Xứ Hải Địa 2, Mê Cung Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 309 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỮNG CÁI TÊN

Nàng dẫn Manan quay về qua những lối đi quanh co uốn lượn trong bóng tối, bỏ y lại trong Hầm mộ để đào nấm mồ bắt buộc như một bằng chứng cho Kossil thấy tên trộm đã thật sự bị trừng phạt. Đêm đã khuya, và nàng bước thẳng về Nhà Nhỏ lên giường đi ngủ. Đến nửa đêm nàng đột ngột tỉnh giấc; nàng nhớ ra mình đã để quên chiếc áo choàng trong Phòng Tranh. Hắn sẽ không có gì để ủ ấm trong căn hầm đầy âm khí đó ngoài chiếc áo khoác ngắn của hắn, không có cái giường nào ngoài phiến đá bụi bặm. Một nấm mồ lạnh lẽo, một nấm mồ lạnh lẽo, nàng đau khổ nghĩ thầm, nhưng nàng quá mệt nên không thể dậy được, và chẳng mấy chốc lại chìm vào giấc ngủ. Nàng bắt đầu mơ. Nàng mơ thấy những hồn ma trên các bức tường Phòng Tranh, những hình thù nom như những con chim khổng lồ lôi thôi nhếch nhác với chân tay và bộ mặt của loài người, đang ngồi chồm hỗm trong lớp bụi tăm tối. Chúng không thể bay. Chúng chỉ có đất làm thức ăn và bụi làm nước uống. Chúng là hồn ma của những kẻ không được đầu thai, những người dân thời cổ, những kẻ ngoại đạo, những kẻ đã bị các Thần Vô danh ăn sống nuốt tươi. Chúng ngồi trong bóng tối xung quanh nàng, và thỉnh thoảng lại phát ra tiếng cót két hay chiêm chiếp yếu ớt. Một kẻ trong số đó đến sát gần nàng. Mới đầu nàng hết sức khiếp sợ, và cố lùi ra xa, nhưng không sao cử động nổi. Kẻ ấy có mặt chim chứ không phải mặt người; nhưng nó lại có mái tóc vàng, và nói bằng giọng phụ nữ, “Tenar,” nhẹ nhàng, âu yếm, “Tenar.”

Nàng thức dậy. Miệng nàng bị bịt bằng đất sét. Nàng đang nằm trong một nấm mồ bằng đá, dưới lòng đất. Tay chân nàng bị bọc trong vải liệm, và nàng không thể cử động hay cất tiếng nói.

Nỗi tuyệt vọng của nàng trào dâng đến nỗi nó phá bung lồng ngực nàng, và như một con chim lửa phá vỡ nấm mồ đá tung cánh bay lên trong ánh sáng ban ngày - thứ ánh sáng ban ngày mờ nhạt trong căn phòng không cửa sổ của nàng.

Lần này mới thật sự tỉnh giấc, nàng ngồi lên, bị giấc mơ đêm đó làm cho mệt mỏi, đầu óc mụ mị. Nàng mặc quần áo, đi ra bể nước trong mảnh sân có tường bao quanh của Nhà Nhỏ. Nàng vục tay, mặt và cả đầu mình vào làn nước lạnh cho đến khi người nàng co rúm lại vì giá buốt và máu rần rật. Rồi, hất mớ tóc đang nhỏ nước tong tong về phía sau, nàng vươn người đứng thẳng dậy và ngước nhìn bầu trời buổi sớm.

Đó là một ngày mùa đông quang đãng khi mặt trời vừa mọc. Bầu trời ánh vàng, trong trẻo. Tít trên cao, đến nỗi bộ lông của nó phản chiếu ánh mặt trời và sáng rực như đốm vàng, một con chim đang chao liệng, một con chim cắt hay đại bàng sa mạc.

“Ta là Tenar,” nàng thốt lên nho nhỏ, người run lên vì lạnh, vì hoảng sợ và hân hoan, đứng đó dưới bầu trời rộng mở ngập tràn ánh nắng. “Ta đã tìm lại được tên mình. Ta là Tenar!”

Đốm vàng trên cao lượn sang dãy núi phía Tây và biến khỏi tầm mắt. Ánh bình minh dát vàng những mái hiên Nhà Nhỏ. Tiếng lục lạc của bầy cừu leng keng dưới bãi nhốt. Mùi khói và mùi cháo kiều mạch từ ống khói nhà bếp bay lên theo làn gió nhẹ, trong lành.

