Xứ Hải Địa 3, Bến Bờ Xa Nhất

Lượt đọc: 248 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ÁNH SÁNG PHÁP THUẬT

KHÔ KHỐC, MIỆNG CẬU KHÔ KHỐC. Trong miệng cậu như có bụi. Môi cậu cũng như bị phủ một lớp bụi dày.

Không nhấc đầu lên khỏi sàn, cậu nằm đó ngắm nhìn những cái bóng chập chờn trên tường. Có những cái bóng đen lớn di chuyển, cúi xuống, phồng to lên rồi thu nhỏ lại, cùng với những cái bóng mờ hơn lao vùn vụt trên tường và trần nhà, như đang chế giễu những bóng đen kềnh càng kia. Có một bóng đen trong góc nhà và một bóng đen trên sàn, nhưng chúng đều không cử động.

Phía sau đầu cậu bắt đầu nhức nhối. Cùng lúc đó, những gì cậu đã nhìn thấy bỗng vụt hiện về trong óc cậu như một tia chớp, một khoảnh khắc đã đọng lại trong trí nhớ của cậu: Hare sụp xuống ở góc nhà, đầu gục lên đầu gối, Chim Cắt nằm ngửa ra, một kẻ lạ mặt quỳ gối bên cạnh ông, một kẻ khác ném từng đồng tiền vàng vào một chiếc túi, và một kẻ thứ ba đang đứng nhìn họ. Gã đàn ông thứ ba cầm trong tay một cây đèn, còn trong tay kia là một con dao găm, con dao của Arren.

Nếu chúng có nói chuyện với nhau thì cậu cũng không nghe thấy gì hết. Cậu chỉ nghe được những ý nghĩ của mình, và ngay tức thì, không chút chần chừ, chúng bảo cho cậu biết phải làm gì. Cậu liền lập tức nghe theo chúng. Cậu bò thật chậm về phía trước mấy bước, thò tay trái ra chộp lấy cái túi đựng vàng, nhảy bật dậy, rồi chạy về phía cầu thang, miệng thốt ra một tiếng kêu khàn đặc. Cậu lao xuống những bậc thang tối mò mà không bước hụt một lần nào, thậm chí còn không cảm thấy những bậc thang dưới chân mình nữa, như thể cậu đang bay vậy. Cậu thoát được ra ngoài phố, và lao hết tốc lực vào bóng tối.

Những ngôi nhà chỉ là các khối đen to kềnh trên nền trời đầy sao. Ánh sao lấp lánh yếu ớt trên dòng sông bên phải cậu, và mặc dù không thể nhìn thấy con phố dẫn tới đâu, cậu vẫn thấy được các ngả rẽ, nên cậu liền rẽ ngay vào một ngõ, chạy ngược lại hướng mình vừa đi. Chúng đuổi theo cậu; cậu có thể nghe thấy tiếng chúng sau lưng mình, cách một quãng không xa lắm. Chúng đi chân không, và hơi thở hổn hển của chúng còn to hơn cả tiếng chân chúng nện trên đất. Nếu có thời gian thì hẳn cậu đã cười phá lên; rốt cuộc thì cậu cũng biết cái cảm giác bị săn đuổi thay vì săn đuổi kẻ khác, cái cảm giác khi phải làm con mồi thay vì làm người dẫn đầu đội săn, là như thế nào. Đó là một cảm giác đơn độc nhưng hết sức tự do. Cậu ngoặt sang bên phải, cúi đầu xuống chui qua một cây cầu có lan can cao, chạy vào một phố ngang, vòng qua một khúc quanh, lại quay trở lại bên bờ sông, rồi men theo đường đó một lúc, qua một cây cầu khác. Gót giày của cậu kêu vang trên con đường rải đá cuội, âm thanh duy nhất trong toàn thành phố; cậu dừng lại ở chỗ trụ đá đầu cầu định tháo chúng ra, nhưng dây giày đã bị thắt nút, mà bọn đuổi theo thì vẫn chưa mất dấu cậu. Ánh đèn tỏa sáng bên kia sông trong thoáng chốc; lại vang lên tiếng những bàn chân nặng nề mà nhẹ nhàng chạy tới. Cậu không thể chạy thoát khỏi bọn chúng được nữa. Cậu chỉ có thể chạy nhanh hơn chúng; tiếp tục chạy, chạy về phía trước, dẫn cho chúng đi xa khỏi căn buồng bụi bặm kia, đi thật xa...

