Xứ Hải Địa 3, Bến Bờ Xa Nhất

Lượt đọc: 245 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CÂY THANH LƯƠNG TRÀ

TRONG KHOẢNG SÂN CÓ ĐÀI PHUN NƯỚC, vầng mặt trời tháng Ba tỏa nắng qua những tán lá non của đám cây du và cây tần bì, trong khi những giọt nước nhảy nhót chảy róc rách qua bóng râm cùng với ánh sáng trong vắt. Bao quanh mảnh sân không có mái che đó là bốn bức tường đá cao vút. Đằng sau những bức tường ấy là các gian phòng và mảnh sân khác, các lối đi, hành lang, những tòa tháp, và sau rốt, nằm ngoài cùng, là bức tường thành dày dặn bao bọc toàn bộ khu Nhà Chính của Roke, bức thành có thể chống chọi lại mọi cuộc tấn công dù là của chiến tranh hay động đất hay thậm chí là cả biển khơi, vì nó không chỉ xây bằng đá mà còn được dựng lên bởi pháp thuật vô song. Bởi đảo Roke là Hòn Đảo Thông Thái, nơi các môn phái Chân Pháp Thuật được truyền dạy; tòa Nhà Chính là ngôi trường, cũng là trung tâm của mọi quyền năng; và trung tâm của Nhà Chính lại là mảnh sân nhỏ nằm sâu giữa những bức tường này, giữa những bức tường này, nơi đài phun nước róc rách chảy và những thân cây vươn lên dưới màn mưa, dưới mặt trời, hay dưới ánh sao.

Cái cây đứng gần đài phun nước nhất, một cây thanh lương trà lớn, có bộ rễ khỏe khoắn đội cả lớp đá hoa cương lát sân lên, khiến cho nó nứt rạn. Rêu xanh đã lan ra từ vạt cỏ viền quanh bể nước, len lỏi mọc lên giữa những kẽ nứt. Một cậu thiếu niên đang ngồi ở đó, trên gò đá hoa cương thấp phủ rêu, đưa mắt nhìn theo tia nước phun lên rồi rơi xuống ở giữa vòi nước. Cậu đã gần là chàng trai trưởng thành, nhưng vẫn còn là một chú bé; người mảnh khảnh, ăn vận sang trọng. Gương mặt đẹp đẽ của cậu im lìm đến nỗi nom như được tạc bằng đồng.

Đằng sau lưng cậu, cách một quãng khoảng mười lăm bước chân, dưới bóng cây ở đầu bên kia bãi cỏ nhỏ nằm giữa sân, một người đàn ông đang đứng, hay có vẻ là đang đứng đó. Trong cảnh tranh tối tranh sáng giữa bóng râm và ánh nắng ấm áp ấy thì khó mà biết chắc được. Chắc hẳn ông đang ở đó, một người đàn ông mặc đồ trắng, đứng im lìm bất động. Trong khi cậu thiếu niên ngắm nhìn đài phun nước thì người đàn ông ngắm nhìn cậu. Không có một âm thanh hay cử động nào ngoài tiếng vòm lá xào xạc, vòi phun nước róc rách, và bài ca không ngừng nghỉ của chúng.

Người đàn ông bước tới trước. Một làn gió nhẹ thổi qua cây thanh lương trà, làm những chiếc lá non trên cây xao động. Cậu thiếu niên giật mình đứng bật dậy, cử động nhanh nhẹn và uyển chuyển. Cậu đối mặt với người đàn ông và cúi đầu chào. “Xin chào Tổng Pháp Sư,” cậu nói.

Người đàn ông dừng lại trước mặt cậu, dáng người thấp bé nhưng đầy sinh lực, đứng vươn thẳng trong chiếc áo choàng bằng len trắng có mũ trùm. Bên trên nếp gấp của chiếc mũ trùm đã kéo xuống, da mặt ông có màu nâu đỏ, mũi khoằm, một bên má phủ đầy những vết sẹo cũ. Mắt ông sáng quắc, dữ dằn. Nhưng giọng ông lại hết sức nhẹ nhàng. “Sân Đài Phun Nước là một nơi ngồi chơi rất dễ chịu,” ông nói, và để ngăn trước câu xin lỗi của cậu thiếu niên, “Con đã đi một quãng đường dài mà chưa được nghỉ. Ngồi xuống đi.”

Ông quỳ xuống bên miệng bể nước bằng đá trắng và đưa tay ra hứng những giọt nước lấp lánh rơi xuống từ chiếc vòi phun trên cao, để cho nước tràn qua những ngón tay mình. Cậu thiếu niên lại ngồi xuống trên những phiến đá có rễ cây đội lên, và trong một phút, không ai nói câu gì.

