Năm ấy, khi mùa đông sắp đến, Thar qua đời. Hồi hè bà ấy đã mắc phải một căn bệnh khiến sứu khỏe của bà cứ hao mòn dần; trước kia bà vốn đã gầy guộc thì giờ chỉ còn da bọc xương, trước kia bà vốn lầm lì ít nói thì giờ không hề thốt ra một lời. Họa hoằn lắm bà mới lên tiếng, và cũng chỉ nói với Arha khi chỉ có một mình họ, rồi ngay cả những cuộc trò chuyện hiếm hoi ấy cũng thưa dần, và bà lặng lẽ bước vào trong bóng tối. Khi bà mất, Arha rất nhớ bà. Quả là Thar rất nghiêm khắc, nhưng bà không hề tỏ ra tàn nhẫn. Bà đã dạy cho Arha lòng kiêu hãnh, chứ không phải nỗi sợ hãi.
Giờ chỉ còn lại Kossil.
Đến mùa xuân, Nữ tu Tối cao mới sẽ được cử từ Awabath đến Đền của các Thần Huynh đệ; cho tới lúc đó thì Arha và Kossil sẽ cùng nhau cai quản Thành. Người đàn bà vẫn phải gọi cô gái là “nữ chủ” và vâng lời nếu nàng ra lệnh. Nhưng Arha đã học được rằng nàng không nên ra lệnh cho Kossil. Nàng có quyền làm vậy, nhưng lại không đủ sức mạnh; phải là một người hết sức mạnh mẽ thì mới có thể chống lại lòng ghen tị của Kossil dành cho một địa vị cao hơn địa vị của bà ta, cũng như lòng căm ghét của bà ta đối với bất kỳ điều gì bà ta không được quyền cai quản.
Kể từ khi Arha biết (qua Penthe dịu dàng) và sợ hãi chấp nhận sự thực rằng trên đời này có những người vô thần, nàng đã có thể nhìn Kossil một cách chín chắn hơn, và hiểu rõ bà ta. Trong thâm tâm, Kossil chẳng hề tôn kính các Thần Vô danh hay bất kỳ vị thần nào khác. Bà ta chẳng coi điều gì là linh thiêng, ngoại trừ quyền lực. Quốc Vương xứ Kargad hiện đang nắm giữ quyền lực, vì thế trong mắt bà ta ông ta đúng là thần vương và bà ta sẽ hết lòng phụng sự. Còn đối với bà ta, đền đài chỉ để phô trương, Bia mộ chỉ là hòn đá, Lăng tẩm xứ Atuan chỉ là những cái lỗ tối tăm trên mặt đất, khủng khiếp nhưng trống rỗng. Bà ta sẽ bỏ hết mọi nghi lễ cầu nguyện trước Ngai vàng Trống không, nếu bà ta có thể. Bà ta sẽ thủ tiêu cả Đại Nữ tu, nếu bà ta dám.
Thậm chí cả ý nghĩ cuối cùng này, Arha cũng đối diện một cách hết sức bình thản. Có lẽ Thar đã giúp nàng nhìn thấy điều đó, mặc dù bà không bao giờ nói thẳng ra cả. Khi mới lâm bệnh, trước khi phải im lặng hoàn toàn, bà đã đề nghị Arha cứ vài ngày đến thăm một lần, và bà trò chuyện với nàng, kể cho nàng nghe rất nhiều hành động của Thần Vương và các tiên vương trước đó, cho nàng biết về Awabath - những điều mà nàng, với tư cách Nữ tu Tối cao, cần phải biết, nhưng cũng là những điều chẳng lấy gì tốt đẹp về Thần Vương và triều đình. Bà cũng kể về cuộc đời của bản thân bà, cho nàng biết Arha trước kia trông như thế nào và đã làm gì; và thỉnh thoảng, nhưng không thường xuyên, bà cũng nhắc đến những khó khăn và hiểm nguy Arha sẽ gặp phải trong cuộc đời hiện tại của nàng. Bà không một lần nhắc đến tên Kossil. Nhưng Arha đã là học trò của Thar suốt mười một năm trời, và chỉ cần một lời bóng gió hay một thoáng khác thường trong giọng nói là đã đủ để nàng hiểu, và nhớ kỹ.