Chúng đã lột áo khoác cùng với con dao của cậu, giờ cậu chỉ còn mặc áo lót mỏng, người nóng rực, đầu óc quay cuồng, chỗ đau ở đằng sau gáy cứ giần giật theo từng bước chân, nhưng cậu vẫn chạy hoài, chạy mãi... Cái túi làm vướng tay cậu. Đột nhiên cậu ném tung nó đi, làm một đồng tiền vàng rơi lên mặt đá đánh keng một cái. “Tiền của bọn mi đấy!” cậu hét lên, giọng khàn đục, hổn hển. Cậu lại chạy tiếp. Và bất thình lình con phố dừng lại. Không có ngả rẽ, không có trời sao trước mặt cậu, chỉ là một ngõ cụt. Không dừng chân, cậu quay phắt lại, chạy về phía những kẻ đang đuổi theo mình. Chiếc đèn đu đưa đập vào mắt cậu, và cậu thét lên một tiếng kêu thách thức rồi lao thẳng vào chúng.

* * *

Có một cây đèn lồng lắc lư tới lui trước mặt cậu, một điểm sáng mờ giữa một vùng xám xịt mênh mông đang chuyển động. Cậu ngắm nó một lúc lâu. Ánh sáng mỗi lúc một yếu đi, rồi cuối cùng một bóng đen hiện ra chắn trước nó, và khi bóng đen đó quay đi thì ánh sáng cũng biến mất theo. Nó khiến cậu buồn rầu trong chốc lát; hay có lẽ cậu đang cảm thấy buồn cho chính mình, vì cậu biết giờ cậu phải tỉnh dậy thôi.

Cây đèn đã tắt vẫn lắc lư đập vào cột buồm, chỗ nó được treo. Khắp xung quanh, mặt biển sáng dần lên dưới ánh nắng của vầng mặt trời đang mọc. Có tiếng trống gõ. Các mái chèo đồng loạt kẽo kẹt nhịp nhàng; một người đàn ông ở mũi thuyền hét bảo gì đó với các thủy thủ sau lưng ông ta. Những người bị xiềng cùng với Arren ở khoang sau đều im lặng. Ai nấy đều mang một vòng sắt quanh thắt lưng và cùm ở cổ tay, hai thứ khóa này lại được nối vào với khóa của người bên cạnh bởi một đoạn xích ngắn, nặng; cái vòng sắt ở thắt lưng còn được xích vào một cái chốt ở trên boong, khiến người đó chỉ có thể ngồi xổm hoặc khom mình xuống chứ không thể đứng dậy. Họ lại bị xếp quá gần nhau, nhồi nhét trong khoang chứa hàng chật hẹp, nên không nằm xuống được. Arren bị xiềng ở góc gần cửa tàu phía trước. Nếu ngẩng cao đầu lên thì mắt cậu sẽ ở ngang tầm boong tàu chỗ giữa khoang tàu và lan can, một khoảng rộng chừng hai bước chân.

Cậu không nhớ gì mấy về đêm hôm trước, sau cuộc rượt đuổi và cái ngõ cụt. Cậu gắng sức chống trả nhưng đã bị đánh gục, rồi bị trói gô lại và đem đi đâu đó. Một kẻ có giọng nói lào khào kỳ lạ cất tiếng; cậu loáng thoáng thấy một chỗ nom như xưởng rèn, với ngọn lửa trong bễ bốc lên đỏ rực... Cậu không thể nhớ lại được nữa. Nhưng cậu biết đây là một con tàu chở nô lệ, và cậu đã bị bắt để đem đi bán.

Chuyện này đối với cậu cũng chẳng có gì quan trọng lắm nữa. Cậu chỉ thấy khát cháy họng. Thân thể cậu nhức nhối, đầu đau như búa bổ. Mặt trời rọi xuống những tia nắng tựa mũi giáo xuyên vào mắt cậu.

Đến khoảng giữa trưa thì mỗi người trong bọn được phát cho một phần tư ổ bánh mì và được uống một hơi thật dài từ cái bao da do một gã đàn ông có bộ mặt khắc khổ, xảo quyệt, kề vào miệng họ. Ở cổ gã có quấn một cái vòng da rộng đóng đanh vàng như vòng cổ của chó, và khi gã cất tiếng nói thì Arren nhận ra cái giọng yếu ớt, thì thào đầy lạ lùng đó.

Thức ăn và nước uống giúp cậu thấy đỡ mệt mỏi hơn trong chốc lát, đầu óc cũng tỉnh táo hơn. Lần đầu tiên cậu mới quay sang nhìn những người bạn nô lệ của mình, ba người ở cùng hàng và bốn người ngồi ngay phía sau. Mấy người ngồi co chân, gục đầu lên đầu gối, một người thì rũ xuống, không rõ là vì bị ốm hay bị thuốc mê. Người ngồi cạnh Arren là một chàng trai khoảng hai mươi tuổi với bộ mặt rộng bè bè. “Họ đang đưa chúng ta đi đâu vậy?” Arren hỏi anh ta.

