Xứ Hải Địa 2, Mê Cung Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 308 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KHO BÁU VĨ ĐẠI

Chưa bao giờ các nghi lễ, các công việc thường lệ trong ngày lại có vẻ nhiều đến thế, tầm thường đến thế, dài dòng đến thế. Các cô bé với khuôn mặt tái xanh và vẻ lén lút, các nữ tập sự hiếu động, các nữ tu bề ngoài nghiêm khắc và lạnh lùng nhưng bên trong đầy ghen tị, khốn khổ, đầy những tham vọng nhỏ mọn, những đam mê phí hoài - tất cả những người phụ nữ ấy, những người nàng đã sống cùng và tạo nên thế giới của nàng, giờ đối với nàng vừa đáng thương hại vừa đáng chán ngán.

Nhưng nàng, người phụng sự những quyền năng vĩ đại, vị nữ tu của Bóng tối nghiệt ngã, thì không bị ràng buộc bởi những điều nhỏ mọn ấy. Nàng không phải bận tâm tới những lo toan vụn vặt ngày thường như những kẻ mà điều vui sướng nhất trong ngày là được một miếng mỡ cừu nấu với đậu lăng to hơn người ngồi cạnh mình... Nàng không hề bị ràng buộc bởi ngày tháng nói chung. Ở dưới lòng đất, không có ngày tháng. Chỉ có màn đêm, lúc nào cũng chỉ có màn đêm.

Và trong màn đêm vô tận ấy là gã tù nhân: người đàn ông da ngăm đen, kẻ thực hành pháp thuật hắc ám, bị xiềng bằng xích sắt và khóa vào vách đá, chờ đợi xem nàng đến hay không, để mang tới cho hắn bánh mì, nước uống và sự sống, hay một con dao, một cái bát hứng máu và cái chết, tất cả phụ thuộc vào ý thích nhất thời của nàng.

Nàng không cho ai ngoài Kossil biết về hắn, và Kossil cũng không nói với ai khác. Hắn đã bị giam trong Phòng Tranh ba ngày ba đêm rồi, vậy mà bà ta vẫn chưa hé môi hỏi Arha về hắn. Có lẽ bà ta cho rằng hắn đã chết và Arha đã ra lệnh cho Manan vứt cái xác vào Phòng Xương cốt. Coi mọi sự là chuyện đương nhiên như vậy thì không giống với tính cách của Kossil chút nào; nhưng Arha tự nhủ rằng sự im lặng của Kossil không có gì lạ cả. Kossil muốn mọi thứ phải được giữ bí mật, và rất ghét đặt câu hỏi. Hơn nữa, Arha đã ra lệnh cho bà ta không được xía vào việc của nàng. Kossil chỉ đơn giản vâng lời nàng thôi.

Tuy nhiên, nếu tên trộm được cho là đã chết thì Arha không thể hỏi xin thức ăn để đem cho hắn. Vì vậy, ngoại trừ mấy quả táo và vài củ hành khô lấy trộm từ hầm chứa Nhà Lớn, thì nàng không ăn uống gì cả. Nàng ra lệnh đem bữa sáng và bữa tối đến Nhà Nhỏ, nói dối nàng muốn ăn một mình, và đến đêm lại mang các thức ăn đó xuống Phòng Tranh trong Mê cung, tất cả ngoại trừ món canh. Nàng đã quen nhịn ăn từ một đến ba, bốn ngày liền, và không bận tâm đến chuyện đó. Gã đàn ông trong Mê cung ngốn hết khẩu phần bánh mì, pho mát và đậu ít ỏi của nàng như con cóc nuốt con ruồi: “soạt!” một cái, thế là xong. Rõ ràng hắn có thể ăn thêm năm hay sáu phần thức ăn như vậy nữa; nhưng hắn nghiêm trang cảm ơn nàng, như thể hắn là khách mời của nàng và nàng là nữ chủ nhân đang ngồi tiếp hắn bên một bàn tiệc giống như những bữa tiệc ở cung điện Thần Vương mà nàng từng được nghe kể, bày biện nào là thịt quay, bánh mì phết bơ và rượu đựng trong cốc pha lê. Hắn quả là kẻ kỳ lạ.

“Quần đảo Nội địa như thế nào?”

Nàng đã đem xuống một chiếc ghế đẩu nhỏ bằng ngà có chân bắt chéo xếp lại được, để nàng không phải đứng trong lúc chất vấn hắn, nhưng cũng không phải ngồi xuống đất, ngang hàng với hắn.