“Con là con trai của Hoàng Thân xứ Enlad và quần đảo Enlades,” Tổng Pháp Sư nói, “là người nối dõi ngai vàng ở Công Quốc của Morred. Trên toàn xứ Hải Địa này không có di sản nào cổ kính, hay quý báu bằng. Ta đã được thấy những vườn cây ăn quả xứ Enlad vào mùa xuân, và những mái vòm dát vàng của thành Berila... Con tên gọi là gì?”

“Tên con là Arren ạ.”

“Đó là một từ theo phương ngữ ở xứ sở của con. Trong tiếng nói thông thường của chúng ta đây thì nó có nghĩa là gì?”

Cậu thiếu niên đáp, “Là Thanh Gươm ạ.”

Tổng Pháp Sư gật đầu. Họ lại im lặng trong chốc lát, rồi cậu thiếu niên nói, không có vẻ mạnh bạo, nhưng cũng không hề tỏ ra rụt rè, “Con cứ ngỡ là Tổng Pháp Sư phải biết hết mọi ngôn ngữ chứ.”

Người đàn ông chỉ lắc đầu, mắt vẫn ngắm nhìn đài phun nước.

“Và mọi cái tên nữa...”

“Mọi cái tên ấy ư? Chỉ có Segoy, người đã thốt ra Từ Ngữ Đầu Tiên, để nâng các hòn đảo từ dưới đáy biển thẳm lên, mới biết hết mọi cái tên mà thôi. Quả thực,” cặp mắt rực sáng nghiêm nghị của ông nhìn thẳng vào Arren, “nếu ta cần biết tên thật của con thì ta có thể tìm ra được. Nhưng điều đó là không cần thiết. Ta sẽ gọi con là Arren; còn ta là Chim Cắt. Cho ta biết, cuộc hành trình đến đây của con ra sao?”

“Rất dài ạ.”

“Gió thổi không thuận chiều ư?”

“Gió thì thuận chiều, nhưng tin tức mà con đem đến thì không tốt lành chút nào, thưa ngài Chim Cắt.”

“Hãy cho ta biết tin tức đó đi,” Tổng Pháp Sư nghiêm trang nói, nhưng giọng điệu của ông tựa như một người lớn nhượng bộ trước sự nôn nóng của con trẻ; và trong khi Arren nói thì ông lại ngắm nhìn làn nước trong vắt như pha lê chảy từ bể nước trên xuống bể nước dưới, không phải ông không lắng nghe, mà dường như còn lắng nghe nhiều hơn những gì cậu thiếu niên nói.

“Thưa pháp sư, hẳn ngài đã biết phụ hoàng con là một pháp sư, thuộc dòng dõi Morred, và khi còn trẻ đã từng theo học một năm trên đảo Roke. Phụ hoàng có chút kiến thức và quyền phép, nhưng rất ít khi sử dụng pháp thuật, vì người chỉ chú tâm đến việc trị vì và cai quản lãnh địa, các thành bang và việc thông thương. Đoàn thuyền ở đảo của chúng con thường giương buồm về phía Tây, thậm chí tiến vào cả vùng Tây Hải, bán ngọc bích, da bò, đồ thiếc. Đầu mùa đông năm nay, một vị thuyền trưởng quay trở lại thành đô Berila của chúng con, đem theo một câu chuyện. Câu chuyện này đã lọt đến tai phụ hoàng, thế là người liền cho gọi viên thuyền trưởng đó đến rồi ra lệnh cho ông ta kể lại câu chuyện này.” Cậu thiếu niên nói rất trôi chảy, đầy tự tin. Cậu đã được dạy dỗ bởi những người lịch thiệp và phong nhã, nên không có dáng điệu lúng túng thường thấy ở các thiếu niên cùng độ tuổi.