Anh ta nhìn cậu - mặt họ cách nhau chưa đầy một thước - nhe răng cười, rồi nhún vai, và Arren tưởng rằng anh ta định nói mình không biết; nhưng rồi anh ta giật hai cánh tay bị cùm như để chỉ cái gì đó và mở rộng cái miệng vẫn đang cười của mình ra để cho cậu thấy, ở chỗ cái lưỡi trước kia, giờ chỉ còn một mẩu thịt đen sì.

“Chắc là Showl,” người ngồi sau Arren nói; rồi một người khác cũng chêm vào, “Hoặc là Chợ Nô Lệ ở Amrun,” thế rồi gã đàn ông cổ đeo vòng da, dường như có mặt ở mọi nơi trên tàu, cúi mình qua thành khoang và rít lên, “Im ngay nếu bọn mi không muốn bị biến thành mồi cho cá mập,” và thế là tất cả đều im bặt.

Arren cố tưởng tượng ra những nơi ấy, Showl. Chợ Amrun. Ở đó các nô lệ sẽ bị đem ra rao bán. Chắc hẳn bọn lái buôn sẽ đẩy họ ra đứng trước các khách mua như lũ bò hay cừu đực đem bán ở Chợ Berila vậy. Cậu sẽ phải đứng đó, trong những thứ xiềng xích này. Một người nào đó sẽ mua cậu, dẫn cậu về nhà và họ sẽ ra lệnh cho cậu; và cậu sẽ không chịu nghe theo. Hoặc là sẽ nghe theo để tìm cách chạy trốn. Dù thế nào chăng nữa thì cậu cũng sẽ chết. Không phải là tâm trí cậu đang nổi lên chống lại việc phải làm nô lệ; cậu quá mệt nhọc và hoang mang bởi những ý nghĩ như vậy. Chỉ đơn giản là cậu biết rằng mình không thể làm được điều đó; rằng chỉ trong vòng một hai tuần thôi cậu sẽ chết hoặc bị giết. Mặc dù cậu thấy rõ và chấp nhận sự thật này, nó vẫn khiến cậu khiếp sợ, vì vậy cậu thôi không nghĩ về tương lai nữa. Cậu cúi xuống nhìn lớp ván đen sì, bẩn thỉu của khoang tàu ở giữa chân mình, cảm thấy mặt trời rọi lên hai vai trần nóng bỏng cùng với cơn khát lại đang làm miệng cậu khô đi và họng cậu như bị bóp nghẹt lại.

Mặt trời lặn. Màn đêm buông xuống, quang quẻ và lạnh buốt. Những ngôi sao sáng rực hiện ra. Tiếng trống vẫn đều đều vang lên như một trái tim đập chậm rãi, giữ nhịp mái chèo, bởi vì không có một hơi gió nào. Giờ cái lạnh lại trở thành nỗi khổ lớn nhất. Lưng và phía bên trái Arren có được chút hơi ấm nhờ tựa sát vào đôi chân của người ngồi sau cùng anh bạn câm bên cạnh, anh ta đang ngồi co ro, họng lầm rầm ngâm nga điệu nhạc chỉ có một nốt. Các tay chèo đổi phiên; tiếng trống lại bắt đầu. Arren nóng lòng mong cho trời tối, nhưng cậu không sao ngủ nổi. Khắp mình mẩy cậu đau như dần, và cậu lại không thể thay đổi tư thế. Cậu ngồi đó, người nhức nhối, run rẩy vì lạnh, khát cháy họng, mắt ngước lên nhìn những vì sao đang giật cục trên đầu theo từng nhịp chèo, lướt về vị trí cũ, đứng yên, rồi lại giật cục, lướt đi, đứng yên...

Gã đàn ông đeo cái vòng da và một tên khác đứng ở khoảng giữa khoang sau với cột buồm; ngọn đèn nhỏ lắc lư trên cột buồm tỏa sáng lập lờ giữa chúng, rọi bóng lên đầu và vai chúng. “Sương mù, chó chết thật,” cái giọng lào phào, đáng ghét của gã đàn ông đeo vòng da vang lên, “sao ở Eo Biển Nam vào mùa này mà lại có sương mù? Quỷ tha ma bắt nó đi!”

Trống vẫn nện đều đều. Những ngôi sao vẫn giật mạnh, lướt đi, dừng lại. Bên cạnh Arren người nô lệ bị cắt lưỡi bỗng run lẩy bẩy, ngẩng đầu lên và thốt ra một tiếng kêu khủng khiếp, một âm thanh đáng sợ, không hiểu là gì. “Im đi!” gã đàn ông thứ hai đứng cạnh cột buồm quát lên. Người nô lệ câm lại run rẩy, nhưng im lặng, quai hàm nghiến trèo trẹo.

Một cách lặng lẽ, những ngôi sao lướt tới trước và biến mất.