Sau khi các Nghi thức Tang lễ rườm rà, sầu não kết thúc, Arha cố tránh mặt Kossil. Khi những công việc và nghi lễ dài dằng dặc trong ngày đã hoàn tất, nàng quay về căn nhà hiu quạnh của mình; và bất cứ khi nào có thời gian, nàng lại đến gian phòng sau Ngai vàng, mở ô cửa sập và chui vào bóng tối. Dù là ban ngày hay ban đêm, vì ở đó cũng chẳng có gì khác biệt, nàng đều khám phá lãnh địa của mình một cách hệ thống. Hầm mộ, với bầu không khí trang nghiêm vô cùng của nó, là nơi cấm kỵ đối với bất kỳ ai ngoài nữ tu và các thái giám được họ tin cậy nhất. Bất kỳ kẻ nào khác, dù là nam hay nữ, nếu liều lĩnh đặt chân vào đó thì chắc chắn sẽ bị trừng phạt bởi cơn thịnh nộ của các Thần Vô danh. Nhưng trong số những luật lệ nàng được học, không điều luật nào cấm người thường vào Mê cung. Điều đó cũng chẳng cần thiết. Cửa vào duy nhất của Mê cung nằm ngay ở Hầm mộ; và hơn nữa, ruồi có cần luật cấm chúng bay vào mạng nhện hay không?
Vì vậy nàng thường dẫn Manan vào các khu vực gần hơn của Mê cung, để y cũng biết đường. Y không hề muốn vào đó, nhưng như thường lệ, y vẫn vâng lời nàng. Nàng cũng làm mọi việc để chắc chắn Duby và Uahto, hai thái giám của Kossil, biết đường đến Phòng Xiềng xích và đường ra khỏi Hầm mộ nhưng không hơn; nàng không bao giờ dẫn họ vào Mê cung. Nàng không muốn bất kỳ ai khác ngoài Manan, người tuyệt đối trung thành với nàng, biết được những lối đi bí mật ấy. Vì chúng là của nàng vĩnh viễn của một mình nàng. Nàng đã bắt đầu khám phá trọn vẹn Mê cung. Suốt mùa thu nàng dành rất nhiều ngày đi dọc theo những hành lang dài vô tận đó, vậy mà vẫn có những nơi nàng chưa hề đặt chân đến. Dò tìm lối đi trong tấm mạng nhện mênh mông, vô nghĩa đầy đường ngang lối dọc ấy là một công việc vất vả; đôi chân mỏi nhừ, đầu óc mụ mẫm vì cứ phải liên tục đếm những ngả rẽ, những đường hầm phía sau hay sắp tới. Mê cung là một nơi kỳ diệu với những lối đi được đục vào lớp đá nguyên khối dưới mặt đất như những con phố của một thành phố lớn; nhưng nó được tạo ra để khiến kẻ trần tục nào đặt chân vào đó phải kiệt sức và lúng túng, và thậm chí cả vị nữ tu chủ nhân của nó cũng phải cảm thấy rằng rốt cuộc nó chẳng là gì hơn ngoài một cái bẫy khổng lồ.
Vì thế, đến mùa đông, càng ngày nàng càng quay trở lại khám phá Đại sảnh thường xuyên hơn, nhìn ngắm những bàn thờ, những hốc tường đằng sau và bên dưới bàn thờ, những căn phòng đầy rương hòm, những thứ đựng trong các rương hòm ấy, những hành lang và gác xép, gian gác trống rỗng bụi bặm nằm bên dưới mái vòm, nơi hàng trăm con dơi làm tổ, những tầng hầm và hầm ngầm dẫn vào các hành lang chìm trong bóng tối.
Bàn tay và ống tay áo của nàng sực nức mùi thơm của thứ xạ hương đã nát ra thành bụi sau tám thế kỷ nằm trong một cái hòm sắt, trán nàng lấm bẩn vì vướng phải những tấm mạng nhện đen, nàng quỳ hàng tiếng đồng hồ để săm soi nét chạm khắc trên một chiếc rương tuyệt đẹp bằng gỗ thủy tùng đã bị thời gian tàn phá, chắc hẳn là đồ tiến cống của một vị vua thuở xa xưa nào đó dâng lên các Quyền năng Vô danh của Lăng tẩm. Đây là vị vua đó, một hình khắc nhỏ xíu cứng nhắc với cái mũi to, còn đây là Đại sảnh Ngai vàng với mái vòm phẳng và hàng cột hiên, được khắc chạm tinh tế trên mặt gỗ nhờ đôi tay một nghệ nhân nào đó cũng đã hóa thành cát bụi từ hàng trăm năm nay rồi. Còn có cả Đại Nữ tu, hít thở thứ khói hương đê mê từ những chiếc khay đồng và đưa lời tiên tri hay khuyên bảo cho vị vua, trong bức chạm này cái mũi to của ông ta đã bị gãy mất; khuôn mặt của Nữ tu quá nhỏ không thể thấy được từng đường nét cụ thể, nhưng Arha vẫn tưởng tượng ra đó là khuôn mặt của chính mình. Nàng băn khoăn tự hỏi mình đã nói gì với vị vua mũi to kia, và liệu ông ta có cảm kích không.
