Trong Kho tàng Lớn của Lăng tẩm xứ Atuan, thời gian như ngừng đọng. Không ánh sáng; không sự sống; không có cả những con nhện cựa quậy trong lớp bụi dày hay những con giun dưới lòng đất lạnh lẽo. Chỉ có đá, bóng tối, và thời gian ngưng đọng.
Tên trộm đến từ vùng Nội Địa đang nằm ngửa, duỗi mình trên cái nắp bằng đá của một chiếc rương lớn, trông như hình chạm khắc trên một nấm mồ. Lớp bụi bị xáo trộn do chàng cử động đã phủ xuống quần áo chàng. Chàng không nhúc nhích.
Khóa cửa kêu lách cách. Cánh cửa mở ra. Ánh sáng phá vỡ màn đêm im lìm và ngọn gió mát mẻ lay động bầu không khí ngột ngạt. Chàng vẫn nằm yên.
Arha đóng cửa và khóa trái lại, đặt cây đèn lên một chiếc rương, và chậm rãi tiến về hình người đang nằm bất động kia. Nàng bước rón rén, mắt mở to, con ngươi vẫn còn giãn ra sau chặng đường dài trong bóng tối.
“Chim Cắt!”
Nàng chạm vào vai chàng, gọi tên chàng lần nữa, rồi một lần nữa.
Đến lúc ấy chàng mới cựa mình, rên rỉ. Cuối cùng chàng ngồi dậy, mặt hốc hác, mắt đờ đẫn. Chàng nhìn nàng, không nhận ra.
“Là tôi, Arha-Tenar đây. Tôi đem nước đến cho anh. Đây, uống đi.”
Chàng mò mẫm đón lấy bình nước như thể hai tay đã tê cứng, và uống một hơi, nhưng không nhiều.
“Đã bao lâu rồi?” Chàng khó nhọc cất tiếng.
“Anh đã ở đây được hai ngày rồi. Giờ là đêm thứ ba. Tôi không thể đến sớm hơn được. Tôi phải lấy trộm thức ăn.. đây...” Nàng lôi một ổ bánh mì xám dẹt ra khỏi chiếc túi mang theo trên người, nhưng chàng lắc đầu.
“Tôi không đói. Nơi này... đây là nơi chết chóc.” Chàng gục đầu vào hai tay và ngồi bất động.
“Anh có lạnh không? Tôi đem chiếc áo choàng từ Phòng Tranh đến đây.”
Chàng không trả lời.
Nàng đặt chiếc áo choàng xuống và đứng nhìn chàng trân trân. Nàng hơi run rẩy, và mắt nàng vẫn mở lớn, đen thẳm.
Rồi nàng bất thình lình khuỵu gối, gục xuống và òa khóc, những tiếng nức nở làm toàn thân nàng rung lên, nhưng không giọt nước mắt nào chảy ra.
Chàng vất vả rời khỏi chiếc rương, và cúi xuống bên nàng. “Tenar...”
“Tôi không phải Tenar. Tôi không phải Arha. Các thần đã chết rồi, các thần đã chết rồi.”
Chàng đặt tay lên đầu nàng, đẩy cái mũ trùm xuống. Chàng cất tiếng nói. Giọng chàng hết sức nhẹ nhàng, và chàng nói một thứ tiếng nàng chưa nghe thấy bao giờ. Những lời nói ấy đi vào trong trái tim nàng như những hạt mưa rơi xuống mặt đất khô hạn. Nàng im lặng lắng nghe.
Khi nàng đã nín hẳn, chàng nhấc nàng lên, đặt nàng ngồi lên chiếc rương chàng vừa nằm, như nhấc một đứa bé con. Chàng nắm tay nàng.
“Tại sao cô lại khóc, Tenar?”