Cột buồm chập chờn ẩn hiện rồi cũng biến mất. Dường như có một tấm chăn lạnh lẽo màu xám phủ lên lưng Arren. Tiếng trống ngập ngừng rồi lại vang lên, nhưng theo nhịp chậm hơn.

“Sương dày như sữa đặc ấy,” giọng nói khàn khàn cất lên đâu đó trên đầu Arren. “Cứ giữ nhịp chèo đi! Không có vũng cạn nào trong vòng hai mươi dặm tới đâu!” Một bàn chân đầy chai và vết sẹo hiện ra trong màn sương, dừng lại một thoáng ngay gần mặt Arren, rồi lại biến đi.

Trong màn sương, không còn cảm giác con tàu đang đi tới trước nữa, chỉ còn thấy tàu lắc lư và sức đẩy của các mái chèo. Tiếng trống nhịp đã nhỏ hẳn đi. Không khí vừa ẩm ướt vừa lạnh ngắt. Sương đọng trên tóc Arren, chảy xuống mắt cậu; cậu cố thè lưỡi liếm những giọt sương và mở miệng hít thật sâu làn hơi lạnh, hòng tìm cách làm dịu bớt cơn khát. Nhưng răng cậu va vào nhau lách cách. Một sợi xích sắt lạnh buốt chạm vào đùi cậu, làm da cậu rát như phải bỏng. Trống vẫn nện đều, nện đều, rồi bỗng dừng lại.

Tất cả đều im lặng như tờ.

“Đánh trống tiếp đi! Có chuyện gì thế?” cái giọng khàn khàn, lào phào ở mũi tàu gào lên. Không có tiếng đáp lại.

Con tàu tròng trành trên mặt biển lặng. Bên ngoài những khúc lan can lờ mờ thấy được qua màn sương thì không có gì cả: chỉ là một khoảng trống. Có vật gì đó chạm vào sườn tàu, kêu kèn kẹt. “Chúng ta mắc cạn rồi,” một người nô lệ thì thầm, nhưng tiếng nói của anh ta chìm vào trong im lặng.

Màn sương bỗng rực lên, như thể một ngọn đèn đang tỏa sáng trong đó. Arren trông rõ mồn một đầu của những người bị xiềng bên cạnh cậu, thấy rõ cả những giọt sương nhỏ xíu đọng long lanh trên tóc họ. Con tàu lại chao đảo, và cậu cố nhoài người hết tầm sợi xích cho phép, vươn cổ ra, để nhìn về phía trước con tàu. Lớp sương tỏa sáng trên boong như một vầng trăng khuất sau màn mây mỏng, lạnh lẽo nhưng chói lòa. Các tay chèo ngồi im lìm như những bức tượng. Đám thủy thủ đứng ở eo tàu, mắt lóe lên. Ở phía của tàu là một người đàn ông đang đứng một mình, và ánh sáng kia đang tỏa ra chính là từ người ông, từ khuôn mặt, hai bàn tay và cây gậy, như bạc tan chảy.

Dưới chân con người sáng rực đó là một hình thù tối sẫm đang co rúm lại.

Arren cố cất tiếng nói nhưng không thể thốt ra một lời nào. Tổng Pháp Sư tiến đến chỗ cậu, bao bọc trong quầng sáng huy hoàng ấy, và quỳ xuống trên boong. Arren cảm thấy tay ông chạm vào người mình và nghe thấy giọng nói của ông. Những cùm xiềng cổ tay và thắt lưng cậu bỗng rời ra; khắp quanh khoang tàu vang lên tiếng xích kêu lẻng kẻng. Nhưng không ai cử động; chỉ có Arren là gắng sức đứng dậy mà không được, vì chân tay cậu đã tê cứng do ngồi bất động quá lâu. Bàn tay mạnh mẽ của Tổng Pháp Sư chộp lấy cánh tay cậu, và giúp cậu trèo ra khỏi khoang chứa hàng để lên ngồi co ro trên boong.

Tổng Pháp Sư bước đi ra xa chỗ cậu, và ánh sáng mờ ảo rọi lên khuôn mặt đờ đẫn của các tay chèo. Ông dừng lại bên cạnh kẻ đang nằm cúm rúm bên cạnh lan can của tàu.

“Ta không trừng phạt ai bao giờ,” giọng nói nghiêm khắc của ông vang lên rõ rành rành, giá băng không kém gì ánh sáng pháp thuật lạnh lẽo trong màn sương mù kia. “Nhưng vì chính nghĩa công bằng, hỡi Egre, ta đã tự đảm nhận trách nhiệm này: ta bắt giọng nói của nhà ngươi phải câm lặng, cho đến ngày ngươi tìm được một từ ngữ xứng đáng để thốt ra.”

