ĐẾN GẦN CUỐI BUỔI SÁNG, Chim Cắt mới thôi không dùng gió thần thổi vào buồm nữa mà để cho thuyền tự lướt đi theo ngọn gió thường đang nhè nhẹ thổi tới từ hướng Tây Nam. Xa xa phía bên tay phải, dãy đồi của vùng phía Nam Wathort chìm xuống dưới đường chân trời, lùi lại phía sau lưng họ, trở nên nhỏ xíu và xanh thẳm như những con sóng mờ nhạt bên trên các ngọn sóng thật.
Arren thức giấc. Cả mặt biển đang tràn ngập ánh nắng vàng nóng rực của buổi trưa, một vùng nước mênh mông dưới ánh sáng vô tận. Chim Cắt đang ngồi ở đuôi tàu, chỉ quấn độc một chiếc khố, đầu chít thứ khăn làm bằng vải buồm. Ông khe khẽ ngâm nga một bản nhạc nhẹ nhàng, đơn điệu, lòng bàn tay đập giữ nhịp lên tấm ván đặt ngang thuyền làm ghế chèo, như thể nó là một cái trống. Bài hát ông đang ngân nga không phải là một lời thần chú, một bài trường ca kể về các Chiến Công của những vị vua hay anh hùng nào, mà chỉ là một khúc nhạc luyến láy với những lời ca vô nghĩa, giống như một chú bé thường hát khi một mình lùa đàn dê qua những dãy đồi cao của đảo Gont, trong những buổi chiều hè dài dằng dặc.
Từ dưới biển, một con cá nhảy bật lên và lướt đi trong không khí một quãng dài bằng bộ vây cứng trên lưng, lấp lánh như cánh chuồn chuồn.
“Chúng ta đang ở vùng Nam Hải,” hát xong Chim Cắt nói. “Người ta nói đây là một vùng kỳ lạ trên thế giới, nơi cá dưới biển biết bay và cá heo thì biết hát. Nhưng nước rất lặng và ấm, có thể bơi được, và ta với lũ cá mập thì đã có thỏa thuận với nhau rồi. Con rửa ráy cho sạch mùi của bọn buôn nô lệ đi.”
Mọi cơ bắp của Arren đều đau nhức và mới đầu cậu không muốn nhúc nhích gì cả. Hơn nữa cậu lại bơi không giỏi, vì mọi vùng biển ở Enlad đều giá buốt, nên ta phải chiến đấu với chúng hơn là bơi trong chúng, và chẳng mấy chốc đã kiệt sức. Mặt biển này xanh hơn, khi mới lao xuống thì cũng thấy lạnh, nhưng rồi trở nên rất dễ chịu. Mọi đau nhức biến mất khỏi thân thể cậu. Cậu quẫy nước ầm ầm bên mạn thuyền Trông Xa như một con hải xà non. Nước bắn tóe lên như vòi phun. Chim Cắt cũng bơi cùng cậu, khoát tay mạnh mẽ hơn. Vẻ ngoan ngoãn và che chở, thuyền Trông Xa đứng đợi họ, giương cánh buồm trắng muốt trên mặt nước sáng rực. Một con cá nhảy từ dưới biển lên không trung; Arren đuổi theo nó; nó lặn xuống, rồi lại nhảy lên, lúc bơi trong không khí, lúc bay dưới nước, để đuổi theo cậu.
Với làn da rám nắng vàng rực, thân hình dẻo dai, cậu thiếu niên đùa giỡn, đắm mình trong nước biển và ánh nắng cho tới tận khi mặt trời chạm xuống biển. Và người đàn ông da nâu sạm, thân hình gầy gò, thì bơi với những động tác ngắn gọn và chút sức lực ít ỏi của tuổi già, giữ cho con thuyền đi đúng hướng, chăng lên ngang thuyền một tấm vải buồm, rồi ngắm cậu bé bơi cùng con cá đang bay với vẻ âu yếm bằng nhau, không chút thiên vị.
