Xứ Hải Địa 3, Bến Bờ Xa Nhất

Lượt đọc: 247 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THÀNH HORT

TRONG BÓNG TỐI TRƯỚC LÚC BÌNH MINH, Arren mặc bộ quần áo người ta đã đưa cho cậu, một bộ đồ của người đi biển, đã sờn nhưng sạch sẽ, rồi vội vã đi qua những dãy hành lang im lìm của Nhà Chính để đến cổng phía Đông, cánh cổng tạc bằng sừng và răng rồng. Ở đó người Giữ Cửa mở cổng cho cậu và chỉ cho cậu đường phải đi, trên mặt thoáng một nét cười. Cậu men theo con phố cao nhất của thành đô rồi đi xuống một lối mòn dẫn đến nhà để thuyền của Trường, nằm dọc bờ vịnh ở phía Nam cảng Thwil. Trời chỉ vừa đủ sáng cho cậu thấy được đường đi. Cây cối, mái nhà, các dãy đồi chỉ là những đám lờ mờ trong cảnh tranh tối tranh sáng; bầu không khí mờ tối hết sức yên lặng và lạnh ngắt; mọi vật đều im phăng phắc như đang thu mình vào, làm cho mình nhạt nhòa đi. Chỉ ở phía Đông xa xa trên mặt biển tối, mới có một đường thẳng mờ sáng, rõ nét: đó là đường chân trời, đang sáng dần lên nhờ vầng mặt trời sắp mọc.

Cậu xuống đến các bậc thang của nhà để thuyền. Ở đó không có ai; không có thứ gì chuyển động. Cậu thấy người ấm áp trong áo choàng thủy thủ rộng thùng thình và chiếc mũ len, nhưng khi đứng đợi trên các bậc thang đá trong bóng tối, cậu vẫn rùng mình run rẩy.

Dãy nhà để thuyền vươn lên đen ngòm bên trên mặt nước đen ngòm, rồi bất thình lình một âm thanh om om, đùng đục, một tiếng gõ âm vang, vọng ra từ dãy nhà ấy, lặp lại ba lần. Tóc Arren dựng đứng trên đầu. Một bóng đen dài lặng lẽ lướt ra trên làn nước. Đó là một con thuyền đang nhẹ nhàng tiến về phía cầu tàu. Arren chạy xuống các bậc thang để đến chỗ cầu tàu và nhảy vào trong thuyền.

“Con giữ lấy bánh lái,” Tổng Pháp Sư nói, ông chỉ là một dáng người nhanh nhẹn sẫm tối ở chỗ mũi thuyền, “và giữ thuyền cho vững trong khi ta kéo buồm lên.”

Họ đã ra đến ngoài mặt biển, cánh buồm phồng lên từ cột buồm tựa như một cánh chim trắng, phản chiếu ánh bình minh đang rạng. “Một cơn gió Tây để chúng ta đỡ mất công trèo ra khỏi vịnh, ta dám chắc đó là món quà chia tay của thầy Phong Vũ. Nhìn con thuyền mà xem, chàng trai, xem nó đi nhẹ nhàng đến thế nào! Được rồi. Một cơn gió Tây và một buổi bình minh xán lạn cho ngày Xuân Phân.”

“Đây có phải là thuyền Trông Xa không ạ?” Arren đã được nghe kể về con thuyền của Tổng Pháp Sư trong các bài ca và câu chuyện.

“Phải,” ông đáp lại, loay hoay với mấy sợi thừng. Con thuyền chồm lên và xoay chiều khi gió thổi mạnh hơn; Arren phải nghiến răng giữ cho nó đi đúng hướng.

“Con thuyền đi rất nhẹ nhàng, nhưng có phần bướng bỉnh đấy ạ, thưa ngài.”

Tổng Pháp Sư cười. “Cứ kệ nó; nó cũng rất khôn ngoan nữa đấy. Nghe này, Arren,” và ông ngừng lại, quỳ lên tấm ván ngang đối mặt với Arren, “giờ ta chẳng còn là ngài nào nữa, cũng như con không còn là hoàng tử nữa. Ta là một lái buôn tên là Chim Ưng, còn con là cháu trai của ta, theo ta học nghề biển, tên là Arren; vì chúng ta đến từ Enlad. Từ thành phố nào ư? Một thành phố lớn, để phòng khi ta gặp phải đồng hương.”

“Temere, ở vùng bờ biển phía Nam được không ạ? Họ thông thương với mọi miền Tứ Hải.”

Tổng Pháp Sư gật đầu.

“Nhưng,” Arren thận trọng nói, “ngài không có giọng nói giống người Enlad ạ.”

“Ta biết. Ta có giọng nói của người đảo Gont,” người bạn đồng hành của cậu nói, bật cười và ngước lên nhìn bầu trời phía Đông đang hửng sáng. “Nhưng ta nghĩ là ta có thể mượn ở con những gì ta cần. Vậy là chúng ta sẽ đến từ Temere trong con thuyền của chúng ta tên gọi Cá Heo , và ta không phải là ngài, hay pháp sư, hay Chim Cắt, mà... tên ta là gì?”

“Là Chim Ưng ạ, thưa ngài.”

Dứt lời, Arren chỉ muốn cắt đứt lưỡi mình.

“Phải tập luyện đi, cháu của ta,” Tổng Pháp Sư nói. “Việc này phải tập luyện thì mới quen được. Con chưa bao giờ là gì khác ngoài một hoàng tử. Trong khi đó thì ta đã từng làm nhiều hạng người khác nhau, rồi mãi đến cuối cùng, và có lẽ cũng là tầm thường nhất, thì ta mới trở thành Tổng Pháp Sư... Chúng ta đang đi về phía Nam để tìm ngọc lam, thứ đá xanh mà người ta dùng để chạm các thứ bùa ấy. Ta biết ngọc ấy rất có giá ở Enlad. Người ta chạm chúng thành những miếng bùa chống lại bệnh thấp khớp, bong gân, vẹo cổ, và nói lỡ miệng.”

Một thoáng sau, Arren phá ra cười, và khi cậu ngẩng đầu lên thì con thuyền cũng chồm lên một ngọn sóng dài, và cậu nhìn thấy trước mặt họ, vành mặt trời đã xuất hiện bên rìa mặt biển, ánh nắng vàng rực bất ngờ chiếu sáng chói lòa.

Chim Cắt đứng dậy, một tay phải bám vào cột buồm, bởi vì con thuyền nhỏ cứ tròng trành trên những con sóng lớn, rồi quay mặt về phía vầng mặt trời Xuân Phân, ông bắt đầu đọc một bài ca. Arren không biết Cổ Ngữ, thứ tiếng của các pháp sư và loài rồng, nhưng trong những từ ngữ ấy cậu nghe thấy lời ca ngợi và niềm vui, nghe thấy một vần điệu chậm rãi khoan thai tựa như sự lên xuống của thủy triều hay sự nối tiếp vô tận giữa ngày với đêm. Chim hải âu cất tiếng kêu trên làn gió, và bờ vịnh Thwil lướt qua hai bên con thuyền, cho đến khi họ tiến lên những đợt sóng dài tràn ngập ánh sáng của biển Nội Địa.

Chặng đường từ Roke đến Thành Hort không phải là xa, nhưng họ vẫn phải mất ba đêm lênh đênh trên biển. Tổng Pháp Sư rất nóng lòng ra đi, nhưng một khi đã rời đi rồi thì ông lại tỏ ra vô cùng nhẫn nại. Gió đổi chiều ngay khi họ ra khỏi vùng thời tiết được phù phép của đảo Roke, nhưng ông không gọi gió thần tới thổi vào buồm như bất kỳ nhà phong thủy nào khác cũng sẽ làm; thay vì thế, ông bỏ ra hàng giờ dạy Arren cách lái con thuyền đi ngược chiều gió, trên vùng biển lởm chởm đá phía Đông Issel. Đến đêm thứ hai thì trời đổ mưa, thứ mưa nặng hạt, lạnh buốt của tháng Ba, nhưng ông cũng không đọc thần chú để tránh mưa. Đến đêm sau, khi thuyền họ đang nằm ngoài cửa vào Cảng Hort trong màn đêm đầy sương, lạnh lẽo nhưng yên tĩnh, Arren đã nghĩ về những điều này, và chợt nhận ra rằng trong suốt khoảng thời gian kể từ khi cậu gặp Tổng Pháp Sư, ông chưa hề thực hiện một pháp thuật nào.

Nhưng ông quả là một thủy thủ cừ khôi. Trong ba ngày đi thuyền với ông, Arren đã học được nhiều hơn là suốt mười năm ròng chèo thuyền và đua thuyền trong Vịnh Berila. Và thủy thủ với pháp sư thì không khác nhau là mấy; cả hai đều phải làm việc với những quyền năng của bầu trời và mặt biển, phải bắt những ngọn gió mạnh phục tùng hai bàn tay mình, để đem những vật xa xôi lại gần kề. Là Tổng Pháp Sư hay là ông lái buôn Chim Ưng thì cũng như nhau cả mà thôi.

