NGÔI TRƯỜNG TRÊN ĐẢO ROKE là nơi các cậu bé có năng lực pháp thuật được đưa đến từ khắp mọi miền đất của vùng đảo Nội Địa để học tập các môn phái pháp thuật tối cao nhất. Ở đó chúng sẽ thành thạo các loại pháp thuật khác nhau, học tập các thứ tên, cổ tự, các bùa phép, lời thần chú, điều gì nên làm, điều gì không nên làm, và tại sao. Cũng ở đó, sau một thời gian dài rèn luyện, nếu đôi tay, trí não và tâm hồn đều hiệp đồng với nhau, thì các cậu học sinh sẽ được phong chức pháp sư và được nhận cây gậy quyền năng. Chỉ có đảo Roke mới tạo ra được những pháp sư chính thống.
Vì trên mọi hòn đảo đều có các thầy lang cùng với các bà phù thủy, vì việc sử dụng pháp thuật đối với người dân xứ Hải Địa cũng thiết yếu chẳng khác gì bánh mì và tuyệt vời chẳng được tôn kính âm nhạc, Ngôi Trường Pháp Thuật là một nơi hết sức. Chín vị pháp sư, các vị thầy của Trường, được coi là những người ngang hàng với các lãnh chúa hùng mạnh nhất vùng Quần Đảo. Còn chủ nhân của họ, hiệu trưởng trường Roke, vị Tổng Pháp Sư, thì không phải quy phục trước bất kỳ ai hết ngoại trừ đức Thượng Hoàng trị vì mọi hòn đảo; và điều đó cũng chỉ xảy ra khi Tổng Pháp Sư tự nguyện bày tỏ lòng trung thành, bởi vì thậm chí một quốc vương cũng không thể bắt một pháp sư cao cường như vậy tuân theo những luật lệ thông thường của mình nếu ông không muốn. Vậy nhưng, ngay cả vào những thế kỷ xứ Hải Địa không có vua, các Tổng Pháp Sư đảo Roke vẫn rất trung thành và tuân theo những luật lệ thông thường ấy. Tất cả mọi chuyện trên đảo Roke đều diễn ra như chúng vẫn diễn ra từ hàng trăm năm nay; nó tựa như một bến náu an toàn cách xa khỏi mọi sự bất ổn, và tiếng cười của các chú bé vang vọng khắp mọi mảnh sân và những dãy hành lang rộng rãi, mát lạnh của Nhà Chính.
Người dẫn đường của Arren quanh Trường là một anh chàng người thấp, chắc nịch, cổ áo choàng gài bằng chiếc ghim bạc, dấu hiệu chứng tỏ cậu đã qua thời kỳ tập sự, được lên lớp trên tiếp tục học tập để giành cây quyền trượng. Cậu tên là May Rủi, “bởi vì cha mẹ tôi đã có sáu đứa con gái rồi, và cha tôi nói rằng đứa thứ bảy này sẽ là chuyện may rủi của số mệnh,” cậu giải thích như vậy. Cậu là một người bạn đồng hành dễ chịu, nhanh trí và nhanh mồm. Vào bất kỳ lúc nào khác thì Arren đã thấy vui thích với những lời nói đùa của cậu ta, nhưng hôm nay đầu óc cậu đang quá bận bịu với những suy nghĩ khác. Thật ra, cậu chẳng để ý gì mấy đến người dẫn đường của mình. Và May Rủi, với cái mong muốn tự nhiên là sự có mặt của mình được quan tâm chú ý, liền bắt đầu lợi dụng vẻ lơ đãng của vị khách. Cậu kể cho Arren nghe những sự thật kỳ lạ về Ngôi Trường, rồi lại kể cho cậu những chuyện bịa đặt cũng kỳ lạ không kém, và Arren chỉ đáp lại, “Thế à” hoặc “Ờ,” cho đến khi May Rủi nghĩ rằng cậu chỉ là một chàng hoàng tử ngốc.
“Tất nhiên, họ không nấu nướng gì trong đó cả,” May Rủi nói với Arren khi họ đi qua khu nhà bếp đồ sộ xây bằng đá, đầy những cái nồi đồng sạch bóng, tiếng dao thớt lách cách và mùi hành cay đến chảy nước mắt. “Nhà bếp chỉ là để phô trương thôi. Khi chúng tôi đến phòng ăn thì mỗi người lại tự phù phép hóa ra bất kỳ thứ gì mình muốn ăn. Càng đỡ phải rửa bát.”
“Ờ, thế à,” Arren đáp lại cho xong chuyện.
“Tất nhiên đám học trò tập sự chưa biết làm phép thường gầy đi rất nhiều trong mấy tháng đầu tiên ở đây, nhưng chúng nhanh chóng học được thôi. Có một chú nhóc người đảo Havnor luôn tìm cách hóa phép ra gà quay, nhưng lúc nào cũng chỉ được cháo kê. Có vẻ như nhóc ta không hóa ra được món gì hơn là cháo kê hay sao ấy. Nhưng hôm qua thì đúng là nó có thêm được một miếng cá tuyết khô.” May Rủi đã nói đến khản cả cổ, hòng làm cho vị khách của mình phải nghi hoặc, mà vẫn chẳng ích gì. Cậu ta liền bỏ cuộc và im bặt.
“Tổng Pháp Sư đến từ đâu... từ xứ nào?” vị khách ấy hỏi, thậm chí còn không thèm để mắt đến dãy hành lang rộng thênh thang họ đang đi qua, với hình Cây Ngàn Lá chạm khắc khắp hai bên tường và trần nhà uốn vòm.
“Đảo Gont,” May Rủi đáp. “Ở đó ngài là người chăn dê.”
Nghe thấy sự thật trần trụi mà ai cũng biết này, cậu thiếu niên đến từ đảo Enlad liền quay ngoắt lại nhìn May Rủi với vẻ hồ nghi đầy trách cứ. “Người chăn dê ấy à?”
“Phần lớn người đảo Gont đều làm nghề ấy, trừ phi họ là cướp biển hoặc phù thủy. Tôi có nói bây giờ ngài vẫn còn là người chăn dê đâu!”
“Nhưng làm sao mà một gã chăn dê lại trở thành Tổng Pháp Sư được?”
“Cũng như một ông hoàng thôi! Bằng cách đến đảo Roke và vượt trội hơn tất cả các vị Thầy, bằng cách đoạt lấy Vòng Tròn ở Atuan, bằng cách giương buồm đến Hang Rồng, bằng cách trở thành vị pháp sư vĩ đại nhất kể từ thời Erreth-Akbe... còn bằng cách nào khác nữa?”
Họ ra khỏi dãy hành lang qua cánh cửa phía Bắc. Ánh nắng ấm áp sáng rực của buổi chiều muộn bao trùm lên những ngọn đồi mới cày xới cùng rặng mái ngói của Thành Thwil và bờ vịnh bên dưới. Hai cậu thiếu niên liền đứng lại đó trò chuyện. May Rủi nói tiếp, “Tất nhiên những chuyện đó đã xảy ra cách đây lâu lắm rồi. Kể từ khi được phong chức Tổng Pháp Sư ngài hầu như chẳng làm gì cả. Các Tổng Pháp Sư khác cũng vậy. Tôi nghĩ họ chỉ ở lại đảo Roke và ngắm nhìn sự Cân Bằng thôi. Với lại ngài cũng đã khá cao tuổi rồi.”
