Arha ốm mấy ngày liền. Người ta cho nàng uống thuốc hạ sốt. Nàng chỉ nằm trên giường, hoặc ngồi trong hàng hiên của Nhà Nhỏ dưới ánh nắng thu dìu dịu và ngắm nhìn dãy đồi phía Tây. Nàng cảm thấy yếu ớt và mụ mẫm. Có những ý nghĩ ám ảnh nàng mãi không rời. Nàng xấu hổ vì đã ngất xỉu. Không có tên lính nào được cử canh gác Bức tường Lăng tẩm, nhưng giờ thì nàng không còn dám hỏi Kossil về việc đó nữa. Nàng thậm chí còn không muốn nhìn thấy Kossil nữa: không bao giờ. Tất cả là do nàng cảm thấy xấu hổ vì đã bị ngất.
Thỉnh thoảng, dưới ánh mặt trời, nàng lại lên kế hoạch lần sau mình sẽ xử sự ra sao khi bước vào những cái hang tối trong lòng đồi đó. Nàng ngẫm nghĩ rất lung xem khi đợt tù nhân tiếp theo bị đày đến, nàng sẽ ban cho chúng cái chết như thế nào, một cái chết công phu hơn, xứng đáng hơn với các nghi lễ trước Ngai vàng Trống không.
Mỗi đêm, trong bóng tối, nàng lại bật dậy và thét lên, “Chúng vẫn chưa chết! Chúng vẫn còn thoi thóp!”
Nàng mơ rất nhiều. Nàng mơ mình phải nấu nướng, hàng vạc lớn đầy cháo bột, và đổ tất cả vào một cái lỗ trên mặt đất. Nàng mơ mình phải bưng một cái bát đồng sâu đầy nước, xuyên qua bóng tối, để đem đến cho một người đang khát. Nhưng nàng không bao giờ đến được chỗ người ấy. Nàng thức giấc, nhận ra chính mình đang khát, nhưng nàng không đi tìm nước uống. Nàng nằm trong căn phòng không cửa sổ ấy, mắt chong chong.
Một sáng nọ Penthe đến thăm nàng. Từ trên hàng hiên Arha nhìn thấy cô tiến lại Nhà Nhỏ với vẻ lơ đãng, không mục đích, như thể cô chỉ tình cờ lang thang về hướng này. Nếu Arha không cất tiếng gọi thì hẳn cô đã không bước lên bậc thềm. Nhưng Arha đang cô đơn, và đã cất tiếng gọi.
Penthe cúi đầu chào thật thấp như tất cả mọi người phải làm khi đến gần Nữ tu của Lăng tẩm, rồi ngồi phịch xuống bậc thang bên dưới Arha và thở “Phù!” một tiếng. Cô đã cao lớn và phổng phao lên nhiều; dù làm bất kỳ công việc gì thì mặt cũng đỏ như quả anh đào, và bây giờ má cô đang ửng hồng vì đi bộ.
“Tôi nghe nói chị bị ốm. Tôi đã để dành mấy quả táo cho chị đây.” Cô bất ngờ lôi từ dưới chiếc áo dài đen rộng của mình ra một cái giỏ đan bằng cây lau đựng sáu hay tám quả tảo vàng ruộm. Giờ cô đã được nâng lên hàng người hầu của Thần Vương, và phục vụ trong đền của ông ta dưới quyền Kossil; nhưng cô vẫn chưa được phong làm nữ tu, và vẫn phải học tập, làm lụng với các nữ tập sự khác. “Năm nay Poppe và tôi phải chọn táo, và tôi đã để dành những quả ngon nhất. Họ luôn để dành những quả ngon nhất để phơi khô. Tất nhiên những quả ấy để khô được lâu hơn, nhưng có vẻ như thế thì phí quá. Trông chúng đẹp nhỉ?”
Arha vuốt ve lớp vỏ táo vàng ruộm mịn màng như lụa, ngắm mấy cái cuống vẫn đang hờ hững bám lấy những chiếc lá nâu. “Đẹp thật.”
“Chị ăn một quả đi,” Penthe nói.
“Không phải bây giờ. Chị ăn đi.”
Penthe chọn quả nhỏ nhất, cho phải phép, và ăn hết quả táo chỉ trong khoảng mười miếng, những miếng cắn khéo léo, thích thú, ngập vào lớp thịt mọng nước.
“Tôi có thể ăn cả ngày cũng được,” cô nói, “Tôi chẳng bao giờ được ăn no. Ước gì tôi được làm đầu bếp thay vì nữ tu. Tôi sẽ nấu ăn ngon hơn cái mụ Nathabba bủn xỉn ấy, và hơn nữa, tôi sẽ được vét nồi... À, chị đã nghe chuyện về Munith chưa? Cô ả phải đánh bóng những cái bình đồng dùng để đựng dầu hoa hồng, chị biết đấy, những cái bình dài có nút ấy. Và cô ả tưởng mình phải cọ rửa cả bên trong nữa, thế là cô ta liền thò tay vào trong bình, bàn tay đã được bọc giẻ, chị biết đấy, rồi thì không sao rút ra được. Cô ả cố rút tay ra, cố quá đến nỗi cổ tay sưng phồng cả lên, chị biết không, thế là cô nàng bị mắc kẹt thật sự . Và cô ta nhảy cỡn lên khắp phòng ngủ, la hét ầm ỹ, ‘Tôi không rút tay ra được! Tôi không rút tay ra được!′ Và lão Punti thì bây giờ điếc đến nỗi cứ tưởng là có cháy nhà, bèn hét váng lên gọi các thái giám khác chạy đến cứu bọn nữ tập sự. Còn Uahto đang vắt sữa thì cũng chạy ra khỏi chuồng xem có chuyện gì, và để ngỏ cửa chuồng, thế là bọn dê sữa xổng hết ra ngoài, lao vào sân và đâm vào Punti cùng với đám thái giám và mấy con bé, trong khi Munith thì vẫn huơ cái bình đồng dính cứng ở cổ tay, làm điên đảo cả lên, và tất cả đang chạy loạn xạ thì Kossil từ trên đền đi xuống. Bà ta hỏi, ‘Cái gì thế này? Cái gì thế này?’”