“Chúng ta sẽ đi về đâu ạ?” Arren hỏi trong ánh chiều chạng vạng, sau khi cậu ăn no nê thịt ướp muối với bánh mì cứng, và đã lại thấy buồn ngủ.
“Đến Lorbanery,” Chim Cắt đáp, và những âm tiết nhẹ nhàng này chính là từ cuối cùng mà Arren nghe được trong đêm ấy, để rồi những giấc mơ của cậu vào lúc chập tối đều quấn quýt quanh từ ngữ đó. Cậu mơ thấy mình đang đi giữa những dải vải mềm mại, màu dịu nhẹ, đầy những sắc hồng, vàng, xanh da trời, trong lòng cảm thấy sung sướng một cách ngớ ngẩn; và ai đó nói với cậu, “Đây là những cánh đồng lụa của xứ Lorbanery, nơi bóng tối không bao giờ buông xuống.” Thế nhưng sau đó, đến cuối đêm khi những vì sao mùa thu xuất hiện trên bầu trời mùa xuân, thì cậu lại mơ thấy mình đang ở trong một căn nhà bỏ hoang. Ở đó hết sức khô cằn. Mọi thứ đều phủ một lớp bụi dày, và giăng đầy những tấm mạng nhện rách rưới cũng đầy bụi. Arren bị vướng chân vào những tấm mạng đó, chúng bay lên mũi và miệng cậu, làm cậu không thể thở được. Và nỗi kinh hoàng đáng sợ nhất, là cậu biết căn phòng cao, đổ nát đó lại chính là gian đại sảnh nơi cậu đã ăn sáng cùng các Vị Thầy, trên Nhà Chính ở đảo Roke.
Cậu tỉnh giấc trong nỗi khiếp đảm, tim đập thình thịch, chân co lại sát một tấm ván ngang tê cứng. Cậu ngồi dậy, cố rũ bỏ cơn ác mộng ghê rợn đó. Chân trời phía Đông chưa hửng sáng, nhưng bóng tối đã mờ nhạt dần đi. Cột buồm kêu lên kẽo kẹt; cao tít bên trên đầu cậu, cánh buồm vẫn căng phồng nhờ làn gió Đông Bắc, sáng lên yếu ớt. Ở đuôi thuyền, người bạn đồng hành của cậu vẫn đang lặng lẽ ngủ say. Arren lại nằm xuống và thiu thiu ngủ lại, cho đến khi ánh ngày quang đãng đánh thức cậu dậy.
Ngày hôm ấy nước biển xanh hơn và phẳng lặng hơn bao giờ hết, cậu chưa bao giờ tưởng tượng rằng nó có thể trong trẻo và hiền hòa đến thế, tới mức bơi trong làn nước ấy cũng gần giống như đang trôi nổi hay lướt trong không khí, một cảm giác thật kỳ lạ, như trong giấc mơ.
Đến buổi trưa, cậu hỏi, “Các pháp sư có coi những giấc mơ là quan trọng lắm không ạ?”
Chim Cắt đang câu cá. Ông chỉ chăm chú theo dõi sợi dây câu. Mãi một lúc sau ông mới nói, “Sao con lại hỏi thế?”
“Con chỉ băn khoăn không biết chúng có chứa đựng chút sự thật nào không.”
“Chắc chắn là có rồi.”
“Chúng có báo trước được tương lai không ạ?”
Nhưng đúng lúc đó vị pháp sư có cá cắn câu, và mười phút sau, khi ông đã giật lên được bữa trưa của họ, một con cá vược tuyệt vời màu xanh ánh bạc, thì câu hỏi đó bị quên bẵng đi mất.
Vào buổi chiều, trong khi họ nằm thư giãn dưới tấm vải buồm căng ngang thuyền để che chắn ánh nắng dữ dội, Arren lại hỏi, “Chúng ta đi tìm kiếm điều gì ở Lorbanery ạ?”
“Tìm cái mà chúng ta tìm kiếm,” Chim Cắt đáp.