“Ồ, ở đó có rất nhiều đảo. Người ta nói chỉ riêng vùng Quần đảo đã có tới một trăm sáu mươi hòn đảo rồi, và lại còn vùng Tứ Hải nữa; chưa có người nào đi hết vùng Tứ Hải, hay đếm hết các hòn đảo ở đó. Và mỗi hòn đảo lại khác nhau. Nhưng có lẽ nơi đẹp nhất là Havnor, vùng đất vĩ đại ở trung tâm thế giới. Ở trung tâm đảo Havnor, trên một bờ vịnh lớn thuyền bè đông đúc là Thành Havnor. Các tòa tháp trong thành phố đều được xây bằng cẩm thạch trắng. Dinh thự của vương tôn và thương gia đều có tháp, vì thế chúng vươn lên, cái nọ cao hơn cái kia. Mái nhà lợp ngói đỏ, và tất cả cầu bắc qua kênh đều được khảm sành sứ đủ màu đỏ, xanh lam, xanh lục. Và cờ hiệu của các vương tôn cũng có đủ màu, bay phấp phới trên các đỉnh tháp trắng. Trên ngọn tháp cao nhất là Thanh gươm của Erreth-Akbe, vươn cao chót vót về phía bầu trời. Khi mặt trời mọc ở Havnor, tia nắng đầu tiên sẽ chiếu vào lưỡi gươm, làm nó chói sáng lên, và khi mặt trời lặn Thanh gươm sẽ vẫn tỏa ánh vàng rực hồi lâu, trên bầu trời chạng vạng tối.”

“Erreth-Akbe là ai?” Nàng ranh mãnh hỏi.

Hắn ngước lên nhìn nàng. Hắn không nói gì, chỉ hơi mỉm cười. Rồi, như vừa đổi ý, hắn liền nói, “Đúng là ở đây thì cô không biết nhiều về người. Có lẽ không biết gì hơn ngoài hành trình của người đến xứ sở Kargad. Cô biết về truyền thuyết đó rõ đến mức nào?”

“Ta biết y đã bị mất cây gậy pháp sư cùng mảnh bùa và quyền lực của mình... cũng như ngươi vậy,” nàng trả lời. “Y đã trốn khỏi Tu sĩ Tối cao, chạy về phương Tây, và đã bị rồng giết chết. Nhưng nếu y mò đến khu Lăng tẩm này thì cũng chẳng cần đến rồng làm gì.”

“Đúng thế,” tù nhân của nàng đáp lại.

Nàng không muốn nói về Erreth-Akbe nữa, cảm thấy đó là một đề tài nguy hiểm. “Người ta nói y là chúa rồng. Và ngươi nói ngươi cũng là chúa rồng. Hãy cho ta biết, chúa rồng là gì?”

Giọng nàng luôn có vẻ giễu cợt, trong khi mọi câu trả lời của hắn hết sức thẳng thắn và chân thật, như thể hắn chấp nhận những câu hỏi của nàng một cách đầy thiện ý.

“Người nói chuyện được với loài rồng,” hắn nói, “thì được gọi là chúa rồng, hay ít ra thì đó cũng là điểm chính yếu. Nó không chỉ đơn giản là việc làm chủ loài rồng, như người ta thường nghĩ. Không ai có thể làm chủ loài rồng được. Với một con rồng thì câu hỏi luôn là: nó sẽ nói chuyện với anh, hay sẽ ăn thịt anh? Nếu cô có thể tin chắc nó sẽ làm điều đầu tiên, mà không làm điều thứ hai, thì khi đó cô đã trở thành chúa rồng rồi.”

“Rồng biết nói ư?”

“Chắc chắn rồi! Chúng dùng Cổ Ngữ, thứ tiếng mà chúng tôi đã cố hết sức để học và chỉ nói được bập bõm để tạo ra các bùa chú pháp thuật và tạo hình. Không người nào biết được hết thứ tiếng ấy, cho dù chỉ là một phần mười cũng không. Không ai có đủ thời gian để học nó. Nhưng loài rồng đã sống hàng ngàn năm... Cô có thể đoán được rằng nói chuyện với chúng quả là cũng bõ công.”

“Ở Atuan này có rồng không?”