“Tôi sẽ cho anh biết. Nhưng tôi có nói gì thì cũng không quan trọng. Anh chẳng thể làm được gì hết. Anh không thể giúp được gì. Anh cũng đang chết dần chết mòn, phải không? Vì vậy điều đó chẳng có gì là quan trọng hết. Chẳng còn gì là quan trọng nữa. Kossil, Nữ tu của Thần Vương, bà ta lúc nào cũng là người hết sức tàn nhẫn, bà ta luôn tìm cách bắt tôi phải giết anh. Giống như tôi đã giết những tên tù khác. Nhưng tôi không chịu. Bà ta thì có quyền gì? Bà ta dám coi thường các Thần Vô danh, dám chế nhạo họ, và tôi đã nguyền rủa bà ta. Nhưng cũng kể từ lúc đó tôi đâm ra sợ bà ta, vì Manan nói đúng, bà ta không tin vào các vị thần. Bà ta muốn họ bị quên lãng, và bà ta sẽ giết tôi trong lúc tôi đang ngủ. Vì vậy tôi không ngủ nữa. Tôi không quay lại Nhà Nhỏ. Suốt đêm qua tôi đã ở trong Đại sảnh, trốn trên gác xép, nơi cất quần áo dùng cho những điệu vũ. Trước khi trời sáng tôi xuống Nhà Lớn, lấy trộm một ít thức ăn trong nhà bếp, rồi quay lại Đại sảnh và ở đó cả ngày. Tôi cố nghĩ xem mình phải làm gì. Và đêm nay... đêm nay tôi mệt quá rồi, tôi nghĩ tôi có thể đến ngủ ở một nơi thật linh thiêng, nơi bà ta có lẽ sẽ sợ không dám đến. Vậy là tôi xuống Hầm mộ. Cái hang lớn nơi tôi đã gặp anh lần đầu tiên ấy. Và... bà ta đang ở đó. Hẳn bà ta đã đi qua cánh cửa bằng đá đỏ. Bà ta đang ở đó, đem theo một cây đèn. Sục sạo trong nấm mồ Manan đã đào, để xem trong đó có xác người thật không. Như một con chuột trong nghĩa địa vậy, một con chuột cống đen sì béo mập, đào bới. Và ánh sáng cháy rực ở nơi Thánh Địa, nơi tăm tối ngàn đời ấy. Và các Thần Vô danh chẳng làm gì cả. Họ không giết chết bà ta, cũng không làm cho bà ta hóa điên. Họ đã cổ xưa quá rồi, đúng như bà ta nói. Họ đã chết cả rồi. Họ không còn ở đây nữa. Tôi không còn là nữ tu nữa.”
Chàng trai đứng lắng nghe, vẫn nắm tay nàng, đầu hơi cúi xuống. Sức sống đã phần nào quay lại trên khuôn mặt và dáng vẻ của chàng, dù những vết sẹo trên má chàng vẫn xám xịt, và quần áo, tóc tai chàng vẫn bám đầy bụi.
“Tôi đi qua chỗ bà ta, đi qua Hầm mộ. Cây nến của bà ta tạo ra nhiều bóng tối hơn là ánh sáng, và bà ta không nghe thấy tiếng tôi. Tôi muốn đi vào Mê cung, để thoát khỏi bà ta. Nhưng khi vào Mê cung rồi tôi cứ tưởng như mình nghe thấy tiếng bà ta đang bám theo. Và tôi không biết phải đi đâu nữa. Tôi nghĩ đến đây thì tôi sẽ được an toàn, tôi tưởng các Chủ nhân của tôi sẽ bảo vệ, che chở tôi. Nhưng không, họ đã không còn ở đây nữa, họ đã chết rồi...”
“Cô khóc vì chúng sao... vì cái chết của chúng sao? Nhưng chúng đang ở đây, Tenar, ở đây!”
“Sao anh biết?” Nàng bơ phờ hỏi.
“Vì từ khi đặt chân vào cái hang dưới Bia mộ, mỗi giây mỗi phút tôi đều phải cố gắng hết sức để giữ cho chúng ngủ yên, để chúng không biết đến sự có mặt của tôi. Mọi quyền phép của tôi dồn cả vào việc đó, nó đã khiến tôi kiệt sức. Tôi đã phủ kín các đường hầm này bằng một mạng lưới bùa phép vô tận, bùa phép ru ngủ, bùa phép giữ yên lặng, bùa phép che giấu, nhưng chúng vẫn biết tôi đang ở đây, chỉ hơi biết thôi; như một người nửa thức nửa ngủ vậy. Và chỉ thế thôi cũng đã đủ làm cho tôi mệt lử vì cứ phải cố gắng chống lại chúng. Đây là một nơi hết sức khủng khiếp. Kẻ đơn thương độc mã thì sẽ chẳng có hy vọng gì sống sót nổi ở nơi này. Khi cô đưa cho tôi bình nước ấy thì tôi đang khát đến chết đi được, nhưng nước không phải thứ duy nhất cứu sống tôi. Mà chính là sức mạnh trong đôi tay đã trao nó cho tôi.” Nói đoạn, chàng lật ngửa lòng bàn tay nàng lên trong tay mình, nhìn ngắm hồi lâu; rồi chàng quay đi, bước vài bước quanh phòng, rồi dừng lại trước mặt nàng. Nàng không nói gì.