Nói đoạn, ông quay trở lại chỗ Arren, đỡ cậu đứng dậy. “Chúng ta đi thôi, con,” ông nói, và nhờ tựa vào ông, Arren tập tễnh đi được tới trước, rồi nửa trèo nửa ngã vào con thuyền nhỏ đang bập bềnh trên sóng bên cạnh sườn tàu: chính là thuyền Trông Xa, với cánh buồm nom như một cánh bướm đêm trong màn sương.

Trong sự im lặng và yên tĩnh hoàn toàn ấy, ánh sáng pháp thuật tắt ngấm, rồi con thuyền quay mũi, rời khỏi sườn tàu. Gần như ngay lập tức, cây đèn lồng treo ở cột buồm, đám tay chèo bất động, cùng phần đuôi tàu khổng lồ, đã biến mất. Arren tưởng như cậu nghe thấy mấy tiếng kêu vang lên, nhưng âm thanh ấy quá yếu ớt và chẳng mấy chốc đã chìm vào thinh không. Một lát sau, màn sương cũng tan ra thành từng dải mỏng, trôi nổi trong bóng tối. Những ngôi sao lại hiện ra, và lặng lẽ như một con bướm đêm, thuyền Trông Xa lướt đi trên mặt biển giữa màn đêm trong trẻo.

Chim Cắt đã phủ lên mình Arren mấy tấm chăn và cho cậu uống nước; ông đang ngồi, tay đặt lên vai cậu thiếu niên, thì Arren bỗng òa khóc. Chim Cắt không nói gì, nhưng bàn tay ông trên vai cậu bỗng trở nên dịu dàng hơn, vững chãi hơn. Arren dần dần cảm thấy được an ủi: hơi ấm, chuyển động nhẹ nhàng của con thuyền, và sự thư thái trong lòng.

Cậu ngước lên nhìn người bạn đồng hành của mình. Không có ánh sáng siêu nhiên nào bao phủ lên gương mặt sạm nâu của ông cả. Cậu gần như không thấy được ông trên nền trời đầy sao.

Con thuyền vẫn lướt đi, được lèo lái bởi phép thuật. Sóng biển rì rào vỗ vào mạn thuyền như kinh ngạc trước vận tốc của nó.

“Gã đàn ông đeo cái vòng cổ da là ai ạ?”

“Con nằm im đi. Đó là một tên cướp biển, Egre. Gã đeo cái vòng đó để giấu vết sẹo nơi họng gã từng bị rạch. Có vẻ như gã đã sa sút đến mức phải từ cướp biển sang buôn bán nô lệ. Nhưng lần này, gã đã bắt phải chú gấu con rồi.” Trong giọng nói bình thản, lặng lẽ của ông có một thoáng đắc thắng.

“Làm sao mà ngài tìm được con ạ?”

“Pháp thuật, đút lót... Ta đã bỏ phí nhiều thời gian. Ta không muốn để mọi người biết rằng Tổng Pháp Sư, Hiệu Trưởng trường Roke lại đang lùng sục quanh những căn nhà ổ chuột của Thành Hort. Ta vẫn có thể giữ hình dạng cải trang của mình lâu hơn. Nhưng ta phải lần ra dấu vết của kẻ này, kẻ nọ, và khi cuối cùng cũng phát hiện ra rằng con tàu nô lệ đã nhổ neo trước lúc bình minh thì ta mất bình tĩnh. Ta liền xuống ngay thuyền Trông Xa và thổi gió thần vào buồm của nó, vì ngày hôm ấy hết sức lặng gió, rồi phù phép cho mái chèo của tất cả thuyền bè trong vịnh ấy dính cứng vào quai chèo - chỉ trong một thời gian thôi. Nếu mọi pháp thuật đều là dối trá phù du cả, thì chúng sẽ giải thích chuyện ấy ra sao, đó là việc chúng phải lo. Nhưng trong lúc vội vã và tức giận, ta đã bỏ qua tàu của Egre, vượt quá nó, vì nó đã đi về hướng Đông hoặc Nam để tránh các vũng cạn. Ngày hôm đó ta chẳng làm được việc gì hết. Thành Hort quả thực là xúi quẩy... Thế rồi rốt cuộc ta đã làm một phép truy tìm, và bắt kịp con tàu vào lúc trời tối. Con nên ngủ một chút đi.”

“Con không sao ạ. Con thấy khá hơn nhiều rồi.” Một cơn sốt hâm hấp đã thế chỗ cho cái ớn lạnh trong người Arren, nhưng quả thực cậu vẫn cảm thấy khỏe. Tuy cơ thể không còn chút sinh khí, đầu óc cậu lại nhảy từ việc này sang việc khác một cách tỉnh táo. “Ngài tỉnh lại lúc nào ạ? Hare thì sao ạ?”

“Ta tỉnh lại lúc trời sáng; và may là ta có cái đầu cứng rắn; sau tai ta chỉ bị một cái cục cùng một vết cắt như quả dưa chuột bị nứt thôi. Ta đã để mặc Hare, y vẫn còn ngủ mê mệt vì say thuốc.”