“Cao tuổi ư? Người bao nhiêu tuổi?”
“Ồ, bốn mươi hay năm mươi gì đó.”
“Anh đã nhìn thấy người bao giờ chưa?”
“Tất nhiên là tôi đã nhìn thấy ngài rồi chứ,” May Rủi gay gắt đáp lại. Chàng hoàng tử ngốc này có vẻ còn là một chàng hoàng tử kênh kiệu nữa.
“Thường xuyên chứ?”
“Không, ngài ít giao du với mọi người lắm. Nhưng khi đến Roke lần đầu tiên tôi đã trông thấy ngài, ở mảnh sân Đài Phun Nước.”
“Hôm nay tôi đã được thưa chuyện với người ở đó,” Arren nói.
Giọng điệu của cậu khiến May Rủi phải liếc nhìn cậu, rồi trả lời đầy đủ hơn, “Đó là ba năm trước. Và lúc ấy tôi sợ đến nỗi không dám nhìn thẳng vào ngài. Tất nhiên lúc ấy tôi còn nhỏ. Nhưng ở đó rất khó để thấy được mọi vật một cách rõ ràng. Chủ yếu tôi chỉ nhớ được giọng nói của ngài, và tiếng đài phun nước róc rách.” Một thoáng sau, cậu ta nói thêm, “Giọng ngài có hơi lơ lớ giọng người đảo Gont.”
“Nếu tôi có thể trò chuyện với loài rồng bằng ngôn ngữ của chúng,” Arren nói, “thì tôi sẽ chẳng bận tâm xem giọng mình nghe như thế nào.”
Nghe vậy May Rủi liền nhìn cậu với một thoáng đồng tình, và hỏi, “Anh đến đây để xin vào học ư, hoàng tử?”
“Không. Phụ hoàng tôi cử tôi đem tin tới cho Tổng Pháp Sư.”
“Enlad là một trong các Công Quốc thuộc Vương Quyền phải không?”
“Enlad, Ilien và Way. Trước kia cả Havnor và Éa cũng vậy, nhưng dòng dõi hoàng gia ở hai hòn đảo đó đã tuyệt diệt rồi. Hoàng gia đảo Ilien có nguồn gốc từ Gemal Hải Sinh cho đến tận Maharion, đức Thượng Hoàng của toàn xứ sở. Ở đảo Way thì là con cháu của Akambar và dòng họ Shelieth. Còn đảo Enlad, công quốc cổ kính nhất thì có nguồn gốc từ Morred, thông qua con trai của người là Serriadh và dòng họ Enlad.”
Arren kể lại những bảng phả hệ ấy với vẻ lơ đãng, tựa như một học giả uyên thâm đang mải mê nghĩ đến chuyện khác.
“Anh có nghĩ là đời chúng ta sẽ lại có được một vị quốc vương ở Havnor không?”
“Tôi chẳng nghĩ về chuyện ấy mấy.”
“Ở Ark, quê hương tôi, người ta hay nghĩ về chuyện đó lắm. Anh biết đấy, giờ chúng tôi thuộc Công Quốc Ilien, sau khi hòa bình được lập lại. Đã bao lâu rồi nhỉ, mười bảy hay mười tám năm rồi, kể từ khi Vòng Tròn có khắc Cổ Tự Quốc Vương được hoàn trả lại cho Tháp Quốc Vương ở Havnor? Mọi việc có khá lên đôi chút trong một thời gian ngắn, nhưng giờ tất cả lại tồi tệ hơn bao giờ hết. Đã đến lúc phải có một vị vua trên ngai vàng xứ Hải Địa, để cho Dấu Hiệu Hòa Bình được đắc dụng. Người dân đã mệt mỏi vì chiến tranh, cướp bóc, các thương gia bán giá quá cao, các lãnh chúa đánh thuế quá nặng, cùng những sự rối loạn khác vì quyền lực không có ai cai quản. Đảo Roke chỉ có thể hướng dẫn thôi chứ không thể thống trị được. Sự Cân Bằng nằm ở đây, nhưng Quyền Lực thì phải nằm trong tay của quốc vương.”
May Rủi nói với vẻ nhiệt tình chân thành không còn chút khôi hài nào nữa, và rốt cuộc thì cậu ta cũng khiến cho Arren phải chú ý. “Enlad là một vùng đất giàu có và yên bình,” cậu chậm rãi nói. “Chúng tôi chưa bao giờ vướng phải những chuyện đua tranh ấy. Chúng tôi chỉ được nghe nói về sự bất an ở các vùng đất khác mà thôi. Nhưng trên ngai vàng ở Havnor chưa hề có một vị quốc vương nào, kể từ khi Maharion qua đời: đã tám trăm năm rồi. Liệu giờ các hòn đảo có chịu quy phục một quốc vương duy nhất không?”
“Nếu vị quốc vương đó lên ngôi trong hòa bình và hùng mạnh; nếu Roke và Havnor chấp nhận quyền lực của ông ta.”
“Và còn có một lời tiên tri phải trở thành sự thật nữa, phải không? Maharion đã tiên đoán rằng vị quốc vương nối ngôi mình phải là một pháp sư.”
“Thầy Thi Sĩ ở đây là người Havnor và rất quan tâm đến chuyện đó, đã ba năm nay rồi thầy liên tục nhồi sọ lời tiên tri ấy cho chúng tôi. Maharion đã nói rằng, Người nối ngôi ta sẽ là người đã vượt qua vùng tử địa tăm tối khi vẫn còn sống và đến được bến bờ xa xăm của tháng ngày. ”
“Có nghĩa là một pháp sư.”
“Đúng thế, vì chỉ có một phù thủy hay pháp sư thì mới có thể đi lại giữa những người chết ở vùng tử địa tối tăm và quay trở lại mà thôi. Tuy nhiên họ không vượt qua đó. Ít nhất thì họ cũng luôn nói đến vùng đất đó như thể nó chỉ có một mốc địa giới duy nhất, và sau cái mốc đó thì không còn gì nữa. Còn bến bờ xa xăm của tháng ngày nghĩa là gì? Nhưng đó là lời tiên tri của vị Quốc Vương Cuối Cùng, nên chắc chắn một ngày kia sẽ có một người được sinh ra và biến nó thành hiện thực. Và đảo Roke sẽ đón nhận người đó, và mọi đoàn thuyền cùng mọi đội quân, mọi quốc gia sẽ quy phục người. Và khi ấy ở trung tâm của thế giới sẽ lại có một vị quốc vương, trong Tháp Quốc Vương ở Havnor. Tôi sẽ quy phục người ấy; tôi sẵn sàng đem hết tài năng và tâm trí ra phục vụ một quốc vương chân chính,” May Rủi nói, rồi bật cười và nhún vai, để Arren khỏi nghĩ rằng lời nói của mình có quá nhiều xúc cảm. Nhưng Arren thân mật nhìn cậu và tự nhủ, “Anh ấy sẽ tôn sùng vị quốc vương ấy cũng như ta tôn sùng Tổng Pháp Sư vậy.” Cậu lên tiếng, “Vị quốc vương sẽ cần có những người như anh ở bên mình.”