“Tôi nghĩ có lẽ từ nhiều thế kỷ nay ở đây không còn rồng nữa, cả ở Karego-At cũng vậy. Nhưng ở hòn đảo cực Bắc của xứ này, Hur-At-Hur, người ta nói trên núi vẫn còn những con rồng khổng lồ. Ở Nội địa, giờ chúng chỉ quanh quẩn ở cực Tây, vùng Tây Hải hẻo lánh, trên những hòn đảo không có người ở và cũng rất ít người tìm đến. Khi đói chúng thường cướp phá các hòn đảo phía Đông; nhưng chỉ họa hoằn hết sức thôi. Tôi đã thấy hòn đảo nơi chúng đến để cùng nhau bay lượn. Chúng vỗ đôi cánh khổng lồ chao liệng thành hình xoáy ốc, bay ra, bay vào, lên cao mãi trên mặt biển phía Tây, như một cơn bão lá vàng đổ xuống vào mùa thu vậy.” Mắt xa xăm, hắn nhìn xuyên qua những bức vẽ tối đen trên tường, xuyên qua cả bức tường, mặt đất và bóng tối, như lại đang nhìn thấy mặt biển trải rộng dưới ánh hoàng hôn, những con rồng vàng rực trong gió vàng.

“Ngươi nói dối,” cô gái dữ dằn thốt lên, “đó là chuyện bịa đặt.”

Hắn kinh ngạc nhìn nàng. “Tại sao tôi lại phải nói dối, Arha?”

“Để khiến ta cảm thấy như một con ngốc, ngớ ngẩn và khiếp sợ. Để khiến ngươi có vẻ khôn ngoan, can đảm, mạnh mẽ, là chúa rồng, thế này thế nọ. Ngươi đã nhìn thấy rồng bay lượn, nhìn thấy các ngọn tháp của Havnor, và ngươi biết hết mọi điều. Còn ta thì chẳng biết gì hết, chưa đi đến nơi nào hết. Nhưng tất cả những gì ngươi biết đều là dối trá! Ngươi chẳng là gì ngoài một tên trộm, một tù nhân, ngươi không có linh hồn, và ngươi sẽ không bao giờ thoát khỏi nơi này. Những mặt biển, những con rồng, những tòa tháp trắng và tất cả những thứ đó chẳng còn quan trọng gì, vì ngươi sẽ không bao giờ nhìn thấy chúng nữa, ngươi thậm chí sẽ không bao giờ được thấy lại ánh mặt trời nữa. Tất cả những gì ta biết là bóng tối, là màn đêm dưới lòng đất. Và đó là tất cả những điều quan trọng trên đời này. Đó là tất cả những gì ta cần biết. Sự im lặng, và bóng tối. Ngươi biết tất cả, tên phù thủy kia. Nhưng ta biết một điều… điều chân chính duy nhất!”

Hắn cúi đầu. Đôi tay dài màu đồng buông xuống bất động trên đầu gối. Nàng nhìn bốn vết sẹo song song trên má hắn. Hắn đã xông pha vào bóng tối sâu thẳm hơn nàng; hắn biết về cái chết rõ hơn nàng, thậm chí đến cả cái chết... Một nỗi căm ghét dữ dội đối với hắn trào lên trong nàng, bóp nghẹt họng nàng trong chốc lát. Tại sao hắn lại có thể ngồi đó, không có gì để tự vệ mà vẫn mạnh mẽ đến vậy? Tại sao nàng không thể đánh bại hắn?

“Đây là lý do ta để ngươi sống,” đột nhiên nàng nói, không suy nghĩ gì. “Ta muốn ngươi chỉ cho ta thấy các pháp thuật được thực hiện như thế nào. Chừng nào ngươi còn bùa phép để cho ta xem thì ngươi sẽ còn được sống. Nếu ngươi không có pháp thuật gì, nếu tất cả chỉ là trò lừa bịp và dối trá, thì ta sẽ trừ khử ngươi ngay lập tức. Ngươi có hiểu không?”

“Có.”

“Tốt. Cho ta xem đi.”

Hắn gục đầu vào tay hồi lâu, và đổi thế ngồi. Chiếc cùm sắt khiến hắn không được ngồi thoải mái, trừ phi hắn nằm duỗi dài ra.

Cuối cùng hắn ngẩng đầu lên và nói hết sức nghiêm trang. “Hãy nghe đây, Arha. Tôi là một Pháp sư, một phù thủy như các người ở đây vẫn gọi. Tôi có những pháp thuật và quyền lực nhất định. Đó là sự thật. Nhưng có một sự thật nữa, đó là ở đây, trong Thành của Quyền pháp Cổ, sức mạnh của tôi đã yếu đi nhiều và các bùa phép của tôi không giúp ích gì được cho tôi. Bây giờ tôi có thể biểu diễn mấy trò ảo thuật và cho cô thấy đủ mọi điều kỳ diệu. Đó là thứ bùa phép tầm thường nhất. Tôi đã có thể làm ảo thuật từ khi còn nhỏ, ngay cả ở đây tôi vẫn có thể biểu diễn chúng. Nhưng nếu cô tin chúng là thật, thì chúng sẽ khiến cô khiếp sợ, và nếu nỗi sợ khiến cô nổi giận, cô có thể sẽ muốn giết tôi. Và nếu cô không tin chúng, thì cô sẽ thấy chúng chỉ là những trò lừa gạt, dối trá, như cô nói; và như vậy tôi sẽ vẫn mất mạng. Trong khi đó thì mọi mục đích và mong muốn của tôi lúc này chỉ là giữ được tính mạng mình mà thôi.”

