Người đầu tiên mà chúng tôi gặp khi đến Nhà Kết chiều hôm đó là Nick. Cô gái trẻ khoác một chiếc áo kimono lộng lẫy thêu họa tiết rồng tung tăng trong sảnh.
“Ồ! Tưởng ai, hóa ra là ông!”
“Quý cô à – nghe nói thế tôi đau lòng đấy!”
“Tôi hiểu. Câu đó đúng là bất lịch sự thật. Nhưng tôi đang chờ người ta mang chiếc đầm tới, ông hiểu không. Họ đã hứa – mấy gã thô lỗ đó – đã hứa như đinh đóng cột!”
“À! Thì ra là vấn đề làm đẹp! Tối nay có tổ chức khiêu vũ tại đây phải không?”
“Vâng. Sau khi xem pháo hoa xong chúng ta sẽ khiêu vũ. Tôi dự tính là vậy.”
Giọng cô gái bất chợt chùng xuống. Nhưng cô tươi cười ngay sau đó.
“Không bao giờ buông xuôi! Đó là châm ngôn của tôi. Không nghĩ về vận xui nữa và vận xui sẽ không tới! Tối nay tôi đã xốc lại tinh thần rồi. Tôi sẽ thật vui vẻ và tận hưởng bữa tiệc.”
Có tiếng bước chân đi xuống cầu thang. Nick quay lại.
“Ồ! Maggie kia rồi. Maggie, đây là hai ông thám tử đang bảo vệ em khỏi tên sát thủ bí ẩn. Chị đưa hai ông ấy vào phòng khách đi để họ kể cho chị nghe.”
Chúng tôi lần lượt bắt tay với Maggie Buckley và cô gái ngoan ngoãn dẫn chúng tôi vào phòng khách. Ngay lập tức tôi có ấn tượng tích cực với cô gái trẻ này.
Vẻ ngoài điềm tĩnh nền nã của cô khá thu hút. Đó là một cô gái kiệm lời, có nét xinh đẹp truyền thống – và chắc là không thông minh lắm. Cô để mặt mộc không son phấn và vận một chiếc đầm dạ hội đen đơn giản, gần như là xuề xòa. Cô có đôi mắt xanh biếc thật thà và chất giọng êm ái chậm rãi.
“Nick đã kể tôi nghe những chuyện phi thường nhất trên đời,” cô nói. “Chắc hẳn em ấy đã nói quá lên đúng không? Ai lại muốn hãm hại Nick cơ chứ? Em ấy không thể gây thù chuốc oán với ai được đâu.”
Cách cô nói lộ rõ sự ngờ vực. Cô nhìn Poirot với vẻ không mấy thiện cảm. Tôi hiểu ra rằng đối với một cô gái như Maggie Buckley thì người ngoại quốc nào cũng đáng nghi ngờ.
“Tuy vậy, cô Buckley ạ, tôi xin đảm bảo rằng đó chính là sự thật,” Poirot lặng lẽ nói.
Cô gái không nói gì, nhưng vẻ mặt vẫn còn hoài nghi.
“Tối nay trông Nick có vẻ ngông nghênh lắm,” cô nhận xét. “Tôi chẳng hiểu em ấy bị sao nữa. Trông em ấy táo bạo lạ thường.”
Từ ngông nghênh đó khiến tôi rùng mình! Còn có điều gì đó trong âm điệu giọng nói của cô khiến tôi tò mò.
“Cô Buckley có phải người Scotland không nhỉ?” tôi hỏi xen vào.
“Mẹ tôi đúng là người Scotland,” cô giải thích.
Tôi để ý thấy cô nhìn tôi với con mắt thiện cảm hơn là nhìn Poirot. Tôi nghĩ lời khẳng định của mình trong vụ án sẽ có tác động tới cô hơn.
“Em họ của cô đang hành xử rất can đảm,” tôi nói, “Cô ấy quyết định để mọi thứ diễn ra như bình thường.”
“Chỉ có cách đó thôi, đúng không nhỉ?” Maggie nói. “Ý tôi là, dù cho nội tâm một người đang sóng gió đến mức nào đi nữa cũng không nên làm rùm beng mọi chuyện lên.” Cô ngừng một chút rồi dịu dàng nói thêm, “Tôi rất thương Nick. Em ấy lúc nào cũng đối xử tốt với tôi.”