Có những nơi nàng đặc biệt ưa thích trong Đại sảnh Ngai vàng, cũng như người ta thường có chỗ ngồi ưa thích trong căn nhà chan hòa nắng ấm. Nàng thường trèo lên một căn gác lửng nằm trên một trong những phòng để quần áo ở phía sau Đại sảnh. Ở đó có những chiếc áo dài và các bộ y phục cũ kỹ còn lại từ thời các vị quốc vương và chúa tể hùng mạnh còn đến cầu nguyện ở Thành Lăng tẩm xứ Atuan và công nhận nơi này là lãnh địa vĩ đại hơn cả lãnh địa của họ hay của bất kỳ người trần nào. Thỉnh thoảng con gái họ, các công chúa, lại khoác chiếc áo dài lụa trắng có thêu hoàng ngọc và thạch anh màu tím sẫm, rồi nhảy múa cùng với Đại Nữ tu của Lăng. Trong một buồng kho còn có những chiếc bàn nhỏ bằng ngà trên vẽ cảnh biểu diễn điệu múa này, cùng với các vị vua chúa đứng đợi bên ngoài Đại sảnh, vì thuở đó cũng như ngày nay không người đàn ông nào được bước vào khu Lăng tẩm. Nhưng các trinh nữ thì được phép vào đây, mặc áo lụa trắng nhảy múa cùng Đại Nữ tu. Còn Đại Nữ tu thì luôn mặc thứ vải thô tự dệt màu đen, cả thời đó lẫn bây giờ; nhưng nàng vẫn thích đến đây và vuốt ve những chiếc áo dài mềm mại đẹp đẽ đã mục ra theo năm tháng, sức nặng của các viên đá quý không thể bị phá hủy đính trên đó đã xé toạc cả lớp vải. Trong những chiếc rương ấy có thứ mùi khác hẳn so mùi hương xạ của các ngôi đền trong Thành: một mùi hương mới mẻ hơn, dịu nhẹ hơn, tươi trẻ hơn.
Có lần nàng đã ngồi cả đêm trong phòng chứa kho báu để học thuộc lòng những thứ chứa trong một chiếc rương, nhớ kỹ từng viên đá quý, bộ giáp gỉ sét, chùm lông gãy trên mũ sắt, những chiếc khóa thắt lưng, ghim và trâm cài, những món đồ bằng đồng, bằng vàng khối, và dát bạc.
Những con cú, không hề sợ hãi vì sự có mặt của nàng, đậu trên xà nhà, chớp chớp cặp mắt vàng của chúng. Ánh sao le lói xuyên qua những viên ngói lợp mái; hay thỉnh thoảng tuyết lại rơi lắc rắc, mịn màng và lạnh buốt như những tấm lụa cổ xưa đang nát vụn dưới tay nàng.
Một đêm cuối đông, trong Đại sảnh không khí quá lạnh. Nàng bèn tới chỗ ô cửa sập, mở nó lên, tụt xuống các bậc thang, rồi đóng ô cửa trên đầu lại. Nàng lặng lẽ bước xuống lối đi nàng đã biết quá rõ, lối đi dẫn đến Hầm mộ. Tất nhiên, khi đến đó nàng không bao giờ đem theo đèn nến; nếu có mang theo một cây đèn để đi vào Mê cung hay để soi đường trong bóng tối trên mặt đất thì nàng cũng thổi tắt trước khi vào Hầm mộ. Nàng chưa bao giờ nhìn thấy nơi đó, trong tất cả những kiếp làm nữ tu nối tiếp nhau của nàng. Trong lối đi, nàng thổi tắt cây nến trong cái đèn nàng đem theo, và đi thẳng vào bóng tối đen đặc mà không hề chậm bước, dễ dàng như một con cá nhỏ bơi trong dòng nước tối. Ở đây, đông cũng như hè, chẳng bao giờ nóng hay lạnh: lúc nào cũng chỉ là một thoáng se lạnh, hơi ẩm thấp, không bao giờ thay đổi. Bên trên, những cơn gió mùa đông băng giá đang thổi tuyết bay khắp sa mạc. Còn ở đây, không có gió, không có mùa; nó luôn luôn khép kín, luôn luôn yên tĩnh, luôn luôn an toàn.