Điều đó khiến nàng bật cười, và nàng nói, “Ồ, ngươi sẽ sống được thêm một hồi lâu nữa đấy, ngươi không hiểu sao? Ngươi thật ngu ngốc! Được thôi, hãy cho ta thấy những phép ảo thuật này. Ta sẽ biết chúng không phải sự thật và sẽ không sợ chúng. Thực ra, ngay cả nếu chúng có là thật đi chăng nữa thì ta cũng sẽ không sợ. Nhưng cứ bắt đầu đi. Dù sao thì mạng sống quý báu của ngươi sẽ vẫn được an toàn trong đêm nay.”

Nghe vậy hắn liền cười, như nàng vừa cười lúc trước. Họ đang tung hứng mạng sống của hắn qua lại như một quả bóng, đùa giỡn với nó.

“Cô muốn tôi diễn trò gì cho cô xem đây?”

“Ngươi có thể làm được gì?”

“Bất kỳ điều gì.”

“Ngươi huênh hoang mới ghê gớm làm sao!”

“Không,” hắn nói, rõ ràng bị chọc tức. “Tôi không huênh hoang. Ít ra thì cũng không cố ý.”

“Hãy cho ta thấy một điều ngươi nghĩ là đáng xem. Bất kỳ điều gì!”

Hắn cúi đầu nhìn hai bàn tay mình một hồi lâu. Không điều gì xảy ra cả. Ngọn nến mỡ cắm trong cây đèn của nàng tỏa ánh sáng mờ đục. Các bức tranh tối tăm trên tường, các hình người có cánh mà không thể bay lên, với những cặp mắt nhạt nhòa màu đỏ và trắng, vươn lên cao bên trên cả hai người. Không một tiếng động. Nàng thở dài, thất vọng và không hiểu sao lại cảm thấy cả đau buồn nữa. Hắn thật hèn yếu; hắn nói về những điều vĩ đại, nhưng lại chẳng làm nổi điều gì. Hắn chẳng là gì ngoài một tên nói dối đại tài, thậm chí còn không phải là một tên trộm giỏi nữa. “Thế đấy,” cuối cùng nàng thốt lên, và vén váy đứng dậy. Lớp vải len kêu sột soạt kỳ lạ khi nàng cử động. Nàng cúi xuống nhìn, và đứng phắt lên vì sửng sốt.

Chiếc áo đen dày nàng vẫn mặc hàng bao nhiêu năm nay đã biến mất; thay vào đó là một chiếc áo bằng lụa màu xanh ngọc, rực rỡ và mềm mại như bầu trời đêm. Chiếc váy xòe ra ôm lấy eo nàng như cái chuông, được thêu bằng những sợi chỉ bạc mảnh dẻ, đính ngọc trai và hạt pha lê nhỏ xíu, lấp lánh ánh sáng dịu nhẹ như màn mưa tháng tư.

Nàng nhìn tên pháp sư, không nói nổi nên lời.

“Cô có thích nó không?”

“Ở đâu...”

“Nó giống chiếc áo tôi có lần thấy một công chúa mặc vào Lễ hội Hồi Dương trong Tân Điện ở Havnor,” hắn nói, ngắm nhìn chiếc áo vẻ hài lòng. “Cô đã bảo tôi hãy cho cô thấy một thứ đáng xem. Tôi chỉ cho cô thấy chính bản thân cô đó thôi.”

“Hãy làm cho nó... làm cho nó biến đi.”

“Cô đã cho tôi chiếc áo choàng của mình,” hắn nói như trách cứ. “Tôi không thể trao tặng cô cái gì được hay sao? Đừng lo. Nó chỉ là ảo ảnh thôi; nhìn mà xem.”

Dường như hắn không hề nhúc nhích một ngón tay, chắc chắn hắn không thốt ra một từ nào; nhưng chiếc áo lụa xanh lộng lẫy đã biến mất, và nàng lại đứng đó trong chiếc áo đen khắc khổ quen thuộc.

Nàng đứng như trời trồng hồi lâu.