“Ta đói quá... Sao hắn biết nhỉ? Sao hắn biết tên ta?... Ôi, ta phải đi ăn thôi, ta đói quá...”

Nàng kéo chiếc mũ trùm lên và chạy đi ăn sáng.

Được ăn uống no nê sau ba ngày gần như nhịn đói khiến nàng cảm thấy vững vàng hơn, đem lại cho nàng sự tự tin; nàng không còn cảm thấy liều lĩnh, nông nổi và sợ hãi như trước nữa. Sau bữa sáng, nàng thấy mình đủ sức đối phó với Kossil.

Khi ra khỏi phòng ăn của Nhà Lớn, nàng bước đến bên thân hình cao lớn, bệ vệ của bà ta và hạ giọng nói, “Ta đã trừ khử tên trộm rồi... Hôm nay thật là một ngày đẹp trời!”

Cặp mắt xám lạnh lùng liếc nhìn nàng từ dưới chiếc mũ trùm đen.

“Ta tưởng Nữ tu phải nhịn ăn ba ngày sau khi giết người tế thần kia mà?”

Đúng vậy thật. Arha đã quên mất điều đó, và vẻ mặt nàng chứng tỏ nàng đã quên.

“Hắn vẫn chưa chết,” cuối cùng nàng nói, cố giữ nguyên cái giọng dửng dưng mà mới một phút trước đây nàng đã thốt ra dễ dàng biết bao. “Hắn đã bị chôn sống. Dưới Lăng tẩm. Trong một cái quan tài. Sẽ có chút không khí, cái quan tài không bị bịt kín, chỉ là một cái quan tài gỗ. Cái chết sẽ đến hết sức từ từ. Khi biết chắc hắn đã chết rồi thì ta sẽ nhịn ăn.”

“Làm sao người biết được?”

Lúng túng, nàng lại ngập ngừng. “Ta sẽ biết. Họ... Các Chủ nhân của ta sẽ cho ta biết.”

“Ta hiểu rồi. Nấm mồ đó nằm ở đâu?”

“Trong Hầm mộ. Ta đã ra lệnh cho Manan đào nó bên dưới tảng Đá Nhẵn.” Nàng không được trả lời quá nhanh, với cái giọng nhượng bộ, ngớ ngẩn như vậy; nàng phải tỏ ra đường hoàng trước mặt Kossil.

“Chôn sống trong một cái quan tài gỗ. Hành động như vậy với một phù thủy thì quá mạo hiểm, thưa nữ chủ. Người có chắc chắn đã bịt kín miệng hắn để hắn không thể đọc thần chú được hay không? Tay hắn có bị trói không? Chúng có thể làm phép chỉ bằng cách vẫy ngón tay, ngay cả khi đã bị cắt lưỡi.”

“Pháp thuật của hắn chẳng là gì hết, chỉ là trò bịp bợm thôi,” cô gái đáp lại, cao giọng hơn. “Hắn đã bị chôn sống, và các Chủ nhân của ta đang chờ để đoạt lấy linh hồn hắn. Những việc còn lại thì không liên quan gì đến ngươi cả, nữ tu!”

Lần này thì nàng đã đi quá xa. Những người khác đã nghe thấy; Penthe cùng mấy cô bé khác, cả Duby, cùng với nữ tu Mebbeth, tất cả đều đang ở trong khoảng cách có thể nghe thấy nàng nói. Tất cả các cô gái đều đang giỏng tai lên, và Kossil biết rõ như vậy.

“Tất cả những gì xảy ra ở đây đều liên quan đến ta, thưa nữ chủ. Tất cả những gì xảy ra trong vương quốc của người đều liên quan đến Thần Vương, đến Hoàng đế Bất tử, người mà ta phục vụ. Người sẽ tìm kiếm và khám xét cả những nơi nằm dưới lòng đất, cả góc sâu thẳm nhất trong tim con người, và không kẻ nào được phép cấm đoán người!”

“Ta thì có thể. Không ai được bước vào Lăng tẩm nếu các Thần Vô danh không cho phép. Họ đã xuất hiện trước khi Thần Vương của ngươi ra đời, và họ sẽ vẫn tồn tại sau khi ông ta đã chết đi. Hãy cẩn trọng khi nhắc đến họ, nữ tu. Đừng gọi lòng hận thù của họ đến với ngươi. Họ sẽ len lỏi vào giấc mơ của ngươi, họ sẽ xâm chiếm những nơi tối tăm trong tâm trí ngươi, và ngươi sẽ hóa điên.”