“Cô thật sự nghĩ rằng chúng đã chết ư? Trong thâm tâm cô biết rõ hơn thế nhiều. Chúng không bao giờ chết. Chúng là những quyền năng hắc ám, bất tử, và chúng căm ghét ánh sáng: thứ ánh sáng ngắn ngủi mà rực rỡ của con người. Chúng bất tử, nhưng chúng không phải là thần. Chúng không bao giờ là thần. Chúng không đáng để cho bất cứ người trần nào thờ phụng cả.”
Nàng lắng nghe, mắt trĩu xuống, ánh mắt dán vào ngọn đèn rung rinh.
“Chúng đã cho cô cái gì, Tenar?”
“Không gì cả,” nàng thì thầm.
“Chúng chẳng có gì để cho hết. Chúng không có quyền năng để tạo ra vật gì cả. Tất cả quyền năng của chúng chỉ là để phá hoại và hủy diệt. Chúng không thể rời khỏi nơi này; chúng chính là nơi này, và lẽ ra cứ để mặc nơi này cho chúng. Không nên chối bỏ hay quên lãng chúng, nhưng cũng không nên thờ phụng chúng. Thế gian này hết sức tươi đẹp, sáng sủa và thân ái, nhưng không chỉ có vậy. Thế gian này còn vô cùng đáng sợ, tăm tối, độc ác. Những con thỏ gào thét trong cơn hấp hối trên những thảo nguyên xanh tươi. Những dãy núi giấu kín trong lòng ngọn lửa nóng rực. Biển cả đầy cá mập, còn trong mắt con người tràn ngập sự bạo tàn. Và ở nơi nào con người thờ phụng những quyền năng này, hạ mình trước những quyền năng này thì nơi đó mọi sự xấu xa sẽ nảy sinh; đó là những nơi được tạo nên trên đời này chỉ để cho bóng tối tụ về, những nơi hoàn toàn thuộc về những Quyền năng mà chúng ta gọi là Vô danh, thứ Quyền năng cổ xưa và linh thiêng của Trái đất, Quyền năng đã có mặt trên đời trước cả Ánh sáng, quyền năng của bóng tối, của cảnh điêu tàn, của sự điên loạn... Tôi nghĩ chúng đã khiến vị nữ tu Kossil của cô hóa điên từ lâu rồi; tôi nghĩ bà ta đã lang thang vơ vẩn trong những cái hang này như bà ta đã lang thang trong mê cung của chính lòng mình, và giờ bà ta không thể nhìn thấy ánh sáng được nữa. Bà ta nói với cô rằng các Thần Vô danh đã chết; chỉ một linh hồn sa đọa, một linh hồn không thấy nổi sự thật, mới có thể tin vào điều đó. Chúng vẫn tồn tại. Nhưng chúng không phải Chủ nhân của cô. Chúng chưa bao giờ là Chủ nhân của cô. Cô tự do, Tenar à. Cô được dạy để làm một nô lệ, nhưng cô đã thoát ra được.”
Nàng lắng nghe, nhưng nét mặt không hề thay đổi. Chàng không nói gì nữa. Cả hai cùng im lặng nhưng đó không giống như cái im lặng bao trùm lên căn phòng trước khi nàng bước vào. Giờ trong phòng vang lên tiếng thở của họ, vang lên âm thanh của sức sống trào dâng trong huyết quản họ, và tiếng ngọn nến nổ lách tách trong cây đèn, một âm thanh nhỏ xíu nhưng đầy sinh khí.
“Sao anh biết tên tôi?”
Chàng đi đi lại lại trong phòng, khuấy động lớp bụi mịn, vươn vai và duỗi hai tay ra hòng rũ bỏ cái lạnh cứng người.
“Biết được những cái tên là nhiệm vụ của tôi. Quyền phép của tôi. Cô thấy đấy, để phù phép được cho một vật, ta phải biết tên thật của nó. Ở quê hương tôi, chúng tôi phải giữ kín tên thật của mình đến hết đời, chỉ cho những người mình hoàn toàn tin tưởng biết; vì một cái tên chứa đựng trong nó những quyền lực lớn lao, và cả những hiểm nguy khó lường nữa. Trước kia, từ thuở hồng hoang, khi Segoy nâng quần đảo xứ Hải Địa lên khỏi biển khơi sâu thẳm, mọi vật đều có tên thật. Và mọi pháp thuật, mọi bùa chú, vẫn phụ thuộc vào việc biết được - việc học lại và nhớ lại - thứ ngôn ngữ Kiến tạo cổ xưa và chân chính ấy. Tất nhiên, ta cũng phải học các thần chú, cách sử dụng các từ ngữ; và phải biết việc đó sẽ đem lại hậu quả gì. Nhưng công việc các pháp sư cả đời theo đuổi, chính là tìm hiểu tên thật của mọi vật, và tìm được cách biết tên thật của mọi vật.”