“Làm sao ta có thể biết được liệu con người ngươi có đúng như vẻ bề ngoài không?” Cuối cùng nàng hỏi.

“Cô không thể biết được,” hắn trả lời. “Tôi không biết với cô tôi có vẻ như thế nào.”

Nàng lại im lặng ngẫm nghĩ. “Ngươi có thể đánh lừa để ta coi ngươi như...” Nàng ngừng bặt, vì hắn vừa giơ một bàn tay chỉ lên phía trên trong chốc lát. Nàng tưởng hắn đang làm phép, bèn vội vã lùi về phía cánh cửa; nhưng khi nhìn theo tay hắn, nàng trông thấy cao tít trên trần nhà uốn vòm có một ô vuông nhỏ, chính là khe nhòm nằm trong gian phòng châu báu ở đền thờ hai Thần Huynh đệ.

Không có tia sáng nào lọt qua khe nhòm; nàng không nhìn thấy gì, không nghe thấy tiếng ai; nhưng hắn đã ra hiệu, và cặp mắt dò hỏi của hắn dán chặt vào nàng.

Cả hai cùng giữ nguyên tư thế bất động một lúc lâu.

“Pháp thuật của ngươi chỉ là những trò nực cười để dọa trẻ con mà thôi,” nàng dõng dạc nói. “Toàn những trò bịp bợm, dối trá. Ta thấy đủ rồi. Ngươi sẽ được đem dâng cho các Thần Vô danh. Ta sẽ không quay trở lại đây nữa.”

Nàng xách đèn bước ra, cố ý hạ những cái chốt sắt xuống cho chúng kêu thật to, thật vững chãi. Rồi nàng dừng lại ngoài cánh cửa, đứng đó trong nỗi khiếp đảm. Nàng phải làm gì bây giờ?

Kossil đã nghe thấy, nhìn thấy những gì? Họ đã nói với nhau những chuyện gì? Nàng không thể nhớ nổi nữa. Dường như nàng không hề thốt ra những điều nàng định nói với tên tù. Hắn luôn khiến nàng bối rối với câu chuyện về những con rồng, những ngọn tháp, rồi đặt tên cho các Thần Vô danh, muốn được sống, và biết ơn nàng đã cho hắn tấm áo choàng để nằm. Hắn không hề nói những điều nàng nghĩ hắn sẽ nói. Nàng thậm chí còn chưa hỏi hắn về mảnh bùa mà nàng vẫn đang đeo, giấu kín dưới lớp áo trước ngực.

Đằng nào thì cũng thế thôi, vì Kossil đã nghe được hết.

Cũng có gì là quan trọng đâu, Kossil thì có thể gây ra được chuyện gì? Ngay cả khi tự hỏi mình như vậy, nàng đã biết câu trả lời. Không có gì dễ dàng hơn là giết một con chim cắt trong lồng. Hắn hoàn toàn bất lực, bị xiềng xích trong chiếc lồng bằng đá ấy. Vị Nữ tu của Thần Vương chỉ việc ra lệnh cho tên hầu Duby của mình đêm nay đến bóp cổ hắn; hoặc nếu bà ta và Duby không biết Mê cung sâu tới mức nào thì bà ta chỉ cần thổi phấn độc qua khe nhòm vào Phòng Tranh. Bà ta có hàng hộp, hàng lọ chứa đầy những chất kinh khủng ấy, thứ thì dùng để đầu độc thức ăn và nước uống, thứ lại dùng để đánh độc không khí và có thể giết chết người nào hít thở bầu không khí ấy quá lâu. Đến sáng là hắn sẽ chết, và mọi chuyện sẽ kết thúc. Sẽ không bao giờ còn có một ánh sáng dưới lòng Lăng tẩm nữa.

Arha vội vã đi qua những con đường đá nhỏ hẹp đến cổng Hầm mộ, nơi Manan đang đợi, nhẫn nại ngồi xổm trong bóng tối như một con cóc già. Những cuộc viếng thăm tên tù của nàng khiến y không an tâm chút nào. Nàng không cho phép y đi theo đến tận buồng giam, vì thế cả hai đã thỏa thuận y sẽ đợi nàng ở đây. Giờ nàng thấy mừng vì có y ở gần bên. Ít ra thì nàng còn có thể tin tưởng y được.

“Manan, nghe đây. Ngươi phải đến Phòng Tranh, ngay bây giờ. Nói với tên tù rằng ngươi sẽ đem hắn đi chôn sống bên dưới Bia mộ.” Mắt Manan sáng lên. “Nói to lên ấy. Sau đó mở cùm cho hắn, và đem hắn đến...” Nàng ngừng lại, vì chưa quyết định được nên giấu tên tù ở đâu là tốt hơn cả.