Chúng tôi không kịp nói gì thêm vì lúc đó Frederica Rice lững thững đi vào phòng. Cô ta mặc một chiếc đầm xanh giống Madonna và trông cực kì mong manh thanh tao. Ngay sau đó Lazarus bước vào, rồi đến Nick nhảy chân sáo vào phòng. Cô gái trẻ mặc váy dài màu đen và điểm thêm một chiếc khăn choàng Trung Hoa truyền thống đỏ đẹp rực rỡ như tranh sơn mài.
“Xin chào mọi người,” cô lên tiếng. “Uống cocktail nhé?”
Mọi người cùng uống, và Lazarus nâng ly lên chúc mừng cô.
“Cái khăn choàng lộng lẫy quá Nick ạ,” anh ta nói. “Cũng khá là cũ rồi, đúng không nhỉ?”
“Đúng vậy, được ông cố–cụ–kị Timothy đi du lịch mang về đấy.”
“Đẹp quá, quả là một món đồ đẹp tuyệt. Có cố cũng không tìm được cái giống hệt vậy đâu.”
“Nó cũng ấm nữa,” Nick nói. “Phù hợp để khoác lúc xem pháo hoa. Và trông cũng vui tươi nữa. Tôi… tôi ghét màu đen lắm.”
“Đúng rồi nhỉ,” Frederica nói. “Hình như mình chưa bao giờ thấy cậu mặc đầm đen bao giờ đấy Nick. Sao cậu lại mua nó?”
“Ồ! Mình cũng chả biết nữa.” Cô gái quay sang một bên tỏ vẻ hờn dỗi, nhưng tôi chợt thấy môi cô hơi cong lên với vẻ đau đớn. “Đâu cần phải có lí do cho mọi thứ ta làm?”
Chúng tôi cùng dùng bữa tối. Một nam phục vụ bí ẩn có mặt tại bữa ăn – tôi đoán là được thuê trong dịp này. Thức ăn không đặc sắc lắm. Nhưng ngược lại rượu champagne rất ngon.
“George vẫn chưa tới nữa,” Nick nói. “Bực mình thay, tối hôm qua anh ấy phải quay lại Plymouth. Chắc trong tối nay anh ấy sẽ ghé qua thôi, không sớm thì muộn. Cũng vừa kịp giờ cho buổi khiêu vũ. Em đã tìm được bạn nhảy cho Maggie rồi. Cũng sáng sủa đẹp trai, nếu không nói là hấp dẫn.”
Có tiếng gầm xa xa vọng vào qua cửa sổ.
“Ôi! Nguyền rủa đám tàu cao tốc ấy,” Lazarus nói. “Tôi chán ngấy chúng rồi.”
“Không phải tàu cao tốc đâu,” Nick nói. “Tiếng thủy phi cơ đấy.”
“Chắc cô nói đúng đấy.”
“Tất nhiên là đúng rồi. Tiếng chúng khá khác nhau mà.”
“Khi nào cô mua chiếc Bướm Đêm cho mình hả Nick?”
“Khi nào em để dành đủ tiền,” Nick phá lên cười.
“Lúc đó, tôi đoán là cô sẽ bay đi Úc giống cô gái đó – tên cô ta là gì nhỉ?”
“Em muốn lắm…”
“Mình rất hâm mộ cô ấy,” Rice nói bằng giọng hờ hững. “Can đảm lạ thường! Còn đi một mình nữa chứ.”
“Tôi hâm mộ hết tất cả phi công,” Lazarus nói. “Nếu Micheal Seton bay vòng quanh thế giới thành công, anh ta sẽ được xem như anh hùng – và xứng đáng được thế. Tiếc thay anh ta có lẽ đã gặp chuyện không may rồi. Micheal Seton là kiểu người mà Anh quốc không muốn đánh mất.”
“Có khi anh ấy vẫn còn sống khỏe mạnh,” Nick nói.
“Khó có chuyện đó lắm. Cơ hội sống sót là một trên một ngàn. Anh chàng Seton Điên Rồ tội nghiệp.”
“Lúc nào họ cũng gọi anh ta là Seton Điên Rồ nhỉ?” Frederica hỏi.
Lazarus gật đầu.
“Anh ta sinh ra trong một gia đình khá điên,” Lazarus nói. “Chú ruột của anh ta, ngài Matthew Seton, mới chết một tuần trước – điên hết chỗ nói.”