Trên khuôn mặt tròn trịa, trắng trẻo của Penthe hiện lên vẻ chế nhạo ghê tởm, chẳng có gì giống với nét mặt lạnh lùng của Kossil, thế nhưng nom vẫn giống Kossil đến nỗi Arha phì ra một tiếng cười gần như sợ hãi.
“‘Cái gì thế này? Cái gì thế này?’ Kossil hỏi vậy. Và rồi... và rồi con dê nâu húc bà ta...” Penthe cười nấc lên, chảy cả nước mắt. “Và M-Munith thì đập con... con dê bằng cái b-b-bình...”
Cả hai cô gái nghiêng ngả vì cười, vừa ôm đầu gối vừa cười sằng sặc.
“Và Kossil quay ngoắt lại và nói, ‘Cái gì thế này? Cái gì thế này?’ với... với... với con dê...” Đoạn cuối câu chuyện chìm vào tiếng cười. Mãi rồi Penthe cũng lau mắt lau mũi, rồi lơ đãng chén tiếp quả táo nữa.
Arha cười đến nỗi run cả người. Nàng trấn tĩnh lại, rồi một lát sau lên tiếng hỏi, “Chị đến nơi này như thế nào, Penthe?”
“Ờ, tôi là đứa con gái thứ sáu trong nhà, mà cha mẹ tôi thì không thể nuôi nổi ngần ấy đứa con và gả chồng cho chúng được. Thế nên khi tôi lên bảy, họ dẫn tôi đến đền Thần Vương và dâng tôi cho họ. Đó là ở Ossawa. Tôi đoán ở đó họ có nhiều nữ tập sự quá, vì ngay sau đó họ gửi tôi tới đây. Hoặc cũng có thể họ nghĩ tôi sẽ trở thành một nữ tu xuất sắc hay đại loại thế. Nhưng nếu nghĩ thế thì họ đã sai rồi!” Penthe cắn quả táo với vẻ mặt làm ra bộ thảm não, nhưng không giấu được sự hớn hở.
“Chị không muốn làm nữ tu ư?”
“Muốn ấy à! Tất nhiên rồi! Thà tôi lấy anh chăn lợn và sống trong lều. Tôi thà làm bất kỳ cái gì khác còn hơn là bị chôn sống ở đây cho đến hết đời với một đám phụ nữ, giữa cái sa mạc già cỗi chết tiệt, chẳng có ma nào bén mảng! Nhưng có ước ao thì cũng chẳng ích gì, vì bây giờ tôi đã được thụ phong rồi, và tôi không bỏ được nữa. Nhưng tôi hy vọng đến kiếp sau mình sẽ được làm vũ nữ ở Awabath! Vì tôi đáng được hưởng cuộc sống như thế.”
Arha cúi xuống chằm chằm nhìn cô bằng đôi mắt tối sẫm, bình thản. Nàng không hiểu nổi. Nàng cảm thấy như từ trước đến giờ mình chưa từng gặp Penthe, chưa bao giờ nhìn hay quan sát cô, quan sát cái thân hình tròn trĩnh, căng tràn sức sống, tươi trẻ và đẹp đẽ như chính những trái táo vàng của cô vậy.
“Ngôi Đền không có nghĩa gì với chị sao?” Nàng hỏi, có phần gay gắt.
Penthe, mọi khi vẫn ngoan ngoãn và dễ bị bắt nạt, lần này lại không hề tỏ ra bối rối. “Ồ, tôi biết các Chủ nhân của chị rất quan trọng đối với chị,” cô nói với vẻ dửng dưng khiến Arha sững sờ. “Dù sao đi nữa, điều đó cũng dễ hiểu thôi, vì chị là người hầu đặc biệt của họ. Chị không chỉ được thụ phong, ngay từ lúc chào đời chị đã là người đặc biệt. Nhưng nhìn tôi xem. Tôi phải cảm thấy tôn kính hay đại loại như thế đối với Thần Vương sao? Rốt cuộc, ông ta cũng chỉ là người thường, cho dù ông ta có sống ở Awabath trong một tòa lâu đài rộng đến mười dặm có mái dát vàng đi chăng nữa. Ông ta khoảng năm mươi tuổi, và lại còn hói đầu. Cứ nhìn tượng của ông ta cũng thấy. Và tôi dám cá với chị là ông ta cũng phải cắt móng chân như mọi người bình thường khác. Tôi biết rõ ông ta cũng là thần. Nhưng theo tôi ông ta sẽ có vẻ thần thánh hơn nhiều sau khi đã chết rồi.”