“Đến Hầm mộ,” Manan hăm hở nói.

“Không, ngốc ạ. Ta bảo ngươi nói như thế, chứ không được làm thế. Đợi đã...”

Có nơi nào mà Kossil và gián điệp của bà ta không thể mò tới được? Không có nơi nào khác ngoài những nơi sâu thẳm nhất dưới lòng đất, những nơi linh thiêng nhất và bí mật nhất trong lãnh địa của các Thần Vô danh, nơi bà ta không dám đến. Nhưng liệu có điều gì Kossil không dám làm hay không? Có thể bà ta sợ những nơi tăm tối thật, nhưng bà ta thuộc loại người sẽ sẵn sàng chế ngự nỗi sợ hãi của mình để đạt được mục đích. Không có cách nào để biết bà ta đã học được bao nhiêu đường đi lối lại trong Mê cung từ Thar hay từ Arha đời trước, hay thậm chí từ những khám phá bí mật của bà ta trước kia nữa; Arha ngờ rằng bà ta biết nhiều hơn vẻ bề ngoài của mình. Nhưng có một nơi duy nhất chắc chắn bà ta chưa thể biết tới, bí mật được giữ kín nhất.

“Ngươi phải đem hắn đi theo ta, và ngươi phải đi trong bóng tối. Rồi khi ta dẫn ngươi quay trở lại đây, hãy đào một nấm mồ trong Hầm mộ, làm một cái quan tài đặt vào mộ, rồi phủ đất lên, nhưng phải làm sao để cho nếu có người đi tìm thì họ có thể tìm thấy nó được. Một nấm mồ sâu. Ngươi có hiểu không?”

“Không,” Manan đáp, bướng bỉnh và bực tức. “Cô bé, trò lừa gạt này không khôn ngoan chút nào. Chẳng hay ho gì đâu. Đàn ông không được đến đây! Sẽ có hình phạt...”

“Một lão già ngu ngốc sẽ bị cắt lưỡi, đúng vậy đấy! Ngươi dám dạy ta cái gì là khôn ngoan hay sao? Ta chỉ làm theo mệnh lệnh của Bóng tối Quyền năng. Đi theo ta!”

“Xin thứ lỗi, nữ chủ, xin thứ lỗi cho ta...”

Họ quay lại Phòng Tranh. Nàng đứng đợi ngoài đường hầm, trong khi Manan bước vào và tháo chiếc xích ra khỏi cái móc trên vách hang. Nàng nghe thấy giọng nói trầm trầm hỏi, “Đi đâu đây, Manan?” Và giọng nam cao khàn đục rầu rĩ đáp lại, “Nữ chủ của ta ra lệnh chôn sống ngươi. Bên dưới Bia mộ. Đứng lên!” Rồi nàng nghe thấy tiếng sợi xích nặng kêu như tiếng roi quất.

Tên tù bước ra, tay bị trói bằng chiếc dây lưng da của Manan. Manan theo sau, giữ hắn như giữ một con chó bị buộc vào sợi dây ngắn, nhưng cái vòng cổ thì lại vòng quanh thắt lưng và sợi dây là một chiếc xích sắt. Hắn đưa mắt nhìn nàng, nhưng nàng thổi tắt ngọn nến và bước vào bóng tối, không nói một lời. Ngay lập tức nàng đã lấy lại được bước chân chậm rãi mà chắc chắn thường lệ mỗi khi vào Mê cung mà không đem theo đèn, những ngón tay lại lướt nhẹ nhàng nhưng liên tục trên vách đá ở hai bên. Manan và tên tù theo sau, cử động vất vả hơn vì sợi xích, vừa đi vừa vấp ngã. Nhưng họ phải đi trong bóng tối; vì nàng không muốn bất kỳ ai trong số hai người ấy biết được lối đi này.

Sau khi ra khỏi Phòng Tranh, họ rẽ trái, đi qua hai hành lang; rẽ phải ở Ngã Tư, đi qua một hành lang ở bên phải nữa; rồi men theo một lối đi dài uốn lượn, xuống mấy bậc thang dài, trươn tuột, quá hẹp đối với chân người thường. Nàng chưa bao giờ đi xa hơn những bậc thang này.