Cả hai đứng bên nhau, mỗi người mải mê với ý nghĩ của riêng mình, nhưng vẫn đầy thân thiện, cho đến khi một tiếng cồng vang rền phát ra từ Nhà Chính sau lưng họ.
“A!” May Rủi reo lên. “Bữa tối nay có xúp đậu lăng với hành đấy. Đi nào!”
“Tôi cứ ngỡ anh nói họ không nấu nướng gì cơ mà,” Arren nói, vẫn với vẻ lơ đãng, và đi theo cậu ta.
“Ờ, chỉ thỉnh thoảng... khi họ sơ suất thôi...”
Bữa tối không có bùa phép gì cả, nhưng có rất nhiều thức ăn. Sau khi ăn xong, cả hai đi dạo trên các cánh đồng trong bóng chiều chạng vạng xanh xanh. “Đây là Đồi Roke,” May Rủi nói, khi họ bắt đầu trèo lên một quả đồi tròn xoe. Cỏ đẫm sương quệt vào chân họ, và bên dưới dòng sông Thwil lầy lội, một đàn cóc nhỏ nhảy ra đón chào hơi ấm đầu xuân cùng với buổi đêm đầy sao và đã ngắn hơn.
Mặt đất trên đồi có vẻ gì đó hết sức huyền bí. May Rủi khẽ nói, “Đây là ngọn đồi đầu tiên vươn lên khỏi mặt biển, khi Từ Ngữ Đầu Tiên được thốt ra.”
“Và sẽ là ngọn đồi cuối cùng chìm xuống, khi vạn vật trở lại thời hồng hoang,” Arren nói.
“Vì vậy đứng ở đây là hết sức an toàn,” May Rủi nói, rũ bỏ hết mọi sự kính sợ; nhưng rồi cậu ta thảng thốt kêu lên, “Nhìn kìa! Cụm Rừng!”
Ở phía Nam Ngọn Đồi một ánh sáng rực rỡ vừa tỏa ra trên mặt đất, như ánh trăng, nhưng vầng trăng lưỡi liềm mảnh dẻ đã ngả về phía Tây mé sau đỉnh đồi; và ánh sáng này lại rung rinh chập chờn, như thể những tán lá rung động trong gió vậy.
“Cái gì thế?”
“Ánh sáng phát ra từ Cụm Rừng đấy... hẳn là các Vị Thầy đang ở đó. Họ nói năm năm về trước, khi họ họp mặt để chọn Tổng Pháp Sư mới, nó cũng đã tỏa ra thứ ánh sáng như ánh trăng ấy, suốt cả đêm. Nhưng sao giờ họ lại họp mặt nhỉ? Có phải vì tin tức mà anh đã đem đến không?”
“Có lẽ vậy,” Arren nói.
May Rủi, với vẻ hồi hộp phấn khích, chỉ muốn quay về Nhà Chính ngay để nghe ngóng xem có tin đồn gì về cuộc Họp Mặt của các Vị Thầy hay không. Arren đi theo cậu ta, nhưng chốc chốc lại ngoái nhìn ánh sáng kỳ lạ kia cho đến khi nó khuất sau sườn đồi, và chỉ còn lại vầng trăng non đang lặn cùng với những ngôi sao mùa xuân trên trời.
Đêm đó, khi một mình trong gian buồng đá là phòng ngủ của cậu, Arren nằm thức chong chong. Cả đời mình cậu đã ngủ trên giường, dưới những tấm chăn lông thú êm ái; ngay cả trên con tàu hai mươi mái chèo đã đưa cậu đến từ Enlad, họ cũng đã sắp sẵn cho chàng hoàng tử trẻ tuổi một chỗ ngủ dễ chịu hơn thế này - chỉ có trần trụi một tấm nệm rơm trên sàn đá và một tấm chăn rách rưới bằng vải nỉ. Nhưng cậu chẳng để ý gì đến những thứ ấy. “Ta đang ở trung tâm của thế giới,” cậu thầm nghĩ. “Các Vị Thầy đang bàn bạc ở nơi linh thiêng kia. Họ sẽ làm gì? Liệu họ có dệt nên một tấm lưới pháp thuật vĩ đại để cứu lấy mọi pháp thuật khác không? Có đúng là mọi quyền pháp đang dần biến mất khỏi xứ sở này không? Liệu có một mối hiểm nguy nào có thể đe dọa cả đảo Roke hay không? Ta sẽ ở lại đây. Ta sẽ không quay về nhà. Ta thà còng lưng quét phòng cho người còn hơn là làm hoàng tử ở Enlad. Liệu người có cho phép ta ở lại làm học sinh tập sự không nhỉ? Nhưng có lẽ Chân Pháp Thuật sẽ không còn được giảng dạy nữa, không còn chuyện học tập danh tính đích thực của mọi vật nữa. Cha ta có khả năng làm phép, nhưng ta thì không; có lẽ đúng là pháp thuật đang dần biến mất rồi. Thế nhưng ta sẽ ở lại gần bên người , ngay cả nếu người có mất hết mọi quyền phép đi nữa. Ngay cả nếu ta không bao giờ được nhìn thấy người. Ngay cả nếu người không bao giờ nói với ta một lời nào.” Nhưng trí tưởng tượng sôi nổi của cậu đưa cậu đi xa hơn cả những ý nghĩ ấy, và cậu mường tượng ra mình lại đang đối mặt với Tổng Pháp Sư trong mảnh sân dưới bóng cây thanh lương trà, với bầu trời tối sầm, những cành cây trụi lá và đài phun nước câm lặng; và cậu nói, “Thưa Tổng Pháp Sư, cơn bão đang kéo đến rồi, nhưng con sẽ ở lại bên ngài và phụng sự ngài,” rồi Tổng Pháp Sư mỉm cười với cậu... Nhưng đến đó thì trí tưởng tượng của cậu đành chịu thua, bởi vì cậu chưa bao giờ nhìn thấy một nụ cười nở ra trên khuôn mặt nâu sạm đó.
Sáng hôm sau cậu thức giấc với cảm giác rằng hôm qua mình còn là một chú bé, đến hôm nay thì đã là người trưởng thành. Cậu đã sẵn sàng đối mặt với bất kỳ điều gì. Nhưng khi điều ấy xảy ra thì cậu lại chỉ biết há hốc miệng đứng đó. “Tổng Pháp Sư muốn nói chuyện với hoàng tử, thưa hoàng tử Arren,” một chú bé học trò tập sự đứng ở ngưỡng cửa nói, đợi một lát rồi chạy biến đi trước khi Arren kịp trấn tĩnh lại để trả lời.
Cậu liền tìm đường đi xuống cầu thang ngọn tháp, qua những dãy hành lang bằng đá, tiến về phía khoảng sân Đài Phun Nước, không biết mình phải đi đâu. Một ông già đón cậu ở hành lang, với một nụ cười khiến những nếp nhăn hằn sâu hai bên má từ mũi đến cằm ông: cũng chính ông là người đã đón cậu ngày hôm qua ở cửa Nhà Chính khi cậu mới từ bến cảng lên, và đã buộc cậu phải nói tên thật của mình trước khi cho cậu bước vào. “Hãy đi theo ta,” thầy Giữ Cửa nói.