Nàng đang trên đường đến Phòng Tranh. Thỉnh thoảng nàng thích đến đó ngắm nhìn những bức vẽ kỳ lạ bất chợt từ trong bóng tối hiện ra trên tường dưới ánh sáng của cây nến nàng đem theo: những con người có đôi cánh dài và cặp mắt to, trầm lặng và buồn bã. Không ai có thể cho nàng biết những hình người ấy là gì, ở trong Thành không còn bức tranh nào như vậy nữa, nhưng nàng nghĩ mình biết; chúng là linh hồn của những kẻ bị nguyền rủa, những kẻ không được đầu thai. Phòng Tranh nằm trong Mê cung, vì vậy đầu tiên nàng phải đi qua cái hang nằm dưới các tảng Bia mộ. Nàng đang đi xuống con đường dốc tiến về phía hang thì bỗng xuất hiện một tia màu xám, mờ nhạt và yếu ớt, phản chiếu ánh sáng phía xa.
Nàng tưởng cặp mắt đang đánh lừa mình, như chúng vẫn thường làm trong bóng tối dày đặc đó. Nàng nhắm mắt lại, tia sáng chập chờn biến mất. Nàng mở mắt ra, và ánh sáng lại xuất hiện.
Nàng dừng bước, và đứng im. Màu xám chứ không phải đen. Một tia sáng lờ mờ nhợt nhạt đã xuất hiện ở nơi lẽ ra không thể nhìn thấy gì, ở nơi tất cả phải là màu đen.
Nàng bước mấy bước về phía trước rồi giơ tay chạm vào góc tường; và nhìn thấy bàn tay mình di chuyển, dù chỉ rất lờ mờ.
Nàng lại đi tiếp. Đây thật là điều kỳ lạ quá sức tưởng tượng, quá cả nỗi sợ hãi, cái ánh sáng yếu ớt này đã xuất hiện ở nơi chưa từng có tia sáng nào chiếu đến, trong Lăng tẩm sâu thẳm nhất của bóng tối. Nàng bước không một tiếng động trên hai bàn chân trần, thân hình khuất trong chiếc áo dài đen. Đến ngả rẽ cuối cùng của đường hầm, nàng dừng lại; rồi chậm rãi bước một bước cuối cùng, mở to mắt nhìn, và thấy.
... Nhìn thấy thứ nàng chưa bao giờ thấy, dù nàng đã trải qua hàng trăm kiếp người: lòng hang rộng lớn uốn vòm dưới Bia mộ, không được đào nên bởi bàn tay con người mà bằng sức mạnh của trái đất. Lòng hang nạm pha lê và được tô điểm bằng những tháp nhọn, những phiến đá vôi trắng được dòng nước ngầm bào mòn suốt bao thiên niên kỷ: một nơi rộng mênh mông, vách và trần lóng lánh những đường nét mỏng mảnh, tinh tế, một cung điện bằng kim cương, một lâu đài bằng thạch anh và pha lê, nơi bóng tối ngàn đời đã bị ánh sáng huy hoàng đẩy lui.
Ánh sáng chiếu rọi cảnh tượng diệu kỳ ấy không rực rỡ, nhưng chói lòa đối với cặp mắt vốn đã quen nhìn bóng tối. Tia sáng đó lập lòe yếu ớt như đốm lửa ma trơi ở đầm lầy, di chuyển chậm rãi ngang qua lòng hang, phản chiếu hàng ngàn đốm sáng lên trần hang dát pha lê và ném hàng ngàn bóng đen kỳ dị lên vách hang.
Ánh sáng ấy tỏa ra từ đầu một cây gậy gỗ, không có khói, không có lửa. Cây gậy nằm trong tay một con người. Arha nhìn thấy khuôn mặt bên ánh sáng ấy; khuôn mặt ngăm đen: mặt một người đàn ông.
Nàng không nhúc nhích.
Kẻ lạ mặt đi đi lại lại trong cái hang lớn một lúc lâu. Hắn di chuyển như đang tìm kiếm thứ gì đó, nhìn ngó đằng sau những phiến đá như đăng ten, xem xét kỹ mấy ngả rẽ dẫn ra khỏi Hầm mộ, nhưng không đi vào. Và Nữ tu của Lăng tẩm vẫn đứng bất động, trong góc tối của đường hầm, chờ đợi.
