Đấu Trường La Mã Ở Đâu

võ sĩ giác đấu

Phần đông những ai tới thăm Colosseum đều biết ít nhiều về những màn giao tranh máu me giữa các võ sĩ, những người đàn ông luôn sống chết đánh giết trước 50.000 người hâm mộ hét gào.

Nên nhớ, ít ai tự nguyện thành đấu sĩ. Vốn họ là tù nhân chiến tranh, nô lệ hoặc tội phạm bị định tội.

Số ít người, dẫu vậy, đã chọn bước đường này. Sao họ lại quyết theo cái nghề ấy? Thường, họ là những người chỉ mong đủ bữa và có chỗ nương thân. Mà cơ hội sống sót, thắng chút tiền thưởng thì luôn le lói.

Ban đầu, mỗi phiên giác đấu chỉ gồm hai hoặc ba cặp. Vậy nhưng, tới thời Julius Caesar, “ván” đấu có thể cho cả trăm cặp hoặc hơn sát phạt trong hai tới ba ngày.

Huấn luyện võ sĩ trở thành nghề hái ra tiền. Những người khởi xướng đã lập “trường” đấu sĩ, nơi đàn ông được luyện đánh, luyện giết. Trước khi huấn luyện, họ được kiểm tra sức khỏe. Ngôi trường muốn chắc chắn học viên mới đủ khỏe rồi mới nói chuyện luyện rèn.

Đấu sĩ thường học duy nhất một cách đánh. Người luyện dùng lưới và đinh ba gọi là retiarius (đấu sĩ chụp lưới). Trừ miếng hộ vai, trên người họ không còn bất cứ giáp trụ nào. Thường xuyên, một retiarius sẽ ghép cặp với secutor, đấu sĩ mang gươm ngắn và khiên chữ nhật. Người này đội mũ trụ tròn, tránh để lưới của retiariusmắc vào.

Người Thracia, đặt theo vùng đất Địa Trung Hải Thrace, dùng kiếm ngắn, cong cùng khiên nhỏ, tròn hoặc vuông. Họ đội mũ trụ rộng vành, có tấm che mặt.

Hoplomachi mang kiếm nhọn, dao găm và cây thương dài gần 2 m. Hay phải giao đấu với người Thracia, họ mặc giáp toàn thân nhằm che chắn phần nào khỏi đòn tấn công bằng vũ khí. Nhưng áo giáp kéo hoplomachichậm lại, vậy là họ gần như ngang cơ với những người Thracia di chuyển lẹ làng.

Người Samnite, lấy tên theo vùng đất Ý cổ, dùng kiếm ngắn với khiên chữ nhật dài, đội mũ che mặt gắn lông chim. Họ còn đeo giáp phần dưới chân trái, menica (miếng bảo hộ) bằng vải hoặc da trên tay phải. Người Samnite đôi lúc đấu cặp với retarius hoặc một người đồng hương.

Bestiarii chỉ giao chiến với thú hoang. Họ được trang bị một cây giáo, một con dao và thi thoảng, một chiếc roi. Họ đội mũ che mặt, tay chân quấn vải hoặc da. Thi thoảng, họ được phát một tấm khiên rất nhỏ.

Bestiarri trải qua huấn luyện đặc thù để chiến đấu với các mãnh thú như sư tử, hổ, và gấu. Trường của họ có tên Trường buổi Sáng (Ludus Matutinus) bởi giao đấu dã thú luôn được tổ chức từ tinh mơ.

Võ sĩ giác đấu luôn vào sân từ Cửa Sinh. Cánh cổng nằm phía đối diện là Cửa Tử.

Buổi chiều, các đấu sĩ khoác áo choàng tím tiến vào võ đài. Tím là màu của hoàng đế. Đằng sau họ, đoàn nhạc công vừa diễu hành, vừa thổi kèn chiến. Vòng quanh vũ đài, các đấu sĩ dừng trước lô ghế hoàng đế đang ngồi. Họ cùng hô: “Chúng thần nguyện chết để vinh danh Người.” Sau đó, họ ra ngoài mặc giáp, chờ được gọi vào võ đài để chiến đấu và không chừng, để chết.

Vài cặp giao đấu cùng lúc ở các điểm khác nhau trong võ trường. Đấu sĩ thường bắt cặp theo số trận họ từng kinh qua. Vì vậy, các đấu sĩ non sẽ đối đầu với người ít kinh nghiệm. Luật này rất công bằng và đảm bảo một trận đấu cân sức, kịch tính.

Khi một đấu sĩ kiệt sức hoặc bị thương quá nặng, anh ta sẽ ném khiên xuống và giơ một ngón tay trái. Đây là dấu hiệu xin khoan dung. Hoàng đế sẽ định đoạt sự sống chết của người này. Nhưng ông cũng để đám đông bày tỏ ý kiến. Khán giả giơ ngón cái để bỏ phiếu. Nếu giơ kiểu này, đấu sĩ được sống. Nếu giơ kiểu khác, hoàng đế liền ra hiệu người thắng cứa cổ đối thủ. 1

1 Chưa có bằng chứng về cách giơ ngón cái, những cử chỉ trong các tác phẩm điện ảnh (ví dụ giơ ngón cái thuận – nghịch) chỉ mang tính hư cấu. (ND)

Đa số đấu sĩ sống không lâu. Nhưng đấu sĩ thành công giống như ngôi sao nhạc rock của toàn đế chế. Trẻ con chơi cùng “búp bê” đấu sĩ bằng sáp. Áp phích vẽ hình họ được dán khắp thị thành. Phụ nữ mê mẩn những đấu sĩ ấy. Một phần bức tranh tường tại Pompeii nói về tay đấu sĩ từng là “nguồn vui của mọi thiếu nữ.” Nếu một đấu sĩ thiện nghệ lẫn may mắn thắng đủ số trận, người đó được phép giải nghệ và được ban kiếm gỗ, rudis, như biểu tượng của tự do.