“Viên thuyền trưởng kể lại rằng trên đảo Narveduen, nằm cách đảo chúng con khoảng năm trăm dặm về phía Tây theo đường tàu biển, không còn pháp thuật gì nữa. Ông ta kể rằng ở đó các bùa phép không còn hiệu nghiệm, và những lời thần chú đã bị quên lãng. Phụ hoàng con hỏi có phải tất cả các phù thủy và pháp sư đã rời khỏi hòn đảo đó không thì ông ta đáp, Không: trên đảo có những người đã từng là phù thủy, nhưng họ không còn làm phép nữa, dù chỉ là một lá bùa để chữa cái ấm bị hỏng hay để tìm một cái kim bị mất. Và phụ hoàng con lại hỏi, Người dân trên đảo Narveduen có hoảng loạn lắm không? Viên thuyền trưởng liền đáp, Không, họ chẳng hề bận tâm chút nào. Ông ta còn nói thêm rằng quả thực có vài người bị đau ốm, vụ thu hoạch mùa thu của họ rất kém, vậy mà họ vẫn không tỏ ra lo lắng. Ông ta nói - con cũng có mặt ở đó, khi ông ta thưa chuyện với phụ hoàng - ông ta nói, ‘Họ như những người lâm bệnh thập tử nhất sinh vậy, như một người đã được báo rằng anh ta chỉ còn sống được một năm nữa, và vẫn tự nhủ rằng không phải như vậy, rằng anh ta sẽ sống mãi mãi. Họ sống mà chẳng để mắt gì đến thế gian quanh mình,’ ông ta đã kể lại như vậy. Khi các thương nhân khác quay trở về, họ cũng nói rằng Narveduen đã biến thành một hòn đảo nghèo nàn và đã đánh mất mọi pháp thuật. Nhưng tất cả những điều đó đơn thuần là chuyện đồn đại kỳ dị của vùng Tứ Hải, mà chỉ có phụ hoàng của con là bận tâm đến chúng mà thôi.

“Thế rồi vào dịp Năm Mới, trong Lễ Miên Dương mà người dân đảo Enlad tổ chức, khi vợ những người chăn cừu đem những con cừu non đầu lòng vào thành bang, phụ hoàng con liền cử pháp sư Root thần chú giúp đàn cừu thêm đông đúc. Nhưng pháp sư Root quay về cung điện đầy sợ hãi, đặt cây quyền trượng của mình xuống mà rằng, ‘Tâu bệ hạ, thần không tài nào đọc được những câu thần chú đó.’ Phụ hoàng tra hỏi ông ta, nhưng ông ta chỉ biết đáp lại, ‘Thần đã quên mất lời chú và cách tạo phép rồi.′ Vậy là phụ hoàng liền thân chinh đi vào khu chợ và tự mình đọc lời thần chú, hoàn thành lễ hội. Nhưng tối hôm đó con thấy người trở về cung điện đầy lo âu và mệt mỏi, và người nói với con rằng, ‘Cha đã đọc thần chú, nhưng cha không biết chúng có nghĩa gì không.’ Và quả thực bầy cừu mùa xuân này có gì đó không bình thường, cừu cái chết trong lúc sinh nở, rất nhiều cừu non chết ngay khi mới ra đời, còn những con khác thì lại... dị dạng.” Giọng nói thoải mái, hăm hở của cậu thiếu niên chùng xuống; cậu nhăn mặt khi thốt ra từ cuối cùng đó và cậu khó khăn nuốt nước bọt. “Con đã nhìn thấy mấy con cừu ấy,” cậu nói. Cậu ngừng lại hồi lâu.

“Phụ hoàng con tin rằng việc này, cùng với những câu chuyện được truyền tới từ đảo Narveduen, chứng tỏ rằng trên phần đảo của chúng con đang có điều gì hắc ám. Người muốn được các pháp sư Thông Thái chỉ bảo.”

“Việc ông ấy cử con đến đây chứng tỏ mong muốn đó là hết sức cấp bách,” vị Tổng Pháp Sư nói. “Con là con trai duy nhất của ông ấy, và cuộc hành trình từ Enlad đến Roke lại không lấy gì làm dễ dàng. Con còn điều gì khác để kể không?”

“Chỉ có những chuyện đồn đại của các bà lão trên núi thôi ạ.”

“Các cụ bà đã nói gì?”

“Rằng các bà phù thủy đã bói thấy toàn là điềm gở trong những đám khói và vũng nước, và bùa mê thuốc lú của họ đều bị hỏng cả. Nhưng những người ấy thì làm gì có pháp thuật thực sự.”

“Xem bói và nấu bùa mê thuốc lú thì quả là không đáng kể, nhưng lắng nghe câu chuyện của các bà lão đôi khi cũng có ích đấy. Các tin tức của con sẽ được các Pháp Sư đảo Roke bàn bạc kỹ càng. Nhưng Arren ạ, ta không biết họ có thể chỉ bảo gì cho phụ hoàng của con được. Bởi vì Enlad không phải là vùng đất đầu tiên có những tin tức như vậy.”