Ông là người khá trầm lặng, nhưng hết sức hiền từ. Sự vụng về của Arren không hề làm ông bực mình; ông rất thân thiện; Arren nghĩ không thể có người bạn đồng hành nào tốt hơn thế được. Nhưng ông thường chìm vào những suy nghĩ của riêng mình và im lặng hàng giờ liền, để rồi sau đó, khi cất tiếng, giọng nói của ông thường có một thoáng gay gắt, và mắt ông nhìn như xuyên qua Arren. Điều này không hề làm giảm sút lòng kính yêu cậu thiếu niên dành cho ông, nhưng có lẽ nó làm giảm sút sự mến mộ đi đôi chút; tình cảm của cậu bây giờ có một thoáng sợ sệt. Có lẽ Chim Cắt cũng cảm thấy điều này, bởi vì trong cái đêm đầy sương bên ngoài bờ biển Wathort ấy, ông đã ngập ngừng kể cho Arren nghe về bản thân mình. “Ngày mai ta không muốn phải gặp lại con người nữa,” ông nói. “Ta đã tự dối mình rằng ta là người tự do... Rằng mọi sự đều yên ổn. Rằng ta không phải là Tổng Pháp Sư, thậm chí còn không phải là một phù thủy nữa. Rằng ta đúng là ông lái buôn Chim Ưng đến từ Temere, không chút lo toan hay quyền lợi gì, chẳng nợ nần gì ai...” Ông ngừng lại, và một lát sau tiếp tục, “Con hãy cố gắng lựa chọn thật cẩn thận, Arren ạ, khi con có những điều trọng đại cần phải lựa chọn. Khi còn trẻ, ta đã phải chọn giữa hai cuộc đời, một cuộc đời của sự tồn tại và một cuộc đời của hành động. Và ta đã chọn ngay cái thứ hai, như một con cá hồi nhảy lên đớp con ruồi. Nhưng mỗi hành động của chúng ta, mỗi việc làm của chúng ta, đều ràng buộc chúng ta vào với nó, với hậu quả của nó, và bắt chúng ta lại phải tiếp tục hành động. Và rất hiếm khi ta mới có được một khoảng trống, một khoảng thời gian như thế này, giữa hai việc làm, để ta dừng chân và chỉ tồn tại mà thôi. Hay là để suy ngẫm xem, rốt cuộc thì ta là ai.”

Arren thầm nghĩ, Làm sao mà một con người như vậy còn có thể băn khoăn về việc mình là ai, là cái gì? Cậu tin rằng những mối nghi ngại ấy thì chỉ những người trẻ tuổi, những người chưa làm được điều gì, mới có.

Con thuyền lắc lư trong màn đêm mênh mông, se lạnh.

“Đó chính là lý do vì sao ta lại thích biển cả đến vậy,” giọng nói của Chim Cắt vang lên trong bóng tối ấy.

Arren hiểu ý ông; nhưng những ý nghĩ của riêng cậu đã vượt lên trước, hệt như suốt ba ngày nay, để hướng đến sứ mệnh của họ, mục đích của cuộc hành trình họ đang làm. Và bởi vì cậu thấy người bạn đồng hành của mình cuối cùng thì cũng có vẻ muốn trò chuyện, cậu liền hỏi, “Ngài có nghĩ chúng ta sẽ thấy được cái chúng ta tìm kiếm ở Thành Hort không ạ?”

Chim Cắt lắc đầu, có lẽ để đáp rằng không hoặc cũng có lẽ để nói rằng ông không biết.

“Liệu nó có phải là một thứ bệnh, một loại dịch hạch, truyền từ đảo này sang đảo khác, phá hoại mùa màng, gia súc và tâm tính con người không ạ?”

“Bệnh dịch chỉ là một chuyển động trong sự Bình An vĩ đại, trong chính sự Cân Bằng của trời đất; cái này là một thứ khác hẳn. Nó có hơi hướng ma quái. Chúng ta có thể phải chịu đựng nhiều tai họa khi vạn vật cân bằng trở lại, nhưng chúng ta sẽ không trở nên tuyệt vọng, bỏ mặc pháp thuật và quên mất các thần chú Kiến Tạo. Tự nhiên thì không có gì là quái dị cả. Những việc đang xảy ra đây không phải là do vạn vật đang cân bằng trở lại, mà là do chúng đang mất cân bằng. Chỉ có một sinh vật duy nhất có thể làm được điều đó mà thôi.”

“Là một con người ạ?” Arren rụt rè hỏi.

“Chính là con người chúng ta.”

“Nhưng làm cách nào ạ?”

“Bằng lòng ham muốn vô độ đối với sự sống.”

“Đối với sự sống ấy ạ? Nhưng chẳng lẽ muốn được sống lại là sai trái hay sao?”

“Không. Nhưng khi chúng ta thèm khát quyền lực để điều khiển sự sống - được sự giàu sang vô tận, sự an toàn bất khả xâm phạm, được sự bất tử - thì khi ấy lòng ham muốn đã trở thành lòng tham. Và nếu lòng tham ấy lại có kiến thức trợ giúp, thì nó sẽ đẻ ra sự xấu xa quái ác. Khi ấy sự cân bằng của thế gian sẽ bị chao đảo, và sự diệt vong sẽ đè nặng lên cán cân ấy.”

Arren nghiền ngẫm điều này một hồi lâu, rồi cuối cùng lên tiếng, “Tức là ngài nghĩ chúng ta đang đi tìm một con người ạ?”

“Một con người, và là một pháp sư nữa. Đúng, ta nghĩ như vậy.”

“Nhưng theo như những gì phụ hoàng và các thầy giáo của con dạy thì con cứ ngỡ rằng các pháp thuật tối cao đều phụ thuộc vào sự Cân Bằng của vạn vật, và vì vậy không thể được dùng cho những điều xấu.”

“Đó là một điều vẫn còn nhiều bàn cãi,” Chim Cắt nói, có phần châm biếm. “ Cuộc tranh luận của các pháp sư thì luôn là vô tận ... Mọi hòn đảo trên Hải Địa này đều có những mụ phù thủy làm phép ma, những gã thầy lang dùng quyền pháp của chúng để làm lợi cho mình. Nhưng còn nữa. Hỏa Vương, kẻ đã tìm cách loại trừ bóng tối và giữ cho mặt trời luôn ở lúc giữa trưa, cũng là một pháp sư cao cường; ngay cả Erreth-Akbe cũng phải rất vất vả mới đánh bại được hắn. Địch Thủ của Morred cũng là một kẻ như vậy. Hắn đi đến đâu thì toàn thể thành bang ấy phải quỳ gối trước hắn; vô số quân đội đi theo hắn để chiến đấu cho hắn. Bùa chú hắn tạo ra để đánh lại Morred mạnh đến nỗi ngay khi hắn đã bị tiêu diệt rồi, bùa chú ấy vẫn không thể bị ngăn lại, khiến hòn đảo Soléa bị chìm xuống đáy biển và tất cả người dân trên đảo đều bỏ mạng. Đó là những con người đã dùng quyền lực và kiến thức của mình phục vụ cho những ý đồ xấu xa, dựa vào sự xấu xa ấy mà càng hùng mạnh thêm. Chúng ta không thể biết được liệu một pháp sư phục vụ những điều tốt đẹp hơn thì có luôn là người mạnh hơn hay không. Chúng ta chỉ biết hy vọng.”

Có điều gì đó thật ảm đạm khi nghĩ rằng ta chỉ có thể hy vọng vào một việc mà lẽ ra đã là chắc chắn. Arren không muốn giữ những ý nghĩ lạnh lẽo ấy trong lòng. Một lát sau, cậu nói, “Con nghĩ con đã hiểu tại sao ngài lại nói chỉ có con người mới có thể làm điều ác. Ngay cả cá mập cũng là những con vật vô tội; chúng chỉ giết chóc để tồn tại mà thôi.”

“Đó cũng chính là lý do tại sao không gì có thể chống lại chúng ta. Chỉ có thứ duy nhất trên đời mới chống lại được một kẻ tâm địa độc ác mà thôi. Đó là một con người khác. Chúng ta chỉ giành được vinh quang trong cảnh tủi nhục. Chỉ có tâm hồn của chúng ta, vốn có khả năng làm điều xấu, thì mới có khả năng đánh bại chính điều xấu xa ấy.”

“Nhưng còn loài rồng thì sao ạ?” Arren nói. “Chẳng phải chúng cũng hết sức độc ác đấy sao? Chẳng lẽ chúng cũng vô tội ư?”

“Loài rồng ư! Chúng là những sinh vật hám lợi, tham lam vô độ, xảo quyệt; không biết xót thương, không biết hối hận. Nhưng chúng có độc ác không? Ta là ai mà dám xét đoán việc làm của loài rồng?... Chúng thông thái hơn con người nhiều. Chúng cũng như những giấc mơ vậy, Arren ạ. Loài người chúng ta mơ mộng, chúng ta làm pháp thuật, chúng ta làm điều tốt, chúng ta làm điều xấu. Nhưng loài rồng thì không mơ mộng. Chúng chính là những giấc mơ. Chúng không phải thực hiện pháp thuật nào hết: pháp thuật chính là cốt lõi, là bản chất của chúng. Chúng không làm gì cả; chúng tồn tại.”

“Ở Serilune,” Arren nói, “có tấm da của Bar Oth, con rồng đã bị Keor, Hoàng Thân xứ Enlad giết, cách đây ba trăm năm. Từ đó trở đi không con rồng nào còn dám bén mảng tới Enlad nữa. Con đã được nhìn thấy tấm da của Bar Oth. Nó nặng như sắt và to đến nỗi nếu trải ra thì nó sẽ phủ kín khắp cả khu chợ của Serilune, người ta bảo thế. Những cái răng thì dài bằng cánh tay của con. Vậy mà họ vẫn nói rằng Bar Oth là một con rồng nhỏ, chưa trưởng thành hẳn.”

“Trong lòng con rất mong muốn được nhìn thấy rồng,” Chim Cắt nói.

“Thưa vâng ạ.”

“Máu chúng lạnh và rất độc. Con không được nhìn thẳng vào mắt chúng. Chúng già hơn loài người nhiều...” Ông im lặng hồi lâu, rồi nói tiếp, “Và mặc dù ta hoặc là đã quên, hoặc là hối tiếc những điều ta đã từng làm, nhưng miễn là ta vẫn còn nhớ có một lần ta đã được thấy những con rồng tung cánh trên làn gió lúc hoàng hôn bên trên các hòn đảo phía Tây; chỉ thế thôi là ta cũng đã mãn nguyện rồi.”