“Làm cách nào anh biết được tên thật của tôi?”
Chàng nhìn nàng hồi lâu, cái nhìn sâu thẳm, chân thật xuyên qua những bóng đen chắn giữa họ chàng lưỡng lự một lúc. “Tôi không thể nói cho cô được. Cô giống như một ngọn đèn bị che kín, bị giấu ở một nơi tăm tối. Nhưng ánh sáng vẫn tỏa rạng; chúng không thể dập tắt ánh sáng ấy được. Chúng không thể che giấu cô được. Tôi biết ánh sáng, tôi biết cô, vì thế tôi biết tên cô, Tenar ạ. Đó là năng lực của tôi, pháp thuật của tôi. Tôi không thể cho cô biết gì hơn. Nhưng hãy cho tôi biết điều này: cô sẽ làm gì bây giờ?”
“Tôi không biết.”
“Giờ thì hẳn Kossil đã tìm thấy một nấm mồ trống rỗng rồi. Bà ta sẽ làm gì?”
“Tôi không biết. Nếu tôi quay lại, bà ta có thể ra lệnh giết tôi. Nữ tu Tối cao sẽ phải chết nếu nói dối. Nếu muốn bà ta có thể ra lệnh hiến tế tôi trên bậc thềm Ngai vàng. Và lần này Manan sẽ phải chặt đầu tôi thật chứ không chỉ giơ gươm lên để đợi Người Áo Đen đến ngăn lại. Nhưng lần này nó sẽ không dừng lại. Lưỡi gươm sẽ vung xuống và chặt đầu tôi.”
Giọng nàng đều đều, chậm rãi. Chàng nhíu mày. “Nếu chúng ta ở lại đây lâu,” chàng nói, “thì cô sẽ hóa điên mất, Tenar ạ. Cơn thịnh nộ của các Quyền năng Vô danh đã đè nặng tâm trí cô rồi. Và cả tâm trí tôi nữa. Giờ có cô ở đây, tôi đã thấy khá hơn, khá hơn rất nhiều. Nhưng cô đã bỏ đi quá lâu, và tôi gần cạn kiệt sức lực rồi. Không ai có thể một mình chống lại các Quyền năng Hắc ám trong một thời gian dài được. Chúng rất mạnh.” Chàng ngừng lại; giọng chàng chùng xuống, và có vẻ như chàng đã quên mất mình định nói gì. Chàng đưa tay lên vuốt trán, rồi lại nhấc bình nước lên uống. Chàng bẻ một miếng bánh mì và ngồi xuống chiếc rương đối diện để ăn.
Chàng nói đúng; quả thực nàng thấy có một sức ép đè nặng lên tâm trí mình, dường như nó khiến mọi ý nghĩ, mọi cảm giác của nàng trở nên u ám, rối loạn. Nhưng nàng không thấy sợ như nàng đã sợ khi một mình đi qua những dãy hành lang tăm tối. Chỉ có sự im lìm hoàn toàn bên ngoài căn phòng là đáng sợ. Tại sao lại vậy? Nàng chưa bao giờ thấy khiếp sợ sự im lặng bên dưới lòng đất cả. Nhưng nàng cũng chưa bao giờ dám trái lệnh các Thần Vô danh, chưa bao giờ dám chống lại họ.
Cuối cùng nàng cười run rẩy. “Chúng ta đang ngồi đây, trên kho báu vĩ đại nhất Vương quốc,” nàng nói. “Thần Vương sẵn sàng đánh đổi tất cả thê thiếp của mình để lấy một trong những chiếc rương này. Thế mà chúng ta còn chưa thèm mở nắp rương lên xem trong đó có gì.”
“Tôi đã xem rồi,” Chim Cắt vừa nhai miếng bánh vừa nói.
“Trong bóng tối ư?”
“Tôi đã tạo ra một ánh sáng nhỏ. Ánh sáng ma trơi. Làm điều đó ở đây là rất khó. Ngay cả khi có cây gậy pháp sư của mình thì tôi cũng không dễ thực hiện được việc đó, và khi không có cây gậy thì chẳng khác nào cố nhóm lửa dưới trời mưa bằng một đống củi ướt vậy. Nhưng rốt cuộc thì tôi cũng làm được. Và tôi đã tìm thấy vật tôi đến đây để tìm kiếm.”