“Ông ta là vị triệu phú điên điều hành mấy khu bảo tồn chim, đúng không nhỉ?” Frederica hỏi.
“Đúng rồi. Ông ta từng mua liền mấy hòn đảo. Ông ta ghét phụ nữ lắm. Từng bị cô nào đó bỏ, tôi đoán vậy, và tự an ủi mình bằng việc nghiên cứu Lịch sử Tự nhiên.”
“Vì sao mọi người nói Micheal Seton đã chết?” Nick khăng khăng. “Tôi không hiểu, chưa hiểu, sao chúng ta buông xuôi hết hy vọng vậy.”
“À đúng rồi, cô quen anh ấy đúng không?” Lazarus nói. “Tôi quên mất.”
“Em và Freddie đã gặp anh ấy ở Le Touquet năm ngoái,” Nick kể. “Anh ấy thật sự tuyệt vời, phải không Freddie?”
“Đừng hỏi mình chứ cưng. Anh ta là đối tượng của cậu, không phải mình nhé. Anh ấy từng đưa cậu bay một chuyến đúng không?”
“Đúng vậy – ở Scarborough. Một kỉ niệm đẹp đẽ tuyệt vời.”
“Đại úy Hastings đã từng đi máy bay chưa ạ?” Maggie lịch sự hỏi tôi với giọng xã giao.
Tôi thú nhận rằng những lần duy nhất tôi di chuyển trên không là lần bay tới Paris rồi bay về.
Đột nhiên, Nick nhảy dựng lên với tiếng kêu thảng thốt.
“Điện thoại reo. Đừng chờ tôi nhé. Đã trễ rồi. Và tôi cũng mời nhiều người tới lắm.”
Cô gái chạy ra khỏi phòng. Tôi liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Chỉ mới chín giờ. Món tráng miệng và rượu port được dọn ra. Poirot và Lazarus trò chuyện về hội họa. Lazarus kể rằng tranh vẽ hiện đang là cơn sốt trên thị trường. Họ chuyển qua chủ đề những ý tưởng mới lạ trong nội thất và đồ trang trí.
Tôi cố gắng làm tròn nghĩa vụ của mình bằng cách chuyện trò với Maggie Buckley, nhưng đành phải thừa nhận rằng cô gái rất khó gợi chuyện. Cô ngoan ngoãn trả lời nhưng không hỏi gì lại. Không dễ chịu chút nào.
Frederica Rice ngồi mơ màng lặng lẽ, chống khuỷu tay lên bàn và để khói từ điếu xì gà quấn quít quanh mái tóc óng ả. Trông cô như một thiên thần trầm tư.
Lúc chín giờ hai mươi thì Nick thò đầu qua cửa.
“Ra ngoài nào, mọi người! Từng đôi khách đang tới rồi.”
Chúng tôi đứng dậy. Nick bận bịu tiếp khách. Cô mời cỡ một chục người. Hầu hết các vị khách trông không mấy thú vị. Tôi nhận ra rằng Nick là một nữ chủ giỏi giang. Cô gái trẻ kiềm chế tính hiện đại trong người để chào đón mọi người theo kiểu truyền thống. Trong số các vị khách tôi để ý thấy có cả Charles Vyse.
Chúng tôi nhanh chóng di chuyển ra khoảng vườn trông xuống biển và bến cảng. Có vài cái ghế được đặt sẵn dành cho người cao tuổi, nhưng hầu hết mọi người đều đứng. Quả pháo hoa đầu tiên được bắn lên trời.
Ngay lúc đó tôi nghe một giọng nói oang oang quen thuộc, khi quay đầu lại thì trông thấy Nick đang tiếp đón ông Croft.
“Thật tiếc,” cô đang nói, “vì bà Croft không thể ra đây chung vui. Chúng ta có thể dùng cáng đưa bà ấy ra hay tìm cách nào đó.”
“Mẹ đám trẻ chịu xui đủ điều. Nhưng bà ấy không bao giờ phàn nàn cả – người đàn bà ấy lúc nào cũng ngọt ngào dễ chịu – Ha! Quả đó đẹp đấy.” Một trận mưa vàng từ trên trời rơi òa xuống.
Trời đêm nay tối đen – không có trăng, phải đến ba ngày nữa trăng mới ló dạng. Và cũng như bao buổi tối mùa hạ khác, trời khá lạnh. Maggie Buckley đứng kế bên tôi đang run lên từng hồi.