“Con đã không canh chừng cẩn thận...”

“Không phải vì con đã ngủ quên.”

“Không ạ.” Arren ngần ngừ. “Đó là vì... con đã...”

“Con đã đi trước ta; ta đã nhìn thấy con,” Chim Cắt nói một cách khó hiểu. “Và thế là chúng đã lẻn vào, đập lên đầu chúng ta như đập đầu lũ cừu trong lò mổ, rồi lấy đi tất cả tiền vàng, quần áo tốt, bắt tên nô lệ nào có thể bán được, và bỏ đi. Chúng chỉ đuổi theo con thôi, chàng trai. Ở Chợ Nô Lệ Amrun thì con sẽ đáng giá bằng cả một trang trại đấy.”

“Chúng không đánh con đủ mạnh. Con đã tỉnh lại. Con có chạy khỏi chúng được một lát. Con cũng ném tiền vàng chúng cướp được ra khắp phố nữa, trước khi chúng dồn được con vào một góc.” Mắt Arren sáng lên, long lanh.

“Con tỉnh lại lúc chúng đang ở đó - và bỏ chạy ư? Tại sao?”

“Để dụ cho chúng đi xa khỏi ngài ạ.” Sự kinh ngạc trong giọng nói của Chim Cắt chạm vào lòng tự hào của Arren, và cậu liền dữ dằn nói thêm, “Con tưởng chúng đang theo đuổi ngài. Con sợ chúng sẽ giết chết ngài. Con đã chộp lấy túi tiền của chúng, để chúng đuổi theo con, rồi hét lên và tháo chạy. Và đúng là chúng đã đuổi theo con thật.”

“Phải - chúng sẽ làm thế!” Chim Cắt chỉ nói có vậy, không thốt ra lấy một lời khen, mặc dù ông ngồi trầm ngâm suy tư hồi lâu. Rồi ông hỏi, “Con không hề nghĩ rằng có thể ta đã chết rồi hay sao?”

“Không ạ.”

“Giết người trước, rồi cướp của sau, như thế an toàn hơn.”

“Con không nghĩ đến chuyện ấy. Con chỉ nghĩ làm sao để dụ chúng đi xa khỏi ngài mà thôi.”

“Tại sao?”

“Vì ngài có thể bảo vệ được cả hai ta, giúp cả hai chúng ta chạy thoát, nếu ngài tỉnh lại kịp thời. Hoặc là để chính ngài chạy thoát thôi cũng được. Con có nhiệm vụ canh chừng, vậy mà con đã không cảnh giác. Con chỉ cố gắng bù lại chuyện đó. Con đang canh chừng ngài. Ngài mới là người quan trọng. Con đi theo chỉ để canh chừng, hoặc để làm bất kỳ điều gì ngài cần - nhưng chính ngài mới là người dẫn dắt, đưa chúng ta đến bất kỳ nơi nào chúng ta cần đến, và sửa lại những điều sai trái.”

“Thật thế ư?” vị pháp sư hỏi lại. “Ta cũng đã nghĩ thế, mãi cho đến đêm qua. Ta nghĩ rằng ta có người đi theo, nhưng thực ra chính ta phải đi theo con mới đúng, chàng trai ạ.” Giọng ông lạnh lùng và có phần mỉa mai. Arren không biết phải nói gì. Quả thực, cậu thấy hết sức bối rối. Cậu đã ngỡ rằng việc cậu ngủ quên hay chìm vào cơn mê kia gần như không thể được đền bù lại nhờ chiến công đánh lạc hướng bọn cướp khỏi Chim Cắt: nhưng giờ thì dường như chuyện đánh lạc hướng lại là một hành động ngốc nghếch, trong khi đó việc hôn mê không đúng lúc lại là một việc làm hết sức khôn ngoan.

“Xin ngài tha lỗi,” cuối cùng cậu thốt lên, môi cứng đờ và nước mắt lại sắp sửa trào ra, không sao kiềm chế nổi, “vì con đã phụ lòng tin của ngài. Vậy mà ngài đã cứu mạng con...”

“Và có lẽ con cũng đã cứu mạng ta nữa,” vị pháp sư nghiêm nghị nói. “Ai mà biết được? Sau khi xong xuôi có khi chúng đã định cho ta một nhát dao vào cổ rồi cũng nên. Không nói đến chuyện này nữa, Arren. Ta mừng vì có con đi theo.”