Nàng chậm chạp ngẩng đầu nhìn chàng. “Chiếc vòng à?”
“Nửa chiếc vòng. Cô có nửa kia.”
“Tôi có ư? Nửa kia đã bị mất rồi mà...”
“Và đã được tìm thấy. Tôi đeo nó trên sợi dây chuyền. Cô đã lấy nó đi, và hỏi tôi không thể kiếm được mảnh bùa nào khá hơn sao. Miếng bùa duy nhất hiệu nghiệm hơn nửa Vòng tròn của Erreth-Akbe chính là chiếc vòng nguyên vẹn. Nhưng như người ta thường nói, méo mó có hơn không. Vậy là giờ thì cô có nửa miếng bùa của tôi, và tôi có nửa miếng bùa của cô.” Chàng mỉm cười với nàng xuyên qua bóng tối trong Lăng tẩm.
“Khi tôi lấy nó đi, anh đã nói tôi không biết phải làm gì với nó.”
“Đúng vậy.”
“Còn anh thì biết sao?”
Chàng gật đầu.
“Hãy cho tôi biết. Cho tôi biết chiếc vòng này là cái gì, làm sao anh lại có được nửa cái vòng đã bị mất, anh đến đây bằng cách nào, và vì sao. Tôi phải biết được tất cả những điều này, rồi sau đó có lẽ tôi sẽ biết mình phải làm gì.”
“Có lẽ cô sẽ biết đấy. Được thôi. Vòng tròn của Erreth-Akbe là gì ư? Vậy đấy, cô có thể thấy nó không có vẻ gì là quý giá, thậm chí cũng không phải là một chiếc nhẫn. Nó quá to. Có lẽ nó là một chiếc vòng đeo tay, nhưng nếu thế thì nó lại quá nhỏ. Không ai biết nó được tạo ra cho ai. Elfarran Xinh đẹp từng đeo nó, trước khi đảo Soléa chìm xuống đáy biển; và ngay cả khi đó thì nó cũng đã rất cổ rồi. Và cuối cùng nó rơi vào tay Erreth-Akbe... Nó được làm bằng bạc cứng và được đục chín cái lỗ. Có một nét chạm hình vân sóng khắc ở phía ngoài, và bên trong có chín Cổ tự Pháp thuật. Nửa vòng của cô có bốn cổ tự và một phần cổ tự thứ năm; nửa của tôi cũng vậy. Vết gãy đã chia một trong số chín ký cổ tự ra làm đôi, và phá hủy nó. Kể từ đó trở đi, nó được gọi là Cổ tự Thất lạc. Tám cổ tự kia đều được các Pháp sư biết rõ: Pirr, giúp ta tránh được sự điên loạn, gió bão và hỏa hoạn, Ges đem lại tính nhẫn nại, vân vân. Nhưng cổ tự bị vỡ là cổ tự có thể nối liền mọi vùng đất. Nó là Cổ tự Liên kết, dấu hiệu của quyền lực, dấu hiệu của hòa bình. Không vị vua nào có thể cai trị một cách khôn ngoan nếu ông ta không được dấu hiệu đó chỉ dẫn. Không ai biết nó được viết như thế nào. Kể từ khi nó bị mất, ở Havnor không còn vị quốc vương vĩ đại nào nữa. Trên xứ Hải Địa giờ chỉ có các ông hoàng và những tên bạo chúa, chiến tranh và tranh chấp.
“Vì vậy các lãnh chúa sáng suốt và các Pháp sư vùng Quần đảo rất muốn có được Vòng tròn của Erreth-Akbe, để họ có thể khôi phục cổ tự thất lạc ấy. Nhưng rốt cuộc thì họ đành thôi không cử người đi tìm kiếm nó nữa, vì không ai có thể lấy được một nửa chiếc vòng từ Lăng tẩm xứ Atuan, còn nửa kia, nửa Erreth-Akbe đã giao cho một vị vua xứ Kargad, thì đã bị thất lạc từ lâu lắm rồi. Họ nói có tìm kiếm nữa thì cũng chỉ vô ích. Đó là chuyện hàng trăm năm trước rồi.