Không khí ở đây hôi hám hơn, hết sức ngột ngạt, và có mùi rất gắt. Những lời chỉ dẫn hiện ra rõ mồn một trong trí nhớ của nàng, thậm chí cả giọng điệu của Thar khi bà dạy cho nàng những lối đi ấy nữa. Họ đi xuống các bậc thang (sau lưng nàng, tên tù vấp ngã trong bóng tối như mực, và nàng nghe thấy hắn bật ra một tiếng kêu đau đớn khi Manan giật mạnh sợi xích bắt hắn đứng dậy), rồi đến chân cầu thang thì rẽ ngay sang trái. Đi tiếp qua ba hành lang nữa, rẽ vào ngách đầu tiên bên phải, rồi lại men theo lối đi bên phải. Các đường hầm uốn khúc, rẽ nhánh, không con đường nào chạy thẳng cả. “Sau đó người phải men theo mép Vực thẳm,” trong đầu nàng vang lên giọng nói của Thar, “và con đường ấy rất hẹp.”

Nàng bước chậm lại, cúi xuống và dùng một tay sờ soạng trên nền hang. Lối đi giờ chạy thẳng một quãng dài, khiến những kẻ lang thang sẽ lầm tưởng đó là lối đi an toàn. Bất thình lình, bàn tay nàng đang không ngừng lần mò trên nền đá trước mặt bỗng không cảm thấy gì hết. Chỉ có một mép đá, một bờ vực: bên ngoài bờ vực là khoảng không trống rỗng. Ở bên phải, vách hang đâm thẳng xuống vực thẳm. Ở bên trái, chỉ có một gờ đá chìa ra, rộng chưa đầy một gang tay.

“Có một cái vực đấy. Hãy đối mặt với vách đá bên trái, dựa sát vào vách, và đi sang một bên. Nhẹ chân thôi. Giữ sợi xích cho chắc đấy, Manan... Ngươi đã lên được gờ đá chưa? Nó sẽ hẹp lại đấy. Đừng tì lên gót chân. Rồi, ta đã qua được bờ vực rồi. Đưa tay đây. Nào...”

Đường hầm chạy thành hình chữ chi với những khúc quanh ngắn và rất nhiều ngả rẽ đâm sang hai bên. Khi họ đi qua, từ một số ngả rẽ tiếng bước chân của họ vọng lại vang vang kỳ lạ; và còn lạ hơn nữa, đó là họ cảm thấy một luồng gió yếu ớt đang hun hút thổi vào trong. Chắc hẳn cuối những hành lang đó cũng là các vực thẳm như cái vực họ vừa vượt qua. Có lẽ ở bên dưới phần Mê cung thấp này có một lòng chảo, một cái hang rộng và sâu đến nỗi cái hang ở Hầm mộ sẽ chẳng là gì so với khoảng không mênh mông, tối như mực đó.

Nhưng bên trên vực thẳm ấy, trong những đường hầm tăm tối nơi họ đang bước đi, các con đường cứ dần hẹp lại, dốc xuống, cho đến khi ngay cả Arha cũng phải cúi người. Liệu lối đi này có bao giờ kết thúc không?

Điểm kết thúc xuất hiện đột ngột: một cánh cửa khóa chặt. Vì đang khom người bước tới và đi nhanh hơn thường lệ, Arha đã lao thẳng đến đó, đập cả đầu và tay vào cửa. Nàng lần tìm lỗ khóa, rồi mò mẫm lấy chiếc chìa khóa nhỏ ở chùm chìa khóa nơi thắt lưng, chiếc chìa bằng bạc với cái chuôi hình con rồng nàng chưa bao giờ dùng đến. Chìa vừa như in, và xoay được. Nàng mở cánh cửa Kho tàng Lớn của Lăng tẩm xứ Atuan. Một luồng hơi lưu cữu khô khốc, chua chua xuyên qua bóng tối ào ra ngoài.

“Manan, ngươi không được vào đây. Hãy đợi ngoài cửa.”

“Hắn vào được, mà ta thì lại không ư?”

“Manan, nếu ngươi đặt chân vào căn phòng này thì ngươi sẽ không thể ra khỏi được. Đó là luật lệ đối với tất cả mọi người, trừ ta. Không kẻ trần tục nào ngoài ta có thể sống sót ra khỏi nơi này. Ngươi có vào không?”

“Ta sẽ đợi ở ngoài,” giọng nói ảo não vang lên trong bóng tối. “Nữ chủ, nữ chủ, xin đừng đóng cửa...”