Cả hai cùng lặng im, và không còn tiếng động gì khác ngoài tiếng nước vỗ thì thầm bên mạn thuyền, không có một ánh sáng nào. Vậy là cuối cùng, bên trên mặt nước sâu thẳm ấy, họ cũng ngủ thiếp đi.

* * *

Trong màn sương mù buổi sớm họ tiến vào Cảng Hort, nơi hàng trăm tàu thuyền đang thả neo hoặc rời bến: thuyền chài, thuyền bắt cua, thuyền đánh cá bằng lưới rà, thuyền buôn, hai con tàu dài có hai mươi mái chèo, một con tàu lớn sáu mươi mái chèo nhưng đã hư hỏng nặng, và mấy chiếc thuyền buồm dài, mảnh dẻ, với những tấm buồm cao hình tam giác được thiết kế để đón lấy những luồng hơi trên cao của vùng Nam Hải nóng nực và lặng gió. “Đó có phải là một chiến thuyền không ạ?” Arren hỏi khi họ đi qua một con tàu hai mươi mái chèo, và người bạn đường của cậu đáp, “Tàu chở nô lệ đấy, ta đoán vậy nhờ vào những xích và khóa trên boong của nó. Ở vùng Nam Hải này người ta thường buôn bán nô lệ mà.”

Arren suy nghĩ về điều này một lát, rồi đi đến cái hộp đựng dụng cụ và lấy từ trong đó ra thanh gươm của mình, cậu đã cẩn thận gói nó lại và cất đi vào buổi sáng hôm họ lên đường. Giờ cậu giở nó ra; rồi đứng đó vẻ ngần ngừ, hai tay cầm thanh gươm còn nằm nguyên trong vỏ, cái đai gươm treo lủng lẳng.

“Đây không phải là gươm của những nhà buôn đường biển,” cậu nói. “Bao gươm quá đẹp.”

Chim Cắt, đang bận bịu ở chỗ bánh lái, chỉ ném cho cậu một cái nhìn. “Nếu con thích thì cứ đeo vào.”

“Con đã nghĩ đó sẽ là một việc làm khôn ngoan.”

“Xét về chuyện gươm đao thì thanh gươm này quả là khôn ngoan,” người bạn đồng hành của cậu nói, mắt vẫn chăm chú quan sát đường đi của con thuyền qua cái vịnh đông đúc. “Chẳng phải nó là thanh gươm không muốn bị đem ra sử dụng hay sao?”

Arren gật đầu. “Quả là người ta có nói vậy ạ. Thế nhưng nó đã từng sát hại rồi. Nó đã được dùng để giết người.” Cậu cúi xuống nhìn chuôi gươm thanh mảnh, nhẵn bóng do tay người cầm lâu năm. “Nó đã giết người, nhưng con thì chưa từng. Nó khiến con cảm thấy hết sức ngớ ngẩn. Nó cổ kính hơn con quá nhiều... Con sẽ đem theo con dao thôi,” cậu kết luận, rồi bọc thanh gươm lại và nhét nó thật sâu vào bên dưới chiếc hộp. Mặt cậu có vẻ lúng túng và giận dữ. Chim Cắt không nói gì, mà chỉ hỏi, “Chàng trai, con cầm lấy mái chèo được chứ? Chúng ta sẽ hướng về phía cái cầu tàu đằng kia, cạnh mấy bậc thang đó.”

Thành Hort, một trong Bảy Đại Hải Cảng của vùng Quần Đảo, vươn từ bờ biển ồn ào lên đến sườn của ba ngọn đồi dốc, là một mảng màu sắc rực rỡ. Những căn nhà thì bằng đất sét trát vữa màu đỏ, cam, vàng, trắng; các mái nhà lợp ngói màu tím đỏ; cây tử hoa đang nở rộ tạo thành những đám đỏ sẫm dọc theo các dãy phố phía trên. Những miếng vải bạt kẻ sọc sặc sỡ chăng từ mái nhà này sang mái nhà khác, tạo bóng mát cho các khu chợ nhỏ. Những kè đá sáng rực dưới ánh mặt trời; con đường dẫn xuống cảng thì nom tựa mấy vạch kẻ sẫm tối đầy bóng râm, người và tiếng ồn.

Khi họ đã buộc thuyền xong xuôi, Chim Cắt cúi xuống bên cạnh Arren như để kiểm tra nút buộc, và ông nói, “Arren, ở Wathort này có nhiều người biết ta khá rõ; vì vậy con hãy nhìn ta cho kỹ để còn có thể nhận ra ta.” Khi ông đứng lên thì những vết sẹo trên mặt ông đã biến mất. Tóc ông ngả bạc; mũi ông bè ra và hơi hếch lên một chút; và thay vì cây gậy bằng gỗ thủy tùng cao ngang người thì trong tay ông là một cây đũa thần bằng ngà mà ông giắt vào trong áo. “Không nhận ra ta hử?” ông toét miệng cười và hỏi Arren bằng giọng người Enlad. “Từ trước đến giờ chưa bao giờ nhòm thấy ông bác hay sao?”

Arren đã nhìn thấy các pháp sư ở triều đình tại Berila thay đổi khuôn mặt khi họ diễn lại bài ca Chiến Công của Morred theo lối kịch câm, và biết đó chỉ là ảo ảnh mà thôi; nên cậu vẫn giữ được bình tĩnh và đáp lại, “Ồ có chớ, thưa bác Chim Ưng!”

Thế nhưng, trong khi vị pháp sư mặc cả với người coi cảng về phí đậu thuyền và gác thuyền, thì Arren cứ phải quay lại nhìn ông để biết chắc là mình có thể nhận ra ông. Và càng nhìn thì sự thay hình đổi dạng của ông càng khiến cậu cảm thấy bất an chứ không yên tâm hơn chút nào. Sự biến đổi ấy hoàn hảo quá; đây không còn là Tổng Pháp Sư nữa, không còn là một người dẫn đường, người chỉ huy thông thái nữa... Món lệ phí của người coi cảng khá cao, và Chim Cắt lầm bầm kêu ca khi móc tiền ra trả, rồi quay đi với Arren, miệng vẫn không ngừng cằn nhằn. “Thật là bực cả mình,” ông nói. “Phải trả tiền cho thằng cha bụng phệ ấy để hắn coi thuyền cho mình! Trong khi chỉ một nửa lời thần chú thôi thì cũng đã xong việc rồi! Biết làm sao được, để giả dạng thì phải trả giá như vậy thôi... Mà ta lại quên không nói đúng giọng rồi, phải không, cháu?”

Hai người bước lên một con phố đông nghịt người, hôi hám, đầy màu sắc lòe loẹt, hai bên là các gian hàng, mỗi gian không lớn hơn một căn lều nhỏ, các chủ hàng đứng ở ngưỡng cửa, giữa những đống, những cuộn các thứ hàng hóa, lớn tiếng rao rằng hàng của mình là rẻ và đẹp nhất, nào là nồi, hàng dệt kim, mũ, xẻng, trâm cài, hầu bao, ấm, rổ rá, cời lửa, dao, dây thừng, then cửa, chăn đệm, cùng đủ mọi loại đồ kim khí và đồ khô khác.

“Đây có phải là chợ phiên không ạ?”

“Hả?” người đàn ông mũi hếch đi bên cậu hỏi lại, cúi mái tóc bờm xờm xuống.

“Đây có phải là chợ phiên không hả bác?”

“Chợ phiên ấy à? Không, không. Ở đây họ họp chợ quanh năm. Bà kia, tôi không mua chả cá của bà đâu, tôi đã ăn sáng rồi!” Còn Arren thì phải cố dứt ra khỏi một gã đàn ông tay bưng một cái khay chất đầy những bình nhỏ bằng đồng, gã cứ bám theo cậu mà lải nhải, “Mua đi, hãy dùng xem, cậu công tử bảnh trai ơi, chúng sẽ không làm cậu thất vọng đâu, hơi thở của cậu sẽ ngọt lịm như hoa hồng xứ Numima, sẽ làm mê hoặc đám đàn bà con gái, cứ thử mà xem, thưa vị hải tướng trẻ tuổi, thưa hoàng tử...”

Ngay lập tức Chim Cắt đứng chắn giữa Arren và gã bán rong, hỏi, “Những thứ này là bùa ngải gì vậy?”

“Không phải là bùa ngải gì đâu ạ!” gã nọ rên rỉ, lùi lại để tránh khỏi ông. “Tôi không bán bùa ngải gì đâu, thưa ngài thuyền trưởng! Chỉ là thứ nước ngọt để giúp hơi thở thơm tho trở lại sau khi uống rượu hay là nhai rễ hazia thôi ạ - chỉ là nước ngọt thôi, thưa điện hạ!” Gã co rúm người ngay trên vỉa hè lát đá, những bình đồng trên cái khay của gã va loảng xoảng, mấy bình nghiêng đi khiến một giọt nước đặc quánh màu hồng hay tím bên trong nhỏ ra ở chỗ miệng bình.