Arha đồng ý với Penthe, vì trong thâm tâm nàng cũng thấy các vị Thần Vương tự phong của Kargad chỉ là những vị thần mới phất, những vị thần giả dạng, tìm cách bòn rút sự sùng bái lẽ ra phải dành cho những Quyền năng chân chính, bất diệt. Nhưng trong lời nói của Penthe có một điều nàng không đồng ý, một điều hoàn toàn mới mẻ và đáng sợ đối với nàng. Từ trước đến giờ nàng đã không nhận ra con người khác nhau biết bao, họ nhìn cuộc đời với những con mắt khác nhau biết bao. Nàng cảm thấy như mình vừa ngẩng lên và đột nhiên trông thấy một hành tinh mới, khổng lồ và đông đúc, đang lơ lửng ngay bên ngoài cửa sổ, một thế giới hoàn toàn xa lạ, một thế giới nơi các vị thần chẳng là gì cả. Nàng thấy sợ hãi trước sự vô thần quả quyết của Penthe. Và vì sợ hãi, nàng không nghĩ đến điều đó nữa.
“Đúng thế. Các Chủ nhân của ta đã chết từ lâu, rất lâu rồi, và họ cũng không phải người thường... Chị biết không, Penthe, ta có thể gọi chị vào phục vụ trong Lăng.” Nàng nói một cách thân mật, như đang đề nghị bạn mình một lựa chọn tốt hơn.
Màu hồng biến mất khỏi đôi má của Penthe.
“Đúng thế,” cô nói, “chị có thể làm vậy. Nhưng tôi không... Tôi không phù hợp với việc ấy.”
“Tại sao?”
“Tôi sợ bóng tối,” Penthe thấp giọng đáp.
Arha phì ra một tiếng khinh bỉ, nhưng nàng thấy hài lòng. Nàng đã nêu rõ vấn đề. Penthe có thể không tin vào thần thánh, nhưng cô vẫn sợ những quyền năng không tên của bóng tối... như mọi người trần khác.
“Chị biết đấy, ta sẽ không làm vậy nếu chị không muốn,” Arha nói.
Một quãng im lặng kéo dài bao trùm lên cả hai người.
“Chị đang càng ngày càng giống Thar đấy,” Penthe nói một cách dịu dàng, mơ màng như thường lệ. “Ơn trời là chị không giống Kossil! Nhưng chị thật mạnh mẽ. Tôi ước gì mình cũng mạnh mẽ như vậy. Tôi chỉ thích ăn thôi...”
“Chị cứ ăn đi,” Arha nói, vừa có vẻ bề trên vừa hơi buồn cười, trong khi Penthe chậm rãi gặm quả táo thứ ba đến tận lõi.
Mấy ngày sau, những nghi thức bất tận của khu Lăng tẩm buộc Arha phải rời khỏi căn nhà biệt lập của mình. Một con dê cái đã đẻ sinh đôi không đúng lứa, và theo tục lệ, chúng phải được đem hiến tế cho hai Thần Huynh đệ Sinh đôi: đó là một nghi lễ quan trọng mà Đại Nữ tu phải tham dự. Rồi sau đó là tuần trăng non, và các lễ cầu nguyện bóng tối phải được thực hiện trước Ngai vàng Trống không. Arha hít vào lồng ngực thứ khói tê mê của các loại thảo mộc đang cháy trong những khay đồng lớn đặt trước Ngai, và nhảy múa một mình trong chiếc áo đen. Nàng múa cho những linh hồn vô hình của người đã chết và người chưa chào đời, và trong khi nàng múa, các linh hồn vây lấy nàng, bám theo từng nhịp bước, từng nhịp xoay của bàn chân cùng những động tác chậm rãi, vững vàng của cánh tay nàng. Nàng hát những bài ca mà không ai hiểu lời, những bài ca Thar đã dạy cho nàng từng âm một, từ lâu lắm rồi. Một đoàn nữ tu ẩn trong bóng tối phía sau hàng cột đôi họa theo những từ ngữ kỳ lạ ấy, và gian phòng mênh mông hoang tàn đó tràn ngập tiếng ngân nga, như thể các linh hồn đang lặp đi lặp lại những lời cầu nguyện.
Vị Thần Vương ở Awabath không đày thêm tù nhân đến Lăng tẩm nữa, rồi dần dần Arha cũng không mơ về ba tên tù đã chết từ lâu và được chôn dưới ba nấm mồ nông trong cái hang lớn dưới Bia mộ.
Nàng phải thu hết can đảm mới dám quay lại cái hang đó. Nàng phải quay lại: Nữ tu của Lăng tẩm phải bước vào lãnh địa của mình mà không khiếp hãi, phải biết rõ đường đi lối lại trong đó.
Lúc đầu nàng cảm thấy rất khó bước qua ô cửa sập đó; nhưng nó không đến nỗi khó khăn như nàng tưởng. Nàng đã tự chuẩn bị cho mình hết sức kỹ càng, kiên quyết xuống một mình và giữ bình tĩnh, đến nỗi khi đến nơi nàng gần như thất vọng khi thấy ở đó chẳng có gì đáng sợ cả. Trong hang có thể có những nấm mồ thật, nhưng nàng không nhìn thấy chúng; nàng không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì. Tất cả đều tối đen; tất cả đều im lìm. Và tất cả chỉ có vậy.