“Ở Enlad,” một lát sau Arren nói, “người ta thường kể lại chuyện một chú bé theo học ông thầy là một tảng đá.”
“Thế à?... Và chú bé đó đã học được điều gì?”
“Không bao giờ được hỏi gì ạ.”
Chim Cắt phì ra một tiếng, như để nén cười, rồi ngồi dậy. “Được thôi!” ông nói. “Mặc dù ta sẽ thích hơn nếu được dành việc trò chuyện lại cho đến khi có điều để nói. Tại sao ở Thành Hort và Narveduen và có lẽ là toàn vùng Tứ Hải, không còn pháp thuật nữa? Đó là điều chúng ta muốn biết được, phải không?”
“Vâng ạ.”
“Con có biết câu phương ngôn cổ, Mọi quy luật đều thay đổi ở Tứ Hải , không? Các thủy thủ dùng nó, nhưng đó là câu phương ngôn của các pháp sư, nó có nghĩa là pháp thuật phụ thuộc vào nơi nó được thực hiện. Một lời thần chú đích thực trên đảo Roke có thể sẽ chỉ còn là những từ ngữ vô nghĩa ở đảo Iffish. Ngôn ngữ Kiến Tạo không còn được gìn giữ ở mọi nơi; mà chỉ là ở chỗ này một từ, chỗ kia một từ. Và việc làm phép, tự bản thân nó cũng gắn bó với mặt đất, làn nước, cơn gió và ánh sáng tỏa xuống nơi pháp thuật đó được tạo ra. Một lần ta đã từng đi rất xa về phía Đông, xa đến nỗi gió và nước không chịu nghe lệnh của ta nữa, vì chúng không biết tên gọi thực của mình là gì; hoặc đúng hơn chính ta mới là kẻ ngu dốt không biết tên thật của chúng.
“Thế gian rộng lớn vô cùng, biển Đại Hải trải dài xa hơn mọi sự hiểu biết của con người; và còn có những thế giới khác bên ngoài thế giới của chúng ta. Bên ngoài những vực thẳm không gian kia, trong một khoảng thời gian thật dài, ta nghĩ rằng không có từ nào con người có thể thốt ra mà lại vẫn giữ nguyên được ý nghĩa và quyền lực của nó ở mọi lúc mọi nơi, trừ phi đó là Từ Ngữ Đầu Tiên mà Segoy đã thốt lên để tạo ra vạn vật, hay là Từ Ngữ Cuối Cùng, vốn chưa được thốt ra và sẽ không được thốt ra cho tới ngày tận thế... Vì vậy, ngay cả trong phạm vi thế giới Hải Địa của chúng ta, trong phạm vi của các hòn đảo nhỏ mà chúng ta biết đến, vẫn có những sự khác biệt, những điều bí ẩn, những đổi thay. Và vùng ít được biết đến nhất, nhiều điều bí ẩn nhất, chính là vùng Nam Hải. Rất ít pháp sư từ vùng Đảo Nội Địa đã đến được nơi đây, sống giữa những con người này. Họ không đón chào các pháp sư, vì họ có thứ pháp thuật của riêng mình - người ta tin là như vậy. Nhưng đó chỉ là những tin đồn mơ hồ, và có thể là ở đây Chân Pháp Thuật chưa bao giờ được biết đến một cách rộng rãi hay tìm hiểu một cách đúng đắn. Nếu đúng là như vậy thì nơi này sẽ rất dễ dàng bị phá hủy bởi một kẻ đã định tâm phá hủy nó, và pháp thuật ở đây sẽ dễ bị suy yếu hơn là pháp thuật ở vùng Đảo Nội Địa chúng ta. Và khi ấy chúng ta có thể sẽ được nghe tin về việc pháp thuật ở Nam Hải cũng đã lụn bại.