Chim Cắt quay ngoắt đi không nói một lời và tiếp tục lên đường với Arren. Chẳng mấy chốc đám đông đã thưa dần đi và các cửa hàng trở nên vô cùng nghèo nàn khốn khổ, chỉ là mấy túp lều xiêu vẹo bày bán tất cả hàng hóa gồm có một nắm đinh sắt cong vẹo, một cái chày đã gãy, và một cái lược chải len. Sự nghèo nàn khiến Arren không thấy ghê tởm; ở đầu kia của con phố, nơi giàu sang hơn, cậu cảm thấy ngột ngạt như bị thít cổ bởi những món hàng và tiếng gào thét mời cậu hãy mua, mua đi. Và vẻ hèn hạ của gã bán rong khiến cậu sững sờ. Cậu nhớ lại những dãy phố mát mẻ, sáng sủa ở thành đô phương Bắc của mình. Cậu thầm nghĩ, không người nào ở Berila lại quỵ lụy trước một người lạ mặt như vậy. “Những kẻ này thật là đê tiện!” cậu nói.

“Đi đường này, cháu,” người bạn đường của cậu chỉ nói có vậy. Họ rẽ vào một con hẻm nằm giữa hai bức tường nhà cao vút màu đỏ, không có cửa sổ, chạy dọc theo sườn đồi, đi qua một cổng vòm treo đầy những dải cờ đã mục nát, rồi lại đi ra một bãi trống thoai thoải nằm dưới ánh nắng, đây là một khu chợ khác, đầy các gian hàng chen chúc nhau và nhan nhản người cùng với ruồi.

Xung quanh bãi chợ, có mấy người đàn ông và đàn bà đang ngồi hoặc nằm ngửa, không hề nhúc nhích. Miệng họ có màu đen xỉn thật kỳ dị, như thể họ thâm tím vì vừa bị đánh, và quanh môi họ ruồi tụ bâu lại như những chùm quả dâu đen khô.

“Nhiều quá,” Chim Cắt lên tiếng, giọng trầm xuống và sững sờ như thể chính ông cũng vừa bị choáng váng; nhưng khi Arren quay sang nhìn ông thì cậu chỉ thấy khuôn mặt thô kệch, hiền lành của ông lái buôn Chim Ưng chân chất, chẳng có vẻ gì là bận tâm.

“Những người ấy bị làm sao vậy ạ?”

“Do rễ cây hazia đấy. Nó xoa dịu ta, làm cho ta tê liệt, làm cho thân thể và đầu óc không còn vướng bận gì với nhau nữa. Và vậy là trí óc được tự do lang thang. Nhưng khi quay trở về với cơ thể thì nó lại cần thêm hazia... Sự thèm muốn càng tăng lên thì cuộc sống của họ càng ngắn lại, vì đó chính là một thứ thuốc độc. Đầu tiên là run rẩy, sau đó là bại liệt, rồi cuối cùng là cái chết.”

Arren nhìn một người đàn bà ngồi dựa lưng vào bức tường ấm nắng; bà ta vừa giơ tay lên như để đuổi ruồi trên mặt, nhưng bàn tay chỉ tạo ra một cử chỉ giật cục như vẽ một vòng tròn trong không khí, như thể bà ta đã quên mất bàn tay mình và nó chỉ còn cử động được nhờ vào sự co giật hay run rẩy liên hồi trong cơ bắp mà thôi. Cử chỉ ấy giống như một bùa chú không có chủ định gì, một thần chú vô nghĩa.

Ông lái buôn Chim Ưng cũng đang nhìn bà ta, mặt vô cảm. “Đi thôi!” ông nói.

Ông dẫn đường ngang qua khu chợ để đến một gian hàng mái che vải bạt. Những vệt nắng đủ màu xanh, cam, vàng chanh, đỏ thắm, xanh da trời, rọi xuống trên những tấm vải, khăn choàng và thắt lưng bày bán, nhảy nhót thành vô số đốm sáng trên những mảnh gương nhỏ xíu gắn trên cái mũ đội đầu cao ngất bằng lông chim của bà chủ gian hàng. Đó là một người đàn bà to béo, đang cất giọng oang oang rao hàng, “Lụa, xa tanh, vải bạt, lông thú, nỉ, len, len lông dê xứ Gont, vải sa xứ Sowl, vải lụa xứ Lorbanery đây! Này, mấy anh người phương Bắc kia, cởi áo khoác ra; các anh không thấy mặt trời đang chiếu sáng đấy à? Đem món hàng này về làm quà cho một cô thiếu nữ ở thành Havnor xa xôi thì có xứng không? Nhìn mà xem, hàng lụa miền Nam đấy, mỏng mịn như là cánh phù du ấy nhé!” Hai bàn tay khéo léo của bà ta lật ra một cuộn lụa mỏng màu hồng óng ánh những sợi chỉ bạc.

“Không, bà ơi, vợ chúng tôi có phải là các bà hoàng hậu đâu,” Chim Ưng đáp, và người đàn bà lập tức lên giọng la lối: “Vậy chứ các người cho đàn bà con gái xứ mình mặc đồ gì, bao bố à? Hay là vải buồm? Đồ keo kiệt không muốn mua mấy tấm lụa cho một người đàn bà khốn khổ chết cóng ở xứ Bắc quanh năm tuyết phủ ấy! Thế tấm này thì sao, len lông dê đảo Gont đấy, để các người phủ ấm cho cô ta vào những đêm đông!” Bà ta tung lên quầy hàng một vuông vải màu nâu và ngà, dệt bằng thứ lông mềm mượt của loài dê ở các hòn đảo phía Bắc. Ông lái buôn giả dạng đưa tay ra sờ vào tấm vải, và mỉm cười.

“Này, ông là người đảo Gont à?” cái giọng choe chóe của bà ta hỏi, và chiếc mũ đội đầu gật lia lịa, tung hàng ngàn đốm sáng lên mái lều và tấm vải.

“Đây là hàng xứ Andrad; bà chị thấy không? Theo chiều rộng một ngón tay thì chỉ có bốn sợi dọc thôi. Hàng ở đảo Gont dùng sáu sợi hoặc hơn kia. Nhưng cho tôi biết lý do tại sao bà chị lại thôi không bán pháp thuật nữa mà chuyển sang bán những thứ đồ rẻ tiền này. Trước kia, khi tôi còn ở đó, tôi đã thấy bà chị lôi lửa từ trong tai người ta ra, rồi biến lửa thành chim chóc và những quả cầu vàng kia mà, và nghề đó thì khá hơn nghề này nhiều.”

“Cái ấy chẳng phải là nghề gì hết,” người đàn bà to béo nói, và trong một thoáng Arren nhận thấy cặp mắt của bà ta, cứng rắn và lạnh lùng như hai viên mã não, đang nhìn thẳng vào cậu cùng ông bác Chim Ưng qua những chùm lông chim gật gù không yên và những mảnh gươm lấp lánh chói lọi của bà ta.

“Cái trò lôi lửa từ trong tai ấy ra thật là hay,” Chim Ưng nói bằng giọng nghiêm trang nhưng chất phác. “Tôi đã muốn cho cậu cháu của tôi xem thử.”

“Nghe này, ông,” người đàn bà nói, không còn gay gắt như trước nữa, chống hai cánh tay mập mạp rám nắng và bộ ngực đồ sộ lên mặt quầy. “Chúng tôi không làm phép nữa đâu. Chẳng ai muốn xem những thứ ấy cả. Họ đã biết hết rồi. Còn mấy cái gương này, tôi thấy ông vẫn còn nhớ mấy mảnh gương của tôi,” và bà ta ngoắt đầu cho những đốm sáng phản chiếu xoay tít xung quanh họ đến chóng cả mặt. “Ờ, ta có thể đánh lừa đầu óc người khác bằng những tấm gương lấp lánh này, bằng từ ngữ, bằng những mánh khóe mà tôi sẽ không cho ông biết đâu, cho đến khi kẻ ấy tưởng mình nhìn thấy cái mà thực ra hắn không nhìn thấy, cái không có ở đó. Như ngọn lửa và những quả cầu vàng này, hay là những bộ quần áo mà trước kia tôi mặc cho các chàng thủy thủ, những bộ quần áo bằng chỉ vàng đính kim cương to bằng quả mận, và thế là chúng vênh váo lên đường tựa như đức Thượng Hoàng của toàn xứ sở vậy... Nhưng tất cả chỉ là trò ảo thuật, bịp bợm mà thôi. Ta có thể đánh lừa con người được. Họ như bầy gà bị rắn thôi miên, chỉ bằng một ngón tay giơ ra trước mặt. Loài người cũng chẳng khác gì lũ gà con. Nhưng rồi cuối cùng họ cũng phát hiện ra mình đã bị đánh lừa, đâm ra lúng túng, rồi nổi giận và không thích thú gì những chuyện ảo thuật ấy nữa. Vậy là tôi xoay sang nghề này, và có lẽ không phải tấm lụa nào cũng là lụa thật, không phải tấm len nào cũng là len đảo Gont, nhưng dù sao thì chúng cũng bền - rất bền! Chúng là đồ thật, chứ không phải là những lời dối trá trống rỗng như những bộ quần áo bằng chỉ vàng kia.”

“Được, được,” Chim Ưng nói, “thế thì trên toàn Thành Hort này không còn ai biết lôi lửa từ trong tai người khác ra, hay làm ảo thuật như trước kia nữa hay sao?”

Nghe thấy mấy từ cuối cùng ấy, người đàn bà nhíu mày; bà ta liền đứng thẳng dậy và cẩn thận gấp tấm vải len lại. “Kẻ nào muốn những lời dối trá và ảo ảnh thì đi nhai hazia,” bà ta nói. “Nếu muốn thì ông đi mà hỏi chúng ấy!” Bà ta hất đầu về phía những thân hình bất động đang nằm la liệt quanh chợ.

“Nhưng vẫn còn những pháp sư, những người làm phép phong vũ cho các thủy thủ và đọc thần chú cầu may cho những chuyến hàng của họ. Chẳng lẽ họ cũng đã chuyển sang làm nghề khác cả rồi hay sao?”