Ngày lại ngày, nàng trở lại nơi ấy, luồn vào trong qua ô cửa sập ở gian phòng sau Ngai vàng, cho đến khi nàng biết rõ mọi ngõ ngách trong hang, với những bức vách chạm trổ kỳ lạ của nó - biết rõ hết mức có thể đối với một nơi ta không thể nhìn thấy. Nàng không bao giờ rời vách hang, vì nếu đi vào giữa lòng hang trống trải, nàng sẽ sớm bị mất phương hướng trong bóng tối, và do vậy, khi cuối cùng cũng mò mẫm trở lại được vách hang, nàng sẽ không biết mình đang ở đâu. Vì theo những gì nàng học được trong lần đầu tiên, ở những nơi tối tăm như thế này điều quan trọng nhất là phải biết mình đã đi qua và sắp gặp phải ngả rẽ và khe hổng nào. Điều này chỉ có thể thực hiện được bằng cách đếm, vì dưới bàn tay lần mò thì tất cả đều giống nhau. Trí nhớ của Arha đã được rèn luyện tốt, và nàng không gặp phải chút khó khăn nào với cái cách tìm đường kỳ lạ ấy, tìm đường bằng xúc giác và số đếm chứ không phải bằng mắt nhìn và lý trí thông thường. Nàng sớm thuộc lòng mọi hành lang trổ vào Hầm mộ, cái mê lộ nhỏ hơn nằm dưới Đại sảnh và đỉnh đồi. Nhưng có một hành lang nàng không bao giờ bước vào: hành lang thứ hai bên trái lối vào bằng đá đỏ, cái hành hang mà nếu đi vào vì tưởng nhầm đó là một ngả rẽ quen thuộc thì nàng sẽ không bao giờ tìm được đường ra. Nàng mong mỏi được bước vào đó, được học về Mê cung, nỗi mong mỏi ấy ngày một lớn lên, nhưng nàng cố kìm nén cho đến khi nàng đã biết được tất cả những gì có thể về nơi đó, ở trên mặt đất.
Thar không biết gì nhiều về Mê cung ngoại trừ tên của một số gian phòng trong đó và danh sách lối đi, ngả rẽ phải đi vào hay bỏ qua để đến được những gian phòng này. Bà dạy cho Arha biết những lối đi này, nhưng không bao giờ vạch chúng xuống đất hay thậm chí dùng cánh tay phác họa chúng trong không trung; và bản thân bà cũng chưa bao giờ đi theo các đường hầm này, chưa bao giờ bước vào Mê cung. Nhưng khi Arha hỏi bà ta, “Lối đi từ cánh cửa sắt mở vào Phòng Tranh dẫn tới đâu?” hay, “Làm thế nào để đi từ Phòng Xương cốt đến đường hầm nằm bên sông?” thì Thar sẽ im lặng trong chốc lát, rồi thuật lại những chỉ dẫn kỳ lạ mà cách đây lâu lắm rồi, bà ta đã học được từ Arha-thuở-trước: phải đi qua ngần này ngã tư, phải rẽ sang bên trái ngần này lần, cứ thế, cứ thế mãi. Và giống như Thar, thường chỉ cần nghe tất cả những chỉ dẫn đó một lần là Arha đã nhớ nằm lòng. Ban đêm, khi nằm trên giường nàng lại tự nhắc lại chúng trong đầu, cố mường tượng ra các cái hang các gian phòng, các ngả rẽ.
Thar cũng chỉ cho Arha thấy rất nhiều khe nhòm nhìn xuống Mê cung, nằm trong mọi tòa nhà và mọi ngôi đền của Thành, thậm chí cả dưới những hòn đá ngoài trời nữa. Các đường hầm có vách đá ấy tạo thành một tấm mạng nhện nằm bên dưới Thành, kéo dài ra cả bên ngoài ranh giới của nó; trong bóng tối dưới đó có cả hàng dặm đường hầm. Không ai khác ngoài nàng, hai Nữ tu Tối cao và người hầu riêng của họ, các thái giám Manan, Uahto và Duby, biết rằng bên dưới mỗi khoảnh đất họ đặt chân lên đều có một Mê cung trải dài. Những người khác cũng đồn đại mơ hồ về Mê cung; tất cả bọn họ đều biết bên dưới Bia mộ có những hang động hay hầm ngầm gì đó. Nhưng không ai trong số đó lại tò mò muốn biết về những điều liên quan đến các Thần Vô danh và những nơi linh thiêng đối với các vị Thần ấy. Có lẽ họ cảm thấy mình biết càng ít càng tốt. Dĩ nhiên, Arha là người tò mò hơn hết thảy, và nàng biết có những khe nhòm nhìn vào Mê cung nên đã đi tìm chúng; nhưng chúng bị che giấu rất kỹ trên lớp đá lát nền nhà hay trên mặt đất sa mạc, giấu kín đến nỗi nàng không tìm được một khe nhòm nào, thậm chí cả khe nhòm trong Nhà Nhỏ của chính nàng cho tới khi Thar chỉ cho nàng thấy.
Một đêm đầu xuân, nàng đem theo cây đèn lồng, nhưng không thắp sáng, xuyên qua Hầm mộ tới lối đi thứ hai nằm bên trái con đường dẫn từ cánh cửa bằng đá đỏ.
Trong bóng tối, nàng men theo lối đi ấy khoảng ba mươi bước, rồi xuyên qua một ô cửa, cảm nhận được cái khung sắt gắn vào lớp đá: ô cửa ấy, cho đến tận lúc này, đã là giới hạn hành trình khám phá của nàng. Qua Cửa Sắt, nàng xuôi theo đường hầm một đoạn dài, và cuối cùng khi nó rẽ sang phải, nàng liền thắp nến lên và nhìn quanh mình. Bởi vì ở đây được phép thắp sáng. Nàng không còn ở trong Lăng tẩm nữa. Nàng đang ở một nơi kém linh thiêng hơn, nhưng có lẽ còn đáng sợ hơn. Nàng đang ở trong Mê cung.