Có lẽ điều khó khăn nhất nàng phải nghĩ đến, đó là nàng đang nhìn thấy một kẻ lạ mặt. Nàng rất ít khi trông thấy người lạ. Nàng nghĩ có thể đây là một thái giám - không, có lẽ là một trong số bọn đàn ông bên ngoài bức tường, một tên chăn dê hay gã lính canh, một nô lệ của Thành; và hắn đã đến đây để xem xét bí mật của các Thần Vô danh, và có lẽ để ăn cắp một thứ gì đó thuộc Lăng tẩm...
Để ăn cắp một thứ gì đó. Để cướp đoạt của Quyền năng Bóng tối. Tội báng bổ: cái từ đó dần dần len vào đầu Arha. Đây là một người đàn ông, và đàn ông không bao giờ được đặt chân lên mặt đất của Lăng tẩm, của vùng Thánh địa này. Vậy mà hắn đã đến cái hang là trung tâm của Lăng tẩm này. Hắn đã vào được bên trong. Hắn đã tạo ra ánh sáng ở nơi ánh sáng bị cấm, nơi chưa bao giờ có ánh sáng kể từ thuở sơ khai đến giờ. Tại sao các Thần Vô danh không trừng phạt hắn?
Giờ hắn đang đứng nhìn xuống nền đá gồ ghề và đầy vết đào bới. Rõ ràng nền hang đã được đào lên rồi lấp lại. Những cục đất chua khô cằn được đào lên để đắp mộ vẫn chưa được đạp phẳng xuống.
Các Chủ nhân của nàng đã ăn ba tên tù nhân nọ. Tại sao họ không ăn kẻ lạ mặt này? Họ còn chờ đợi gì?
Để đôi tay của họ cử động, để cái lưỡi của họ lên tiếng...
“Cút đi! Cút đi! Cút khỏi nơi này!” Bất thình lình nàng lấy hết sức hét lên. Những tiếng vang lớn lanh lảnh vọng lại từ khắp các vách hang, dường như xóa nhòa cả khuôn mặt đen sạm, sửng sốt đang quay về phía nàng và, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, từ đầu bên kia của lòng hang chói lọi đang chao đảo, kẻ đó nhìn thấy nàng. Rồi ánh sáng biến mất. Mọi huy hoàng biến mất. Chỉ còn bóng tối mù mịt, và sự im lặng.
Giờ thì nàng đã có thể suy nghĩ trở lại. Bùa phép của ánh sáng không còn giam cầm nàng nữa.
Chắc hẳn kẻ lạ mặt nọ đã vào đây qua cánh cửa bằng đá đỏ, Cửa Tù nhân, vì vậy hắn sẽ tìm cách thoát ra bằng đường đó. Nhẹ nhàng và lặng lẽ như những con cú vỗ cánh thật êm, nàng chạy một nửa vòng quanh hang đến đường hầm dẫn tới cánh cửa chỉ mở vào bên trong ấy. Đến cửa hang, nàng khom mình xuống. Không có hơi gió nào từ bên ngoài thổi vào; hắn đã không để ngỏ cánh cửa sau lưng mình. Nó đã đóng lại, và nếu hắn đang ở trong đường hầm, thì hắn đã bị mắc kẹt ở đó.
Nhưng hắn không có trong đường hầm. Nàng dám chắc như vậy. Ở đó quá chật hẹp nên nàng sẽ nghe được hơi thở của hắn, cảm thấy hơi ấm và nhịp đập của sự sống từ con người hắn. Trong đường hầm không có ai cả. Nàng đứng thẳng lên, và lắng nghe. Hắn đã đi đâu rồi?
Bóng tối đè lên mắt nàng như một dải băng bịt mắt. Việc nhìn thấy Hầm mộ khiến nàng bối rối; nàng cảm thấy hoang mang. Nàng vốn chỉ biết đến nó là một nơi được định mốc ranh giới bằng thính giác, bằng xúc giác, bằng những hơi gió lạnh trong bóng tối; một nơi rộng lớn, bí ẩn, không bao giờ bị nhìn thấy. Nàng đã nhìn thấy nó, và sự bí ẩn đã nhường chỗ, không phải cho nỗi kinh hoàng, mà cho vẻ đẹp, một bí ẩn còn sâu thẳm hơn cả bóng tối.
Lúc này, nàng chậm chạp, do dự tiến về phía trước. Nàng lần tìm đường sang bên trái, đến đường hầm thứ hai, lối đi dẫn đến Mê cung. Đến đó, nàng dừng lại và lắng nghe.
Đôi tai không cho biết nhiều hơn cặp mắt. Nhưng, khi đang đứng đó, hai tay chạm vào hai bên ô cửa tò vò bằng đá, nàng bỗng cảm thấy vách đá khẽ rung lên, và trong bầu không khí lạnh lẽo, ngột ngạt thoang thoảng một mùi hương khác lạ: mùi cây ngải đắng dại mọc trên những ngọn đồi sa mạc, ở bên trên cái hang, dưới bầu trời rộng mở.