Nhưng người đàn bà bỗng nhiên nổi giận và cắt ngang lời ông, “Nếu muốn pháp sư thì kia kìa, một pháp sư vĩ đại đấy, có cả quyền trượng hẳn hoi - nhìn thấy y ở kia không? Y đã từng đi biển cùng với chính Egre kia, tạo ra gió thuận chiều và tìm được những con tàu chở hàng béo bở, y đã nói thế, nhưng tất cả chỉ toàn là dối trá, và Thuyền Trưởng Egre cuối cùng cũng đã cho y phần thưởng xứng đáng; ông ta chặt phăng bàn tay phải của y đi. Và giờ thì y ngồi kia, cứ nhìn mà xem, mồm đầy hazia, nhưng bụng thì rỗng tuếch. Những lời dối trá rỗng tuếch! Toàn những lời dối trá rỗng tuếch mà thôi! Tất cả pháp thuật của ông chỉ còn lại có thế thôi đấy, thưa ngài Thuyền Trưởng Chăn Dê!”

“Kìa, kìa, bà chị,” ông lái buôn Chim Ưng nói với vẻ bình thản ngoan cố. “Tôi chỉ hỏi thôi mà.” Bà ta quay ngoắt tấm lưng rộng lại, những đốm gươm sáng lóng lánh xoay tít, và ông liền bỏ đi, với Arren theo bên.

Ông bước thong thả nhưng có chủ định. Bước chân ông đưa họ đến gần người đàn ông mà bà bán hàng đã chỉ. Kẻ đó ngồi tựa lưng vào một bức tường, mắt nhìn vô định; khuôn mặt sạm đen, râu ria xồm xoàm trước kia hẳn đã từng rất đẹp trai. Cái cổ tay cụt nhăn nhúm nằm đầy nhục nhã trên lớp đá lát vỉa hè dưới ánh nắng sáng rực, nóng bỏng.

Có tiếng ồn ào lộn xộn ở mấy quầy hàng sau lưng họ, nhưng Arren không thể quay đi khỏi con người này; một cảm giác tò mò kinh sợ đã giữ chặt chân cậu. “Y có phải là pháp sư thật không ạ?” cậu hỏi.

“Y có thể là người tên gọi là Hare, vốn là nhà phong vũ của tên cướp biển Egre. Chúng là những kẻ cắp có tiếng đấy - Này, tránh ra, Arren!” Một gã đàn ông lao đầu chạy từ giữa các quầy hàng ra, suýt nữa đã đâm vào cả hai người. Một kẻ khác chạy đến, lảo đảo dưới sức nặng của một cái khay lớn đầy những cuộn thừng, dây, dải bện. Một gian hàng đổ sụp xuống đánh “rầm”; các mái che bằng vải bạt bị đẩy sang bên hoặc vội vã tháo xuống; hàng tốp người xô đẩy, chen chúc nhau chạy ra khỏi khu chợ khắp nơi vang lên tiếng hò hét và quát tháo. Vang to hơn tất thảy là tiếng the thé của bà bán hàng có chiếc mũ đội đầu gắn gương. Arren thoáng thấy bà ta huơ lên một cái gậy hay cọc gì đó để đập một đám đàn ông, vung thật mạnh mấy cái, gạt bọn chúng đi như một kiếm sĩ bị dồn vào bước đường cùng vậy. Không thể nào biết được đó là một chuyện cãi cọ đã biến thành vụ náo động, hay là cuộc tấn công của một đám trộm, hay là cuộc ẩu đả giữa hai phường buôn bán kình địch với nhau. Mọi người lao đi, ôm những món hàng đã cướp được hoặc là của cải của chính họ đã giành lại được từ tay kẻ cướp. Khắp bãi chợ đâu cũng thấy những đám đánh nhau bằng dao, bằng nắm đấm, và tiếng cãi lộn ầm ĩ. “Đường kia,” Arren nói, chỉ vào một con hẻm gần họ dẫn ra khỏi khu chợ. Cậu tiến về phía con hẻm ấy, vì rõ ràng là họ nên ra khỏi đó ngay lập tức, nhưng người bạn đồng hành của cậu lại nắm lấy tay cậu. Arren quay lại và thấy gã đàn ông tên Hare đang khó nhọc đứng dậy. Khi đã đứng thẳng lên được, y lảo đảo một lát, rồi không thèm liếc mắt nhìn quanh, y liền men theo đường ranh giới của khu chợ mà đi ra, bàn tay độc nhất còn lại bám trên các bức tường như thể lần tìm đường hay để đi cho vững vậy. “Để mắt đến y đấy,” Chim Cắt nói, và họ đi theo y. Không ai quấy rầy họ hay gã đàn ông họ đang bám theo, và chỉ một phút sau họ đã ra khỏi chợ, đi xuống dốc theo một con phố nhỏ hẹp, uốn lượn, yên tĩnh.

Trên đầu, gác xép của các ngôi nhà đối diện gần như giao nhau, chắn hết mọi ánh sáng; dưới chân lớp đá rải đường trơn trượt vì nước và các thứ rác rưởi. Hare đi khá nhanh, nhưng y vẫn cứ lần tay theo những bức tường như người mù. Họ phải bám theo y một quãng khá gần vì sợ đến một góc phố thì sẽ bị mất dấu. Cảm giác phấn khích của cuộc đuổi bắt bỗng trào lên trong Arren; mọi giác quan của cậu đều tỉnh táo như trong một cuộc săn hươu ở khu rừng xứ Enlad vậy; cậu nhìn thấy rõ từng khuôn mặt đi lướt qua, hít thở thứ không khí đặc quánh đủ loại mùi của thành phố: mùi cải bắp, mùi hương trầm, mùi thối rữa, và mùi hoa. Khi họ len lỏi đi qua một con phố rộng, đông người, cậu nghe thấy có tiếng trống gõ và thoáng trông thấy một đám cả đàn ông lẫn đàn bà trần truồng, đi thành một hàng, người nọ bị xích nối vào với người kia ở chỗ cổ tay và thắt lưng, những mớ tóc rối bù phủ kín mặt: chỉ một cái nhìn thoáng qua, rồi họ lại biến đi, trong khi cậu chạy lắt léo theo Hare đi xuống mấy bậc thang và tiến vào một quảng trường nhỏ, không có ai ngoài mấy người phụ nữ đang tán chuyện bên đài phun nước.

Ở đó Chim Cắt đuổi kịp Hare và đặt tay lên vai y, khiến Hare rúm người lại như phải bỏng, nhăn nhó tránh đi, rồi lùi vào trốn trong bóng của một ô cửa lớn. Y đứng đó run rẩy, nhìn họ bằng cặp mắt đờ đẫn của một con vật bị săn đuổi.

“Có phải tên ngươi là Hare không?” Chim Cắt hỏi bằng giọng đích thực của mình, tiếng nói thì gay gắt nhưng giọng điệu thì lại nhẹ nhàng. Gã đàn ông nọ không đáp lại, dường như không hề để ý đến họ hay không nghe thấy họ. “Ta muốn một thứ mà ngươi có,” Chim Cắt lại nói. Y vẫn không trả lời. “Ta sẽ trả tiền.”

Y phản ứng hết sức chậm chạp: “Bằng đồng ngà hay là vàng?”

“Vàng.”

“Bao nhiêu?”

“Là pháp sư thì phải biết bùa phép có giá bao nhiêu.”

Mặt Hare lộ vẻ do dự, thay đổi, trở nên hoạt bát hơn trong thoáng chốc, nhanh đến nỗi chỉ như một đốm sáng lóe lên, rồi lại chìm vào sự mờ mịt đờ đẫn. “Đã biến mất hết rồi,” y nói, “mất hết rồi.” Một trận ho khiến y phải gập người lại; y nhổ ra thứ đờm đen sì. Khi đứng lên được, y chỉ đờ ra, run rẩy, dường như đã quên mất rằng họ vừa nói với nhau chuyện gì.

Một lần nữa Arren lại nhìn ngắm y như bị thôi miên. Góc tường chỗ y đứng được tạo ra bởi hai hình thù khổng lồ canh giữ hai bên cánh cửa, hai bức tượng mà cổ thì oằn xuống dưới sức nặng của gờ tường, còn thân hình cuồn cuộn cơ bắp thì chỉ nhô ra khỏi tường một phần, tựa như chúng đang cố chui từ đá ra nhưng chỉ được nửa đường. Cánh cửa chúng canh giữ bản lề đã gỉ hết; ngôi nhà, trước kia vốn là một cung điện, giờ chỉ còn là một đống hoang tàn. Khuôn mặt rầu rĩ, phình ra của hai tên khổng lồ đã sứt sẹo, phủ đầy địa y. Giữa hai hình thù to lớn ấy, gã đàn ông tên gọi là Hare đứng một cách yếu ớt và khốn khổ, cặp mắt cũng tối tăm như những ô cửa sổ của căn nhà bỏ hoang đó vậy. Y đưa cánh tay bị chặt chìa ra trước mặt Chim Cắt và rên rẩm, “Xin ngài làm phúc cho kẻ què cụt tội nghiệp này chút gì đó...”

Vị pháp sư nhăn mặt lại, tựa hồ đang phải chịu đau đớn hay nhục nhã; Arren cảm giác như trong một thoáng cậu đã thấy được gương mặt thật của ông bên dưới phép ảo ảnh giả dạng. Ông lại đặt tay lên vai Hare và khẽ nói mấy lời, bằng thứ tiếng pháp thuật mà Arren không hiểu.

Nhưng Hare thì hiểu. Y bám lấy Chim Cắt bằng bàn tay còn lại và lắp bắp, “Ông vẫn còn nói được - nói được - Hãy đi cùng tôi, đi cùng tôi...”

Vị pháp sư liếc nhìn Arren, rồi gật đầu.