Vách, mái và nền đá gồ ghề, trần trụi bao quanh nàng trong quầng nến nhỏ. Im phăng phắc. Trước mặt và sau lưng nàng, đường hầm duỗi mình vào bóng tối.
Tất cả các đường hầm đều giống nhau và liên tục đan vào nhau. Nàng cẩn thận đếm từng ngả rẽ, từng khe hở, và nhẩm lại những chỉ dẫn của Thar, dù nàng đã biết rõ chúng. Vì lạc trong Mê cung là điều hết sức khủng khiếp. Trong Hầm mộ và các lối đi ngắn quanh đó, Kossil hay Thar còn có thể tìm thấy nàng, hay Manan có thể tìm được nàng, vì có vài lần nàng đã dẫn y đi cùng. Nhưng nơi này thì chưa một ai trong số đó đặt chân đến: chỉ có nàng mà thôi. Nếu họ có đến Hầm mộ và gọi to lên thì cũng chẳng có ích gì cho nàng, khi nàng đã bị lạc giữa các đường hầm xoáy ốc rắc rối cách đó đến nửa dặm. Nàng tưởng tượng mình có thể nghe thấy những tiếng gọi vọng đến, xuyên qua mọi hành lang, và nàng sẽ cố tìm đến chỗ nó, nhưng chỉ càng bị lạc xa hơn mà thôi. Nàng tưởng tượng điều ấy một cách rõ rệt đến nỗi nàng đứng phắt lại, tưởng như mình vừa nghe thấy tiếng gọi từ xa xa vẳng tới. Nhưng chẳng có gì hết. Và nàng sẽ không bị lạc. Nàng rất thận trọng, và đây là nơi của nàng, lãnh địa của nàng. Ở đây, các quyền năng của bóng tối, các Thần Vô danh, sẽ dẫn bước cho nàng, cũng như họ sẽ làm lạc lối bất kỳ kẻ trần tục nào dám đặt chân vào Mê cung của Lăng tẩm.
Trong lần đầu tiên đó nàng không đi xa lắm, nhưng cũng đủ cho cảm giác cô đơn và độc lập nàng cảm thấy ở đó lớn dần lên, một cảm giác lạ lùng, cay đắng nhưng thích thú và chắc chắn, nó kéo nàng quay trở lại một lần, rồi lần nữa, mỗi lần lại dẫn nàng tiến vào Mê cung sâu hơn. Nàng vào Phòng Tranh, Ngã Sáu, theo Đường hầm Ngoài cùng dài dằng dặc, xuyên qua lối đi rối rắm kỳ lạ dẫn đến Phòng Xương cốt.
“Mê cung được tạo ra khi nào?” Nàng hỏi Thar, và vị nữ tu gầy guộc, nghiêm nghị ấy đáp lại, “Nữ chủ, ta không biết. Không ai biết cả.”
“Nó được tạo ra để làm gì?”
“Để chôn giấu kho báu của Lăng tẩm, và để trừng phạt những kẻ tìm cách đánh cắp các kho báu ấy.”
“Tất cả những báu vật ta đã thấy đều nằm trong các gian phòng sau Ngai vàng và các hầm chứa bên dưới. Trong Mê cung còn có gì nữa?”
“Một kho báu lớn hơn và cổ xưa hơn nhiều. Người có muốn nhìn thấy nó không?”
“Có.”
“Không ai khác ngoài nữ chủ có thể bước vào Kho tàng Lăng tẩm. Người có thể đưa người hầu của mình vào Mê cung, nhưng không được đưa chúng vào Kho tàng. Thậm chí nếu Manan đặt chân vào đó, cơn thịnh nộ của bóng tối sẽ thức dậy; y sẽ không thể sống sót rời khỏi Mê cung. Người phải vào đó một mình, mãi mãi là như vậy. Ta biết Kho báu Vĩ đại nằm ở đâu. Mười lăm năm trước người đã nói cho ta biết, trước khi người từ trần, để ta nhớ và cho người biết khi người quay lại. Ta có thể cho nữ chủ biết con đường trong Mê cung, vượt qua Phòng Tranh; và chiếc chìa mở cửa kho tàng chính là chiếc chìa khóa bạc trên cái vòng của người, chiếc có khắc trên cán một con rồng. Nhưng người phải vào đó một mình.”
“Hãy cho ta biết đường đi.”
Thar nói cho nàng; và nàng đã nhớ, như nàng luôn nhớ tất cả những điều mình được dạy. Nhưng nàng không tới xem Kho báu Vĩ đại của Lăng tẩm. Cái cảm giác rằng ý chí hoặc kiến thức của nàng vẫn chưa đầy đủ đã ngăn nàng lại. Hoặc cũng có thể nàng muốn để dành một điều gì đó, một điều gì đó để mong đợi, một điều sẽ đem vẻ đẹp huyền bí đến cho những đường hầm bất tận trải dài trong bóng tối kia, những đường hầm luôn kết thúc bằng một bức vách trơ trọi hoặc một gian phòng bụi bặm trống rỗng. Nàng sẽ chờ đợi một thời gian trước khi nhìn ngắm kho báu của mình.
Dù sao đi chăng nữa, chẳng phải nàng đã từng nhìn thấy chúng trước kia rồi hay sao?