Hành trình của Arren từ miền Bắc xuống ngang qua hòn đảo lớn Havnor, xuyên biển Nội Địa để đến đảo Roke, là chuyến đi biển đầu tiên của cậu. Chỉ trong mấy tuần vừa qua, cậu mới được thấy các miền đất không phải là quê hương mình, nhận biết được khoảng cách xa xôi và những khác biệt, cũng như phát hiện ra một thế giới bao la với vô số dân tộc, nằm bên ngoài những ngọn đồi tươi đẹp của đảo Enlad. Cậu vẫn chưa quen với cách nghĩ rộng lớn như vậy, và phải mất một lúc cậu mới hiểu được lời của Tổng Pháp Sư. “Còn ở đâu nữa ạ?” cậu liền hỏi, với một thoáng sợ hãi. Bởi vì cậu đã hy vọng sẽ nhanh chóng đem được một lời giải đáp về cho đảo Enlad.

“Trước hết là ở vùng Nam Hải. Mới đây thì là ở cả phía Nam vùng Quần Đảo, Wathort. Họ nói rằng ở Wathort không còn pháp thuật gì nữa. Khó mà biết chắc được. Vùng đất đó từ lâu đã khét tiếng là hay nổi loạn và nhiều cướp biển, và người ta thường truyền tai nhau rằng bất kỳ câu nào thốt ra từ miệng một lái buôn miền Nam cũng là một lời nói dối. Thế nhưng câu chuyện luôn hệt như vậy: Dòng suối pháp thuật đã cạn kiệt rồi.”

“Nhưng ở trên đảo Roke này...”

“Trên đảo Roke này chúng ta không cảm thấy chút khác biệt nào cả. Ở đây chúng ta được bảo vệ khỏi mọi bão tố, đổi thay và mọi điều xấu xa. Có lẽ được bảo vệ quá kỹ càng là đằng khác. Hoàng tử, giờ con sẽ làm gì?”

“Khi nào có được một câu trả lời rõ ràng về sự thực của những tai họa này cùng với một phương cách cứu chữa để đem về cho phụ hoàng, thì con sẽ quay trở lại Enlad.”

Một lần nữa Tổng Pháp Sư lại nhìn thẳng vào cậu, và lần này thì bất chấp những điều cậu đã được dạy dỗ, Arren vẫn phải nhìn đi hướng khác. Cậu không hiểu tại sao, vì trong cái nhìn của cặp mắt tối sẫm đó không có gì là khắc nghiệt. Đó là một cặp mắt công bằng, bình thản, đầy cảm thông.

Toàn thể người dân đảo Enlad kính trọng cha cậu, và cậu lại là con trai của ông. Chưa từng có người nào nhìn cậu như vậy, không phải với tư cách là Arren, Hoàng Tử xứ Enlad, con trai của Hoàng Thân Trị Vì, mà chỉ với tư cách là Arren thôi. Cậu không muốn nghĩ rằng cậu sợ cái nhìn của Tổng Pháp Sư, nhưng cậu không thể nhìn thẳng vào mắt ông. Cái nhìn ấy khiến cậu có cảm giác như thế giới lại mở rộng ra quanh mình, và giờ thì không chỉ có Enlad là trở nên vô nghĩa, mà cả bản thân cậu nữa, vì vậy trong mắt Tổng Pháp Sư cậu chỉ còn là một kẻ hết sức nhỏ bé, tầm thường, giữa một vùng đất mênh mông bao quanh là biển khơi rộng lớn, chìm trong bóng tối mịt mù.

Cậu ngồi đó, cạy những mẩu rêu xanh mướt mọc giữa các khe nứt trên phiến đá hoa cương lát sân, rồi cất tiếng nói, lắng nghe chất giọng mới vỡ hai năm trước của mình, giờ vẫn còn khàn khàn, yếu ớt: “Và con xin làm theo những gì người chỉ bảo.”

“Con có bổn phận với phụ hoàng của mình, chứ không phải là với ta,” Tổng Pháp Sư nói.

Ông vẫn nhìn Arren, và giờ thì cậu thiếu niên ngước lên. Khi thể hiện sự phục tùng của mình, cậu đã quên mất bản thân, và đến lúc này cậu mới thực sự nhìn thấy Tổng Pháp Sư: vị pháp sư vĩ đại nhất toàn xứ Hải Địa, người đã chặn miệng cái Giếng Đen Fundaur, đoạt được Vòng Tròn của Erreth-Akbe từ Lăng Tẩm xứ Atuan và dựng lên con đê chắn sóng ở Nepp; người thủy thủ biết rõ mọi vùng biển từ Astowell đến tận Selidor; Chúa Rồng duy nhất còn sống sót. Ông đang quỳ đó bên đài phun nước, một người thấp bé, không còn trẻ nữa, với giọng nói trầm tĩnh, và cặp mắt sâu thẳm như màn đêm.

Arren loay hoay đứng dậy rồi vội nghiêm trang quỳ xuống trên cả hai đầu gối. “Thưa Tổng Pháp Sư,” cậu lắp bắp, “xin hãy cho con được phụng sự người!”

Vẻ tự tin của cậu đã biến mất, mặt cậu đỏ ửng, giọng cậu run lên.

Ở hông cậu có đeo một thanh gươm tra trong chiếc bao bằng da mới với những nét khảm màu đỏ và vàng; nhưng chính thanh gươm thì lại không có gì trang trí, với cái chuôi hình chữ thập bằng đồng nạm bạc. Cậu vội rút thanh gươm ra và chìa chuôi gươm dâng lên cho Tổng Pháp Sư, như một thuộc hạ trước lãnh chúa của mình.

Tổng Pháp Sư không nhận lấy thanh gươm. Ông chỉ ngắm nhìn nó, rồi nhìn Arren. “Đó là gươm của con, không phải của ta,” ông nói. “Và con không phải là kẻ hầu người hạ của ai hết.”

“Nhưng phụ hoàng của con nói rằng con có thể ở lại trên đảo Roke cho đến khi biết được những điều xấu xa nọ là gì, và có lẽ để học thêm một vài pháp thuật nữa - con không có kỹ năng gì, con cũng không nghĩ là mình có đủ quyền phép, nhưng trong các đời tổ tiên của con luôn có các pháp sư - nếu con có thể học được cách nào đó để giúp ích cho người...”

“Trước khi tổ tiên của con trở thành pháp sư,” Tổng Pháp Sư nói, “họ là quốc vương.”

Ông đứng dậy và bằng những bước chân nhẹ nhàng, mạnh mẽ tiến đến bên Arren, nắm lấy tay chàng thiếu niên kéo cậu đứng dậy. “Ta cảm ơn con vì đã sẵn sàng phụng sự ta, và mặc dù ngay bây giờ ta không chấp nhận điều đó, có lẽ sau này ta sẽ làm vậy, khi chúng ta đã bàn bạc về những tin tức con đem đến. Khi một người hào hiệp cầu xin được phụng sự ta, lời cầu xin ấy không thể bị từ chối một cách dễ dãi được. Cũng như thanh gươm mà người con của Morred mang bên mình không thể bị dễ dàng gạt sang một bên!... Giờ con đi đi. Cậu học trò đã dẫn con tới đây sẽ đưa con đi ăn uống, tắm rửa và nghỉ ngơi. Đi đi,” và ông khẽ đẩy vào giữa bả vai Arren một cái, một cử chỉ thân thiện chưa ai từng bộc lộ với cậu, và chàng hoàng tử trẻ tuổi hẳn sẽ lấy làm công phẫn nếu bất kỳ kẻ nào khác dám làm vậy; nhưng khi Tổng Pháp Sư chạm vào vai cậu, cậu chỉ cảm thấy rạo rực vui sướng. Bởi vì Arren đã đem lòng ngưỡng mộ ông.

Cậu vốn là một chú bé linh lợi, ham chơi đùa chạy nhảy, tự hào và thích thú với những khả năng của thân thể và đầu óc mình, luôn hoàn thành tốt những bổn phận của mình trong các nghi lễ và việc cai quản lãnh địa, vốn là những việc không lấy gì làm dễ dàng hay đơn giản. Thế nhưng cậu chưa bao giờ dồn hết tâm trí vào điều gì. Tất cả đều đến với cậu một cách dễ dàng, và cậu làm mọi việc cũng rất nhẹ nhàng; chúng chẳng khác nào một trò chơi, và đối với tình yêu thương cậu cũng chỉ đùa chơi như vậy. Thế nhưng giờ đây sâu thẳm trong thâm tâm cậu đã được thức tỉnh, không phải nhờ một trò chơi hay một giấc mơ, mà là nhờ vào danh dự, hiểm nguy, sự thông thái, nhờ một gương mặt đầy sẹo, một giọng nói trầm tĩnh và bàn tay sạm nâu nắm một cây gậy mà như không biết đến quyền năng của nó, cây gậy bằng gỗ thủy tùng, với Cổ Tự Thất Lạc của các Quốc Vương nạm ở gần đuôi gậy, ký tự bạc nổi bật trên nền gỗ đen.

Vậy là cậu đã đặt bước chân đầu tiên ra khỏi tuổi thơ, mà không nhìn về phía trước hay phía sau, không hề lo sợ, và không chút dè dặt.

Quên bẵng cả một lời chào cho phải phép, cậu vội vã chạy về ngưỡng cửa, lúng túng nhưng ngoan ngoãn, hớn hở. Và Tổng Pháp Sư Ged nhìn theo cậu.