Họ đi xuống những dãy phố dốc đứng và tiến vào một thung lũng nhỏ nằm giữa ba ngọn đồi của Thành Hort. Càng xuống dốc đường đi càng hẹp hơn, tối hơn, im lặng hơn. Bầu trời chỉ còn là một dải trắng nhạt nằm giữa các mái hiên nhô ra, và các bức tường nhà ở cả hai bên đều nhớp nháp vì ẩm ướt. Ở chân đèo là một dòng sông, hôi hám như miệng cống; nhà cửa chen chúc nhau dọc theo hai bên bờ suối, giữa hai chiếc cầu có nhịp cuốn. Hare chui vào ô cửa tối om của một trong những căn nhà này, biến mất như một ngọn nến bị thổi tắt. Họ đi theo y.

Những bậc thang không được chiếu sáng kêu lên kẽo kẹt, chao đảo dưới bước chân họ. Đến đầu cầu thang Hare đẩy một cánh cửa mở ra, và cuối cùng họ cũng thấy được mình đang ở đâu: một căn buồng trống trơn, chỉ có một tấm đệm rơm trong góc và một ô cửa sổ có cửa chớp nhưng không có kính, để lọt vào chút ánh sáng bụi bặm.

Hare quay lại đối mặt với Chim Cắt và lại túm lấy cánh tay ông. Môi y động đậy. Mãi hồi lâu sau y mới run run lên tiếng, “Rồng… rồng...”

Chim Cắt bình thản nhìn lại y, nhưng không nói gì.

“Tôi không còn nói được nữa,” Hare nói, rồi buông tay Chim Cắt ra, sụp xuống sàn nhà trống không và òa lên khóc.

Vị pháp sư liền quỳ xuống bên cạnh y và nhẹ nhàng nói với y bằng Cổ Ngữ. Arren đứng bên cánh cửa đóng chặt, tay đặt lên chuôi dao. Thứ ánh sáng xam xám trong căn buồng bụi bặm này, hai con người đang quỳ kia, âm thanh dịu dàng, lạ lùng của giọng nói vị pháp sư đang thốt ra thứ tiếng của loài rồng, tất cả cùng hòa quyện vào với nhau tựa một giấc mơ, chẳng có chút gì liên quan tới những việc đang xảy ra bên ngoài hay thời gian đang trôi qua.

Rồi Hare chậm rãi đứng dậy. Y dùng tay phủi bụi trên đầu gối và giấu bàn tay cụt đằng sau lưng. Y nhìn quanh mình, nhìn Arren; giờ thì y đã thấy được những gì mắt y đang nhìn. Sau đó y quay đi và ngồi xuống tấm đệm rơm. Arren vẫn đứng nguyên, cảnh giác; nhưng với vẻ giản dị của một người đã lớn lên trong những căn nhà chẳng có đồ đạc gì hết, Chim Cắt cũng ngồi xuống, xếp bằng trên sàn nhà trống không. “Hãy cho ta biết làm sao ngươi lại đánh mất pháp thuật và thứ ngôn ngữ pháp thuật của mình.”

Hare không nói gì trong một lát. Y đập cánh tay bị chặt của mình vào đùi một cách bồn chồn, giật cục, rồi cuối cùng y mới đáp lại, từ ngữ tuôn ra thành từng tràng, “Chúng đã chặt tay tôi. Tôi không còn làm phép được nữa. Chúng đã chặt tay tôi. Máu đã chảy, chảy hết rồi.”

“Nhưng đó là sau khi ngươi đã mất hết quyền pháp, Hare, nếu không thì chúng không thể làm vậy được.”

“Quyền pháp ấy ư...”

“Quyền pháp để điều khiển gió, sóng biển và con người. Ngươi gọi đích danh chúng, và chúng phải tuân lệnh ngươi.”

“Phải. Tôi vẫn nhớ khi tôi còn sống,” gã đàn ông nói bằng giọng yếu ớt, khàn khàn. “Và tôi đã từng biết hết mọi thần chú, mọi cái tên...”

“Giờ ngươi đã chết rồi sao?”

“Không. Còn sống. Còn sống. Chỉ có điều trước kia tôi đã từng là một con rồng... Tôi chưa chết. Thỉnh thoảng tôi chỉ ngủ. Giấc ngủ rất gần với cái chết, điều đó ai cũng biết. Trong giấc mơ, người chết vẫn đi lại được, điều đó ai cũng biết. Chúng đến với ta như người sống, chúng nói với ta. Chúng ra khỏi cái chết để bước vào những giấc mơ. Có đường đi đấy. Và nếu ta đi đủ xa thì sẽ có đường quay trở lại chỗ khởi đầu. Quay lại chỗ khởi đầu. Ông có thể tìm được nó nếu biết phải tìm ở đâu. Và nếu ông chịu trả giá.”

“Và cái giá đó là gì?” Giọng Chim Cắt vang lên trong bầu không khí mờ tối như cái bóng của một chiếc lá rụng.

“Sự sống - còn là cái gì khác được nữa? Ta còn có thể mua sự sống bằng cái gì khác ngoài chính sự sống?” Hare lảo đảo tới lui trên tấm đệm rơm, mắt lóe sáng vẻ ranh mãnh kỳ lạ. “Ông thấy không,” y nói, “chúng có thể chặt tay tôi. Chúng có thể chặt cả đầu tôi nữa. Cũng chẳng sao. Tôi sẽ tìm được đường về. Tôi biết phải tìm ở đâu. Chỉ có những người có pháp lực là đến được đó mà thôi.”

“Ý ngươi nói là các pháp sư chứ gì?”

“Đúng thế.” Hare ngần ngừ, như muốn thử thốt ra cái từ ấy mấy lần; nhưng y không thể nói nên lời. “Những người có pháp lực,” y nhắc lại. “Và họ phải... và họ phải từ bỏ nó. Phải trả giá.”

Rồi y lại trở nên ủ rũ, như thể hai từ “trả giá” đã khiến y nhớ ra điều gì đó, và y đã nhận ra rằng mình đang cho không thông tin, thay vì đem thông tin ấy ra bán. Giờ thì y không chịu nói gì nữa, thậm chí cả mấy lời lắp bắp bóng gió về “đường quay trở về” mà Chim Cắt dường như đã thấy có một ý nghĩa nào đó, và chẳng mấy chốc vị pháp sư đứng dậy. “Thôi, nửa câu trả lời còn hơn là không được câu trả lời nào,” ông nói, “và tiền công cũng vậy,” rồi, khéo léo như một nhà ảo thuật, ông ném một đồng tiền vàng lên tấm đệm trước mặt Hare.

Hare nhặt đồng vàng lên. Y ngắm nhìn nó, rồi nhìn Chim Cắt và Arren, đầu quay giật cục. “Khoan đã,” y lắp bắp. Ngay khi tình thế thay đổi thì y đã không còn biết chuyện gì đang xảy ra nữa, và giờ phải mò mẫm khổ sở để nhớ lại điều mình vừa định nói. “Tối nay,” rốt cuộc thì y cũng thốt lên. “Xin hãy đợi đã. Tối nay. Tôi có hazia.”

“Ta không cần thứ ấy.”

“Để chỉ cho ông - để chỉ đường cho ông. Tối nay. Tôi sẽ dẫn ông đi cùng. Tôi sẽ chỉ cho ông thấy. Ông có thể đến đó được, vì ông... ông là...” Y lúng búng tìm chữ, cho đến khi Chim Cắt nói, “Ta là pháp sư.”

“Đúng thế! Vì vậy chúng ta có thể - chúng ta sẽ đến được nơi đó. Đến được con đường đó. Khi tôi nằm mơ. Trong giấc mơ ấy mà. Ông thấy không? Tôi sẽ dẫn ông đi. Ông sẽ cùng tôi đi tới... đi tới con đường ấy.”

Chim Cắt đứng đó, ở giữa căn phòng mờ tối, vẻ bình thản, trầm tư. “Có lẽ,” cuối cùng ông nói. “Nếu chúng ta chấp nhận thì chúng ta sẽ quay trở lại đây lúc trời tối.” Rồi ông quay sang Arren, và cậu liền mở cửa ra, vì nóng lòng muốn rời khỏi nơi này ngay lập tức.

Con phố ẩm thấp, tối tăm có vẻ sáng sủa quang đãng như một khu vườn, so với căn phòng của Hare. Họ tìm đường về phía trên thành phố bằng lối đi ngắn nhất, một cái cầu thang dốc bằng đá nằm giữa các bức tường nhà phủ đầy dây trường xuân. Arren hít một hơi thật sâu rồi lại thở hắt ra như con hải sư... “Ghê quá!... Ngài có định quay lại đó không ạ?”

“Ta sẽ quay lại, nếu như ta không tìm được cùng một thông tin như vậy từ một nguồn tin ít nguy hiểm hơn. Rất có thể y sẽ đặt bẫy tấn công chúng ta.”

“Nhưng chẳng lẽ ngài không có phép tự vệ chống lại bọn trộm cướp hay sao ạ?”

“Tự vệ ư?” Chim Cắt hỏi lại. “Con nói vậy nghĩa là thế nào? Con nghĩ rằng ta lúc nào cũng có bùa phép bọc quanh mình như một bà lão sợ bệnh thấp khớp hay sao? Ta không có thời gian cho chuyện ấy. Ta chỉ che giấu bộ mặt thật của mình để che giấu sứ mệnh của chúng ta; có vậy thôi. Chúng ta có thể bảo vệ lẫn nhau. Nhưng sự thật là chúng ta sẽ không thể tránh khỏi chuyện hiểm nguy trong cuộc hành trình này.”

“Tất nhiên là không ạ,” Arren bực tức đáp lại, giận dữ vì lòng kiêu hãnh bị chạm nọc. “Con không hề chờ đợi điều đó.”