Nàng vẫn cảm thấy lạ lùng khi Thar và Kossil nói với nàng về những điều nàng đã nhìn thấy hay thốt ra trước khi nàng qua đời. Nàng biết mình đã qua đời, và đã được đầu thai vào một cơ thể mới, đúng vào thời điểm cơ thể trước kia của nàng chết đi: điều này không chỉ xảy ra một lần mười lăm năm trước, mà đã từng xảy ra năm mươi năm trước, và trước đó, rồi trước đó nữa, hàng trăm năm trước, hết thế hệ này đến thế hệ khác, cho tới tận thuở ban đầu khi Mê cung mới được đào, các Bia mộ mới được dựng, Nữ tu Đầu tiên của các Thần Vô danh sống trong Thành này và nhảy múa trước Ngai vàng Trống không. Tất cả đều là một, tất cả cuộc đời trước đó và cuộc đời hiện tại của nàng. Nàng chính là Nữ tu Đầu tiên. Toàn thể loài người đều liên tục được đầu thai, nhưng chỉ có nàng, Arha, là luôn được đầu thai làm chính mình. Nàng đã học thuộc đường đi lối lại trong Mê cung hàng trăm lần, và sau hàng trăm lần nàng cuối cùng đã đến được căn phòng bí mật.
Đôi khi nàng tưởng như mình nhớ lại được chút gì đó. Những cái hang tối tăm trong lòng đồi đối với nàng hết sức quen thuộc, như thể chúng không chỉ là lãnh địa của nàng, mà còn là nhà của nàng. Khi nàng hít vào lồng ngực thứ hương thảo mộc đê mê để nhảy múa vào dịp trăng non, đầu óc nàng trở nên nhẹ bỗng và thân thể nàng như không còn là của nàng nữa; và khi ấy nàng thấy mình đang nhảy múa qua hàng bao thế kỷ, trong chiếc áo dài đen, đôi chân trần, và chợt nhận ra điệu múa đó không bao giờ ngừng lại.
Thế nhưng nàng vẫn thấy thật kỳ lạ khi Thar nói, “Nữ chủ đã nói với ta trước khi người qua đời...”
Một lần nàng hỏi, “Những kẻ đến đánh cắp kho báu là ai vậy? Đã từng có ai dám làm vậy chưa?” Ý nghĩ về những tên cướp khiến nàng thấy phấn khích, nhưng đó là điều khó có thể xảy ra. Làm sao chúng có thể đến Thành mà không ai hay biết được? Rất ít người hành hương tới đây, thậm chí còn ít hơn cả tù nhân nữa. Thỉnh thoảng có mấy nữ tập sự hoặc bọn nô lệ mới được gửi đến từ những ngôi đền nhỏ hơn ở Tứ Xứ, hoặc một nhóm nhỏ đem vàng hay hương trầm quý hiếm đến dâng cho một ngôi đền nào đó. Và tất cả chỉ có vậy. Không ai tình cờ đến đây, cho dù là để mua bán, vãn cảnh, hay ăn cắp, không ai đến trừ phi phải tuân theo mệnh lệnh. Arha thậm chí còn không biết thành phố gần nhất cách đó bao xa, khoảng hai mươi dặm hoặc hơn, và nó cũng chỉ là một thành phố nhỏ. Thành được canh gác và bảo vệ bởi sự trống trải, cách biệt. Nàng tự nhủ, bất kỳ ai đi qua vùng sa mạc mênh mông bao quanh nó thì cũng dễ dàng bị phát hiện chẳng khác nào con cừu đen đi giữa cánh đồng tuyết trắng.
Nàng đang ngồi với Thar và Kossil, giờ đây nếu không ở Nhà Nhỏ hay một mình trong lòng đồi thì nàng chủ yếu ở cùng họ. Đó là một đêm tháng Tư giông bão, lạnh lẽo. Họ ngồi bên đống lửa nhỏ xíu đốt bằng cây ngải đắng trong lò sưởi của căn phòng nằm sau đền Thần Vương, phòng của Kossil. Ngoài cửa, trên hành lang, Manan và Duby đang chơi trò chơi với que và thẻ tính, ném một nắm que lên cao và cố bắt thật nhiều bằng mu bàn tay. Manan và Arha thỉnh thoảng vẫn bí mật chơi trò đó trong sân sau Nhà Nhỏ. Âm thanh duy nhất trong phòng là tiếng que rơi lạch cạch, tiếng thì thào khàn khàn đắc thắng hay bực bội và tiếng lửa tí tách, ba nữ tu đều không lên tiếng. Sự im lặng vô cùng của đêm sa mạc bao trùm lên khắp xung quanh. Chốc chốc mới có tiếng mưa nặng hạt lộp độp.
“Có nhiều kẻ đã đến cướp bóc Lăng tẩm, từ rất lâu rồi; nhưng chưa kẻ nào làm được,” Thar đáp. Mặc dù lầm lì ít nói, thỉnh thoảng bà ta vẫn thích kể chuyện, và thường kể mỗi khi Arha hỏi. Đêm nay, có vẻ như bà đã bị thuyết phục.
“Làm sao chúng dám?”