Ở phần nhà này, những gian buồng và khoảng hành lang đều im lặng, không hề có tiếng ồn ào của đám học sinh khiến phần còn lại của khu nhà luôn luôn huyên náo. Ở đây ta có thể cảm thấy rõ từng bức tường cổ kính. Ở đây, ta gần như có thể chạm vào được các bùa phép dùng để dựng nên những tảng đá này từ thuở xa xưa và bảo vệ chúng. Xen kẽ giữa những phiến đá là các cổ tự được chạm khắc rất sâu, một số còn được khảm bạc. Arren đã được cha dạy cho Cổ Tự tiếng Hardic, nhưng cậu không biết bất kỳ chữ nào trong số các cổ tự được khắc ở đây, mặc dù một số chữ nhất định dường như có một ý nghĩa mà cậu gần như biết được, hay đã từng biết mà không thể nhớ nổi.
“Đến nơi rồi, chàng trai,” người Giữ Cửa nói, ông vốn chẳng bao giờ để ý đến những tước hiệu như là Lãnh Chúa hay Hoàng Tử cả. Arren đi theo ông bước vào một gian buồng dài, trần thấp, một bên là cái lò sưởi bằng đá với một đống lửa đang bập bùng cháy, những lưỡi lửa hắt bóng trên sàn gỗ sồi, còn bên kia là những ô cửa sổ nhọn, để lọt vào thứ ánh sáng dịu nhẹ lạnh lẽo của buổi sáng đầy sương. Đứng trước lò sưởi là một nhóm người. Tất cả quay lại nhìn khi cậu bước vào, nhưng trong số đó cậu chỉ nhìn thấy có một người duy nhất, Tổng Pháp Sư. Cậu dừng lại, cúi đầu chào, rồi đứng lặng im.
“Đây là các Vị Thầy của đảo Roke, Arren,” Tổng Pháp Sư nói, “bảy trong số chín người. Thầy Kiến Tạo không chịu rời khỏi Cụm Rừng của mình, còn thầy Khởi Danh thì đang ở trên tòa tháp cách đây ba mươi dặm về phía Bắc. Tất cả bọn họ đều biết con đến đây vì việc gì. Các thầy, đây là người con của Morred.”
Arren không hề thấy niềm tự hào dâng lên trong lòng khi nghe điều đó, mà chỉ mơ hồ sợ hãi. Cậu rất hãnh diện vì dòng dõi của mình, nhưng chỉ nghĩ mình là người thừa kế vương quyền, một trong bao nhiêu người con khác của dòng họ Enlad. Morred, tổ tiên của dòng họ ấy, đã chết hai ngàn năm nay rồi. Các chiến công của người đã trở thành huyền thoại, không còn thuộc về thế giới hiện tại nữa. Cậu mang máng hình như Tổng Pháp Sư đã gọi cậu là đứa con của thần thoại, người thừa kế những giấc mơ.
Cậu không dám ngước lên nhìn gương mặt của tám vị thầy. Cậu dán mắt vào đầu cây gậy bọc sắt của Tổng Pháp Sư, và thấy mạch máu đập thình thịch trong tai.
“Nào, chúng ta đi ăn sáng thôi,” Tổng Pháp Sư nói, rồi dẫn họ đến một bàn ăn đã dọn sẵn bên dưới các ô cửa sổ. Trên bàn có sữa, bia, bánh mì, bơ mới làm và pho mát. Arren ngồi xuống cùng họ rồi ăn.
Cả đời mình cậu từng được ở bên các nhà quý tộc, địa chủ, thương gia giàu có. Cung điện của cha cậu ở Berila luôn đầy những người như vậy: những người nhiều của cải, mua nhiều và bán cũng nhiều, những người giàu có về vật chất. Họ ăn thịt, uống rượu và cười nói oang oang; nhiều người hay cãi cọ, cũng có không ít kẻ nịnh bợ, phần lớn chỉ hòng tìm kiếm điều gì đó cho bản thân mình. Mặc dù còn nhỏ tuổi, Arren đã học được rất nhiều về lối xử sự và cách ngụy trang che đậy của con người. Nhưng cậu chưa bao giờ gặp những người nào như thế này. Họ ăn bánh mì và không nói gì nhiều, gương mặt hết sức điềm tĩnh. Nếu họ có tìm kiếm điều gì thì đó cũng không phải là cho bản thân họ. Thế nhưng họ mang trong mình những quyền năng vĩ đại: Arren cũng nhận ra cả điều ấy nữa.
Tổng Pháp Sư Chim Cắt ngồi ở đầu bàn, dường như đang lắng nghe những điều đang thốt ra, thế nhưng ông vẫn lặng im và không ai nói gì với ông cả. Cũng không ai chú ý đến Arren, vì vậy cậu có thời gian để bình tĩnh trở lại. Ngồi bên trái cậu là người Giữ Cửa, còn bên phải cậu là một người tóc đã ngả bạc với vẻ mặt hiền từ, mãi một hồi sau ông mới nói với cậu, “Chúng ta là đồng hương đấy, Hoàng Tử Arren ạ. Ta sinh ra ở phía Đông Enlad, bên bìa Rừng Aol.”
“Con đã từng đi săn ở khu rừng ấy,” Arren đáp, rồi họ trò chuyện đôi chút về những cánh rừng và những thành đô trên Hòn Đảo Thần Thoại, và ký ức về quê hương đã an ủi Arren.
Khi ăn xong, họ lại tụ tập bên lò sưởi, người ngồi, người đứng, và trong thoáng chốc im lặng lại bao trùm lên tất cả.
“Đêm qua,” Tổng Pháp Sư nói, “chúng ta đã họp mặt. Chúng ta đã bàn bạc rất lâu, nhưng không giải quyết được điều gì. Giờ tôi muốn các ngài hãy nói rõ, giữa ánh sáng ban ngày, xem các ngài giữ nguyên hay phủ nhận quyết định của mình đêm qua.”
“Việc chúng ta không giải quyết được điều gì tự bản thân nó cũng đã là một quyết định rồi,” thầy Thảo Mộc, một người thấp mập, da nâu, với cặp mắt bình thản, lên tiếng. “Trong Cụm Rừng ta thường tìm thấy các phép kiến tạo; nhưng ở đó chúng ta lại chẳng thấy được gì khác ngoài sự tranh cãi.”
“Chỉ là vì chúng ta không thể thấy rõ phép kiến tạo mà thôi,” vị thầy tóc bạc người Enlad, thầy Biến Hóa, nói. “Chúng ta không có đủ kiến thức. Chúng ta chỉ có tin đồn ở Warthort; và tin tức từ Enlad. Những tin tức kỳ lạ, và cần phải được xem xét kỹ càng. Nhưng chỉ một nền tảng sơ sài như vậy thì không đáng để chúng ta phải hoảng hốt. Quyền lực của chúng ta sẽ không bị đe dọa chỉ vì mấy tên phù thủy quèn đã quên mất lời thần chú.”
“Tôi cũng đồng ý như vậy,” thầy Phong Vũ, một người cao gầy, mắt sắc, cũng cất tiếng. “Chẳng phải là chúng ta vẫn còn giữ được quyền năng của mình đấy sao? Chẳng phải các cây trong Cụm Rừng vẫn vươn lên và trổ lá đấy sao? Chẳng phải các cơn dông tố vẫn nghe theo mệnh lệnh của chúng ta đấy sao? Liệu có ai phải lo sợ cho những quyền năng pháp thuật, thứ quyền lực cổ xưa nhất của con người?”