“Kỷ luật là một con kênh sâu thẳm và vững chắc cho các hành động của chúng ta chảy trôi vào; ở nơi nào không có kỷ luật điều khiển, hành động của con người sẽ trở nên nông cạn, lang thang vô định và sẽ bị phí hoài. Vì vậy người đàn bà to béo có chiếc mũ đính gương nọ đã đánh mất quyền phép của mình và nghĩ rằng mình chưa bao giờ có quyền phép gì hết. Và cũng vì vậy mà Hare ăn hazia rồi tưởng rằng mình đã đi được xa hơn cả những vị pháp sư vĩ đại nhất, trong khi thực ra y chỉ mới đặt chân vào vùng đất của những giấc mơ thì đã bị lạc đường... Nhưng y nghĩ y đang đi đâu? Y đang tìm kiếm điều gì? Cái gì đã nuốt chửng quyền lực pháp thuật của y? Ta nghĩ chúng ta đã có đủ thông tin ở Thành Hort rồi, nên giờ chúng ta đi xa hơn về phía Nam, đến Lorbanery, để xem ở đó các pháp sư làm ăn ra sao, để biết được xem chúng ta phải đi tìm kiếm điều gì... Như thế đã đủ để trả lời câu hỏi của con chưa?”
“Rồi ạ, nhưng mà...”
“Nếu vậy thì hãy để cho tảng đá này được im lặng một lát!” vị pháp sư nói. Rồi ông ngồi bên cột buồm trong ánh sáng vàng rực, dưới cái bóng của tấm vải buồm, mắt nhìn ra biển, hướng về phía Tây, trong khi suốt cả buổi chiều ấy con thuyền cứ nhẹ nhàng lướt về phía Nam. Ông ngồi thẳng đuỗn, im lặng. Thời giờ trôi qua. Arren bơi thêm mấy lần nữa, khẽ khàng tuột từ đuôi thuyền xuống nước, bởi vì cậu không muốn phải đi qua cái nhìn của đôi mắt tối sẫm đang hướng về phía Tây, ngang qua mặt biển kia, dường như cái nhìn ấy vượt xa hơn đường chân trời sáng sủa, xa hơn bầu trời xanh thẳm, xa hơn cả đường ranh giới của ánh sáng.
Một lúc lâu sau, Chim Cắt mới phá vỡ sự im lặng và lên tiếng, nhưng cũng chỉ nói rất ít, mỗi lần một từ. Nhờ có sự dạy dỗ ở cung đình mà Arren rất mau chóng nhận ra tâm trạng được ngụy trang bởi phép lịch sự hoặc do e ngại của người khác; cậu biết trái tim người bạn đồng hành của mình đang trĩu nặng. Cậu không dám hỏi gì nữa, và đến buổi tối, cậu hỏi, “Nếu con hát thì có làm phiền đến suy nghĩ của ngài không ạ?” và Chim Cắt đáp lại, cố gắng tỏ ra đùa vui, “Cái đó thì còn phụ thuộc vào con hát hay hay dở.”
Arren ngồi dựa lưng vào cột buồm và hát. Giọng cậu không còn cao vút, ngọt ngào như nhiều năm trước, khi cậu còn tập luyện với thầy âm nhạc ở Đại Sảnh Berila và được đệm bằng cây đàn hạc cao lớn; giờ đây những nốt cao mà cậu hát với giọng khàn khàn, còn những nốt thấp thì có nét ngân vang của đàn viên, trầm nhưng trong trẻo. Cậu hát bài Điếu Ca khóc vị Bạch Pháp Sư, bài hát mà nàng Elfarran đã sáng tác khi biết tin về cái chết của Morred và chờ đợi cái chết của chính mình. Bài ca ấy không hay cất lên, và cũng không hát để giải trí. Chim Cắt lắng nghe giọng hát trẻ trung của cậu, khỏe khoắn, đầy tự tin, buồn bã, vang lên giữa bầu trời đỏ rực với mặt biển, và nước mắt trào lên làm mắt ông nhòe đi.
Hát xong bài điếu ca, Arren im lặng hồi lâu; rồi cậu khe khẽ cất tiếng hát những điệu hát khác, vui vẻ nhẹ nhàng hơn, để giải khuây trong bầu không khí lặng gió, trên mặt biển nhấp nhô sóng vỗ, dưới ánh ngày đang tắt dần, trong khi màn đêm kéo đến.