Chậm rãi và lặng lẽ, nàng xuôi theo đường hầm, bám theo mùi hương ấy.
Đi được khoảng một trăm bước thì nàng nghe thấy tiếng hắn. Hắn bước nhẹ không kém gì nàng, nhưng trong bóng tối hắn không tự tin bằng nàng. Nàng nghe thấy tiếng lục đục khe khẽ, tựa như hắn đã bị vấp ngã trên nền hang gồ ghề, nhưng lại đứng lên được ngay. Không có gì khác. Nàng đợi thêm một lát rồi chậm rãi đi tiếp, lướt nhẹ những đầu ngón tay phải trên vách đá. Cuối cùng tay nàng cũng chạm phải một thanh kim loại uốn cong. Nàng đứng lại, mò mẫm dọc thanh sắt cho đến khi sờ thấy một tay nắm bằng sắt thô chìa ra, gần như cao hết tầm với của nàng. Nàng vận hết sức kéo mạnh tay nắm này xuống.
Có tiếng ken két ghê người, rồi tiếng loảng xoảng. Những đốm lửa xanh tóe ra như sao sa. Những tiếng vọng nối tiếp nhau nhỏ dần trong dãy hành lang sau lưng nàng. Nàng vươn tay ra và sờ thấy, chỉ vài phân trước mặt mình, bề mặt lỗ chỗ của một cánh cửa sắt.
Nàng hít một hơi thật sâu.
Nàng chậm chạp trở lại đường hầm để quay về Hầm mộ, rồi bám theo bức vách bên phải, nàng trèo lên ô cửa sập nằm ở Đại sảnh Ngai vàng. Nàng không vội vã, bước đi thật êm, dù không cần giữ im lặng nữa. Nàng bắt được tên trộm rồi. Ô cửa vừa đi qua là lối đi duy nhất để vào hoặc ra khỏi Mê cung và nó chỉ có thể được mở từ bên ngoài.
Giờ hắn đang ở dưới đó, trong bóng tối dưới mặt đất, và sẽ không bao giờ thoát ra được.
Chân bước chậm chạp, người thẳng đuỗn, nàng đi qua Ngai vàng để bước vào gian sảnh dài với hai hàng cột. Ở đó, nơi than hồng đang cháy rực trong chiếc bát đồng đặt trên cái giá ba chân, nàng quay lại và tiến về phía bảy bậc thềm dẫn lên Ngai vàng.
Nàng quỳ xuống bậc thang dưới cùng, áp trán vào nền đá lạnh lẽo, bụi bặm, đầy xương chuột do đám cú để lại.
“Xin tha thứ cho con vì đã nhìn thấy bóng tối của các Thần bị phá vỡ,” nàng thì thầm không thành tiếng. “Xin tha thứ cho con vì đã để Lăng tẩm của các Thần bị xâm phạm. Các Thần sẽ được báo thù. Ôi các Chủ nhân của con, cái chết sẽ dâng hắn lên cho các Thần, và hắn sẽ không bao giờ được đầu thai!”
Nhưng ngay cả trong lúc cầu nguyện, nàng vẫn mường tượng đến lòng hang rực rỡ ánh sáng, sức sống dạt dào ở nơi chỉ toàn cái chết; và thay vì kinh hoàng trước tội báng bổ và nổi cơn thịnh nộ với tên trộm, nàng lại chỉ băn khoăn thật lạ làm sao, thật lạ làm sao...
“Ta phải nói gì với Kossil đây?” Nàng tự hỏi khi bước ra ngoài trong làn gió mùa đông, kéo áo choàng sát hơn vào người. “Không nói gì cả. Vẫn chưa cần. Ta là nữ chủ của Mê cung. Đây không phải là việc của Thần Vương. Có lẽ, ta sẽ cho bà ta biết sau khi tên trộm đã chết. Ta sẽ giết hắn bằng cách nào đây? Ta nên bảo Kossil đến xem hắn chết. Bà ta rất thích chuyện chết chóc. Hắn đang tìm gì nhỉ? Chắc chắn là hắn mất trí rồi. Làm sao hắn lại lọt vào đây được? Chỉ có Kossil và ta mới có chìa khóa mở cánh cửa bằng đá đỏ và ô cửa sập. Chắc hắn đã đi vào qua cánh cửa bằng đá đỏ. Chỉ phù thủy mới có thể mở được cánh cửa ấy. Một phù thủy...”