Nói rồi ông quay sang hộp đựng đồ nghề, đốt cái lò than nhỏ đem theo và loay hoay bận bịu làm việc gì đó. Arren nằm ngắm những vì sao, mọi cảm xúc trong lòng dịu đi và đầu óc thôi không quay cuồng suy nghĩ nữa. Và rồi cậu chợt nhận ra rằng những gì cậu đã làm và không làm sẽ không bao giờ bị Chim Cắt phán xét. Cậu đã làm việc đó; và Chim Cắt chấp nhận nó, coi như đã xong. “Ta không trừng phạt ai,” ông đã lạnh lùng nói như vậy với Egre. Ông cũng không trọng thưởng ai. Nhưng ông đã vội vã đưa thuyền ra biển khơi để đến cứu Arren, dùng pháp thuật của mình vì cậu; và ông sẽ làm vậy lần nữa. Cậu biết mình có thể tin cậy vào ông.

Ông xứng đáng với tất cả lòng kính yêu và tin tưởng mà Arren dành cho ông, bởi vì ông cũng đặt lòng tin của mình vào cậu. Điều mà Arren đã làm là đúng đắn.

Giờ ông quay lại với Arren và đưa cho cậu một cốc rượu vang nóng, hơi bốc nghi ngút. “Có lẽ cái này sẽ giúp con ngủ đi đấy. Cẩn thận kẻo bỏng lưỡi đấy nhé.”

“Rượu này ở đâu ra vậy ạ? Con không hề trông thấy một bao da đựng rượu trên thuyền...”

“Trên thuyền Trông Xa có nhiều thứ mà mắt thường không thấy được,” Chim Cắt đáp, ngồi xuống bên cạnh cậu và Arren nghe thấy ông cất một tiếng cười ngắn, gần như không phát ra âm thanh gì, trong bóng tối.

Arren ngồi dậy uống cốc rượu. Rượu rất ngon, giúp thân thể và tinh thần cậu sảng khoái hơn. Cậu hỏi, “Chúng ta đang đi về đâu đây ạ?”

“Về phía Tây.”

“Ngài đã cùng với Hare đi đến đâu ạ?”

“Đi vào bóng tối. Ta không hề mất dấu của y, nhưng chính y lại bị lạc đường. Y lang thang tiến vào vùng ranh giới phía ngoài, vùng đất hoang vu vô tận của sự mê muội và những cơn ác mộng. Linh hồn của y rên rỉ như một con chim giữa nơi hoang vắng ấy, như một con hải âu kêu gào ngoài biển khơi xa thẳm. Y chẳng phải là người dẫn đường gì hết. Y đã luôn luôn lạc lối, từ lâu rồi. Pháp thuật của y đã không giúp y thấy được con đường trước mặt, y chỉ biết có bản thân mà thôi.”

Arren không hiểu hết được những điều này; và lúc này cậu cũng không muốn tìm hiểu chúng nữa. Cậu đã bị lôi kéo trong một thoáng vào cái “bóng tối” mà các pháp sư thường nói đến ấy, và cậu không muốn nhớ lại nó; nó chẳng liên quan gì đến cậu hết. Đúng là cậu không muốn ngủ, vì sợ sẽ lại nhìn thấy nó trong giấc mơ, lại trông thấy hình bóng sẫm tối nọ, bóng đen đang chìa ra một đốm sáng như hạt ngọc trai, miệng thì thào, “Đến đây.”

“Thưa ngài,” cậu nói, đầu óc vội chuyển sang một ý nghĩ khác, “tại sao...”

“Ngủ đi!” Chim Cắt nói, vẻ hơi bực bội.

“Con không ngủ nổi, thưa ngài. Con chỉ muốn biết tại sao ngài lại không trả tự do cho các nô lệ khác.”

“Ta có đấy chứ. Ta đã không để lại một người nào còn bị xiềng xích trên con tàu ấy.”

“Nhưng bọn lâu la của Egre có vũ khí. Nếu ngài trói chúng lại thì…”

“Phải, nếu ta trói chúng lại thì sao? Chỉ có vỏn vẹn sáu tên. Các tay chèo cũng là những nô lệ bị xiềng, giống như con. Egre và đồng bọn của gã giờ có lẽ đã chết rồi, hoặc đã bị những người khác xiềng lại để đem bán làm nô lệ; nhưng ta để họ có quyền tự do chọn giữa chiến đấu hoặc là thương lượng. Ta không bắt ai làm nô lệ cho ta cả.”

“Nhưng ngài biết chúng là những kẻ xấu...”

“Chẳng lẽ vì thế mà ta phải theo chúng ư? Để cho hành động của chúng quyết định hành động của ta hay sao? Ta sẽ không giúp chúng chọn đường đi của chúng, và cũng sẽ không để chúng chọn đường cho ta!”