Khi cậu ngừng hát thì mọi vật đều im lìm trở lại, gió ngừng thổi, sóng nhỏ đi, ván thuyền và những sợi thừng gần như không còn cót két nữa. Biển nằm lặng lẽ, trong khi trên đầu từng ngôi sao lần lượt xuất hiện. Bỗng một ánh sáng vàng chói mắt tỏa ra ở phía Nam, làm mặt nước rực lên những gợn vàng lấp lánh.
“Nhìn kìa! Một đống lửa hiệu!” Rồi, một phút sau, cậu lại hỏi, “Liệu đó có thể là một ngôi sao không ạ?”
Chim Cắt ngắm nhìn ánh sáng đó một lát, rồi đáp, “Ta nghĩ đó hẳn là ngôi sao Gobardon. Chỉ có thể trông thấy nó ở vùng Nam Hải này. Gobardon có nghĩa là Vương Miện... Kurremkarmerruk đã dạy bọn ta rằng nếu cứ tiếp tục giương buồm đi về phía Nam thì lần lượt tám ngôi sao nữa sẽ hiện ra trên đường chân trời, bên dưới Gobardon, tạo thành một chòm sao lớn, người thì bảo đó là chòm sao hình người đàn ông đang chạy, người khác lại bảo đó là chòm sao hình Cổ Tự Agnen. Cổ Tự Tận Thế.”
Họ ngắm ngôi sao mọc lên bên trên chỗ tiếp giáp giữa bầu trời với mặt biển sóng nhấp nhô, và chiếu sáng một cách đều đặn.
“Con đã hát bài ca của Elfarran,” Chim Cắt nói, “như thể con biết rõ nỗi đau khổ của nàng, và con khiến cả ta cũng cảm nhận được nỗi đau đó... Trong những truyền thuyết lịch sử của xứ Hải Địa thì truyền thuyết này luôn lôi cuốn ta hơn cả. Lòng dũng cảm vĩ đại của Morred chống lại nỗi tuyệt vọng; và Serriadh người đã sinh ra trên cả nỗi tuyệt vọng, vị quốc vương nhân từ. Và nàng, Elfarran. Khi phạm phải tội lỗi xấu xa nhất ta đã từng gây ra, ta tưởng rằng đang hướng về vẻ đẹp của nàng; và ta đã trông thấy nàng - trong giây lát, ta đã trông thấy Elfarran.”
Một cảm giác rùng mình ớn lạnh chạy dọc sống lưng Arren. Cậu nuốt nước bọt rồi ngồi im, ngắm nhìn ngôi sao sáng chói, đáng sợ, vàng rực như hoàng ngọc.
“Con tôn thờ vị anh hùng nào nhất?” vị pháp sư hỏi, và Arren trả lời với một thoáng ngập ngừng, “Erreth-Akbe ạ.”
“Vì đó là người vĩ đại nhất ư?”
“Vì người đã có thể thống trị toàn xứ Hải Địa, nhưng người lại từ chối, rồi một mình ra đi và một mình hy sinh trong khi chiến đấu với con rồng Orm trên bờ biển đảo Selidor.”
Họ lại ngồi lặng lẽ, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ của riêng mình, thế rồi Arren hỏi, mắt vẫn không rời ngôi sao Gobardon màu vàng, “Nếu vậy thì có đúng là pháp thuật có thể gọi được người chết về cõi thế và bắt họ phải nói chuyện với người sống không ạ?”