“ Chúng dám đấy,” Kossil nói. “Chúng là những thầy phù thủy, những kẻ có pháp thuật đến từ Quần đảo Nội địa. Thời đó là trước khi Thần Vương lên cai trị xứ Kargad; khi ấy chúng ta còn chưa hùng mạnh như bây giờ. Bọn pháp sư thường đi thuyền từ phía Tây đến Karego-At và Atuan để cướp bóc các thành phố ven biển, phá hoại trang trại, thậm chí còn dám tiến cả vào Thành phố Linh thiêng Awabath. Chúng nói chúng đến để giết rồng, nhưng chúng ở lại để cướp phá thành phố và đền đài.”
“Còn các anh hùng của chúng thì đến đây để thử gươm,” Thar nói, “và gieo rắc những bùa phép xấu xa của chúng. Một tên trong số đó, một pháp sư hùng mạnh, đồng thời là một chúa rồng, kẻ vĩ đại hơn tất cả, đã bị đại bại ở đây. Chuyện xảy ra đã lâu, lâu lắm rồi, nhưng câu chuyện vẫn được truyền lại, và không phải chỉ ở nơi đây. Pháp sư đó tên là Erreth-Akbe, và y vừa là vua vừa là pháp sư ở phương Tây. Y đã tìm đến vương quốc của chúng ta, và ở Awabath y đã hợp lực với một số vương thân nổi loạn xứ Kargad, rồi gây chiến với Đạo sĩ Tối cao ở Đền Trung tâm của các Thần Sinh đôi, hòng chiếm lấy thành phố. Họ đã chiến đấu rất lâu, pháp thuật của kẻ trần tục chống lại sấm sét của các vị thần, còn ngôi đền bị tàn phá xung quanh họ. Cuối cùng Tu sĩ Tối cao đã bẻ gãy cây gậy ma thuật của tên phù thủy, đập lá bùa quyền lực của y ra làm đôi, và đánh bại y. Y trốn chạy khỏi thành phố, trốn chạy khỏi vương quốc Kargad, và chạy qua cả xứ Hải Địa để về miền cực Tây; tiếp đó ở nơi này, vì đã bị mất hết pháp thuật nên y bị một con rồng giết chết. Từ đó trở đi, quyền năng và sức mạnh của vùng Đảo Nội địa không ngừng giảm sút. Vị Tu sĩ Tối cao đó tên là Intathin, người đầu tiên của dòng họ Tarb, cùng một dòng dõi với các Quốc vương-Tu sĩ ở Karego-At, cũng như các Thần Vương của toàn bộ xứ Kargad, sau khi những lời tiên tri của hàng bao thế kỷ đã trở thành sự thật. Vậy là kể từ ngày Intathin lên ngôi, quyền năng và sức mạnh của xứ Kargad không ngừng phát triển. Những kẻ đến cướp Lăng tẩm, chúng đều là phù thủy, đã dùng mọi thủ đoạn nhằm tìm lại mảnh bùa bị vỡ của Erreth-Akbe. Nhưng nó vẫn còn đây, dưới sự bảo vệ của Nữ tu Tối cao. Và đây cũng là nơi xương cốt chúng nằm lại...” Thar chỉ xuống mặt đất dưới chân.
“Chỉ có nửa mảnh bùa nằm ở đây thôi,” Kossil nói.
“Nửa còn lại đã mất vĩnh viễn.”
“Mất như thế nào?” Arha hỏi.
“Một nửa mảnh bùa, trong tay Intathin, đã được người đưa tới Kho tàng Lăng tẩm, nơi nó mãi mãi được an toàn. Nửa kia nằm trong tay tên phù thủy, nhưng trước khi trốn chạy y đã giao nó cho một tên tiểu vương, một kẻ phiến loạn, tên là Thoreg thuộc dòng họ Hupun. Ta không biết tại sao y lại làm vậy.”
“Để gây bất hòa, để khiến Thoreg trở nên tự đắc,” Kossil nối lời. “Và đúng như vậy. Con cháu của Thoreg lại nổi loạn khi dòng họ Tarb lên cai trị; và sau đó chúng tiếp tục chống lại Thần Vương đầu tiên, không chịu công nhận người là vua hay là thần. Chúng là một dòng họ bị nguyền rủa, bị phù phép. Giờ chúng đã chết hết rồi.”
Thar gật đầu. “Phụ hoàng của Thần Vương hiện nay, vị Chúa tể Nổi dậy, đã đánh bại dòng họ Hupun và phá hủy lâu đài của chúng. Sau khi việc ấy xảy ra, nửa mảnh bùa chúng giữ từ thời Erreth-Akbe và Intathin, cũng biến mất. Không ai biết chuyện gì đã xảy ra với nửa mảnh bùa ấy. Và đó đã là chuyện cách đây cả đời người rồi.”
“Chắc hẳn người ta đã ném đi vì tưởng nó là rác,” Kossil nói. “Người ta nói trông nó chẳng có chút giá trị gì hết, Vòng tròn của Erreth-Akbe ấy. Quỷ tha ma bắt nó đi cùng tất cả những thứ thuộc về bọn phù thủy ấy!” Kossil nhổ vào đống lửa.
“Ngươi đã trông thấy nửa mảnh bùa ở đây chưa?” Arha hỏi Thar.