“Không một người nào,” thầy Triệu Tập, một người trẻ tuổi, cao lớn, có khuôn mặt đen bóng cao quý và giọng nói trầm trầm, đáp lại, “không một người nào, không một quyền năng nào, có thể trói buộc các pháp thuật hay xóa bỏ những thần chú. Bởi vì đó là ngôn ngữ Kiến Tạo, và kẻ nào có thể xóa bỏ chúng thì ắt cũng có thể phá hủy cả thế giới.”
“Phải, và kẻ làm được điều đó sẽ không có mặt ở Wathort hay là Narveduen,” thầy Biến Hóa nói. “Hắn sẽ phải ở ngay đây, bên cánh cổng trường Roke này, và như vậy thì ngày tận thế đã gần kề! Chúng ta vẫn chưa phải đối mặt với điều đó.”
“Thế nhưng vẫn có điều gì đó bất ổn,” một người khác xen vào, và tất cả bọn họ đều quay sang nhìn người đó: ông có lồng ngực vạm vỡ, rắn chắc như một chiếc thùng gỗ sồi, đang ngồi bên lò sưởi, và giọng nói phát ra từ miệng ông thì nhẹ nhàng và trong trẻo như tiếng một quả chuông lớn vậy. Đó là thầy Thi Sĩ. “Vị quốc vương đáng lẽ phải ở trên ngai vàng ở Havnor đâu? Roke không phải là trung tâm của thế giới. Trung tâm của thế giới chính là tòa tháp ở Havnor, nơi cắm thanh gươm của Erreth-Akbe, nơi đặt ngai vàng của Serriadh, của Akambar, của Maharion. Tám trăm năm rồi trung tâm của thế giới vẫn trống không! Chúng ta có chiếc vương miện, nhưng không có vị quốc vương nào để mang nó. Chúng ta đã tìm được Cổ Tự Thất Lạc, Cổ Tự của Quốc Vương, Cổ Tự Hòa Bình, nhưng chúng ta có hòa bình thật sự hay không? Chỉ khi nào trên ngai vàng có một vị vua thì chúng ta mới có được hòa bình, và khi ấy thì ngay cả ở vùng Hải Địa xa xôi nhất các pháp sư cũng có thể thực hiện pháp thuật mà tâm trí không chút vướng bận, và mọi thứ sẽ lại có khuôn phép, trật tự.”
“Đúng vậy,” thầy Ảo Thuật nói, đó là một người nhỏ bé, nhanh nhẹn, vóc dáng khiêm tốn nhưng lại có cặp mắt rất sáng và tinh tường. “Tôi đồng ý với ngài, Thi Sĩ ạ. pháp thuật rối loạn thì có gì là lạ đâu, khi mà tất cả mọi việc khác đều bất an? Khi cả bầy cừu đi lạc thì con chiên ghẻ của chúng ta có ở lại bên bãi nhốt không?”
Nghe vậy người Giữ Cửa liền bật cười, nhưng ông không nói gì.
“Nếu vậy thì các ngài đều nghĩ rằng dường như không có điều gì đáng lo ngại lắm,” Tổng Pháp Sư nói, “hoặc nếu có thì nó cũng bắt nguồn từ việc xứ sở của chúng ta không được cai quản hoặc bị cai quản một cách sai lầm, vì vậy mọi quyền lực và pháp thuật tối cao của con người trở nên trì trệ vì bị sao nhãng. Tôi cũng đồng tình với những điều đó. Quả thực, chính bởi vì chúng ta gần như không thông thương một cách hòa bình với vùng đất phía Nam, nên chúng ta chỉ có thể phụ thuộc vào những chuyện đồn thổi, và liệu có ai nghe được điều gì đáng tin cậy từ vùng Tây Hải không, ngoại trừ tin tức được đưa đến từ Narveduen này? Nếu tàu thuyền được đi lại an toàn như thuở xưa, nếu toàn bộ các hòn đảo trên xứ Hải Địa đều thống nhất, thì chúng ta đã có thể biết được tin tức ở các vùng đất xa xôi, và có thể dựa vào đó mà hành động. Và tôi nghĩ rằng chúng ta phải hành động! Bởi vì, thưa các thầy, khi Hoàng Thân xứ Enlad nói với chúng ta rằng ông đã dùng ngôn ngữ Kiến Tạo để đọc thần chú, thế nhưng khi thốt lên những từ ấy ông lại không hiểu chúng có nghĩa là gì; khi thầy Kiến Tạo nói rằng nỗi khiếp sợ đang tỏa ra từ các rễ cây rồi không chịu nói gì thêm nữa: liệu như vậy có phải là một nền tảng sơ sài, không đủ để chúng ta phải lo ngại hay không? Khi một cơn bão hình thành, nó chỉ là một đám mây nhỏ ở phía chân trời mà thôi.”
“Ngài có khả năng cảm nhận được những điều hắc ám, Chim Cắt ạ,” người Giữ Cửa nói. “Luôn là vậy. Hãy cho chúng tôi biết ngài nghĩ có điều gì không ổn đi.”
“Tôi không biết. Quyền phép đang yếu dần đi. Có điều gì đó đang cần được giải đáp. Ánh sáng mặt trời đang mờ dần đi. Các thầy, tôi cảm thấy... tôi cảm thấy rằng những người chúng ta đang ngồi đây trò chuyện, tất cả chúng ta đều đang bị những vết thương chí tử, và trong khi chúng ta cứ nói hoài, nói mãi, thì máu đang từ từ rỉ ra từ động mạch của chúng ta...”
“Và ngài muốn ra tay làm điều gì đó.”
“Đúng vậy,” Tổng Pháp Sư trả lời.
“Liệu bầy cú có thể giữ cho con chim cắt không cất cánh được hay chăng?” người Giữ Cửa nói.
“Nhưng ngài sẽ đi đâu?” thầy Biến Hóa hỏi, và thầy Thi Sĩ trả lời: “Để tìm quốc vương của chúng ta và đưa người lên ngôi báu!”
Tổng Pháp Sư nghiêm nghị nhìn thầy Thi Sĩ, nhưng ông chỉ đáp lại, “Tôi sẽ đi đến nơi nào có sự rối loạn.”
“Phía Nam hay phía Tây,” thầy Phong Vũ nói.
“Và cả phía Bắc và phía Đông nữa, nếu cần,” người Giữ Cửa nói.
“Nhưng ở đây chúng tôi cũng cần có ngài, thưa Tổng Pháp Sư,” thầy Biến Hóa nói. “Thay vì lang thang tìm kiếm vô định giữa những kẻ thù địch trên biển cả xa lạ, sao ngài không ở lại đây nơi pháp thuật vẫn còn quyền lực mà dùng bùa chú của mình để tìm hiểu xem sự xấu xa hay rối loạn này là gì, như vậy chẳng khôn ngoan hơn hay sao?”
“Các bùa chú của tôi chẳng giúp gì được cho tôi cả,” Tổng Pháp Sư nói. Trong giọng điệu của ông có vẻ gì đó khiến tất cả nghiêm trang quay sang nhìn ông một cách lo lắng. “Tôi là người Giám Hộ của Roke. Tôi không thể dễ dàng rời khỏi đảo Roke được. Tôi đã mong rằng ý kiến của các ngài cũng giống như ý kiến của tôi; nhưng giờ thì không thể hy vọng vào điều đó được nữa. Quyết định này phải do tôi đưa ra: và tôi phải ra đi.”