“Bằng thần chú Triệu Tập. Chúng ta có đủ quyền năng để làm điều đó. Nhưng việc ấy rất ít khi được thực hiện, và ta nghĩ rằng nó chưa bao giờ được thực hiện một cách khôn ngoan cả. Về điểm này thì thầy Triệu Tập cũng đồng ý với ta; ông ấy không bao giờ dùng đến hay giảng dạy cuốn Tri Thức của Paln, trong đó có ghi chép lại những lời thần chú như vậy. Lời thần chú hùng mạnh nhất trong số đó được tạo ra bởi một người tên là Pháp Sư Xám xứ Paln, cách đây đã hàng ngàn năm rồi. Ông ta đã gọi hồn của các vị anh hùng và pháp sư khác, thậm chí cả Erreth-Akbe nữa, để cho các Lãnh Chúa xứ Paln một lời khuyên về việc chiến sự và cai trị. Nhưng lời khuyên của người chết thì chẳng có ích gì cho người sống cả. Xứ Paln chìm vào cảnh hỗn loạn, vị Pháp Sư Xám bị đuổi khỏi đó; và khi ông ta chết đi thì không còn ai nhớ đến tên ông ta nữa.”
“Có nghĩa là đó là một việc làm xấu xa ạ?”
“Gọi nó là một sự hiểu nhầm thì đúng hơn. Một hiểu nhầm đối với sự sống. Sự sống và cái chết đều là một - cũng giống như hai mặt của bàn tay ta, lòng bàn tay và mu bàn tay. Vậy nhưng lòng bàn tay và mu bàn tay lại không hoàn toàn giống nhau... Chúng không thể bị chia rẽ, nhưng cũng không thể hòa trộn với nhau được.”
“Thế bây giờ không còn ai sử dụng những câu thần chú đó nữa ạ?”
“Ta chỉ biết có một kẻ duy nhất sử dụng chúng một cách bừa bãi, không thèm đếm xỉa đến những hiểm nguy chúng đem lại. Bởi vì sử dụng những câu thần chú ấy là một việc hết sức liều lĩnh, nguy hiểm hơn bất kỳ phép thần nào khác. Ta đã nói sự sống và cái chết giống như hai mặt của bàn tay ta, nhưng sự thật là chúng ta không biết sự sống là gì hay cái chết là gì. Khi ta lại muốn có quyền lực điều khiển được một thứ mà ta không hiểu thì không khôn ngoan chút nào, và có lẽ nó sẽ dẫn tới một kết cục chẳng lấy gì làm tốt đẹp.”
“Kẻ vẫn còn sử dụng những lời thần chú đó là ai ạ?” Arren hỏi. Từ trước tới giờ cậu chưa bao giờ thấy Chim Cắt lại sẵn sàng trả lời các câu hỏi của cậu như vậy, trả lời với một vẻ lặng lẽ, trầm tư; cuộc trò chuyện khiến cả hai người đều thấy được an ủi, mặc dù họ nói đến một điều hết sức đen tối.
“Hắn sống ở Havnor. Người ta chỉ coi hắn là một tên phù thủy quèn, nhưng nếu tính về khả năng bẩm sinh thì hắn là một pháp sư vô cùng hùng mạnh. Hắn dùng quyền phép của mình để kiếm tiền, nếu ai đem tiền đến cho hắn thì hắn sẽ cho họ thấy bất kỳ hồn ma nào họ muốn gặp, một người vợ hay người chồng đã quá cố, hoặc đứa con vừa mới mất, khiến nhà hắn chật ních những bóng ma không được an nghỉ đến từ những thế kỷ xa xưa, những thiếu nữ xinh đẹp từ thời của các Quốc Vương. Ta đã thấy hắn gọi đến từ vùng Tử Địa khô cằn linh hồn của chính người thầy cũ của ta, vị Tổng Pháp Sư thời ta còn trẻ, Nemmerle, chỉ để làm một trò tiêu khiển giải trí cho những kẻ nhàn rỗi. Và linh hồn vĩ đại ấy đã đến khi hắn gọi, như một con chó bám theo gót chủ. Ta hết sức giận dữ và đã thách thức hắn - khi ấy ta vẫn còn chưa làm Tổng Pháp Sư - nói rằng, ‘Ngươi đã bắt người chết phải đến nơi ở của ngươi: vậy thì ngươi có dám cùng ta đi đến nơi ở của họ không?’ Và ta đã bắt hắn đi cùng ta đến vùng Tử Địa khô cằn, mặc dù hắn đã dùng hết sức chống lại ta, thay hình đổi dạng, và khi thấy mọi cố gắng đều là vô ích thì thậm chí hắn còn gào khóc lên nữa.”