Sự hốt hoảng của y khiến nàng hoang mang đến mức đành phải để cửa mở. Quả thực, nơi này khơi dậy trong nàng một nỗi khiếp sợ mơ hồ, và nàng bỗng cảm thấy có phần nghi ngờ tên tù, dù hắn vẫn bị trói chặt. Khi đã vào đến bên trong, nàng thắp đèn lên. Hai tay nàng run rẩy. Cây đèn nến miễn cưỡng bắt lửa; không khí ngột ngạt và tù túng. Dưới ánh nến vàng vọt bập bùng nhưng vẫn có vẻ sáng rực sau quãng đường dài trong cảnh tối tăm, phòng chứa kho báu lờ mờ hiện ra trước mắt họ, đầy những bóng đen nhảy nhót.

Có sáu hòm đá lớn, tất cả đều phủ một lớp bụi dày xám mịn như thứ mốc trên bánh mì; ngoài ra không còn gì khác. Vách hang gồ ghề, trần thấp tè. Phòng lạnh ngắt, cái lạnh thấu xương, thiếu không khí, khiến máu trong tim như đông lại. Không có mạng nhện, chỉ toàn là bụi. Không có gì sống nổi ở đây, không hề có gì, thậm chí cả những con nhện trắng nhỏ hiếm hoi của Mê cung. Bụi phủ dày, rất dày, và có lẽ mỗi hạt bụi tượng trưng cho một ngày đã trôi qua ở đây, nơi không có thời gian, không có ánh sáng: ngày, tháng, năm, thế kỷ, tất cả đều đã tan thành tro bụi.

“Đây là nơi ngươi tìm kiếm,” Arha nói, giọng đều đều. “Đây là Kho tàng Lớn của Lăng tẩm. Ngươi đã đến đây. Ngươi sẽ không bao giờ thoát ra được.”

Hắn không nói gì, nét mặt bình thản, nhưng trong đôi mắt có một sắc thái khiến nàng xúc động: nỗi tuyệt vọng, ánh mắt của người bị phản bội.

“Ngươi nói ngươi muốn giữ được tính mạng. Đây là nơi duy nhất ta biết có thể giúp ngươi bảo toàn tính mạng. Kossil sẽ giết ngươi, hoặc buộc ta giết ngươi, Chim Cắt ạ. Nhưng bà ta không thể đến nơi này được.”

Hắn vẫn không nói gì.

“Đằng nào thì ngươi cũng không thể ra khỏi Lăng mộ, ngươi không hiểu sao? Việc này cũng có gì khác đâu. Và ít ra thì ngươi cũng đã... đã đi đến cuối cuộc hành trình của mình. Cái ngươi tìm kiếm nằm ở đây.”

Hắn ngồi xuống một chiếc rương lớn, có vẻ kiệt sức. Sợi xích lòng thòng kêu lách cách chói tai trên nền đá. Hắn nhìn bốn bức tường màu xám và những bóng đen xung quanh, rồi nhìn nàng.

Nàng quay đi tránh ánh mắt của hắn, nhìn những chiếc rương đá. Nàng không hề muốn mở chúng. Nàng không cần biết những báu vật gì đã mục nát trong đó.

“Ở đây thì ngươi không phải đeo cái xích đó nữa.” Nàng đến gần hắn, mở cái cùm sắt, và tháo chiếc dây lưng bằng da của Manan ra khỏi tay hắn. “Ta phải khóa cửa, nhưng khi đi ta tin tưởng ngươi. Ngươi biết ngươi không thể trốn thoát - ngươi biết ngươi không được tìm cách trốn chứ? Ta là người báo thù cho họ, ta làm theo mệnh lệnh của họ; nhưng nếu ta phản bội họ - nếu ngươi phản bội lòng tin của ta - thì họ sẽ tự mình báo thù. Ngươi không được tìm cách ra khỏi căn phòng này bằng cách làm hại ta hay đánh lừa ta, khi ta đi. Ngươi phải tin ta.”

“Tôi sẽ làm theo lời cô,” hắn nhẹ nhàng đáp.

“Ta sẽ đem nước và thức ăn đến, khi nào có thể. Không nhiều đâu. Nước thì đủ, nhưng trong một thời gian sẽ không có nhiều thức ăn; ta đang phải chịu đói, ngươi có nhận ra không? Nhưng sẽ đủ cho ngươi sống sót. Có lẽ ta sẽ không thể quay lại trong một, hai ngày tới, có lẽ còn lâu hơn. Ta phải đánh lạc hướng Kossil. Nhưng ta sẽ quay lại. Ta hứa. Cầm lấy bình nước này. Hãy uống dè sẻn, ta không thể quay lại ngay được. Nhưng ta sẽ quay lại.”

Hắn ngẩng lên nhìn nàng. Vẻ mặt hắn thật lạ lùng. “Hãy bảo trọng, Tenar,” hắn nói.

« Lùi
Tiến »