“Thế cũng tốt,” vị pháp sư nghiêm nghị nói, nhưng với một vẻ đôn hậu khiến cho Arren nguôi giận hẳn. Thực ra chính cậu cũng kinh ngạc vì sự giận dữ của mình; cậu chưa bao giờ nghĩ rằng mình dám nói với Tổng Pháp Sư theo giọng điệu ấy. Thế nhưng, người đi cạnh cậu đây vừa là Tổng Pháp Sư lại vừa không phải là Tổng Pháp Sư, ông lái buôn Chim Ưng với cái mũi hếch, bộ hàm vuông, râu cạo qua quýt, và giọng nói khi thì là của người này, khi thì là của người khác: đó là một người lạ mặt, không đáng tin cậy.

“Ngài có hiểu được những điều y nói với ngài không ạ?” Arren hỏi, vì cậu không muốn phải quay lại căn buồng tối tăm bên trên dòng sông hôi hám kia. “Những điều vớ vẩn về chuyện sống chết và quay trở lại khi y đã bị chặt đầu rồi ấy ạ?”

“Ta không biết chúng có ý nghĩa gì không. Ta muốn nói chuyện với một pháp sư đã bị mất hết quyền lực. Y nói rằng quyền lực của y không bị mất - mà là y đã đem nó ra đánh đổi. Đánh đổi lấy cái gì? Sự sống đổi lấy sự sống, y đã nói vậy. Quyền lực đổi lấy quyền lực. Không, ta không hiểu được y, nhưng lời y nói là đáng nghe đấy.”

Lý luận đầy tự tin của Chim Cắt càng khiến Arren thêm hổ thẹn. Cậu thấy mình thật là nóng nảy và thiếu kiên nhẫn, chẳng khác nào một đứa trẻ. Hare đã khiến cậu tò mò, nhưng giờ khi sự tò mò đã được thỏa mãn thì cậu chỉ cảm thấy một nỗi ghê sợ kinh tởm, như thể cậu đã ăn phải thứ gì ôi thiu vậy. Cậu quyết tâm sẽ không nói gì nữa, chừng nào chưa kiềm chế được tính khí của mình. Nhưng chỉ một lát sau, cậu sẩy chân bước hụt trên những bậc thang mòn vẹt trơn tuột, bị trượt ngã, và bị xước hết cả tay khi bám vào lớp đá để lấy lại thăng bằng. “Cái thành phố bẩn thỉu này thật đáng nguyền rủa!” cậu điên tiết thốt lên. Và vị pháp sư khô khan đáp lại, “Ta nghĩ là không cần phải nguyền rủa nó đâu.”

Quả thực, ở Thành Hort có điều gì đó bất ổn, ngay cả trong bầu không khí của nó, khiến người ta ngỡ rằng có lẽ nó bị nguyền rủa thực; thế nhưng không có gì ngự trị nơi đây, mà đúng hơn là một sự thiếu vắng, dường như mọi thứ đều đang yếu dần đi, tựa một căn bệnh sẽ đầu độc tâm trí bất kỳ người khách nào đặt chân tới đây. Ngay cả hơi nóng của mặt trời buổi chiều cũng có vẻ bệnh hoạn, hơi ấm quá ngột ngạt so với một ngày tháng Ba. Các quảng trường và những con phố ồn ào đông chật người qua kẻ lại, kẻ bán người mua, nhưng không hề có trật tự hay sự phát đạt. Hàng hóa không lấy gì làm tốt, nhưng giá lại cao, và những khu chợ thì nguy hiểm với cả người bán lẫn người mua, vì đầy trộm cắp cùng bọn lưu manh lang thang. Trên phố không có nhiều phụ nữ, và số ít ỏi có mặt ở đó thì cũng đi thành từng nhóm. Đây là một thành bang không có luật pháp, cũng không có chính quyền. Khi trò chuyện với mọi người, Arren và Chim Cắt nhanh chóng biết được rằng quả thực ở Thành Hort này không còn hội đồng cai trị, thị trưởng, hay lãnh chúa gì hết. Trong số những người trước kia cai quản thành bang, người thì chết, người thì từ chức, người thì lại bị ám sát; một số thủ lĩnh chia nhau thống trị những phần khác nhau của thành phố, bọn coi cảng thì được toàn quyền điều khiển bến cảng và mặc sức nhồi cho đầy túi, cùng những chuyện tương tự như vậy.

Thành phố không còn trung tâm nữa. Người dân ở đây, mặc dù bận rộn không ngừng, vẫn có vẻ vơ vẩn, vô định. Thợ thủ công dường như không còn ý chí để làm việc cho tốt; thậm chí ngay cả bọn trộm cướp cũng chỉ tiếp tục trộm cướp vì đó là việc duy nhất chúng biết làm. Mọi sự nhộn nhịp và ồn ào của một thành phố cảng lớn đều có ở đây, trên bề mặt, nhưng quanh đường rìa lại là những kẻ nhai hazia ngồi bất động. Và bên dưới bề mặt thì mọi thứ có vẻ như không hoàn toàn thực, kể cả những bộ mặt, những âm thanh, những mùi vị. Trong cái buổi chiều oi nồng đó, trong khi Chim Cắt và Arren đi qua các con phố, hỏi chuyện người này người kia, những thứ ấy cứ mờ nhạt dần đi. Chúng gần như biến mất hẳn. Những tấm vải bạt kẻ sọc chăng trên mái hiên, lớp đá cuội bẩn thỉu rải đường, những bức tường đủ màu sắc, mọi vẻ sinh động rực rỡ của cuộc sống, đều biến đi, chỉ để lại một thành phố như trong mơ, trống rỗng và ảm đạm dưới ánh mặt trời mờ ảo.

Chỉ đến buổi chiều muộn, khi họ lên tới điểm cao nhất của thành phố để nghỉ chân một lát, thì cái cảm giác mơ màng uể oải ấy mới giảm đi chút ít. “Đây không phải là một thành phố để ta đi tìm vận may,” mấy giờ trước Chim Cắt đã nói vậy, và sau hàng bao nhiêu tiếng lang thang vu vơ trò chuyện vô ích với những người lạ mặt, giờ đây trông ông hết sức mệt mỏi và chán chường. Bộ dạng cải trang của ông cũng đã mờ nhạt đi; bên dưới khuôn mặt cục mịch của ông lái buôn đường biển đã thấy lộ ra vài đường nét cứng cỏi và màu da tối sẫm hơn. Arren vẫn chưa thể quên được cảm giác cáu kỉnh của buổi sáng hôm ấy. Họ ngồi xuống trên bãi cỏ lởm chởm ở đỉnh đồi dưới tán lá xanh đậm của một cụm cây tử hoa đầy nụ hoa đỏ thắm, có vài bông đã mở cánh. Từ chỗ này họ không nhìn thấy gì khác dưới thành phố ngoại trừ vô số những mái nhà lợp ngói nối tiếp nhau xuống đến tận biển. Vịnh mở rộng hai cánh tay của mình ôm lấy khoảng nước biển ngả màu xanh xám dưới màn sương của buổi chiều xuân, kéo dài cho tới tận đường chân trời. Không có đường ngăn cách, không có ranh giới. Họ ngồi nhìn đăm đăm vào vùng xanh thẳm mênh mông ấy. Đầu óc Arren trở nên tỉnh táo hơn, rộng mở để đón chào và tôn vinh thế gian.

Khi họ đến uống nước ở một con suối nhỏ gần bên, với làn nước trong vắt chảy róc rách qua những phiến đá nâu, bắt nguồn từ một khu vườn tráng lệ nào đó trên ngọn đồi sau lưng họ, cậu uống một hơi thật dài và nhúng cả đầu mình vào làn nước lạnh. Rồi cậu dứng dậy và ngâm hai câu thơ trong bài Chiến Công của Morred :

Những dòng suối Shelieth được ngợi ca là cây hạc cầm bằng bạc của mọi nguồn nước,

Nhưng ta chỉ xin đời đời giáng phúc cho con suối vô danh đã làm dịu cơn khát của ta!

Nghe vậy Chim Cắt liền bật cười, và cậu cũng cười theo. Cậu lắc mạnh đầu như con chó rũ lông, khiến những giọt nước nhỏ xíu bắn tung ra, như những giọt vàng dưới ánh hoàng hôn.

Họ phải rời khỏi cụm rừng ấy để quay trở lại khu phố, và khi họ ăn xong bữa tối ở một quầy hàng bán những viên chả cá đẫm mỡ, thì màn đêm đã buông xuống. Giữa những con phố hẹp này, bóng tối kéo tới rất nhanh. “Chúng ta nên đi thôi, chàng trai,” Chim Cắt nói, và Arren hỏi, “Quay trở lại chỗ để thuyền ạ?” nhưng cậu biết họ sẽ không đi tới chỗ con thuyền mà là tới căn nhà bên trên dòng sông và căn buồng trống trải, bụi bặm, đáng sợ nọ.

Hare đã đứng đợi họ ở ngưỡng cửa.

Y thắp một chiếc đèn dầu để soi đường cho họ đi lên cái cầu thang tối om. Ngọn lửa nhỏ xíu của cây đèn chập chờn không ngừng trong tay y, ném lên tường những cái bóng to tướng, thoắt ẩn thoắt hiện.