“Còn tôi thì đã tìm thấy nó như thế này. Cách đây ít lâu, khi tôi lớn hơn cô bây giờ một chút, tôi phải tiến hành một... cuộc săn đuổi, một hành trình kiếm tìm ngang qua biển cả. Thứ mà tôi săn đuổi đã đánh lừa tôi, khiến tôi bị dạt vào một đảo hoang, cách bờ biển Karego-At và Atuan không xa lắm, ở phía Tây Nam xứ này. Đó là hòn đảo nhỏ, gần như chỉ là một dải cát, ở giữa có những đụn cát dài xanh cỏ, một dòng suối nước mặn, và không còn gì khác.
“Có hai người sống ở đó. Một ông già và một bà già; tôi đoán là hai anh em. Họ rất sợ tôi. Họ chưa từng thấy một người nào khác từ... từ bao lâu chứ? Hàng năm trời, hàng chục năm trời. Nhưng tôi cần được giúp đỡ, và họ đã đối xử với tôi rất tử tế. Họ có một túp lều bằng củi rề, và một bếp lửa. Bà già đã mang cho tôi thức ăn, những con trai bà nhặt được trên đá lúc thủy triều xuống, thịt chim khô họ săn được bằng cách ném đá. Bà sợ tôi, nhưng bà vẫn cho tôi thức ăn. Rồi khi tôi không làm điều gì khiến bà sợ hãi nữa, thì bà dần tin tưởng tôi, cho tôi xem kho báu của mình. Phải, bà già ấy cũng có kho báu... Đó là một chiếc váy nhỏ. Toàn bằng lụa, đính ngọc trai. Váy của một cô bé, một cô công chúa. Trong khi ấy thì bà cụ chỉ khoác da hải cẩu thô.
“Chúng tôi không thể nói chuyện với nhau. Khi ấy tôi chưa biết tiếng Kargad, còn họ thì không biết tiếng nói vùng Quần đảo, và thậm chí còn không biết hết ngôn ngữ xứ mình. Hẳn họ đã bị đem đến đó khi còn nhỏ, rồi bị bỏ mặc lại cho chết dần chết mòn ở đó. Tôi không biết tại sao, và cũng không nghĩ là họ biết. Họ không biết gì ngoài hòn đảo, gió và biển cả ở đó. Nhưng khi tôi rời đi bà cụ đã cho tôi một món quà. Bà cho tôi nửa bị mất của Vòng tròn Erreth-Akbe.”
Chàng ngừng lại một chút.
“Cũng giống như bà cụ ấy, tôi không biết nó là cái gì. Đó là báu vật quý giá nhất trên đời này, vậy mà nó lại được một bà cụ ngớ ngẩn khốn khổ khoác tấm da hải cẩu trao cho một tên ngốc chỉ biết nhét nó vào túi và nói ‘Cảm ơn!’ rồi giong buồm đi thẳng... Vậy đấy, vậy là tôi đi tiếp, hoàn thành sứ mệnh của mình. Rồi có nhiều chuyện khác xảy ra, tôi phải đến Hang Rồng ở phía Tây, và nhiều nơi khác nữa. Nhưng tôi luôn giữ vật đó bên mình, vì tôi cảm thấy biết ơn bà già ấy, người đã tặng tôi món quà duy nhất bà có thể trao tặng. Tôi xỏ một sợi dây chuyền qua một trong những cái lỗ đục trên đó, đeo nó trên cổ, và chẳng bao giờ bận tâm đến nó. Rồi một ngày kia ở Selidor, Đảo Tận cùng, nơi Erreth-Akbe đã bỏ mạng trong trận chiến với con rồng Orm - ở Selidor tôi đã nói chuyện với một con rồng, thuộc dòng dõi của Orm. Nó đã cho tôi biết tôi đang đeo vật gì trên ngực.
“Nó thấy thật tức cười khi tôi không biết đó là cái gì. Loài rồng luôn nghĩ chúng ta là những sinh vật tức cười. Nhưng chúng vẫn nhớ Erreth-Akbe; chúng nhắc đến người như thể người là một con rồng chứ không phải người trần.
“Khi quay lại Đảo Nội địa, cuối cùng tôi tới Havnor. Tôi sinh ra ở Gont, nằm cách xứ Kargad không xa lắm về phía Tây, và tôi đã lang bạt rất nhiều nơi, nhưng chưa bao giờ đến Havnor. Giờ thì đã đến lúc tới đó. Tôi đã được nhìn thấy những tòa tháp trắng, trò chuyện với những người cao quý, các thương gia, các ông hoàng và lãnh chúa của những vương quốc cổ. Tôi cho họ biết tôi có vật gì. Tôi nói nếu họ muốn, tôi sẽ đi tìm nửa vòng tròn còn lại trong Lăng tẩm xứ Atuan, để tìm lại Cổ tự Thất lạc, chìa khóa dẫn đến hòa bình. Bởi vì chúng ta rất cần có hòa bình. Họ nhiệt liệt tán thành; một người còn cho tôi tiền đi đường. Vậy là tôi học ngôn ngữ của cô, và lên đường đến Atuan.”