“Chúng tôi xin phục tùng quyết định đó,” thầy Triệu Tập nói.
“Và tôi sẽ đi một mình. Các ngài là Hội Đồng đảo Roke, và Hội Đồng ấy không được phép bị phá vỡ. Thế nhưng tôi sẽ đưa một người theo mình, nếu người ấy bằng lòng đi cùng tôi.” Ông nhìn Arren. “Hôm qua con đã tỏ lòng sẵn sàng phụng sự ta. Đêm qua thầy Kiến Tạo đã nói, ‘Không người nào tình cờ đến đảo Roke này. Không phải là tình cờ mà một người con của Morred lại đem tin tức ấy đến đây.’ Và sau đó ông ấy không nói gì nữa. Vì vậy ta hỏi con, Arren, con có bằng lòng đi với ta không?”
“Có ạ, thưa ngài,” Arren đáp, cổ họng khô khốc.
“Cha của hoàng tử chắc chắn sẽ không cho phép hoàng tử dấn thân vào mối nguy hiểm ấy đâu,” thầy Biến Hóa nói có phần gay gắt, rồi quay sang Tổng Pháp Sư, “Cậu bé còn quá nhỏ và lại không được dạy dỗ chút pháp thuật nào cả.”
“Tôi có đủ năm tháng kinh nghiệm và bùa chú cho cả hai chúng tôi,” Chim Cắt khô khan đáp. “Arren, phụ hoàng của con thì sao?”
“Người sẽ cho phép con đi ạ.”
“Làm sao hoàng tử biết?” thầy Triệu Tập hỏi.
Arren không biết cậu sẽ phải đi tới đâu, lúc nào cậu phải lên đường, hay tại sao. Cậu hết sức bối rối và lúng túng trước những con người nghiêm nghị, trung thực, đáng sợ này. Nếu có thời gian để suy nghĩ thì hẳn cậu đã không thốt ra một lời. Nhưng cậu không còn thời gian nào để nghĩ ngợi nữa; vả lại chính Tổng Pháp Sư đã hỏi cậu, “Con có bằng lòng đi với ta không?”
“Khi phụ hoàng của con cử con đến đây người đã nói với con, ‘Ta e rằng một thời kỳ đen tối đang sắp đến với xứ sở này, một thời kỳ đầy rẫy hiểm nguy. Vì vậy ta đã cử con đi thay vì bất kỳ một sứ giả nào khác, bởi vì con có thể tự mình xét xem trong việc này chúng ta nên nhờ Đảo Thông Thái giúp đỡ hay đem đến cho họ sự trợ giúp của đảo Enlad.’ Vì vậy, nếu ngài cần đến con, con xin sẵn lòng.”
Nói đoạn, cậu thấy Tổng Pháp Sư mỉm cười. Nụ cười ấy đầy vẻ dịu dàng, dù chỉ thoảng qua. “Các ngài có thấy không?” ông hỏi bảy vị pháp sư còn lại. “Liệu tuổi tác hay pháp thuật có thể thêm vào chút gì cho tấm lòng này hay không?”
Arren cảm thấy khi ấy các vị thầy liền quay sang nhìn cậu vẻ khen ngợi, nhưng vẫn còn một chút băn khoăn, nghi ngại trong ánh mắt của họ. Thầy Triệu Tập lên tiếng, cặp lông mày uốn cong nhíu lại: “Tôi không hiểu, thưa Tổng Pháp Sư. Tôi hiểu vì sao ngài lại muốn ra đi. Ngài đã bị câu thúc trên đảo này năm năm rồi. Nhưng trước kia ngài luôn là người đơn thương độc mã; ngài luôn ra đi chỉ có một mình. Tại sao giờ ngài lại muốn có bạn đồng hành?”
“Trước kia tôi chưa bao giờ cần được giúp đỡ cả,” Chim Cắt nói, với một thoáng đe dọa hay mỉa mai. “Và tôi đã tìm được một người bạn đồng hành thích hợp.” Ông có vẻ gì đó hết sức dữ dằn, và thầy Triệu Tập không hỏi gì nữa, nhưng ông ta vẫn nhíu mày.
Nhưng thầy Thảo Mộc, với cặp mắt bình thản và nước da đen bóng như một con bò tót khôn ngoan và nhẫn nại, bỗng đứng dậy, người vươn lên cao lớn. “Hãy đi đi, thưa Tổng Pháp Sư,” ông nói, “và đưa cậu bé đi cùng với ngài. Chúng tôi xin phó thác mọi điều cho ngài.”
Từng người một, những vị thầy còn lại đều lặng lẽ tỏ ý đồng tình, rồi họ rời đi, một mình hoặc hai người với nhau, cho đến khi trong số bảy người chỉ còn lại thầy Triệu Tập. “Chim Cắt,” ông nói, “tôi không có ý ngờ vực quyết định của ngài. Nhưng tôi chỉ xin nói điều này: Nếu ngài nói đúng, nếu quả thực có điều không cân bằng đang diễn ra và một tai họa đáng sợ đang cận kề, thì một chuyến đi đến Wathort, hay đến vùng Tây Hải, hay thậm chí là đến tận cùng thế giới chăng nữa, sẽ là không đủ xa. Liệu ngài có thể đem theo chú bé đồng hành này đến những nơi ngài phải đến không, và liệu như vậy đối với cậu bé thì có là công bằng hay không?”
Họ đứng cách Arren một quãng, và thầy Triệu Tập hạ giọng thật thấp, nhưng Tổng Pháp Sư vẫn công khai đáp lại: “Điều đó hoàn toàn là công bằng.”
“Ngài không chịu nói với tôi tất cả những điều ngài biết,” thầy Triệu Tập nói.
“Nếu tôi biết được điều gì thì tôi sẽ nói với ngài. Tôi không biết gì cả. Tôi chỉ đoán mò mà thôi.”
“Xin cho tôi cùng đi với ngài.”
“Phải có người canh giữ các cánh cổng.”
“Đó là việc của người Giữ Cửa...”
“Không phải chỉ có các cánh cổng của trường Roke mà thôi. Hãy ở lại đây, và ngắm nhìn mặt trời mọc để xem nó có rực sáng hay không, và đứng bên bức tường đá để nhìn xem ai đi ngang qua đó và mặt họ quay về hướng nào. Nơi nào bị xâm phạm, Thorion ạ, tất nó sẽ bị phá hủy, và đó chính là cái tôi muốn tìm kiếm. Nếu tôi thất bại thì có lẽ ngài sẽ tìm được nó. Nhưng xin hãy chờ đợi. Tôi xin ngài hãy đợi tôi trở về.” Giờ ông chuyển sang nói bằng Cổ Ngữ, thứ ngôn ngữ Kiến Tạo được dùng để viết các lời thần chú, và các bùa phép cao cường nhất đều phụ thuộc vào nó; nhưng rất ít khi được dùng trong lời nói thường ngày, ngoại trừ giữa loài rồng với nhau. Thầy Triệu Tập không phản đối hay tranh cãi gì nữa, và chỉ lặng lẽ cúi gập thân hình cao lớn của mình trước cả Tổng Pháp Sư lẫn Arren, rồi dời gót.
