Hai phụ tá khiêng Ogi đang nằm trên giường cẩn thận đi qua cánh cổng sắt. Anh nằm ngửa, quan sát căn nhà của mình ở một góc độ chưa từng thấy trước đây. Mỗi khi chiếc giường di chuyển, mái chóp nhọn của căn nhà lại méo mó tranh tối tranh sáng. Bức tường ngoài đen thẫm cũng rung rinh. Cành lá rậm rạp của cây long não thỏa sức tỏa bóng trên thân thể Ogi, còn mái hiên thì cản trở tầm nhìn đến bức bối.
Để có thể quay về căn phòng ngủ trước đây của hai vợ chồng, Ogi phải tốn không ít thời gian. Đương nhiên đó không phải do lỗi của những phụ tá, hay vì Ogi bướng bỉnh muốn tự vào phòng bằng đôi chân bất tiện của mình, anh sao làm nổi chuyện đó. Sau ba tháng tập trung phục hồi chức năng, tình hình của anh chẳng cải thiện được là bao. Anh có thể hơi quay đầu sang hai bên một chút và sử dụng cánh tay trái, nhưng đó là tất cả những gì anh có thể làm. Ban đầu, cánh tay trái là thứ đã khơi dậy ý chí muốn sống trong Ogi. Thế nhưng, bây giờ nó chỉ đem lại cảm giác tuyệt vọng vì anh chỉ có thể phục hồi được đến thế. Dù Ogi chăm chỉ luyện tập đến mức nào thì những cơ quan khác vẫn không chịu cải thiện. Vì được sử dụng quá nhiều, cánh tay trái của Ogi thường xuyên bị chuột rút và đau nhức, hoàn toàn khác so với cánh tay phải yếu ớt. Cũng vì chỉ có mỗi cánh tay trái hồi phục mà sự cân bằng cơ thể anh vốn duy trì bấy lâu đã hoàn toàn bị phá vỡ.
Người cản trở Ogi trở lại phòng mình không phải anh hay bất cứ ai khác mà chính là mẹ vợ. Bà bám chặt lấy giường Ogi đang nằm mà khóc. Đó là lần đầu tiên Ogi chứng kiến bà mếu máo, khóc nức nở thành tiếng như một đứa trẻ. Ở bệnh viện, mẹ vợ cũng thường hay khóc, nhưng bà không phát ra bất kỳ âm thanh nào. Đó là tiếng khóc lạnh lùng, lặng lẽ và thích đáng, nước mắt rơi trong im lặng, chỉ có dáng điệu là cho thấy bà đang khóc. Thế nhưng, trước mặt người khác, bà không bao giờ rơi một giọt nước mắt và tỏ vẻ như mình đã chấp nhận cái chết của con gái.
Phải mất rất lâu Ogi mới được nằm yên ổn trong phòng mình. Thay vì chiếc giường làm bằng gