Xứ Hải Địa 2, Mê Cung Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 307 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CÁI BẪY

Ngày hôm sau, khi Arha đã làm xong nhiệm vụ ở các đền thờ và kết thúc buổi dạy những điệu múa linh thiêng cho các nữ tập sự, nàng lẻn về Nhà Nhỏ, chặn hết nguồn sáng, rồi mở khe nhòm nhìn xuống dưới. Không có ánh sáng. Hắn đã đi rồi. Nàng không nghĩ hắn sẽ ở lại lâu bên cánh cửa bị khóa kín, nhưng nàng chỉ biết nơi duy nhất này để quan sát. Giờ hắn đã bị lạc thì làm sao nàng có thể tìm lại hắn đây?

Theo lời kể của Thar và kinh nghiệm của chính nàng thì các đường hầm của Mê cung, với những khúc lượn, ngả rẽ, đường vòng, ngõ cụt, trải dài tới hai mươi dặm. Nếu đi theo đường thẳng thì ngõ cụt cách xa Lăng tẩm nhất có lẽ cũng chỉ cách đó chưa đầy một dặm. Nhưng dưới lòng đất thì chẳng có gì đi theo đường thẳng cả. Mọi đường hầm đều uốn khúc, đâm ra nhiều ngả, nối lại, chia nhánh, rồi lại đan cài vào nhau, vòng vèo quanh co theo những lối đi kết thúc ở chính nơi chúng bắt đầu, vì không có điểm khởi đầu và cũng chẳng có nơi kết thúc. Người ta có thể đi hoài, đi mãi, mà vẫn không đến được đâu, vì chẳng có nơi nào để đến cả. Mê cung không có điểm giữa, không có trung tâm. Và một khi cánh cửa đã bị khóa thì Mê cung cũng không còn điểm tận cùng. Không có hướng nào là đúng cả.

Dù các lối đi, ngả rẽ dẫn vào phòng và những địa điểm khác nhau trong Mê cung đã khắc sâu trong tâm trí Arha, nhưng trong những cuộc khám phá dài hơi hơn, nàng vẫn phải đem theo mình một cuộn dây mảnh, thả nó ra dọc đường và cuộn nó lại khi nàng lần theo sợi dây để quay về. Bởi vì nếu bỏ lỡ một ngả rẽ hay một lối đi thôi, thì ngay cả nàng cũng có thể bị lạc. Đèn nến cũng không giúp gì được, vì ở đó không có mốc địa giới. Mọi hành lang, mọi ngưỡng cửa, mọi ngả rẽ, đều giống nhau.

Giờ có lẽ tên trộm đã đi hàng dặm rồi, nhưng từ cánh cửa hắn từng bước qua cho đến chỗ hắn đứng bây giờ có lẽ cách nhau còn chưa tới mười thước.

Nàng đến Đại sảnh Ngai vàng, đền thờ hai Thần Huynh đệ, rồi đến căn hầm dưới nhà bếp, và, nhằm khi chỉ có một mình, nàng ngó qua khe nhòm ở những nơi ấy, nhìn xuống bóng tối lạnh lẽo, dày đặc bên dưới. Khi màn đêm buông xuống, lạnh buốt và lấp lánh ánh sao, nàng đến một số địa điểm nhất định trên Đồi, nhấc một số hòn đá nhất định lên, gạt đất sang bên và lại ngó xuống dưới, nhưng chẳng thấy gì dưới lòng đất ngoài bóng tối không một ánh sao.

Hắn đang ở dưới đó. Hắn chắc chắn phải ở dưới đó. Tuy nhiên hắn đã thoát khỏi nàng. Hắn sẽ chết khát khi nàng tìm thấy hắn. Một khi biết chắc hắn đã chết, nàng sẽ phải ra lệnh cho Manan vào Mê cung tìm hắn. Thật không sao chịu đựng nổi khi nghĩ đến điều đó. Khi nàng quỳ dưới bầu trời đầy sao, trên nền đất giá buốt của Đồi, những giọt nước mắt phẫn nộ trào ra.

Nàng xuống con dốc dẫn đến đền thờ Thần Vương. Dưới ánh sao, các hàng cột chạm trổ trên đầu trắng xóa sương muối, tựa như những cột xương. Nàng gõ lên cửa sau, và Kossil mở cửa cho nàng vào.

“Điều gì đã đưa nữ chủ của ta đến đây?” Người đàn bà to béo hỏi, lạnh lùng và cảnh giác.

“Nữ tu, có một tên đàn ông đang ở trong Mê cung.”

Kossil hết sức kinh ngạc; lần đầu tiên đã xảy ra một điều mà bà ta không tài nào ngờ tới. Bà ta đứng nhìn trân trối. Mắt bà ta như bật ra khỏi tròng. Trong tâm trí Arha, chợt thoáng qua ý nghĩ rằng Kossil trông giống hệt Penthe lúc cô cố bắt chước Kossil, và một tiếng cười điên cuồng dâng lên trong họng nàng, bị ghìm lại, rồi biến mất.

“Một tên đàn ông? Trong Mê cung?”

“Một tên đàn ông, một kẻ lạ mặt.” Và, khi Kossil vẫn tiếp tục nhìn nàng vẻ nghi ngờ, nàng nói thêm, “Ta biết bọn đàn ông trông như thế nào, mặc dù ta chưa nhìn thấy nhiều đàn ông cho lắm.”

Kossil không chú ý tới giọng mỉa mai của nàng. “Làm sao một tên đàn ông lại có thể đến đó được?”

“Ta nghĩ là bằng pháp thuật. Hắn có nước da ngăm đen, có lẽ hắn đến từ vùng Đảo Nội địa. Hắn đến để cướp phá Lăng tẩm. Đầu tiên ta thấy hắn trong Hầm mộ, ngay bên dưới Bia mộ. Khi biết có ta ở đó, hắn liền chạy đến lối vào Mê cung, như thể hắn biết rõ đường đi vậy. Ta đã khóa cánh cửa sắt lại sau lưng hắn. Hắn làm phép, nhưng không thể mở được cánh cửa. Đến sáng thì hắn vào trong Mê cung. Giờ thì ta không thấy hắn ở đâu nữa.”

“Hắn có đèn nến gì không?”

“Có.”

“Nước?”

“Một bình nhỏ, không đầy.”

“Nến của hắn sẽ cháy hết.” Kossil tính toán. “Bốn hoặc năm ngày. Cùng lắm là sáu. Sau đó nữ chủ có thể phái thái giám xuống lôi cái xác ra. Máu của hắn sẽ được dùng để tưới lên Ngai vàng và...”

“Không,” Arha đột ngột ngắt lời, giọng lanh lảnh, dữ dằn. “Ta muốn tìm thấy hắn khi hắn vẫn còn sống.”

Vị nữ tu to cao nhìn xuống nàng. “Tại sao?”

“Để khiến cho... để bắt hắn hấp hối lâu hơn. Hắn đã phạm tội báng bổ các Thần Vô danh. Hắn đã dùng ánh sáng làm ô uế Hầm mộ. Hắn đã đến để cướp đoạt báu vật của Lăng tẩm. Hắn phải chịu sự trừng phạt tàn khốc hơn việc nằm chết dần chết mòn trong một đường hầm.”

“Đúng vậy,” Kossil nói, như thể đã cân nhắc cẩn thận. “Nhưng người sẽ bắt hắn bằng cách nào, thưa nữ chủ? Nó là vấn đề may rủi. Còn cách kia thì chẳng cần cơ may nào hết. Chẳng phải đâu đó trong Mê cung có một căn buồng đầy xương của những kẻ đã đột nhập vào và rồi không thoát ra được hay sao?... Hãy để các Thần Bóng tối tự mình trừng phạt hắn, theo cách của họ, theo những cách thức đen tối của Mê cung. Chết khát là một cái chết thảm khốc.”

“Ta biết,” nàng đáp. Nàng quay đi và bước vào bóng đêm, kéo mũ trùm kín đầu chống lại cơn gió lạnh giá đang rít lên. Chẳng lẽ nàng còn chưa biết điều đó hay sao?

Nàng đã thật ngốc nghếch và ngây ngô khi đến tìm Kossil. Nàng sẽ chẳng nhận được sự giúp đỡ nào cả. Bản thân Kossil chẳng biết gì hết, tất cả những gì bà ta biết là sự chờ đợi lạnh lùng, và kết thúc là cái chết. Bà ta không hiểu. Bà ta không hiểu tại sao phải tìm bằng được tên trộm. Hắn không thể chết như những tên tù kia được. Nàng không thể chịu đựng được điều đó nữa. Nếu hắn phải chết thì hãy để cho hắn chết nhanh chóng, trong ánh sáng ban ngày. Chết dưới lưỡi gươm sẽ là cái chết thích hợp hơn với tên trộm ấy, người đàn ông đầu tiên trong hàng bao nhiêu thế kỷ đã có đủ dũng khí đột nhập vào Lăng tẩm. Hắn thậm chí còn không có một linh hồn bất tử để được đầu thai. Hồn ma của hắn sẽ lang thang rên rỉ trong các đường hầm. Hắn không thể bị bỏ lại một mình trong bóng tối cho đến lúc chết dần chết mòn vì khát.

Đêm đó Arha chỉ ngủ chập chờn. Ngày hôm sau lại bận bịu với những nghi lễ và công việc thường lệ. Đến đêm nàng đi từ lỗ nhòm này tới lỗ nhòm khác, lặng lẽ, không đem theo đèn nến, giữa những tòa nhà tối đen của Thành và trên ngọn đồi lộng gió. Cuối cùng, trước lúc bình minh khoảng hai ba giờ nàng quay về Nhà Nhỏ, nhưng vẫn không thể ngủ nổi. Đến chiều muộn ngày thứ ba, nàng một mình ra sa mạc, hướng về phía dòng sông giờ đang cạn nước do ảnh hưởng của mùa đông khô hạn, băng đóng thành tảng giữa đám lau sậy. Nàng chợt nhớ có lần vào mùa thu, nàng đã đi rất sâu vào trong Mê cung, đi qua Ngã Sáu, và dọc theo suốt dãy hành lang dài uốn khúc nàng đã nghe thấy tiếng nước chảy phía sau các tảng đá. Nếu một người tìm đến được và ở lại chỗ đó, thì có lẽ hắn sẽ không phải chịu khát chăng? Ở đó cũng có các khe nhòm; nàng phải tìm chúng, nhưng năm ngoái Thar đã chỉ cho nàng thấy từng lỗ một, và nàng tìm lại được chúng không chút khó khăn. Nàng nhớ về nơi chốn và hình dạng giống như cách của người mù: nàng dùng xúc giác để tìm những lỗ nhòm bị giấu kín chứ không dùng mắt nhìn. Đến lỗ nhòm thứ hai, nơi cách xa Lăng tẩm nhất, khi kéo chiếc mũ trùm lên để chắn ánh sáng rồi ghé mắt nhòm qua cái lỗ được khoét vào một phiến đá phẳng thì nàng nhìn thấy ánh sáng ma thuật đang lập lòe yếu ớt bên dưới.

Hắn đang ở đó, gần như khuất khỏi tầm mắt nàng. Khe nhòm này nhìn thẳng xuống khúc cuối của một ngõ cụt. Nàng chỉ có thể trông thấy lưng hắn, cái cổ cúi xuống, và cánh tay phải. Hắn ngồi gần góc tường, đang dùng dao khoét đá, một cây đoản đao bằng thép có cán nạm ngọc. Lưỡi dao đã bị gãy. Mũi dao gãy nằm ngay dưới khe nhòm. Hắn đã đánh gãy nó khi cố nậy đá ra để tìm kiếm dòng nước mà hắn có thể nghe thấy đang chảy phía bên kia vách đá không thể xuyên thủng, tiếng chảy trong trẻo và róc rách trong cái im lặng như tờ dưới lòng đất.

Cử động của hắn có vẻ lờ đờ. Sau ba ngày ba đêm, hắn đã thay đổi nhiều, khác hẳn so với con người nhanh nhẹn và bình thản đứng trước cánh cửa sắt, tự cười giễu sự thất bại của mình. Hắn vẫn đầy quyết tâm, nhưng mọi sức mạnh trong hắn đã tiêu tan. Hắn không dùng thần chú để đẩy đá sang bên, mà phải sử dụng con dao vô dụng của mình. Ngay cả ánh sáng pháp thuật của hắn cũng đã mờ đi, nhợt nhạt. Khi Arha đang quan sát thì ánh sáng ấy rung rinh chực tắt; tên trộm ngẩng phắt đầu lên và đánh rơi con dao. Rồi, một cách bướng bỉnh, hắn lại nhặt con dao lên và cố đẩy lưỡi dao đã gãy vào giữa các phiến đá.

Nằm trên bờ sông giữa bụi lau sậy đóng băng ấy, không còn biết mình đang ở đâu hay làm gì, Arha bỗng ghé miệng vào khe hở lạnh lẽo giữa phiến đá, khum hai bàn tay quanh miệng làm thành cái loa “Tên phù thủy kia!” Nàng gọi, giọng nàng lọt xuống qua cái cổ họng bằng đá, biến thành một tiếng thì thào lạnh lùng trong đường hầm dưới lòng đất.

Người nọ giật mình đứng dậy, và biến khỏi tầm mắt của nàng. Nàng lại ghé miệng vào khe nhòm và nói, “Hãy đi ngược trở lại con đường dọc sông đến ngả rẽ thứ hai. Đầu tiên rẽ phải, bỏ qua một ngả rẽ, rồi lại rẽ phải. Đến Ngã Sáu, lại rẽ phải. Rồi rẽ trái, phải, trái, rồi rẽ phải. Hãy ở lại đó trong Phòng Tranh.”

Khi nàng dịch người sang bên để lại ghé mắt nhìn xuống, hẳn nàng đã để một tia sáng ban ngày lọt qua lỗ nhòm chiếu xuống đường hầm trong chốc lát, vì khi nàng nhìn thì hắn đã trở lại trong tầm mắt nàng, đang ngước mắt chằm chằm nhìn lên khe hở. Khuôn mặt hắn, lúc này nàng đã có thể nhìn thấy nó ngang dọc các vết sẹo, có vẻ hết sức căng thẳng và phấn khích. Môi hắn đã xám xịt, nứt nẻ, nhưng mắt vẫn sáng rực. Hắn giơ cao cây gậy, đưa ánh sáng mỗi lúc một gần mắt nàng hơn. Hoảng hốt, nàng lùi ra sau, lấy đá đậy lỗ nhòm lại, rắc cuội phủ lên trên, rồi đứng dậy và vội vã quay trở về Thành. Nàng thấy tay run lẩy bẩy, và chốc chốc một cơn choáng váng lại ập đến trong lúc nàng đang bước đi. Nàng không biết phải làm gì.

Nếu hắn nghe theo chỉ dẫn của nàng thì hắn sẽ trở lại hướng cánh cửa sắt, đến căn phòng có tranh vẽ. Ở đó chẳng có gì, chẳng có lý do nào khiến hắn phải quay lại đó. Trên trần Phòng Tranh có một lỗ nhòm rất tiện lợi, ở kho châu báu trong đền hai Thần Huynh đệ; có lẽ đó chính là lý do khiến nàng nghĩ đến nó. Nàng cũng không biết nữa. Tại sao nàng lại lên tiếng gọi hắn?

Nàng có thể bỏ một ít nước xuống cho hắn qua một trong các lỗ nhòm, rồi gọi hắn đến nơi đó. Như vậy hắn sẽ sống sót được lâu hơn. Quả vậy, nàng có thể giữ cho hắn sống sót đến chừng nào nàng muốn. Nếu thỉnh thoảng nàng bỏ xuống một chút nước và thức ăn, hắn sẽ sống được thêm mấy ngày, mấy tháng nữa, lang thang trong Mê cung; và nàng có thể quan sát hắn qua các khe nhòm, cho hắn biết ở đâu có nước, thỉnh thoảng lừa cho hắn đi loanh quanh một cách vô ích, nhưng hắn sẽ luôn phải đi. Điều đó sẽ dạy cho hắn một bài học vì đã dám khinh nhờn các Thần Vô danh, vì đã dám vênh váo đặt bàn chân đàn ông ngu xuẩn vào nơi chôn cất Thần chết Bất tử!

Nhưng chừng nào hắn còn ở đó thì nàng sẽ không thể một mình vào Mê cung được. Tại sao không? Nàng tự hỏi, rồi lại tự trả lời - Vì hắn có thể trốn thoát qua cánh cửa sắt mà ta phải để ngỏ sau lưng... Nhưng hắn sẽ không thể trốn đến nơi nào xa hơn Hầm mộ được. Sự thực là nàng sợ phải đối mặt với hắn. Nàng sợ sức mạnh của hắn, sợ những bùa chú hắn đã dùng để đột nhập vào Hầm mộ, sợ hãi thứ pháp thuật đã giữ cho ánh sáng của hắn sáng mãi. Nhưng như thế thì có gì đáng sợ lắm không? Những quyền năng thống trị nơi tối tăm đó đứng về phía nàng, chứ không phải phía hắn. Hiển nhiên là ở đó, trong lãnh địa của các Thần Vô danh, hắn sẽ chẳng làm được gì nhiều. Hắn đã không mở được cánh cửa sắt; hắn đã không dùng pháp thuật để biến hóa ra thức ăn, hay xuyên thủng bức tường đá để lấy nước, cũng không gọi một thứ yêu quái nào đó đến đập vỡ vách hang, tất cả những điều nàng sợ hắn có thể có khả năng làm được. Sau ba ngày lang thang, hắn thậm chí còn không tìm nổi đường đến Kho tàng, chắc chắn là nơi hắn đang tìm kiếm. Chính Arha cũng chưa bao giờ đi theo chỉ dẫn của Thar để đến căn phòng đó, nàng hết lần này đến lần khác trì hoãn chuyến đi vì một nỗi sợ hãi mơ hồ, một sự miễn cưỡng nào đó, một cảm giác vẫn chưa tới thời điểm thích hợp.

Giờ nàng thầm nghĩ, tại sao lại không bắt hắn thực hiện hành trình đó thay nàng? Hắn có thể thỏa thích ngắm nhìn tất cả các kho báu của Lăng mộ. Chúng sẽ có ích cho hắn lắm đấy! Nàng sẽ cười nhạo hắn, và bảo hắn hãy lấy vàng mà ăn, lấy kim cương mà uống.

Với cái vội vã bồn chồn, căng thẳng xâm chiếm nàng từ suốt ba ngày nay, Arha chạy đến đền thờ hai Thần Huynh đệ, mở cửa căn buồng chứa kho báu nhỏ có mái vòm, và mở cái lỗ nhòm được giấu kín trên sàn nhà.

Phòng Tranh nằm ở bên dưới, vẫn tối đen. Nàng đã quên mất rằng lối đi mà tên trộm phải lần theo trong mê cung uốn lượn dài hơn có lẽ hàng dặm so với đường đi của nàng trên mặt đất. Và chắc chắn hắn đã yếu sức và không đi nhanh được. Có lẽ hắn đã quên mất chỉ dẫn của nàng và rẽ nhầm. Rất ít người chỉ cần một lần nghe là đã nhớ được những lời dẫn đường, giống như nàng. Có lẽ hắn thậm chí còn không hiểu tiếng nói của nàng nữa. Nếu vậy thì hãy để hắn lang thang cho tới khi gục ngã và chết trong bóng tối, kẻ lạ mặt xuẩn ngốc, vô thần đó. Hãy để hồn ma của hắn rền rĩ trên những lối đi bằng đá của Lăng tẩm xứ Atuan cho đến khi bóng tối nuốt chửng cả nó nữa...

Sáng sớm hôm sau, thức dậy sau một giấc ngủ chập chờn đầy ác mộng, nàng quay trở lại cái lỗ nhòm trong ngôi đền nhỏ. Nàng nhìn xuống và không thấy gì hết: chỉ toàn bóng tối. Nàng thắp một cây nến, đặt vào chiếc đèn nhỏ bằng thiếc, rồi ròng sợi xích thả xuống. Hắn đang ở đó, trong Phòng Tranh. Trong quầng sáng của cây nến, nàng nhìn thấy đôi chân và một bàn tay rũ xuống của hắn. Nàng ghé miệng vào khe nhòm, to cỡ một phiến đá lát sàn, và gọi: “Tên phù thủy kia!”

Không có cử động nào. Hắn chết rồi ư? Hắn chỉ có ngần ấy sức lực thôi hay sao? Nàng nhếch mép khinh bỉ; tim đập thình thịch. “Phù thủy!” Nàng kêu lên, giọng vang vọng căn phòng trống bên dưới. Hắn cựa mình, chậm chạp ngồi dậy, và bối rối nhìn quanh. Một lát sau hắn ngẩng lên, mắt hấp háy trong ánh sáng của ngọn đèn nhỏ xíu đang lủng lẳng từ trên trần. Mặt hắn nom thật đáng sợ, phù lên, đen sạm như mặt xác ướp.

Hắn đưa tay ra nắm lấy cây gậy nằm trên nền nhà bên cạnh mình, nhưng không có đốm sáng nào tỏa ra từ đầu gậy nữa. Hắn không còn chút sức mạnh nào trong người.

“Ngươi có muốn nhìn thấy kho báu của Lăng tẩm xứ Atuan không, phù thủy?”

Hắn mệt mỏi nheo mắt nhìn lên ánh đèn của nàng, vốn là tất cả những gì hắn có thể thấy. Sau một hồi lâu, hắn định mỉm cười, nhưng chỉ có thể nhăn mặt đau đớn, và gật đầu một cái.

“Hãy ra khỏi căn phòng này, đi về phía trái. Rẽ vào lối đi thứ nhất bên trái...” Nàng tiếp tục những lời chỉ dẫn dài dằng dặc, không ngừng nghỉ, rồi cuối cùng nói, “Ở đó ngươi sẽ tìm thấy báu vật mà vì nó ngươi đã đến đây. Và ở đó, có lẽ ngươi sẽ tìm thấy nước nữa. Bây giờ thì ngươi muốn tìm thấy cái gì hơn, phù thủy?”

Hắn tựa người vào cây gậy, đứng dậy. Ngước lên với cặp mắt không thể nhìn thấy nàng, hắn cố nói gì đó, nhưng từ cổ họng khô khốc không thoát ra nổi lời nào. Hắn khẽ nhún vai, và ra khỏi Phòng Tranh.

Nàng sẽ không cho hắn chút nước nào. Dù sao chăng nữa thì hắn cũng sẽ chẳng bao giờ tìm được đường đến buồng chứa kho báu. Lời chỉ dẫn quá dài, hắn không thể nhớ hết được; và lại còn có cả Vực thẳm nữa, nếu hắn đi được xa đến vậy. Giờ thì hắn đang ở trong bóng tối. Hắn sẽ bị lạc, và rốt cuộc sẽ gục xuống, rồi chết ở đâu đó giữa những đường hầm hẹp, trống rỗng, khô cạn đó. Và Manan sẽ tìm thấy hắn, lôi hắn ra. Và mọi sự sẽ kết thúc. Arha bám chặt hai bàn tay vào mép lỗ nhòm, thân hình đang cúi xuống của nàng lắc lư tới lui, tới lui, trong khi nàng cắn chặt môi như thể đang phải chịu đựng một nỗi đau khủng khiếp nào đó. Nàng sẽ không cho hắn chút nước nào. Nàng sẽ không cho hắn chút nước nào. Nàng sẽ chỉ cho hắn cái chết, cái chết, cái chết, cái chết, cái chết.

Chính vào thời khắc đen tối ấy của cuộc đời nàng, Kossil đã tìm đến, đi vào phòng châu báu với những bước chân nặng nề, thân hình đồ sộ khuất trong chiếc áo dài đen mùa đông.

“Hắn đã chết chưa?”

Arha ngẩng đầu lên. Mắt nàng ráo hoảnh, không có gì phải giấu giếm.

“Ta nghĩ là rồi,” nàng nói, đứng dậy và phủi bụi trên váy. “Ánh sáng của hắn đã tắt.”

“Có thể hắn đang đánh lừa. Những kẻ không có linh hồn đó thường rất xảo quyệt.”

“Ta sẽ đợi thêm một ngày nữa cho chắc chắn.”

“Phải, hoặc hai ngày nữa. Sau đó Duby có thể xuống đem cái xác ra. Y khỏe hơn lão Manan già.”

“Nhưng Manan là kẻ hầu của các Thần Vô danh, còn Duby thì không. Trong Mê cung có những nơi Duby không được bước vào, và tên trộm đang ở một trong những nơi như thế.”

“Sao chứ, nếu vậy Mê cung đã ô uế mất rồi...”

“Cái chết của hắn ở đó sẽ tẩy uế cho Mê cung,” Arha nói. Bằng vào vẻ mặt của Kossil, nàng biết nét mặt của chính mình hẳn có gì đó khác lạ. “Đây là lãnh địa của ta, nữ tu. Ta phải coi sóc nó theo lệnh các Chủ nhân của ta. Ta không cần thêm bài học nào về cái chết nữa.”

Mặt Kossil như thụt vào sâu bên trong chiếc mũ trùm đen, như con rùa sa mạc rụt cổ vào trong mai, chậm chạp, cáu kỉnh và lạnh lùng. “Được thôi, thưa nữ chủ.”

Họ chia tay nhau trước bàn thờ hai Thần Huynh đệ. Giờ không còn vội vã nữa, Arha trở về Nhà Nhỏ, và gọi Manan đi theo nàng. Sau cuộc trò chuyện với Kossil, nàng đã biết mình phải làm gì.

Nàng cùng Manan lên đồi, vào Đại sảnh, và đi xuống Hầm mộ. Họ cùng gắng sức kéo cái tay nắm để mở cánh cửa sắt dẫn tới Mê cung. Rồi họ thắp hai cây đèn và đi vào trong. Arha dẫn đường đến Phòng Tranh, từ đó đi tiếp đến Kho tàng Lớn.

Tên trộm chưa đi được xa lắm. Nàng và Manan đi chưa tới năm trăm bước trên con đường khó khăn ấy thì đã đến chỗ hắn, nằm sụp xuống trong dãy hành lang hẹp như một mớ giẻ vứt đi. Hắn đã đánh rơi cây gậy trước khi ngã; nó nằm cách hắn một quãng. Miệng hắn rỉ máu, mắt nhắm nghiền.

“Hắn còn sống,” Manan nói khi quỳ xuống, đưa bàn tay to lớn vàng vọt sờ vào cổ họng sạm đen của tên trộm để bắt mạch. “Ta có nên bóp chết hắn không, thưa nữ chủ?”

“Không, ta muốn hắn phải sống. Nhấc hắn lên và đưa hắn theo ta.”

“Còn sống ư?” Manan lo ngại hỏi. “Để làm gì chứ, nữ chủ nhỏ bé của ta?”

“Để biến hắn thành nô lệ của Lăng mộ! Im đi, và hãy làm theo lời ta bảo.”

Với bộ mặt rầu rĩ hơn bao giờ hết, Manan tuân lệnh, nhấc chàng trai trẻ lên vai không chút khó nhọc, như vác một cái túi dài. Tuy thế, y vẫn phải loạng choạng bước theo Arha. Y không thể đi một quãng dài liền một lúc dưới sức nặng ấy. Họ dừng lại gần chục lần trên đường quay về để Manan lấy lại hơi. Ở mỗi nơi họ nghỉ chân, lối đi trông vẫn y như cũ: những viên đá xám hơi ngả vàng, xếp khít nhau, vươn lên thành một mái vòm, nền đá gồ ghề, bầu không khí ngột ngạt; Manan thở hổn hển và rên rỉ, kẻ lạ mặt vẫn nằm im, hai ngọn đèn tỏa ra quầng sáng mờ đục thu hẹp dần vào trong bóng tối ở hai bên hành lang. Mỗi lần dừng lại, Arha lại nhỏ một ít nước trong chiếc bình nàng đem theo vào cái miệng khô khốc của người đàn ông, từng chút một, sợ rằng sự sống đột ngột quay lại sẽ giết chết hắn.

“Đến Phòng Xiềng xích ạ?” Manan hỏi khi họ đến lối đi dẫn tới cánh cửa sắt; và nghe vậy, lần đầu tiên Arha mới tự hỏi không biết nàng nên giam cầm tên tù này ở đâu. Nàng không biết.

“Không, không đến đó,” nàng nói, thấy ghê tởm như nàng vẫn luôn ghê tởm mỗi khi nhớ tới mùi khói, mùi hôi hám cùng những bộ mặt râu ria xồm xoàm, câm lặng, mụ mẫm. Và Kossil có thể sẽ tìm đến Phòng Xiềng xích. “Hắn... hắn phải ở lại trong Mê cung, như thế hắn sẽ không lấy lại được pháp thuật của mình. Phải ở lại trong một căn phòng nào đó...”

“Phòng Tranh có cửa, có khóa, và có cả lỗ nhòm nữa, thưa nữ chủ. Nếu nữ chủ nghĩ hắn có thể bị nhốt một cách an toàn trong một căn phòng có cửa.”

“Ở đây hắn không còn chút sức mạnh nào nữa đâu. Hãy đem hắn đến đó, Manan.”

Vậy là Manan lại vác tên trộm quay trở lại gần nửa quãng đường họ đã đi, quá mệt và hết cả hơi đến nỗi không còn kêu ca nổi nữa. Khi rốt cuộc họ cũng bước vào Phòng Tranh, Arha liền cởi chiếc áo choàng mùa đông bằng len dày của mình ra và trải nó lên nền nhà bụi bặm. “Đặt hắn lên đó,” nàng nói.

Manan trố mắt nhìn nàng với vẻ sợ hãi ủ rũ, khò khè cất tiếng, “Nữ chủ bé nhỏ...”

“Ta muốn hắn phải sống, Manan. Hắn sẽ chết vì lạnh mất, nhìn hắn đang run rẩy kìa.”

“Y phục của nữ chủ sẽ bị nhơ nhuốc mất. Y phục của nữ tu. Hắn là một kẻ vô thần, một tên đàn ông,” Manan tuôn ra một tràng, cặp mắt ti hí nheo lại như thể y đang bị đau.

“Thế thì ta sẽ đốt cái áo này và bảo họ dệt cho ta một cái khác. Nhanh lên, Manan!”

Nghe vậy, y liền ngoan ngoãn cúi xuống và hất tên tù nhân từ trên lưng mình rơi lên tấm áo choàng đen. Hắn nằm im lìm như người chết, nhưng mạch máu ở cổ vẫn đập nặng nề, và thỉnh thoảng một cơn co giật lại khiến thân mình hắn run lên.

“Ta nên xích hắn lại,” Manan nói.

“Trông hắn có vẻ gì là nguy hiểm không?” Arha khinh bỉ nói; nhưng khi Manan chỉ ra một cái móc khóa bằng sắt gắn trên vách đá có thể dùng để xích tên tù, nàng liền cho phép y đến Phòng Xiềng xích lấy một sợi xích và một cái cùm. Y càu nhàu đi xuôi hành lang, vừa đi vừa lẩm nhẩm nhắc lại những lời chỉ dẫn; trước kia y đã đến và đi khỏi Phòng Tranh nhiều lần rồi, nhưng chưa bao giờ đi một mình cả.

Trong ánh sáng của ngọn đèn duy nhất còn lại, những bức tranh trên bốn vách hang nom như đang di chuyển, lay động, những hình người man rợ với đôi cánh lớn rũ xuống, kẻ ngồi người đứng trong cảnh thê lương ảm đạm ngàn đời.

Nàng quỳ xuống và nhỏ nước, từng chút một, vào miệng tên tù. Một hồi sau hắn ho lên một tiếng, đôi tay yếu ớt với về phía chiếc bình. Nàng cho hắn uống. Hắn nằm ngửa, mặt ướt đẫm, nhớp nháp đất lẫn với máu, và lẩm bẩm một hai từ gì đó bằng một thứ tiếng mà nàng không biết.

Cuối cùng Manan cũng quay trở lại, kéo theo một đoạn xích sắt, một cái khóa móc lớn có chìa, và một cái cùm sắt gắn vừa khít quanh eo tên trộm và được khóa chặt lại đó. “Cái cùm không vừa, hắn sẽ chui ra được mất,” y cằn nhằn trong khi khóa đầu sợi xích vào cái móc trên tường.

“Không đâu, nhìn mà xem.” Giờ không cảm thấy quá sợ hãi tù nhân của mình nữa, Arha chỉ cho viên thái giám thấy nàng không thể lách tay vào giữa chiếc cùm và sườn tên trộm. “Trừ phi hắn nhịn đói bốn ngày hoặc hơn.”

“Nữ chủ nhỏ bé của ta,” Manan ảo não nói, “ta không muốn thắc mắc, nhưng mà... bắt hắn làm nô lệ cho các Thần Vô danh thì có ích gì chứ? Hắn chỉ là một tên đàn ông thôi, cô bé à.”

“Và ngươi là một lão già ngốc nghếch, Manan ạ. Đi thôi, đừng càu nhàu nữa.”

Tên tù nhìn họ bằng cặp mắt sáng ngời, mệt mỏi.

“Cây gậy của hắn đâu, Manan? Đây rồi. Ta sẽ lấy nó; nó có pháp thuật đấy. À, cả cái này nữa, ta cũng sẽ lấy,” và nàng nhanh tay giật lấy sợi xích bạc lộ ra ở cổ áo người đàn ông, kéo nó qua đầu hắn, dù hắn cố giữ tay nàng lại. Manan đá vào lưng hắn. Nàng kéo sợi xích ra khỏi cổ hắn, cách xa tầm với của hắn. “Đây có phải là bùa của ngươi không, phù thủy? Nó có đáng giá với ngươi lắm không? Trông nó chẳng lấy gì làm giá trị, ngươi không thể kiếm được một miếng bùa khá hơn sao? Ta sẽ giữ nó an toàn cho ngươi.” Và nàng quàng sợi xích qua đầu, giấu kín vật đeo trên sợi xích vào cái cổ áo len dày của mình.

“Cô không biết phải làm gì với nó đâu,” hắn nói, giọng khàn đặc, phát âm tiếng Kargad sai, nhưng cũng dễ nghe.

Manan lại đá cho hắn một cái nữa, khiến hắn bật ra một tiếng rên đau đớn và nhắm nghiền mắt lại.

“Thôi đi, Manan. Đi nào.”

Nàng ra khỏi căn phòng. Manan vừa bám theo vừa lầm bầm.

Đêm đó, khi đèn trong Thành đã tắt hết, nàng lại một mình trèo lên đồi. Nàng múc nước từ cái giếng trong căn phòng đằng sau Đại sảnh đổ đầy bình, đem theo một cái bánh mì dẹt lớn bằng kiều mạch không men, rồi đi xuống Phòng Tranh trong Mê cung. Nàng đặt chúng vừa tầm với của tên tù, bên trong ô cửa. Hắn đang ngủ, nằm yên không cựa quậy. Nàng quay trở lại Nhà Nhỏ, và đêm đó nàng cũng ngủ được một giấc thật dài, thật say.

Chiều hôm sau nàng một mình quay lại Mê cung. Miếng bánh đã biến mất, chiếc bình cạn nước, và kẻ lạ mặt đang ngồi tựa lưng vào tường. Mặt hắn nom vẫn đáng sợ với những vết sẹo và đất bẩn, nhưng nét mặt đã trở nên lanh lợi hơn.

Nàng đứng ở phía bên kia phòng, nơi hắn không thể với tới nàng được vì bị xiềng, và nhìn hắn. Rồi nàng quay nhìn chỗ khác. Nhưng chẳng có nơi nào khác để nhìn cả. Có điều gì đó khiến nàng không nói nổi nên lời. Tim nàng đập mạnh, như thể nàng vẫn còn đang khiếp sợ. Không có lý do nào khiến nàng phải sợ hắn cả. Hắn đang nằm trong tay nàng, tùy nàng định đoạt.

“Có ánh sáng thật tốt,” hắn nói bằng chất giọng nhẹ nhàng nhưng trầm ấm, khiến nàng càng thêm bối rối.

“Tên ngươi là gì?” Nàng hỏi, giọng hống hách. Nàng nhận thấy giọng mình nhỏ và cao hơn thường lệ.

“Ờ, người ta thường gọi tôi là Chim Cắt.”

“Chim Cắt? Đó là tên ngươi sao?”

“Không.”

“Thế tên ngươi là gì?”

“Tôi không thể cho cô biết được. Cô có phải là Đại Nữ tu của Lăng tẩm không?”

“Phải.”

“Người ta gọi cô là gì?”

“Họ gọi ta là Arha.”

“Người Mất linh hồn... có phải nó có nghĩa như thế không?” Cặp mắt sẫm màu của hắn chăm chú nhìn nàng. Một nụ cười thoáng hiện trên mặt hắn. “Tên cô là gì?”

“Ta không có tên. Đừng có hỏi ta gì cả. Ngươi từ đâu đến?”

“Từ Quần đảo Nội địa, ở phương Tây.”

“Từ Havnor sao?”

Đó là cái tên thành phố hay hòn đảo duy nhất của Quần đảo Nội địa mà nàng biết.

“Phải, từ Havnor.”

“Tại sao ngươi lại đến đây?”

“Lăng tẩm xứ Atuan rất nổi tiếng ở vùng chúng tôi.”

“Nhưng ngươi là một kẻ ngoại đạo, một tên vô thần.”

Hắn lắc đầu. “Ồ, không phải đâu, thưa Nữ tu. Tôi có tin vào quyền năng của bóng tối đấy! Trước kia tôi đã gặp các Thần Vô danh, ở một nơi khác.”

“Ở nơi nào?”

“Ở Quần đảo - trong Nội địa - có những nơi thuộc về các Quyền pháp Cổ của Trái đất, giống như quyền năng ở đây vậy. Nhưng không có quyền năng nào mạnh như ở đây. Họ không có đền thờ ở nơi nào khác, cũng không có nữ tu, và không được thờ phụng nhiều như ở đây.”

“Ngươi đến để tỏ lòng tôn kính họ ư,” nàng giễu cợt nói.

“Tôi đến để cướp đoạt của họ,” hắn nói.

Nàng trố mắt nhìn vào gương mặt nghiêm trang của hắn. “Khoác lác!”

“Tôi biết chuyện đó không dễ dàng gì.”

“Dễ dàng ấy ư! Đó là chuyện không thể. Nếu ngươi không phải là kẻ ngoại đạo thì ngươi đã biết điều đó rồi. Các Thần Vô danh luôn giữ gìn những gì thuộc về họ.”

“Cái tôi tìm kiếm không thuộc về họ.”

“Vậy thì chắc hẳn nó thuộc về ngươi?”

“Tôi có quyền giành được nó.”

“Nếu vậy thì ngươi là gì… một vị thần chắc? Hay một quốc vương?” Nàng nhìn hắn từ đầu đến chân, trong khi hắn ngồi đó, bị xiềng xích, bẩn thỉu, kiệt sức. “Ngươi chẳng là gì ngoài một tên trộm!”

Hắn không nói gì, nhưng ánh mắt hắn bắt gặp mắt nàng.

“Không được nhìn ta!” Nàng rít lên.

“Thưa nữ tu,” hắn nói, “tôi không định xúc phạm cô. Tôi là một người lạ, một kẻ xâm phạm. Tôi không biết rõ tập quán ở đây, cũng như không biết cách cư xử với Đại Nữ tu của Lăng tẩm sao cho phải phép. Tôi hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của cô, và xin thứ lỗi cho tôi nếu tôi đã xúc phạm cô.”

Nàng đứng lặng thinh, và trong thoáng chốc, cảm thấy máu đang dồn lên má nóng bừng, khiến nàng cảm thấy ngớ ngẩn. Nhưng hắn không nhìn nàng và không thấy khuôn mặt đỏ ửng của nàng. Hắn đã tuân lệnh, hướng cặp mắt sẫm màu của mình đi nơi khác.

Cả hai cùng im lặng hồi lâu. Những hình người vẽ trên tường nhìn họ bằng những đôi mắt buồn bã, mù lòa.

Nàng có đem theo một cái bình đá đầy nước. Mắt hắn liên tục hướng về cái bình, và một lát sau, nàng nói, “Nếu ngươi khát thì uống đi.”

Ngay lập tức hắn nhích người về phía cái bình, và nhẹ nhàng nhấc nó lên như thể nó chỉ là một cốc rượu, uống một hơi thật dài. Rồi hắn dấp nước vào một góc tay áo và cố hết sức lau sạch bụi bẩn, máu đọng cùng mạng nhện bám trên mặt và tay. Hắn làm việc này mất một lúc lâu, còn cô gái đứng quan sát. Khi đã lau rửa xong, trông hắn khá hơn, nhưng những vết sẹo ở một bên mặt hắn lộ ra: những vết sẹo cũ đã lành từ lâu, trắng nhợt trên màu da ngăm đen, bốn vết cào song song kéo từ mắt đến quai hàm, như dấu móng vuốt của một bàn chân khổng lồ.

“Đó là cái gì vậy?” nàng hỏi. “Vết sẹo đó ấy.”

Hắn không trả lời ngay.

“Một con rồng ư?” Nàng hỏi, cố tỏ ra khinh thường. Chẳng phải nàng xuống đây để chế nhạo nạn nhân của nàng, để hành hạ hắn bằng sự bất lực của chính hắn hay sao?

“Không, không phải rồng.”

“Nếu thế thì ít nhất ngươi cũng không phải là chúa rồng.”

“Có đấy,” hắn nói, vẻ hơi miễn cưỡng, “tôi là chúa rồng. Nhưng những vết sẹo này có từ trước đó. Tôi đã nói với cô rằng trước kia tôi đã từng đối mặt với Quyền lực Hắc ám, ở những nơi khác trên mặt đất. Những vết sẹo trên mặt tôi là dấu vết của một thứ cũng giống như các Thần Vô danh. Nhưng nó không còn vô danh nữa, vì rốt cuộc tôi cũng đã biết được tên của nó.”

“Ngươi nói thế là thế nào? Tên gì?”

“Tôi không thể cho cô biết được,” hắn nói, và mỉm cười, nhưng mặt vẫn nghiêm nghị.

“Đó là chuyện vớ vẩn, lời lảm nhảm của kẻ ngu xuẩn, là chuyện báng bổ. Họ là các Thần Vô danh kia mà! Ngươi không biết ngươi đang nói gì...”

“Tôi còn biết rõ hơn cô nữa, Nữ tu ạ,” hắn nói, giọng trầm xuống. “Hãy nhìn lại mà xem!” Hắn quay đầu sang một bên, bắt nàng phải nhìn bốn vết sẹo khủng khiếp trên má hắn.

“Ta không tin,” nàng nói, giọng run lên.

“Nữ tu,” hắn nhẹ nhàng lên tiếng, “cô vẫn còn trẻ; hẳn cô chưa phục vụ những Quyền lực Hắc ám được lâu.”

“Có đấy. Rất lâu là đằng khác! Ta là Đại Nữ tu, là người Đầu thai. Ta đã phụng sự các chủ nhân của ta từ ngàn năm nay và hàng ngàn năm trước đó nữa. Ta là người hầu của họ, là giọng nói của họ, là bàn tay của họ. Và ta sẽ thay họ báo thù tất cả những kẻ dám làm ô uế Lăng tẩm và đưa mắt nhìn những thứ chúng không được phép nhìn! Hãy thôi ngay những lời dối trá và huênh hoang của ngươi, ngươi không hiểu rằng chỉ cần một lời của ta là ngay tức thì quân lính sẽ đến chặt đầu ngươi lìa khỏi cổ hay sao? Hay nếu ta đi khỏi đây và khóa chặt cánh cửa này, thì sẽ không ai đến nữa, mãi mãi, và ngươi sẽ chết ở đây, trong bóng tối, và các chủ nhân của ta sẽ ăn thịt ngươi, nuốt chửng linh hồn ngươi, và bỏ bộ xương của ngươi lại đây trong tro bụi?”

Hắn lẳng lặng gật đầu.

Nàng lắp bắp, nhưng không biết nói gì hơn, bèn cố lấy tư thế thật đường hoàng bước ra khỏi phòng, đóng sập cánh cửa lại sau lưng. Hãy để cho hắn nghĩ rằng nàng sẽ không quay trở lại nữa! Hãy để cho hắn ngồi đó trong bóng tối mà toát mồ hôi hột, hãy để cho hắn nguyền rủa, run rẩy và cố thực hiện những bùa phép xấu xa, vô dụng của hắn!

Nhưng trong tâm trí, nàng tưởng tượng ra hắn duỗi người ngủ thiếp đi, như nàng đã trông thấy hắn làm vậy bên cánh cửa sắt, bình thản như một con cừu trên thảo nguyên chan hòa ánh nắng.

Nàng nhổ vào cánh cửa chốt chặt, làm dấu hiệu tẩy uế, rồi đi như chạy về Hầm mộ.

Trong khi nàng men theo vách hang để tìm đến ô cửa sập trong Đại sảnh, ngón tay nàng lướt qua những mặt đá nhẵn mịn và các phiến đá hình mảng như dải đăng ten đóng băng. Trong nàng bỗng tràn ngập nỗi khát khao được thắp sáng ngọn đèn của mình, để được nhìn thấy một lần nữa, dù chỉ trong chốc lát, những viên đá mòn theo thời gian, những vách hang lấp lánh tuyệt đẹp. Nàng nhắm nghiền mắt lại và đi tiếp.

« Lùi
Tiến »