Lửa reo lách tách trong lò. Không có một tiếng động nào khác. Bên ngoài các ô cửa sổ, màn sương mù cuộn xoáy mờ mịt, không thành hình thù gì.
Tổng Pháp Sư đứng nhìn ngọn lửa, dường như đã quên mất sự có mặt của Arren. Cậu thiếu niên đứng cách lò sưởi một quãng, không biết cậu nên tự động rời đi hay là đợi được phép cho lui, lòng phân vân, còn có phần sầu não nữa, và lại cảm thấy mình giống như một con người nhỏ bé giữa khoảng không gian mênh mông tăm tối, rối loạn.
“Chúng ta sẽ đến Thành Hort trước,” Chim Cắt nói, quay lưng lại với lò sưởi. “Tin tức từ khắp Nam Hải đều đổ về đó, và chúng ta có thể tìm được một đầu mối. Tàu của con vẫn còn đang đợi ở dưới vịnh. Con hãy đến gặp ông thuyền trưởng; bảo ông ta đem tin về cho phụ hoàng của con. Ta nghĩ chúng ta nên lên đường càng sớm càng tốt. Vào lúc bình minh ngày mai. Con hãy đến chỗ các bậc thang dẫn xuống nhà để thuyền.”
“Thưa Tổng Pháp Sư, người định...” Cậu nghẹn lời trong chốc lát. “Người định đi tìm điều gì ạ?”
“Ta không biết, Arren à.”
“Thế thì...”
“Vậy thì làm sao ta có thể tìm được nó ư? Điều đó ta cũng không biết. Có lẽ nó sẽ đến tìm ta.” Ông hơi mỉm cười với Arren, nhưng dưới ánh sáng xám xịt của ô cửa sổ, mặt ông vẫn nghiêm trang như tạc bằng thép.
“Thưa Tổng Pháp Sư,” Arren lại nói, và giờ thì giọng cậu đã vững vàng hơn, “đúng là con thuộc dòng dõi của Morred, nếu như việc tra cứu một dòng họ lâu đời đến vậy vẫn còn chính xác. Nếu con có thể phụng sự ngài thì con sẽ coi đây là cơ hội và niềm vinh dự lớn nhất trong đời mình, và con không muốn làm điều gì hơn thế. Nhưng con e rằng ngài đã lầm khi nghĩ là con tài giỏi hơn những khả năng thực chất của con.”
“Có lẽ vậy,” Tổng Pháp Sư nói.
“Con không có quyền phép hay năng lực to lớn gì. Con có thể đấu gươm bằng đoản kiếm và kiếm thường. Con có thể lái thuyền buồm. Con biết các điệu vũ cung đình và các điệu vũ thôn dã. Con có thể hòa giải một cuộc tranh cãi giữa các triều thần. Con có thể đấu vật. Con bắn cung không giỏi lắm, và con rất giỏi môn bóng vợt. Con biết hát, biết chơi đàn hạc và đàn luýt. Tất cả chỉ có vậy. Không còn gì nữa. Con giúp ích gì cho người được? Thầy Triệu Tập đã nói đúng…”
“À, con đã nhận thấy điều đó, phải không? Ông ấy chỉ ghen tị đấy thôi. Ông ấy nghĩ rằng mình có đặc quyền vì lòng trung thành lâu năm hơn.”
“Và cả quyền năng mạnh mẽ hơn nữa ạ, thưa Tổng Pháp Sư.”
“Vậy con muốn để ông ấy đi cùng ta, còn con thì ở lại sao?”
“Thưa không ạ! Nhưng con chỉ sợ...”
“Sợ gì?”
Nước mắt dâng lên trong mắt cậu thiếu niên. “Con sợ sẽ phụ lòng tin của ngài.”
Tổng Pháp Sư lại quay về phía lò sưởi. “Ngồi xuống đi, Arren,” ông nói, và cậu liền đến chiếc ghế đá ở góc lò. “Ta không hề tưởng nhầm con là một pháp sư hay một chiến binh hay bất kỳ người tài năng nào. Con là gì thì ta không biết, mặc dù ta rất mừng khi biết rằng con có thể lái thuyền buồm... Con sẽ trở thành người như thế nào thì cũng không ai có thể biết được. Nhưng có điều này ta biết rõ: con là hậu duệ của Morred và Serriadh.”
Arren im lặng. “Đúng vậy ạ, thưa ngài,” cuối cùng cậu thốt lên. “Nhưng…” Tổng Pháp Sư không nói gì, và cậu đành phải nói nốt: “Nhưng con không phải là Morred. Con chỉ là chính con mà thôi.”
“Con không tự hào về dòng dõi của mình sao?”
“Có chứ ạ, con tự hào về điều đó... bởi vì có nó con mới được là một hoàng tử, nó là một trọng trách, khiến con phải sống sao cho xứng đáng với nó...”
Tổng Pháp Sư gật đầu gọn lỏn. “Đó chính là điều ta muốn nói đấy. Chối bỏ quá khứ cũng tức là chối bỏ tương lai. Con người không thể tạo ra số mệnh cho bản thân mình: ta chỉ có thể chấp nhận hoặc chối bỏ nó. Nếu rễ cây thanh lương trà chỉ đâm xuống đất nông thì nó không thể vươn lên cao được.” Nghe vậy Arren bỗng giật mình ngẩng lên, bởi vì tên thật của cậu, Lebannen, nghĩa là cây thanh lương trà. Nhưng Tổng Pháp Sư đã không hề gọi tên cậu. “Gốc rễ của con vươn đi rất sâu,” ông nói tiếp. “Con có sức mạnh, và con phải có cơ hội để trưởng thành. Vì vậy ta cho con, thay vì một chuyến đi an toàn trở về quê nhà Enlad, thì lại là một cuộc hành trình đầy bất trắc tới một cái đích mơ hồ. Con không cần phải theo ta. Con có toàn quyền lựa chọn. Nhưng ta cho con cái quyền lựa chọn ấy. Bởi vì ta đã mệt mỏi vì những nơi an toàn và những mái nhà cùng tường thành bao quanh ta rồi.” Ông ngừng bặt lại và nhìn quanh mình bằng cặp mắt sắc sảo mà xa xăm. Arren thấy ở ông nỗi bồn chồn bứt rứt trong sâu thẳm thâm tâm, và nó khiến cậu sợ hãi. Thế nhưng nỗi sợ lại càng làm cậu phấn chấn hơn, và tim cậu nhảy lên trong lồng ngực khi cậu đáp lại, “Thưa Tổng Pháp Sư, con xin chọn được đi theo ngài.”
Arren ra khỏi Nhà Chính, trong lòng và tâm trí đầy những điều thắc mắc. Cậu tự nhủ rằng mình đang rất sung sướng, nhưng từ ấy dường như không thích hợp chút nào. Cậu tự nhủ rằng Tổng Pháp Sư đã nói cậu là một người mạnh mẽ, có thể làm chủ số phận của mình, và cậu phải tự hào vì những lời khen ấy; nhưng cậu lại không thấy tự hào. Tại sao lại không chứ? Vị pháp sư hùng mạnh nhất trên toàn thế gian đã bảo cậu, “Ngày mai chúng ta sẽ giương buồm đi đến bến bờ của sự diệt vong,” vậy mà cậu vẫn gật đầu và đi theo: chẳng phải là cậu nên cảm thấy tự hào hay sao? Nhưng cậu không cảm thấy như vậy. Cậu chỉ thấy băn khoăn mà thôi.