Nàng dừng bước, dù cơn gió gần như xô nàng ngã xuống.
“Hắn là một tên phù thủy, một pháp sư vùng Đảo Nội địa, đến đây tìm kiếm mảnh bùa của Erreth-Akbe.”
Trong chuyện này có một vẻ huyền bí lạ thường, đến nỗi nàng thấy ấm ran cả người, bất chấp cơn gió buốt giá kia, và cười phá lên. Khắp xung quanh nàng, Thành và vùng sa mạc bao quanh tối đen và yên lặng như tờ; gió lạnh thấu xương; ở khu Nhà Lớn không có một đốm sáng nào. Một lớp tuyết mỏng, gần như không nhìn thấy, bay lất phất theo làn gió.
“Nếu hắn đã dùng pháp thuật mở được cánh cửa đá đỏ thì hắn cũng sẽ mở được các cánh cửa khác. Hắn có thể trốn thoát.”
Ý nghĩ ấy khiến nàng lạnh người đi trong chốc lát, nhưng nó không khiến nàng sợ hãi. Các Thần Vô danh đã để hắn vào. Tại sao lại không chứ. Hắn chẳng thể gây ra bất kỳ tổn thất gì. Một tên trộm không thể thoát khỏi chính hiện trường phạm tội của mình thì có gì nguy hiểm chứ? Chắc chắn hắn phải có nhiều bùa phép cùng quyền năng hắc ám, những thứ rất mạnh mẽ, vì hắn đã đi được xa đến thế này; nhưng hắn sẽ không thể đi xa hơn được nữa. Không bùa phép của kẻ trần tục nào có thể đánh bại các Thần Vô danh, những người cai trị Lăng tẩm, những Quốc vương của chiếc Ngai vàng Trống không.
Để tự trấn an mình, nàng vội vã đi về phía Nhà Nhỏ. Manan đang nằm ngủ trên hàng hiên, cuộn tròn trong chiếc áo choàng và tấm chăn lông xác xơ vốn được coi như cái giường mùa đông của y. Nàng lặng lẽ đi vào nhà tránh làm y thức giấc, và cũng không thắp đèn. Nàng mở một căn phòng khóa kín cửa, một buồng kho nhỏ xíu nằm cuối hành lang. Nàng đánh viên đá lửa, cho ánh sáng lóe lên vừa đủ lâu để tìm thấy một phiến đá lát trên sàn, rồi quỳ xuống nậy phiến đá lên. Phía dưới là một miếng vải dày, bẩn thỉu, mỗi chiều khoảng vài phân. Nàng gạt nó sang một bên, không gây ra bất kỳ tiếng động nào. Đột nhiên, nàng giật mình lùi lại, vì bị một tia sáng bất thần chiếu thẳng vào mặt.
Một lúc sau, hết sức thận trọng, nàng nhìn xuống qua khe hở. Nàng đã quên bẵng mất là trên cây gậy của hắn có ánh sáng kỳ lạ đó. Nàng chỉ nghĩ cùng lắm thì sẽ nghe thấy tiếng hắn trong bóng tối. Nàng đã quên mất ánh sáng, nhưng hắn đang ở đúng nơi nàng đoán: ngay bên dưới khe nhòm, chỗ cánh cửa sắt chặn mất lối ra khỏi Mê cung của hắn.
Hắn đang đứng đó, một tay chống nạnh, tay kia giơ nghiêng chiếc gậy cao ngang người, đầu gậy le lói đốm sáng ma trơi. Nhìn xuống từ trên độ cao khoảng hai thước, nàng thấy hắn đang nghiêng đầu sang bên. Y phục của hắn giống y phục mùa đông của bất kỳ lữ khách hay người hành hương nào, áo khoác dày ngắn, áo da dài đến đầu gối, chân hắn quấn xà cạp len và đi dép buộc dây; hắn mang trên lưng một cái túi nhẹ, bình nước treo lủng lẳng một bên túi, còn ở bên hông đeo một con dao tra trong vỏ. Hắn đứng đó bất động như một pho tượng, bình thản và trầm tư.
Hắn chậm rãi giơ cây gậy lên, chìa đầu sáng về phía cánh cửa nằm ngoài tầm mắt Arha. Ánh sáng thay đổi, trở nên nhỏ hơn nhưng sáng hơn, một thứ ánh sáng rực rỡ. Hắn cất tiếng nói. Arha chưa nghe thấy ngôn ngữ ấy bao giờ, nhưng lạ lùng hơn cả là giọng nói của hắn, trầm và âm vang.