Chàng ngừng lại, mắt nhìn trân trân vào bóng tối trước mặt.
“Nhưng chẳng lẽ dựa vào màu da và giọng nói của anh, dân chúng trong các thành bang của chúng tôi vẫn không biết anh là người miền Tây sao?”
“Ồ, đánh lừa họ cũng dễ thôi,” chàng lơ đãng đáp lại, “nếu biết cách. Cô chỉ việc dùng chút ảo giác, rồi thì sẽ không ai nhận ra được, ngoại trừ một Pháp sư khác. Và ở trên xứ Kargad này thì lại không có phù thủy hay Pháp sư. Kể cũng lạ. Thời xưa, người Kargad các cô trục xuất mọi pháp sư của mình, cấm thực hành Pháp thuật; và giờ thì các cô hầu như không còn tin vào pháp thuật nữa.”
“Người ta đã dạy tôi không được tin vào bùa phép. Tin vào pháp thuật là trái với giáo huấn của Thần Vương. Nhưng tôi biết chỉ có thể nhờ pháp thuật thì anh mới đến được Lăng tẩm và lọt qua cánh cửa đá đỏ.”
“Không chỉ pháp thuật đâu, còn có những lời khuyên đúng đắn nữa. Tôi nghĩ chúng tôi dùng chữ viết nhiều hơn dân xứ cô. Cô biết đọc không?”
“Không. Đó là một trong những ma thuật.”
Chàng gật đầu. “Nhưng là thứ có ích,” chàng nói. “Thời xưa một tên trộm thất bại đã để lại cho đời sau một số miêu tả về Lăng tẩm xứ Atuan, và hướng dẫn cả cách đột nhập, nếu kẻ đột nhập biết cách thực hiện một trong những Đại Thần chú Khai mở. Tất cả những điều này được chép lại trong một cuốn sách thuộc kho báu của một ông hoàng Havnor. Ông ta đã cho tôi đọc nó. Vậy là tôi đã vào được đến tận cái hang lớn...”
“Hầm mộ.”
“Tên trộm, kẻ đã viết về cách vào hang, nghĩ rằng kho báu nằm ở đó, trong Hầm mộ. Vì thế tôi đã tìm kiếm ở đó, nhưng tôi đoán nó phải được giấu kỹ hơn, sâu hơn trong Mê cung. Tôi biết đường vào Mê cung, và khi nhìn thấy cô, tôi liền chạy vào đó, định trốn trong mê cung và tìm kiếm ở đó. Tất nhiên, đó là một sai lầm. Các Quyền năng Vô danh đã nắm được tôi, làm đầu óc tôi hoang mang. Và kể từ lúc đó trở đi tôi càng trở nên yếu ớt, mụ mẫm hơn. Ta không được quy phục chúng, phải luôn kháng cự, luôn giữ tinh thần mạnh mẽ, vững vàng. Tôi đã học được điều đó từ lâu rồi. Nhưng thật khó thực hiện được điều đó ở đây, nơi chúng quá mạnh. Chúng không phải là thần, Tenar ạ. Nhưng chúng mạnh hơn bất kỳ người trần nào.”
Cả hai cùng im lặng hồi lâu.
“Anh còn tìm thấy gì trong những cái rương châu báu này?” Nàng đờ đẫn hỏi.
“Đồ vớ vẩn. Vàng bạc, châu báu, vương miện, gươm giáo. Chẳng có gì thuộc về con người thời nay cả... Hãy cho tôi biết một điều, Tenar. Làm sao cô được chọn làm Nữ tu của Lăng tẩm?”
“Khi Đại Nữ tu qua đời người ta sẽ đi khắp xứ Atuan để tìm kiếm một bé gái chào đời đúng đêm Đại Nữ tu từ trần. Và bao giờ họ cũng tìm thấy đứa bé ấy. Vì đó chính là Nữ tu đầu thai. Khi đứa bé lên năm, họ sẽ đem nó đến Thành này. Còn khi lên sáu, nó sẽ được dâng lên các Thần Bóng tối, để họ ăn linh hồn nó. Và vậy là nó sẽ thuộc về họ, cũng như đã luôn thuộc về họ ngay từ thuở ban đầu. Và nó không có tên.”