Mắt nàng sáng rực. Khuôn mặt Kossil khuất dưới chiếc mũ trùm đen. Penthe và những người khác nhìn họ chằm chằm, vừa sợ hãi vừa tò mò.

“Họ là những vị thần xưa cũ,” giọng Kossil vang lên, không to, chỉ là một tiếng rít khe khẽ vẳng ra từ sâu bên trong chiếc mũ trùm. “Họ đã xưa cũ rồi. Không còn ai nhớ đến họ để mà thờ phụng nữa, ngoại trừ ở nơi này. Quyền năng của họ đã biến mất. Họ chỉ là những cái bóng. Họ không còn chút quyền lực nào nữa. Đừng có tìm cách dọa ta, Người Mất Linh hồn. Người là Nữ tu Đầu tiên; nhưng chẳng phải điều đó cũng có nghĩa người là Đại Nữ tu cuối cùng sao?... Người không thể đánh lừa ta được đâu. Ta đã nhìn thấu tâm can người. Bóng tối không che giấu nổi điều gì khỏi mắt ta đâu. Hãy cẩn thận, Arha!”

Bà ta quay người bỏ đi, với những bước chân nặng nề, chậm chạp, giẫm nát lớp cỏ dại ướt đẫm sương giá dưới bàn chân đi dép to tướng của mình, tiến về phía ngôi đền có hàng cột trắng của Thần Vương.

Cô gái vẫn đứng đó, mảnh dẻ trong bộ áo tối màu, như thể đã bị đóng băng trên mặt đất ở mảnh sân trước của Nhà Lớn. Ngoài Kossil, không một ai nhúc nhích, không một thứ gì chuyển động giữa mảnh đất mênh mông đầy sân và đền thờ, đồi núi và sa mạc.

“Cầu cho các Thần Bóng tối sẽ nuốt chửng linh hồn ngươi, Kossil!” Nàng hét lên, nghe như tiếng rít của chim cắt, và giơ tay lên, bàn tay duỗi thẳng, nàng ném lời nguyền ấy vào cái lưng nặng nề của vị nữ tu, đúng lúc bà ta đặt chân lên các bậc thềm dẫn lên đền. Kossil loạng choạng, nhưng không dừng bước hay quay lại. Bà ta đi tiếp, và bước qua cánh cửa vào đền Thần Vương.

Cả ngày hôm đó Arha ngồi trên bậc thềm thấp nhất dẫn lên Ngai vàng Trống không. Nàng không dám vào Mê cung; chính nàng. Trong nàng tràn ngập cảm giác nặng nề, khiến nàng cứ ngồi lỳ ở đó hết giờ này qua giờ khác trong cảnh tranh tối tranh sáng lạnh lẽo của gian đại sảnh. Nàng nhìn chằm chằm hàng cột đôi khổng lồ nhợt nhạt chìm dần vào bóng tối xa xa cuối gian sảnh, nhìn ánh sáng ban ngày chiếu xiên qua lỗ hổng trên mái nhà, và những cuộn khói dày đặc bốc lên từ cái kiềng than đặt cạnh Ngai vàng. Nàng lấy mấy khúc xương chuột vạch ngang dọc lên bậc thềm bằng đá hoa cương, đầu cúi xuống, trí óc tỉnh táo nhưng chẳng khác gì u mê mụ mẫm. Ta là ai? Nàng tự hỏi, và không thể tìm được câu trả lời.

Khi ánh sáng không còn xuyên qua bóng tối của gian sảnh và hơi lạnh đã trở nên buốt giá hơn, tiếng lê chân của Manan vang lên dọc gian sảnh giữa hai hàng cột đôi. Khuôn mặt bệch bạc của Manan hết sức rầu rĩ. Y đứng cách nàng một quãng, hai bàn tay to xù thõng xuống; cái gấu áo rách bươm kéo lê dưới chân.

“Nữ chủ bé nhỏ.”

“Gì thế, Manan?” Nàng nhìn y với một thoáng yêu thương.

“Cô bé, hãy để ta làm những điều con nói... những điều con nói rằng con đã làm. Hắn phải chết, cô bé à. Hắn đã bỏ bùa cho con rồi. Bà ta sẽ trả thù. Bà ta đã già và độc ác, còn con thì lại còn quá trẻ. Con không đủ sức đâu.”

“Bà ta không thể làm hại ta được.”