“Tôi sẽ vào nhà lấy áo khoác,” cô nói khẽ.
“Để tôi giúp cô.”
“Không, ông đâu biết nó để chỗ nào.”
Cô quay gót chạy vào nhà. Ngay lúc đó Frederica Rice cất tiếng:
“Ồ, Maggie, lấy giúp em với. Trong phòng em ấy.”
“Chị ấy không nghe thấy rồi,” Nick nói. “Để mình lấy cho Freddie. Mình cần chiếc áo lông – khăn choàng này không đủ ấm. Cơn gió này buốt quá.”
Đúng là lúc đó có những luồng gió buốt lạnh thốc lên từ đại dương.
Vài mảnh pháo hoa bắt đầu rơi xuống cầu tàu. Tôi quay sang trò chuyện với một người phụ nữ lớn tuổi đứng kế bên, bà nghiêm khắc giáo huấn tôi về cuộc sống, sự nghiệp, gu ăn uống và thời gian đi nghỉ phù hợp.
Đùng! Một cơn mưa sao màu xanh lục rơi xuống từ trời đêm. Nó đổi sang màu xanh dương, rồi đỏ, rồi bạc trắng.
Màn pháo hoa cứ tiếp diễn mãi.
“Người ta cứ ‘Ồ!’ rồi ‘À!’.” Poirot đột ngột nói vào tai tôi. “Cuối cùng giọng họ không đổi nữa, anh có thấy vậy không? Ôi! Bãi cỏ này làm chân tôi ẩm ướt quá! Thế nào tôi cũng bị cảm lạnh. Và không có cách nào tìm được một tách trà thảo mộc đàng hoàng!”
“Cảm lạnh ư? Trong một buổi tối đẹp trời thế này sao?”
“Một buổi tối đẹp trời! Một buổi tối đẹp trời à! Anh chỉ nói thế vì hôm nay trời không đổ mưa như trút thôi! Chỉ trừ những ngày mưa thì anh lúc nào cũng khen trời đẹp. Nhưng để tôi nói cho nghe, bạn tôi à, nếu có nhiệt kế ngoài này anh sẽ thấy trời lạnh như thế nào.”
“À,” tôi thừa nhận, “tôi cũng không ngại khoác thêm áo đâu.”
“Anh rất nhạy cảm. Gốc gác anh từ vùng khí hậu nóng mà.”
“Để tôi lấy áo của ông cho.”
Poirot nhấc một chân lên, rồi nhấc chân còn lại khỏi mặt đất với điệu bộ như một con mèo.
“Tôi chỉ sợ hai bàn chân bị ướt lạnh thôi. Anh nghĩ có khả năng tìm được một đôi dép cao su không?”
Tôi cố không bật cười.
“Không đâu,” tôi nói. “Ông nhớ chứ Poirot, người ta đâu sản xuất loại dép đó nữa.”
“Vậy thì tôi vào nhà ngồi vậy,” ông tuyên bố. “Tôi đâu muốn bị nhiễm lạnh chỉ để xem màn trình diễn pháo hoa. Và còn có khả năng bị viêm phổi nữa.”
Poirot vẫn còn phẫn nộ bực bội khi chúng tôi lê bước về căn nhà. Có tiếng vỗ tay vọng lên từ cầu tàu, khi người ta dựng lên một bộ pháo sáng mới – lần này hình một chiếc thuyền với dòng chữ Chào mừng Quý Khách vắt ngang qua.
“Ở sâu trong tim thì chúng ta vẫn chỉ là trẻ nhỏ thôi.” Poirot trầm tư nói. “Bắn pháo hoa, tiệc tùng, các trò chơi banh – đúng thế, và thậm chí cả ảo thuật gia giở mánh khóe ngay trước mắt nữa, dù cho ta có quan sát kĩ càng đến chừng nào – nhưng anh đang chỉ gì thế?”
Tôi đã tóm chặt lấy cánh tay ông bằng một tay, tay còn lại chỉ thẳng tới một thứ.
Chúng tôi đang đứng cách nhà chưa tới một trăm mét, và trước mắt, nằm giữa chúng tôi và ô cửa kiểu Pháp đang mở toang, là một hình thù quấn trong chiếc khăn choàng Trung Hoa đỏ chói…
“Ôi lạy Chúa!” Poirot thì thào. “Ôi lạy Chúa…“