Cậu đi qua những con phố dốc uốn lượn của Thành Thwil, để tìm vị thuyền trưởng của mình dưới Bến Cảng, và nói với ông ta, “Ngày mai ta sẽ lên đường cùng với Tổng Pháp Sư để đến Wathort và vùng Nam Hải. Hãy nói với phụ hoàng của ta rằng khi thực hiện xong sứ mệnh này ta sẽ trở về nhà ở Berila.”
Vị thuyền trưởng nghiêm mặt lại. Ông ta biết rõ kẻ đem đến những tin tức như thế sẽ được Hoàng Thân xứ Enlad tiếp đón ra sao. “Tôi phải có một bức thư nói về việc này do chính tay ngài viết, thưa hoàng tử,” ông ta nói. Thấy đó là điều hợp lý, Arren liền chạy vội đi - cậu nghĩ tất cả mọi việc phải được làm ngay tức thì - và tìm thấy một cửa hàng nhỏ lạ lùng, ở đó cậu liền mua nghiên mực, bút và một tờ giấy mềm, dày như vải nỉ; rồi cậu vội vã quay về bến cảng và ngồi xuống bên cầu tàu để viết thư cho cha mẹ mình. Khi nghĩ tới cảnh mẫu thân cầm tờ giấy này trong tay và đọc bức thư, cậu bỗng thấy lòng nhói đau. Bà là một người phụ nữ bình thản, kiên nhẫn, nhưng Arren biết cậu chính là chỗ dựa cho vẻ mãn nguyện ấy của bà, và bà hết lòng mong cậu nhanh chóng trở về. Sẽ chẳng có cách nào để an ủi bà trong những ngày dài cậu vắng mặt. Lá thư của cậu rất ngắn gọn và khô khan. Cậu ký tên bằng cổ tự hình thanh gươm, lấy một ít hắc ín ở cái lọ đựng dầu trám thuyền cạnh đó niêm phong lá thư lại, rồi đưa nó cho viên thuyền trưởng. Rồi cậu lại nói, “Đợi đã!” như thể con tàu sắp sửa nhổ neo ngay lúc đó vậy, và chạy ngược lên dãy phố trải sỏi, quay lại cửa hàng nhỏ kỳ quặc kia. Phải mất một lúc cậu mới tìm được nó, bởi vì các con phố ở Thwil có vẻ gì đó rất dị thường; hình như cứ mỗi lần ta đi qua các ngả rẽ lại thay đổi. Rốt cuộc thì cậu cũng đến được đúng con phố và lao vào cửa hàng dưới những chuỗi hạt bằng đất nung màu đỏ treo ở cửa để trang trí. Ban nãy khi mua bút mực cậu đã để ý thấy trên một cái khay đựng đầy trâm và ghim cài, có một chiếc trâm cài bằng bạc hình bông hoa hồng dại; và tên mẫu thân của cậu lại là Hoa Hồng. “Ta mua cái kia,” cậu nói với cái vẻ vội vàng, đầy uy quyền quen thuộc của mình.
“Đó là đồ bạc cổ của Đảo O đấy. Tôi thấy công tử quả là sành đồ mỹ nghệ cổ,” người chủ cửa hàng nói, ngắm nghía cái chuôi - chứ không phải là chiếc bao đẹp đẽ - của thanh gươm Arren đeo bên mình. “Giá là bốn đồng ngà ạ.”
Arren trả cái giá khá đắt ấy mà không hỏi han gì; hầu bao của cậu đựng đầy những thẻ ngà mà vùng Đảo Nội Địa dùng làm tiền. Cái ý nghĩ có quà gửi về cho mẹ khiến cậu vui vui; việc mua quà cũng khiến cậu vui; và khi ra khỏi cửa hàng cậu đặt tay lên núm chuôi gươm với dáng bộ hiên ngang.
Phụ hoàng của cậu đã trao cho cậu thanh gươm ấy vào đêm cậu rời Enlad. Cậu đã nghiêm trang nhận lấy nó và đeo bên mình như thể đó là bổn phận của cậu, ngay cả khi ở trên tàu. Cậu kiêu hãnh khi cảm thấy sức nặng của nó bên hông và sức nặng từ sự lâu đời của nó trên tâm hồn mình. Bởi vì nó chính là thanh gươm của Serriadh, con trai của Morred và Elfarran; trên đời này không còn thanh gươm nào cổ hơn ngoại trừ thanh gươm của Erreth-Akbe được gắn trên đỉnh Tháp Quốc Vương ở Havnor. Thanh gươm của Serriadh không bao giờ bị cất đi hay giữ kín mà luôn được đeo bên mình; tuy đã từ nhiều thế kỷ nay nó chưa hề được dùng tới, thế nhưng quyền năng của nó vẫn không hề giảm sút, vì nó đã được rèn bởi một pháp thuật hết sức hùng mạnh. Lịch sử của thanh gươm truyền lại rằng nó chưa bao giờ được rút ra khỏi vỏ, và cũng không bao giờ có thể được rút ra, ngoại trừ vào lúc thập tử nhất sinh. Nó sẽ không bao giờ chịu để cho ai rút ra khỏi vỏ vì lòng tham, vì ham mê chém giết, hay để trả thù, không bao giờ được dùng trong chiến tranh cướp bóc. Tên thường gọi của Arren chính là được đặt theo thanh gươm này, vật báu vĩ đại của dòng họ cậu: khi còn bé cậu đã được gọi là Arrendek, nghĩa là “Thanh Gươm Nhỏ”.
Cậu chưa bao giờ phải dùng đến thanh gươm, cả cha cậu, cả ông nội cậu cũng vậy. Nền hòa bình đã ngự trị ở Enlad suốt một thời gian rất dài.
Còn giờ đây, trên con phố của thành đô kỳ lạ trên Đảo Pháp Sư, chuôi thanh gươm có cảm giác thật khác thường khi cậu chạm vào. Trong bàn tay cậu nó có vẻ vướng víu, lạnh ngắt. Thanh gươm nặng làm chậm chân cậu, khiến cậu phải lê bước khó nhọc. Và cái cảm giác băn khoăn của cậu vẫn còn nguyên trong lòng, chỉ có điều là nó đã nguội lạnh đi. Cậu quay trở lại bến cảng, đưa chiếc trâm cài cho viên thuyền trưởng để đem về cho mẫu thân cậu, rồi từ biệt ông ta, chúc ông ta thượng lộ bình an. Khi quay đi, cậu kéo áo choàng trùm lên chiếc bao gươm bọc lấy món vũ khí cổ kính, không khoan nhượng ấy, cái vật đáng sợ mà cậu đã được thừa kế. “Ta đang làm gì thế này?” cậu tự hỏi trong khi bước lên những con đường hẹp, bước chân không còn vội vã như trước nữa, để đến khu Nhà Chính vươn cao như một pháo đài bên trên thành phố. “Tại sao ta lại không trở về nhà? Tại sao ta lại đi tìm kiếm một thứ ta không hiểu rõ, cùng với một người mà ta không quen biết?”
Và cậu chẳng tìm được câu trả lời nào cho những câu hỏi của mình.