Người đàn bà gầy guộc lắc đầu. “Nó được cất trong kho báu không ai được bước vào ngoại trừ Đại Nữ tu. Có lẽ nó là báu vật quý giá nhất ở nơi đây; ta không rõ. Ta nghĩ có lẽ đúng như vậy. Từ hàng trăm năm nay vùng Đảo Nội địa đã cử bọn trộm cắp và phù thủy đến đây hòng cướp lại nó, và chúng phớt lờ hàng két vàng để khơi khơi trước mặt, chỉ tìm kiếm một nửa mảnh bùa ấy thôi. Thời của Erreth-Akbe và Intathin đã qua lâu lắm rồi, nhưng người ta vẫn biết và vẫn kể lại truyền thuyết ấy, cả ở đây lẫn ở phương Tây. Gần như mọi thứ đều trở nên cũ kỹ và tàn lụi theo thời gian. Rất hiếm có những thứ quý giá vẫn giữ được giá trị của mình, hay cũng chẳng có mấy câu chuyện cổ vẫn còn được lưu truyền.”
Arha suy ngẫm hồi lâu, rồi nói, “Chúng hẳn phải là những người rất dũng cảm hoặc rất ngu ngốc thì mới dám bước vào Lăng tẩm. Chúng không biết quyền năng của các Thần Vô danh sao?”
“Không,” Kossil đáp bằng giọng lạnh lùng quen thuộc. “Chúng là bọn vô thần. Chúng chỉ biết làm pháp thuật, và cho rằng chính mình là thần. Nhưng chúng không phải thần. Và khi chết đi, chúng sẽ không được đầu thai. Chúng sẽ trở thành xương cốt, thành tro bụi, và hồn ma của chúng sẽ rên rỉ trên những ngọn gió trước khi bị gió thổi bay đi mất. Chúng không có linh hồn bất diệt.”
“Nhưng chúng làm pháp thuật gì?” Arha tò mò hỏi. Nàng quên mất trước kia nàng từng nói sẽ quay mặt đi và không thèm nhìn những đoàn thuyền từ vùng Đảo Nội địa đến. “Chúng làm phép như thế nào? Các pháp thuật đó là gì?”
“Những trò lừa gạt, bịp bợm, mua vui,” Kossil nói.
“Có những pháp thuật hơn thế đấy,” Thar nói, “nếu các câu chuyện kể có một phần sự thật. Phù thủy phương Tây có thể nổi gió lên, bắt gió lặng, hay buộc nó thổi theo hướng mình muốn. Về điều này thì tất cả các câu chuyện đều kể giống nhau. Chính vì vậy chúng đều là thủy thủ giỏi; chúng có thể thổi gió thần vào buồm, đi đến bất kỳ nơi nào chúng muốn, và làm tan bão biển. Người ta còn nói rằng chúng có thể tạo ra ánh sáng hay bóng tối tùy ý; có thể biến đá thành kim cương, biến chì thành vàng; rằng chúng có thể dựng nên một lâu đài lớn hay thậm chí là cả một thành phố chỉ trong nháy mắt, hay ít ra là có vẻ như vậy; rằng chúng có thể biến mình thành gấu, thành cá, hay rồng, tùy ý.”
“Ta không tin tất cả những chuyện đó,” Kossil nói. “Chúng là những kẻ nguy hiểm, quỷ quyệt, lủi như chạch, đúng vậy. Nhưng người ta cũng nói rằng nếu đoạt được cây gậy gỗ khỏi tay một tên pháp sư thì hắn sẽ chẳng còn chút quyền lực nào nữa. Có lẽ trên cây gậy có các cổ tự quỷ quái.”
Thar lại lắc đầu. “Đúng là chúng có đem theo một cây gậy, nhưng đó chỉ là công cụ cho những quyền lực trong bản thân chúng thôi.”
“Nhưng làm sao chúng có được các quyền lực đó?” Arha hỏi. “Quyền lực ấy đến từ đâu?”
“Những lời dối trá,” Kossil nói.
“Những lời thần chú,” Thar trả lời. “Ta nghe một người từng nhìn thấy một tên phù thủy hùng mạnh được gọi là Pháp sư của Đảo Nội địa kể như vậy. Trong cuộc đột kích vào phương Tây, họ đã bắt y làm tù nhân. Y chỉ cho họ thấy một cành củi khô, rồi đọc một lời thần chú. Và ô kìa! Nó nở hoa. Y nói một lời khác, thì ô kìa! Nó mọc ra những trái táo đỏ rực. Và y nói thêm một lời nữa, vậy là cả cành củi, hoa, táo, đều biến mất, và tên phù thủy cũng biến mất luôn. Chỉ bằng một lời nói y đã biến mất như một dải cầu vồng, như một cái nháy mắt, không để lại chút dấu vết gì; và họ không thể tìm thấy y trên hòn đảo đó. Như thế thì có phải trò bịp bợm thông thường không?”
“Những kẻ ngu ngốc thì dễ bị đánh lừa,” Kossil đáp lại.
Thar không nói gì nữa để tránh cãi cọ; nhưng Arha không muốn câu chuyện dừng lại. “Bọn phù thủy ấy trông như thế nào,” nàng hỏi, “có đúng là toàn thân chúng đen sì và mắt thì trắng dã không?”
“Chúng đen và rất gớm guốc. Ta chưa bao giờ nhìn thấy một tên nào hết,” Kossil nói với vẻ hài lòng, nhấc thân hình nặng nề của mình đặt lên chiếc ghế đẩu thấp và xòe tay ra hơ trên đống lửa.
“Cầu cho các Thần Huynh đệ giữ chúng cách xa nơi này,” Thar lẩm bẩm.
“Chúng sẽ không bao giờ đến đây nữa,” Kossil nói. Ngọn lửa cháy phừng phừng, mưa rơi ào ào lên mái nhà, và Manan la lên the thé bên ngoài ngưỡng cửa tối om, “Aha! Tôi được một nửa, một nửa!”