Ánh sáng trên cây gậy chiếu rạng rỡ, rồi lung linh và mờ đi. Nó gần như tắt hẳn trong thoáng chốc, và nàng không nhìn thấy hắn nữa.
Rồi ánh ma trơi tim tím ấy lại hiện ra, đều khắp, và nàng thấy hắn quay người khỏi cánh cửa. Bùa phép hắn dùng để mở cửa đã không có tác dụng. Các quyền năng khóa chặt cánh cửa ấy còn mạnh hơn bất kỳ pháp thuật nào hắn có được.
Hắn nhìn quanh, như thể đang nghĩ bây giờ thì làm thế nào đây?
Đường hầm hay dãy hành lang nơi hắn đang đứng chỉ rộng khoảng một thước rưỡi. Trần hang nằm cách nền đá gồ ghề khoảng bốn thước. Vách hang gồm các tảng đá được mài nhẵn, xếp chồng lên nhau không có hồ vữa gì nhưng rất cẩn thận và khít, đến nỗi gần như không thể lách được mũi dao vào mép nối giữa hai tảng đá. Càng lên cao các tảng đá càng nghiêng vào trong, tạo thành một mái vòm.
Không còn gì khác cả.
Hắn bước về phía trước. Chỉ một bước cũng khiến hắn khuất khỏi tầm nhìn của Arha. Ánh sáng tắt ngấm. Nàng đang định phủ tấm vải và đặt phiến đá lát về chỗ cũ thì tia sáng dịu nhẹ lại chiếu lên từ dưới sàn nhà trước mặt nàng. Hắn đã trở lại bên cánh cửa. Có lẽ hắn đã nhận ra nếu đi khỏi chỗ đó và bước vào Mê cung thì sẽ khó có thể tìm lại nó.
Hắn thấp giọng cất tiếng, chỉ một từ duy nhất. “ Emenn ,” hắn nói, rồi nhắc lại, to hơn, “ Emenn !” Cánh cửa sắt rung lên trong khung cửa, tiếng vọng trầm trầm như tiếng sấm vang khắp đường hầm có mái vòm, và Arha thấy nền nhà dưới chân nàng như rung lên.
Nhưng cánh cửa vẫn đóng chặt.
Hắn liền bật cười, một tiếng cười ngắn, cái cười như muốn nói, “Ta thật ngốc nghếch biết bao!” Hắn nhìn quanh vách hang lần nữa, và khi hắn nhìn lên, Arha thấy nụ cười vẫn còn đọng trên gương mặt sạm nâu đó. Rồi hắn ngồi xuống, tháo cái túi ra khỏi vai, lấy một tiếng bánh mì khô và lặng lẽ nhai. Hắn mở nút cái bình da đựng nước và lắc thử; trong tay hắn nó có vẻ rất nhẹ, dường như đã gần cạn. Hắn nút cái bình lại mà không uống. Hắn đặt cái túi xuống làm gối, quấn mình vào chiếc áo choàng, rồi nằm xuống. Cây gậy vẫn nằm trong tay phải. Khi hắn nằm, quầng sáng nhỏ trên đầu gậy bay lên lơ lửng phía sau đầu hắn, một đốm sáng lờ mờ cách mặt đất vài thước. Hắn đặt tay trái trên ngực, nắm vật gì đó được đeo trên một sợi xích nặng quanh cổ. Hắn nằm đó khá thoải mái, hai cổ chân vắt chéo; ánh mắt trượt qua lỗ nhòm; hắn thở dài rồi nhắm mắt lại. Đốm sáng chậm rãi mờ đi. Hắn đã ngủ.
Bàn tay nắm chặt trên ngực hắn duỗi ra rồi trượt sang một bên, và cô gái đang quan sát ở phía trên đã thấy được thứ bùa hắn đeo trên sợi xích: một miếng kim loại gỉ sét, dường như có hình bán nguyệt.
Ánh sáng ma thuật yếu ớt của hắn tắt ngấm. Hắn im lặng nằm trong bóng tối.
Arha phủ tấm vải trở lại và đặt phiến đá về chỗ cũ, thận trọng đứng dậy rồi lẻn về phòng mình. Nàng nằm đó thao thức trong bóng tối và tiếng gió rít gào, lúc nào cũng như thấy trước mắt ánh sáng pha lê rực rỡ lung linh trong ngôi nhà thần chết, ngọn lửa dịu nhẹ không cháy, những viên đá ở vách hang, và khuôn mặt bình thản trong giấc ngủ của tên trộm.