“Vậy là ngài đã giết hắn ạ?” Arren, bị câu chuyện cuốn hút, hồi hộp hỏi.
“Không! Ta chỉ bắt hắn đi theo ta vào vùng tử địa rồi cùng ta quay trở lại mà thôi. Nhưng hắn đã khiếp sợ. Kẻ đã gọi hồn người chết đến với mình một cách dễ dàng đến thế giờ lại khiếp sợ cái chết - cái chết của chính mình - khiếp sợ hơn bất kỳ người nào ta từng biết. Ở chỗ bức tường ranh giới bằng đá. Nhưng ta đã kể cho con nghe nhiều hơn mức một chú tập sự nên biết rồi. Mà con thậm chí còn không phải là một chú tập sự nữa.” Trong bóng chiều chạng vạng, cặp mắt tinh tường của ông nhìn thẳng vào mắt Arren một lát, khiến cậu phải bối rối. “Thôi không sao,” Tổng Pháp Sư nói, rồi kể tiếp. “Ở đó có một bức tường đá, ở một chỗ nọ trên đường ranh giới. Các linh hồn khi chết sẽ vượt qua đó, và con người chỉ có thể vượt qua đó nếu người ấy là một pháp sư... Kẻ kia đã quỳ sụp xuống bên bức tường đá ấy, ở phía người sống, cố chống lại lệnh của ta, nhưng không thể. Hắn bấu víu vào những viên đá, chửi rủa, gào thét. Ta chưa bao giờ thấy kẻ nào khiếp đảm đến thế; nỗi khiếp đảm bệnh hoạn đến nỗi làm ta thấy kinh tởm. Lẽ ra đến lúc đó thì ta phải nhận ra ta đã làm sai. Ta đã bị cơn thịnh nộ và lòng tự kiêu điều chỉnh. Bởi vì hắn rất mạnh, và ta chỉ nóng lòng muốn chứng tỏ rằng ta mạnh hơn hắn.”
“Thế sau đó hắn đã làm gì ạ - sau khi ngài cùng với hắn quay trở lại ấy?”
“Hắn quỳ mọp xuống trước mặt ta, thề rằng sẽ không bao giờ dùng Tri Thức của Paln nữa; hôn tay ta, và có lẽ là đã giết chết ta, nếu hắn dám. Hắn rời Havnor đi về phía Tây, có lẽ là để đến Paln; mấy năm sau ta nghe tin hắn đã chết. Khi ta gặp hắn thì tóc hắn đã bạc trắng cả, nhưng vẫn còn dẻo dai và nhanh nhẹn như một đô vật vậy. Cái gì đã khiến ta nhắc đến hắn nhỉ? Ta thậm chí còn không nhớ nổi tên hắn nữa.”
“Tên thật của hắn ấy ạ?”
“Không! Cái đó thì ta còn nhớ được...” Ông bỗng ngừng lại, và im lặng hoàn toàn trong suốt khoảng thời gian giữa ba nhịp tim.
“Ở Havnor họ gọi hắn là Cob,” ông nói, giọng thay đổi, trở nên thận trọng hơn. Trời đã tối quá nên không thể thấy được nét mặt ông ra sao. Arren chỉ thấy ông quay đi ngắm ngôi sao vàng rực đã vươn cao trên những con sóng, phủ lên sóng một dải vàng đứt đoạn, mảnh dẻ như tơ nhện. Sau một quãng dài im lặng, ông mới nói, “Con thấy đấy, chỉ có trong giấc mơ chúng ta mới thấy mình phải đối mặt với những điều chưa xảy ra nhưng lại nằm trong những điều đã bị quên lãng từ lâu, và thốt lên những lời tưởng chừng vô nghĩa chỉ bởi vì chúng ta không thấy được ý nghĩa của chúng.”