Ged đứng lặng bên đài phun nước dưới bóng cây tần bì một lát, rồi ngẩng mặt lên nhìn bầu trời rực nắng. “Một sứ giả hiền hòa mà lại đem đến tin dữ,” ông lên tiếng, như thể đang trò chuyện với đài phun nước vậy. Nhưng đài phun nước không lắng nghe mà chỉ tiếp tục cất lên thứ tiếng trong như bạc của mình, và ông lắng nghe nó hồi lâu. Rồi ông tiến về phía một cánh cửa khác mà Arren đã không nhìn thấy, thực ra rất hiếm đôi mắt trần tục nào có thể thấy được cánh cửa ấy dù có ở gần đến mức nào đi nữa, và ông gọi, “Thầy Giữ Cửa.”

Một người đàn ông nhỏ thó, như không có tuổi, hiện ra. Ông không còn trẻ nữa, vì vậy ta sẽ phải nói là ông đã già, nhưng từ ngữ ấy không thích hợp để miêu tả ông. Mặt ông khô cứng, da màu ngà ngà, và ông có một nụ cười hiền hậu làm hai bên má hằn thành những nếp nhăn dài. “Có chuyện gì vậy, Ged?” ông hỏi.

Họ đang chỉ có một mình, và ông là một trong số bảy con người trên toàn thế gian biết được tên thật của Tổng Pháp Sư. Những người còn lại gồm có thầy Khởi Danh của đảo Roke; Ogion Câm Lặng, vị pháp sư ở Re Albi, chính là người năm xưa trên đỉnh núi Gont đã đặt cho Ged cái tên ấy; Tenar người có Vòng Tròn, Bạch Phu Nhân của đảo Gont; Vetch, pháp sư của một ngôi làng trên đảo Iffish; cũng trên đảo Iffish, vợ của một người thợ mộc, mẹ của ba cô con gái, không biết chút pháp thuật nào nhưng lại hết sức khôn ngoan trong mọi việc khác, một người phụ nữ tên là Yarrow; và cuối cùng, ở phía bên kia xứ Hải Địa, ở vùng cực Tây xa xôi nhất, là con rồng: Orm Embar và Kalessin.

“Tối nay chúng ta phải họp mặt,” Tổng Pháp Sư đáp. “Tôi sẽ đi gọi thầy Kiến Tạo. Và tôi sẽ mời cả Kurremkarmerruk nữa, bảo ông ấy dẹp những danh sách sang bên, cho học trò nghỉ ngơi một đêm và đến gặp chúng ta, nếu không đích thân thì ít ra cũng là trong tâm tưởng. Ngài sẽ đi gọi những người khác chứ?”

“Vâng,” người Giữ Cửa mỉm cười nói rồi quay đi, và Tổng Pháp Sư cũng rời khỏi đó, để lại đài phun nước vẫn rì rầm róc rách đầy yên bình, không bao giờ ngừng nghỉ, dưới ánh mặt trời đầu xuân.

Đâu đó ở phía Tây Nhà Chính của ngôi trường đảo Roke, và thỉnh thoảng lại là đâu đó ở phía Nam, người ta thường thấy Cụm Rừng Nội Tại. Nó không có mặt trên bất kỳ tấm bản đồ nào, và không có cách nào để đến được đó ngoại trừ với những người đã biết rõ đường dẫn tới đó. Nhưng ngay cả những cậu học trò tập sự, người dân trong thành và các nông dân cũng có thể nhìn thấy nó, lúc nào cũng ở phía xa xa, một cụm rừng cao vút với tán lá xanh điểm chút vàng, ngay cả giữa mùa xuân. Và họ nghĩ - các cậu học trò tập sự, người dân thành, nông dân - rằng Cụm Rừng luôn di chuyển một cách hết sức huyền bí. Nhưng về điểm này thì họ đã nhầm, bởi vì Cụm Rừng không bao giờ di chuyển. Gốc rễ của nó cũng chính là gốc rễ của mọi sự sống. Nó không hề di chuyển, chỉ có tất cả mọi thứ khác là di chuyển mà thôi.

Ged bước ra khỏi Nhà Chính và đi qua cánh đồng. Ông trút bỏ chiếc áo choàng trắng của mình, vì mặt trời lúc ấy đang ở giữa đỉnh đầu. Một người nông dân đang cày ruộng bên sườn đồi đất nâu giơ tay lên chào, và Ged đáp lại với cùng một cách. Những chú chim nhỏ bay vút lên không trung, cất tiếng hót vang. Hoa cỏ lửa mới bắt đầu nở rộ trên các cánh đồng và hai bên đường. Cao tít bên trên, một con chim săn mồi đang lượn thành một vòng tròn rộng trên bầu trời. Ged ngước mắt nhìn, và lại giơ tay lên. Con chim lao xuống xù lên trong gió, và đậu ngay lên cánh tay đang chìa ra, những móng vuốt màu vàng bám chặt lấy cổ tay ông. Nó không phải chim cắt mà là một con diều hâu đảo Roke, con diều hâu bắt cá với bộ lông sọc nâu-trắng. Nó đưa một con mắt tròn lớn vàng rực liếc nhìn Tổng Pháp Sư rồi há cái mỏ khoằm ra mà nhìn thẳng vào ông bằng cả hai con mắt tròn, vàng rực. “Thật là can đảm,” Tổng Pháp Sư nói với nó bằng thứ Cổ Ngữ Kiến Tạo.