“Cô có tin vào những chuyện đó không?”
“Tôi đã luôn tin.”
“Giờ cô có còn tin không?”
Nàng không nói gì.
Một lần nữa bóng tối im lìm lại bao trùm hai người. Mãi một lúc lâu sau nàng mới cất tiếng, “Hãy cho tôi biết... kể cho tôi nghe về những con rồng ở miền Tây đi.”
“Tenar, cô định làm gì? Chúng ta không thể cứ ngồi đây kể chuyện cho nhau nghe cho đến khi nến tắt và bóng tối lại kéo đến.”
“Tôi không biết phải làm gì. Tôi sợ lắm.” Nàng vươn thẳng người trên chiếc rương, hai tay siết chặt vào nhau, và nói thật to, như người đang bị đau. Nàng nói, “Tôi sợ bóng tối.”
Chàng nhẹ nhàng đáp lại, “Cô phải lựa chọn thôi. Hoặc cô để tôi lại đây, khóa cửa, tới bàn thờ của mình và dâng tôi cho các Chủ nhân của cô; rồi đến tìm Nữ tu Kossil và làm lành với bà ta - và mọi chuyện sẽ kết thúc ở đó - hoặc cô phải mở cánh cửa này, bước ra khỏi đây, cùng với tôi. Hãy rời bỏ Lăng tẩm, rời bỏ Atuan, và vượt biển cùng tôi. Và mọi chuyện sẽ bắt đầu ở đó. Cô phải là Arha hoặc Tenar. Cô không thể là hai người cùng một lúc được.”
Giọng nói trầm trầm của chàng vang lên dịu dàng, quả quyết. Nàng đưa mắt xuyên qua bóng tối nhìn vào mặt chàng, khuôn mặt khắc khổ đầy sẹo nhưng không chút tàn bạo, không chút dối lừa.
“Nếu tôi rời bỏ các Thần Bóng tối, họ sẽ giết tôi. Nếu rời khỏi nơi này, tôi sẽ chết.”
“Cô sẽ không chết. Chỉ có Arha chết thôi.”
“Tôi không thể...”
“Để được đầu thai thì người ta phải chết đi, Tenar ạ. Nếu nhìn từ hướng khác thì chuyện không đáng sợ đến thế đâu.”
“Họ sẽ không để chúng ta thoát đâu. Không bao giờ.”
“Có thể. Nhưng vẫn đáng để thử chứ. Cô có kiến thức, tôi có pháp thuật, và hai chúng ta thì có...” Chàng ngừng lại.
“Chúng ta có Vòng tròn Erreth-Akbe.”
“Phải, cái đó. Nhưng tôi còn muốn nói đến một điều khác giữa hai chúng ta. Hãy gọi nó là lòng tin... Đó là một trong những cái tên của nó. Đó là một điều hết sức vĩ đại. Dù nếu chỉ có một mình, mỗi người chúng ta đều rất yếu ớt, nhưng khi có lòng tin chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ, mạnh mẽ hơn cả Quyền năng của Bóng tối.” Mắt chàng sáng rực trên khuôn mặt đầy sẹo. “Hãy nghe tôi, Tenar!” chàng nói. “Khi đến đây tôi là một tên trộm, một kẻ địch, để cướp đoạt của cô; và cô đã đối xử với tôi hết sức nhân từ, đã tin tưởng tôi. Còn tôi, tôi đã tin cô ngay từ lần đầu tiên nhìn thấy gương mặt cô, trong phút giây ngắn ngủi trong cái hang dưới Bia mộ, một gương mặt xinh đẹp hiện ra trong bóng tối. Cô đã chứng tỏ lòng tin của cô dành cho tôi. Nhưng tôi chưa làm gì để đáp lại. Giờ tôi sẽ trao cho cô thứ tôi phải trao. Tên thật của tôi là Ged. Và cô có thể giữ cái tên ấy.” Chàng đứng lên, chìa cho nàng một nửa vòng tròn bạc có đục lỗ và chạm khắc. “Hãy để vòng tròn được nối liền,” chàng nói.
Nàng đón lấy nửa vòng tròn trong tay chàng. Nàng tháo sợi dây chuyền bạc đang đeo trên cổ có nửa vòng tròn còn lại, gỡ nó ra khỏi sợi dây. Nàng đặt hai nửa vòng tròn trong lòng bàn tay của mình, để những vết gãy khít vào nhau, và chiếc vòng trông như hoàn toàn nguyên vẹn.
Nàng không ngẩng mặt lên.
“Tôi sẽ đi cùng anh,” nàng nói.