Arren im lặng hồi lâu để nghiền ngẫm điều này. Vị pháp sư nói, giọng dịu đi, “Con có hiểu không, Arren, một hành động của ta không phải như một viên đá ta nhặt lên rồi ném đi, rơi trúng vào đâu hay không thì cũng chẳng quan trọng, và thế là hết, giống như những người trẻ tuổi thường nghĩ. Khi hòn đá đó được nhấc lên, mặt đất nhẹ đi, còn bàn tay cầm hòn đá thì lại nặng hơn. Khi nó bị ném đi, vòng quay của các ngôi sao cũng đáp lại, và nơi nào nó đập vào hay rơi xuống thì vũ trụ cũng biến đổi theo. Sự cân bằng của vạn vật phụ thuộc vào mọi hành động của ta. Gió và biển, quyền năng của nước, đất và ánh sáng, tất cả những gì chúng làm cùng với tất cả những gì mà các loài cỏ cây muông thú làm, đều là những hành động đúng đắn, chính đáng. Mọi vật ấy đều hành động trong khuôn khổ của sự Cân Bằng. Từ cơn lốc xoáy và tiếng kêu của con cá voi khổng lồ cho đến một cái lá rụng và chuyến bay của con muỗi mắt, tất cả những điều chúng làm đều thuộc về giới hạn của một mối cân bằng chung. Nhưng chúng ta, với tất cả quyền lực chúng ta có để điều khiển thế giới và điều khiển lẫn nhau, chúng ta phải học cách hành động như chiếc lá, con cá voi và trận gió hành động theo bản chất tự nhiên của chúng. Chúng ta phải học cách giữ cho sự cân bằng được vẹn toàn. Vì có trí thông minh, chúng ta không được hành động một cách vô ý thức. Vì có quyền lựa chọn, chúng ta không được hành động một cách vô trách nhiệm. Ta là ai mà dám trừng phạt và ban thưởng cho kẻ khác - mặc dù ta có đủ sức mạnh để làm vậy - ta là ai mà dám đùa giỡn với số phận con người?”

“Nhưng nếu vậy thì,” cậu thiếu niên nói, cau mày nhìn lên những vì sao, “chẳng lẽ sự cân bằng chỉ được giữ vẹn toàn khi chúng ta không làm gì cả hay sao? Chắc hẳn một con người thì cũng phải làm điều gì đó chứ ạ, cho dù không biết việc mình làm có hậu quả ra sao, nếu không thì sẽ chẳng có việc gì được hoàn thành hết.”

“Con đừng lo. Đối với con người thì việc hành động là dễ dàng hơn nhiều so với không làm gì cả. Chúng ta sẽ tiếp tục làm điều thiện và làm điều ác... Nhưng nếu trên thế gian này lại có một vị quốc vương tối cao đang tìm kiếm lời khuyên nhủ của một pháp sư, giống như thời xưa, và ta là vị pháp sư đó, ta sẽ nói với người rằng: Thưa bệ hạ, xin đừng làm việc gì bởi nó là một hành động đúng đắn hay đáng ca ngợi hay cao quý; xin đừng làm việc gì bởi nó là một việc làm tốt; xin hãy chỉ làm điều người phải làm và không thể làm theo bất kỳ cách nào khác được.”

Có vẻ gì đó trong giọng điệu của ông khiến Arren phải quay sang nhìn trong lúc ông nói. Cậu tưởng như ánh sáng rực rỡ kia lại đang tỏa ra từ khuôn mặt ông, rọi lên cái mũi diều hâu, cái má đầy sẹo và cặp mắt tối sẫm, dữ dằn. Và Arren ngắm nhìn ông lòng đầy kính yêu, nhưng cũng đầy sợ hãi, thầm nghĩ, “Suy nghĩ của ngài cách xa ta biết bao.” Thế nhưng trong lúc nhìn ngắm, rốt cuộc cậu cũng nhận ra ánh sáng kia không phải là ánh sáng thần, không phải là vầng hào quang lạnh lẽo của pháp thuật, chiếu lên mọi đường nét trên khuôn mặt con người mà không để lại chút bóng tối nào, mà chỉ chính là ánh sáng ban ngày: thứ ánh sáng của buổi bình minh, ánh mặt trời hết sức bình thường. Vẫn còn một quyền lực mạnh mẽ hơn cả quyền năng của vị pháp sư. Và năm tháng đối với Chim Cắt cũng không hề nhẹ tay hơn so với bất kỳ người nào khác. Trên mặt ông là những nếp nhăn tuổi tác, và ông có vẻ mệt mỏi, trong khi ánh sáng mỗi lúc một rực rỡ hơn. Ông ngáp dài...

Cứ nhìn rồi băn khoăn và suy nghĩ hoài như vậy, cuối cùng Arren cũng ngủ thiếp đi. Nhưng Chim Cắt thì ngồi bên cậu, ngắm buổi ban mai và vầng mặt trời ló rạng, như một người ngắm một báu vật chỉ e có điều gì bất ổn, như ngắm một viên ngọc có tì vết, ngắm một đứa trẻ đang ốm nặng.

« Lùi
Tiến »