Y đã dọn ra một cái đệm rơm khác cho các vị khách của mình ngồi, nhưng Arren vẫn ngồi xuống trên sàn bên cạnh cửa ra vào. Cánh cửa mở ra phía ngoài, và để canh giữ được nó thì lẽ ra cậu phải ngồi bên ngoài cửa: nhưng cậu không sao chịu đựng nổi khi phải ngồi ở cái hành lang tối như hũ nút kia, hơn nữa cậu lại muốn để mắt đến Hare. Chim Cắt chỉ chú ý đến những gì Hare sẽ cho ông biết hay chỉ cho ông thấy mà thôi, thậm chí cả quyền phép của ông cũng sẽ được dùng vào việc đó nữa; nên Arren phải có nhiệm vụ cảnh giác coi chừng mọi trò bịp bợm gian xảo.

Hare đứng thẳng hơn và không run rẩy nhiều quá nữa; mồm miệng y đã được rửa sạch; và mới đầu thì y trò chuyện một cách khá bình thường, mặc dù có phần phấn khích. Dưới ánh đèn dầu, cặp mắt y đen thẳm đến nỗi nom không còn lòng trắng nữa, tựa như mắt một con vật. Y sốt sắng tranh cãi với Chim Cắt, thuyết phục ông ăn hazia. “Tôi muốn đưa ông đi cùng, đưa ông đi cùng tôi. Chúng ta phải cùng đi với nhau. Chẳng mấy chốc nữa tôi sẽ ra đi, bất kể ông đã sẵn sàng hay chưa. Ông phải dùng hazia thì mới đi theo tôi được.”

“Ta nghĩ là ta có đủ khả năng để đi theo ngươi.”

“Để đến nơi tôi định đi thì không được đâu. Đây không phải là... chuyện làm phép đâu.” Dường như y không thể thốt nên những từ “pháp sư” hay “pháp thuật.” “Tôi biết ông có thể đến được... chỗ ấy, ông biết rồi đấy, chỗ bức tường ấy mà. Nhưng tôi không đi đến chỗ ấy. Con đường này nằm ở nơi khác.”

“Nếu ngươi đi thì ta sẽ đi theo được.”

Hare lắc đầu. Khuôn mặt đẹp đẽ, tàn tạ của y đỏ bừng lên; cứ chốc chốc y lại liếc về phía Arren gộp cả cậu vào câu chuyện, mặc dù y chỉ nói với Chim Cắt. “Xem này: có hai loại người, phải không? Những người giống như chúng ta, và những kẻ khác. Loài... loài rồng, và những kẻ khác. Những kẻ không có quyền pháp thì chỉ sống dở chết dở mà thôi. Chúng không đáng kể. Chúng không biết những giấc mơ của mình; chúng khiếp sợ bóng tối. Nhưng những người khác, chúa tể của loài người, thì không sợ khi phải dấn thân vào bóng tối. Chúng ta có sức mạnh.”

“Miễn là chúng ta biết được tên của mọi vật.”

“Nhưng ở đó thì danh tính chẳng còn ý nghĩa gì nữa - đó mới là điều quan trọng, là điểm chính yếu! Ở đó ta chẳng cần đến những gì ta biết hay những gì ta làm được. Thần chú chẳng có ích gì. Ông phải quên hết những điều đó đi, phải từ bỏ chúng. Ăn hazia chính là để giúp cho việc đó đấy; ông sẽ quên hết mọi cái tên, quên hết mọi hình dạng, để đi thẳng đến với thực chất của mọi việc. Tôi sắp đi rồi, chẳng mấy chốc nữa thôi; nếu ông muốn biết tôi đi đâu thì ông nên làm theo lời tôi nói đi. Tôi nói những điều mà người đã làm. Ông phải làm chủ con người thì mới làm chủ được sự sống. Tôi có thể cho ông biết tên của nó, nhưng tên là cái gì? Tên không phải là sự thật, sự thật, sự thật vĩnh hằng. Loài rồng không thể đến đó được. Rồng cũng phải chết. Tất cả đều phải chết. Đêm nay tôi đã ăn nhiều lắm, ông không thể bắt được tôi đâu. Ông không thể bì được với tôi đâu. Nếu tôi bị lạc, người sẽ dẫn đường cho tôi. Còn nhớ điều bí truyền là gì không? Còn nhớ không? Không còn cái chết. Không còn cái chết - không còn nữa! Không còn những cái giường đầy mồ hôi, những cỗ quan tài mục nát, không còn gì nữa, không bao giờ nữa. Máu đã khô đi như dòng sông cạn nước, đã biến mất rồi. Không còn nỗi khiếp sợ. Không còn cái chết. Mọi cái tên đã biến mất, mọi từ ngữ, mọi nỗi khiếp sợ, biến hết rồi. Hãy cho con biết con đã lạc đường ở đâu, hãy cho con biết, hỡi chủ nhân...”

Y cứ tiếp tục lảm nhảm như vậy, tuôn ra hàng tràng những lời mê dại tắc nghẹn lại trong cổ họng, giống như đọc thần chú nhưng lại không tạo ra một pháp thuật nào, không có gì là đầy đủ, không có ý nghĩa gì. Arren nghe hoài, nghe mãi, cố để hiểu cho ra. Giá mà cậu có thể hiểu được! Chim Cắt nên làm theo lời y bảo và dùng thứ ma túy kia, chỉ một lần thôi, để ông có thể tìm hiểu xem Hare đang nói về chuyện gì, hiểu cho ra điều bí ẩn mà y không chịu, và cũng không thể nói ra. Họ đến đây còn vì lý do gì khác nữa? Thế nhưng (Arren nhìn từ bộ mặt mê mẩn của Hare sang khuôn mặt trông nghiêng của người bạn đồng hành) có lẽ vị pháp sư đã hiểu được rồi cũng nên... Nét mặt nhìn nghiêng của ông nom rắn như đá. Cái mũi hếch đâu rồi, cái vẻ chất phác đâu rồi? Ông lái buôn đường biển Chim Ưng đã bị bỏ quên, không còn nữa. Người ngồi kia chính là một vị pháp sư, là Tổng Pháp Sư.

Giọng nói của Hare giờ chỉ còn là những tiếng lầm bầm trong họng, và y cứ ngồi xếp bằng, người lắc lư tới lui. Mặt y đã phờ phạc cả đi, miệng thì xệch xuống. Vị pháp sư ngồi đối diện y trong quầng sáng nhỏ xíu nhưng đều đặn của cây đèn dầu đặt trên sàn trước mặt họ, không nói một lời, nhưng ông đã đưa tay về phía Hare, nắm lấy tay y. Arren không biết ông đưa tay ra lúc nào. Giữa các sự việc như có một khoảng ngắt quãng, khoảng ngắt quãng vô thức - hẳn là do cậu buồn ngủ. Chắc họ đã ở đây vài tiếng đồng hồ rồi; có lẽ đã gần đến nửa đêm. Nếu cậu ngủ đi, thì liệu cậu cũng có thể đi theo Hare vào trong giấc mơ của y và đến được con đường bí mật nọ hay không? Có thể cậu sẽ làm được. Bây giờ chuyện đó rất có thể xảy ra. Nhưng cậu phải canh chừng cửa ra vào. Cậu và Chim Cắt đã gần như không bàn bạc gì về việc này, nhưng cả hai đều biết rằng khi mời họ quay trở lại đây đêm nay, Hare có thể đã sắp xếp trước một cuộc phục kích; y đã từng làm cướp biển, chắc chắn y có quen bọn trộm cắp. Họ không hề nói gì với nhau, nhưng Arren biết rằng cậu phải làm nhiệm vụ canh gác, bởi vì khi vị pháp sư làm cuộc hành trình kỳ lạ trong tâm trí ấy thì ông sẽ không có khả năng tự vệ. Nhưng cậu đã bỏ lại thanh gươm của mình trên thuyền, như một thằng ngốc, còn con dao của cậu thì liệu có ích gì không, nếu như cánh cửa bất thần mở tung ra sau lưng cậu? Nhưng chuyện đó sẽ không xảy ra: cậu có thể chú ý lắng tai và nghe thấy bất kỳ động tĩnh nào. Hare đã không nói gì nữa. Cả hai người đàn ông đều im phăng phắc; cả căn nhà đều im phăng phắc. Không ai có thể bước lên những bậc thang kẽo kẹt kia mà không phát ra tiếng động. Cậu sẽ lên tiếng, nếu nghe thấy âm thanh gì: cậu sẽ hét to lên, để phá vỡ trạng thái nhập định của hai người kia, và Chim Cắt sẽ có thể bảo vệ chính mình cùng với Arren bằng tia chớp báo thù đầy thịnh nộ của một vị pháp sư... Khi Arren ngồi xuống bên cánh cửa, Chim Cắt đã đưa mắt nhìn cậu, chỉ một cái liếc nhìn đầy vẻ khen ngợi: khen ngợi và tin tưởng. Cậu là người canh gác. Sẽ không có hiểm nguy gì nếu cậu tiếp tục cảnh giác đề phòng. Nhưng thật là khó khăn khi cứ phải nhìn hai khuôn mặt kia, ngắm nhìn đốm sáng nhỏ xíu của ngọn lửa đèn trên sàn ở giữa hai người, cả hai đều yên lặng, không nhúc nhích, mắt mở to nhưng không nhìn thấy ngọn đèn hay căn phòng bụi bặm, không nhìn thấy thế gian này, mà lại đang nhìn vào một thế giới khác, thế giới của những giấc mơ hay của cái chết... thật là khó khi phải quan sát họ và cố để không đi theo họ...

Ở kia, giữa một vùng khô cằn rộng mênh mông và đen thẳm, một người đang đứng vẫy gọi. Đến đây , vị chúa tể bóng tối cao lớn ấy cất tiếng. Trong tay người ấy là một đốm lửa nhỏ không lớn hơn hạt ngọc trai, và người ấy chìa tay ra như muốn trao nó cho Arren, như muốn trao cho cậu sự sống. Một cách chậm rãi, Arren đi một bước về phía đó, đi theo người ấy.

« Lùi
Tiến »