nàng chỉ tiếp tục bước đi, mặt nghiêm lại.

“Thật tuyệt vời biết bao khi được chiêm ngưỡng chúng: những vùng đất mới đang nhô lên khỏi mặt biển khi thuyền của ta tiến về phía ấy. Các cánh đồng và rừng cây, thành phố với bến cảng và cung điện, các khu chợ bán đủ mọi thứ trên đời.”

Nàng gật đầu. Nàng biết chàng đang cố động viên nàng, nhưng nàng đã để niềm vui của mình ở lại rặng núi, trong cái thung lũng nhỏ với dòng suối róc rách dưới ánh hoàng hôn. Giờ đây nỗi khiếp sợ đang lớn dần lên trong nàng. Nàng không biết điều gì đang chờ đợi mình ở phía trước. Nàng không biết gì ngoài sa mạc và Lăng tẩm. Những điều đó giờ thì còn có ích gì? Nàng biết rõ từng ngả rẽ trong một mê cung điêu tàn, nàng biết những điệu vũ diễn ra trước một bàn thờ đổ nát. Nàng chẳng biết gì về rừng núi, thành đô, hay tâm tính con người.

Đột nhiên nàng hỏi, “Anh có ở lại đó với tôi không?”

Nàng không nhìn chàng. Chàng vẫn đang khoác bề ngoài giả trang của người nông dân Kargad da trắng, và nàng không thích khi thấy chàng như vậy. Nhưng giọng nói của chàng không thay đổi, vẫn là giọng nói đã vang lên trong bóng tối của Mê cung.

Một lúc lâu sau chàng mới trả lời. “Tenar, tôi đi tới những nơi tôi được cử đến. Tôi đi theo tiếng gọi của mình. Nó không cho tôi ở lại lâu dài tại bất kỳ vùng đất nào. Cô có hiểu không? Tôi làm những gì tôi phải làm. Những nơi tôi đến, tôi phải đến một mình. Chừng nào cô còn cần đến tôi thì tôi sẽ còn ở lại với cô ở Havnor. Và nếu sau này cô cần thì hãy gọi tôi. Tôi sẽ tới. Tôi sẽ trở về ngay cả từ dưới mồ nếu cô gọi tôi, Tenar! Nhưng tôi không thể ở lại được.”

Nàng không nói gì. Một lát sau chàng nói, “Cô sẽ không cần tôi ở lại đó lâu đâu. Cô sẽ rất hạnh phúc.”

Nàng gật đầu, chấp thuận, im lặng.

Họ tiếp tục sánh vai về phía biển.

« Lùi
Tiến »