Con diều hâu lớn vỗ cánh, bộ móng vuốt bám chắc hơn, mắt vẫn không rời khỏi ông.

“Hãy bay đi, người anh em can đảm của ta.”

Người nông dân đứng cách đó một quãng trên sườn đồi dưới bầu trời rực sáng ngừng tay theo dõi. Một lần vào mùa thu năm trước ông đã thấy Tổng Pháp Sư giơ cổ tay ra cho một con chim đậu xuống, rồi một phút sau thì thấy không còn người nào ở đó nữa, mà là hai con diều hâu đang cùng tung cánh trên làn gió.

Lần này thì người nông dân nhìn thấy vị pháp sư và con chim đi theo hai ngả: con chim bay lên cao, trong khi vị pháp sư đi tiếp, ngang qua cánh đồng bùn lầy.

Ông tiến vào lối đi dẫn tới Cụm Rừng Nội Tại, lối đi luôn thẳng tắp bất kể thời gian và thế giới quanh nó có đổi thay thế nào chăng nữa, rồi men theo lối đi ấy và chẳng mấy chốc đã bước dưới bóng mát của các tán lá.

Trong cụm rừng có nhiều thân cây hết sức to lớn. Khi ngắm nhìn chúng thì ta mới có thể tin rằng Cụm Rừng không bao giờ dịch chuyển: nom chúng tựa như những tòa tháp từ thời thượng cổ đã xám đi theo năm tháng; với bộ rễ như chân núi. Thế nhưng trong các thân cây này, những cây cổ thụ nhất, vẫn có những cây đã thưa lá, có những cành đã chết. Chúng không hề bất tử. Giữa các thân cây khổng lồ ấy vươn lên những cây non cao vút, với tán lá xanh mướt đầy nhựa sống; và cây mới nảy mầm, chỉ như những cây gậy mảnh có lá, không cao hơn một em bé.

Lớp đất bên dưới gốc cây rất mềm và màu mỡ nhờ lá mục của bao nhiêu năm trời trút xuống. Dương xỉ và những bụi cây rừng nhỏ phủ kín mặt đất, nhưng không có loại cây to nào khác ngoài thứ cây không có tên trong tiếng Hardic của xứ Hải Địa. Dưới các cành cây không khí tỏa mùi đất ẩm tươi mới, có vị trong lành như nước suối nguồn vậy.

Giữa một trảng trống được tạo thành nhiều năm trước khi một cây to bị đổ, Ged gặp mặt vị thầy Kiến Tạo, ông sống trong Cụm Rừng này và rất hiếm khi, hầu như không bao giờ, ra khỏi đó. Ông có mái tóc vàng như bơ, không có chút gì giống với người vùng Quần Đảo. Kể từ khi Vòng Tròn của Erreth-Akbe được nối liền, những dân tộc man rợ xứ Kargad đã thôi cướp phá và thỏa thuận việc thông thương hòa bình với các hòn đảo Nội Địa. Họ không phải là một dân tộc thân thiện và thường tỏ ra rất xa cách. Nhưng thỉnh thoảng lại có một chiến binh trẻ tuổi hay con trai của một thương nhân một mình tìm đến phương Tây, bị lòng say mê thám hiểm hay mong muốn được học pháp thuật thúc đẩy. Mười năm trước vị thầy Kiến Tạo cũng là một chàng trai như vậy, một chiến binh man rợ lưng đeo gươm, đầu đội mũ có chùm lông đỏ, đến từ Karego-At, đặt chân đến Roke vào một buổi sáng mưa gió và nói với thầy Giữ Cửa bằng thứ tiếng Hardic bập bõm nhưng đầy hống hách, “Ta đến đây để học tập!” Và giờ đây chàng trai đó đang đứng trong ánh sáng xanh-vàng dưới tán cây, cao lớn, da trắng, với mái tóc vàng dài và cặp mắt kỳ lạ màu xanh lục, Vị Thầy Kiến Tạo của xứ Hải Địa.