“Nếu bà ta giết con, thậm chí giữa thanh thiên bạch nhật, trước mặt tất cả mọi người, thì trên khắp Vương quốc này cũng không có ai dám trừng phạt bà ta cả. Bà ta là Nữ tu Tối cao của Thần Vương, và Thần Vương là người cai trị nơi này. Nhưng bà ta sẽ không giết con giữa thanh thiên bạch nhật đâu. Bà ta sẽ lén lút làm điều đó trong bóng tối.”

“Rồi ta sẽ lại được hồi sinh.”

Manan vặn vẹo hai tay. “Có thể bà ta sẽ không giết con,” y thì thào.

“Ý ngươi là gì?”

“Bà ta có thể nhốt con vào một căn phòng ở trong... ở dưới đó. Giống như con đã làm với hắn ta. Và có lẽ con sẽ sống được hàng năm trời. Hàng bao nhiêu năm trời nữa... Và không Nữ tu mới nào được chào đời, vì con chưa chết. Nhưng sẽ không có Nữ tu của Lăng tẩm, và các điệu vũ kỳ trăng non sẽ không được múa, các lễ tế thần sẽ không được thực hiện, máu sẽ không được rót ra, và các Thần Bóng tối sẽ không được thờ cúng nữa, sẽ bị lãng quên, mãi mãi. Bà ta và Thần Vương của bà ta sẽ sung sướng lắm.”

Họ sẽ giải thoát cho ta, Manan.”

“Không đâu, một khi họ nổi giận với con, nữ chủ bé nhỏ à,” Manan thì thầm.

“Nổi giận ư?”

“Vì hắn... Tội báng bổ đã không bị trừng trị. Ôi cô bé, cô bé ơi! Họ không tha thứ đâu!”

Nàng ngồi đó trên bậc thềm cuối cùng bụi bặm, đầu cúi xuống. Nàng nhìn cái vật nhỏ xíu trong lòng bàn tay mình, cái đầu lâu chuột bé tí tẹo. Bầy cú đậu ở xà nhà phía trên Ngai vàng bắt đầu lao xao; đêm đang dần buông xuống.

“Đêm nay con đừng đi vào Mê cung nữa,” Manan thấp giọng. “Hãy quay về nhà và ngủ đi. Sáng mai hãy đến gặp Kossil và nói với bà ta rằng con đã phá bỏ lời nguyền đối với bà ta. Và mọi chuyện sẽ ổn cả. Con không cần phải lo lắng. Ta sẽ đem bằng chứng đến cho bà ta.”

“Bằng chứng ư?”

“Rằng tên phù thủy đã chết.”

Nàng ngồi im. Một cách chậm rãi, nàng nắm bàn tay lại, và cái sọ mỏng mảnh vỡ vụn trong tay nàng. Khi nàng xòe tay ra thì trên đó chẳng còn gì ngoài những mẩu xương và bụi.

“Không,” nàng nói, phủi sạch bụi trên tay mình.

“Hắn phải chết. Hắn đã bỏ bùa cho con. Con mất trí rồi, Arha!”

“Hắn không bỏ bùa gì cho ta cả. Ngươi đã già rồi, và lại nhát gan nữa, Manan ạ; ngươi khiếp sợ các mụ già. Ngươi nghĩ ngươi sẽ làm cách nào để tìm đến chỗ hắn bị giam, giết hắn và đem ‘bằng chứng’ của ngươi quay về? Ngươi có biết rõ đường đến Kho tàng Lớn, con đường đêm qua ngươi đã mò theo trong bóng tối không? Ngươi có đếm được những ngả rẽ, đến được các bậc thang, rồi vực thẳm, rồi cánh cửa không? Ngươi có mở được cánh cửa đó không?... Ôi, Manan già nua tội nghiệp ơi, ngươi thật ngốc nghếch. Bà ta đã khiến ngươi khiếp hãi. Hãy quay về Nhà Nhỏ và ngủ đi, hãy quên hết những chuyện này. Đừng có làm ta rối cả lên với những chuyện chết chóc này nữa... Ta sẽ quay về sau. Đi đi, đi đi, lão già ngốc nghếch, lão già vụng về.” Nàng đứng dậy, đẩy nhẹ cái lồng ngực rộng của Manan, vỗ về y, giục giã y. “Ngủ ngon, ngủ ngon nhé!”

Y quay đi, bước chân nặng nề đầy miễn cưỡng và lo sợ, nhưng ngoan ngoãn, xuôi theo gian sảnh dài nằm dưới những hàng cột và mái nhà đổ nát. Nàng nhìn theo y.

Khi y đã đi khuất, nàng quay lại, vòng quanh bệ đặt Ngai vàng, và biến vào bóng tối phía sau.

« Lùi
Tiến »