Có lẽ ông ta cũng biết tên thật của Ged, nhưng nếu đúng vậy thì ông không bao giờ nói ra. Họ lặng lẽ gật đầu chào nhau.

“Ngài đang ngắm nhìn gì vậy?” Tổng Pháp Sư hỏi, và người kia trả lời, “Một con nhện.”

Giữa hai lá cỏ cao trong khoảng rừng trống, một con nhện đã chăng ra tấm mạng hình tròn công phu, nằm lơ lửng. Những sợi tơ bạc phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh. Giữa tấm mạng, người thợ dệt đang nằm đợi mồi, nó chỉ là một vật nhỏ màu xám đen không lớn hơn đồng tử trong con mắt.

“Con nhện ấy cũng là một nhà kiến tạo,” Ged ngắm nghía tấm mạng tinh tế và nhận xét.

“Có điều xấu xa gì vậy?” người trẻ tuổi hơn hỏi.

Tấm mạng nhện, với tâm điểm màu đen của nó, dường như đang quan sát cả hai người.

“Một tấm mạng do con người chúng ta dệt nên,” Ged trả lời.

Trong cụm rừng này không con chim nào cất tiếng hót. Không khí giữa trưa nóng rực và im lìm. Xung quanh họ chỉ có cây cối và những bóng râm.

“Tin tức được đưa đến từ Narveduen và Enlad: đều như nhau.”

“Phía Nam và Tây Nam. Bắc và Tây Bắc,” thầy Kiến Tạo nói, mắt vẫn không rời tấm mạng tròn.

“Tối nay chúng tôi sẽ đến đây. Đây là nơi tốt nhất để bàn luận việc này.”

“Tôi chẳng có gì để bàn luận cả.” Giờ thầy Kiến Tạo mới nhìn Ged, và cặp mắt xanh lục của ông ta lạnh như băng. “Tôi thấy khiếp sợ,” ông nói. “Nỗi sợ hãi đang ở đâu đây. Nỗi sợ hãi đang tỏa ra từ các bộ rễ.”

“Đúng vậy,” Ged nói. “Tôi nghĩ chúng ta phải xem xét đến tận cội nguồn sâu xa nhất. Chúng ta đã tận hưởng ánh mặt trời quá lâu, tắm mình quá lâu trong hòa bình có được nhờ Vòng Tròn đã gắn liền, chỉ lo đạt được những điều nhỏ nhặt, chẳng khác nào câu cá trong cái ao cạn. Tối nay chúng ta phải xem đến những điều sâu sắc hơn.” Nói đoạn ông bỏ đi, để lại vị thầy Kiến Tạo đứng đó, vẫn mải mê nhìn ngắm con nhện trên lá cỏ dưới ánh nắng.

Bên bìa Cụm Rừng, nơi tán lá của những cây cổ thụ vươn về phía mặt đất bình thường, ông ngồi xuống, tựa lưng vào một bộ rễ lớn, cây quyền trượng đặt ngang đầu gối. Ông nhắm mắt lại như thể đang nghỉ ngơi, và đưa tâm trí của mình vượt qua rặng đồi cùng những cánh đồng trên đảo Roke, đi về phía Bắc, đến mũi đất đầy sóng vỗ nơi tòa Tháp Cô Lập ngự trị.

“Kurremkarmerruk,” tâm trí ông cất tiếng gọi, và thầy Khởi Danh liền ngẩng lên khỏi cuốn sách dày viết tên các loại rễ cây, thảo mộc, lá, hạt và cánh hoa mà ông đang đọc cho các học trò của mình, và đáp lại, “Tôi đây, thưa Tổng Pháp Sư.”

Rồi ông lặng im lắng nghe; đó là một ông già cao lớn, gầy guộc, tóc bạc trắng dưới chiếc mũ trùm sẫm màu; và các cậu học trò ngồi bên bàn viết trong căn buồng trên tháp cũng ngẩng lên nhìn ông, rồi liếc nhìn nhau vẻ dò hỏi.

“Tôi sẽ tới,” Kurremkarmerruk nói, rồi lại cúi đầu xuống cuốn sách và đọc tiếp, “Cánh hoa của cây huệ tỏi có tên là iebera , đài hoa thì có tên là partonath ; và cành hoa, lá và rễ cây cũng có tên riêng...”

Nhưng dưới bóng cây, Tổng Pháp Sư Ged, vốn đã biết hết mọi cái tên của cây huệ tỏi, liền thu lại tiếng gọi của mình, rồi duỗi chân ra cho thoải mái, mắt vẫn nhắm, và ngủ thiếp đi dưới ánh mặt trời lốm đốm bóng lá.

« Lùi
Tiến »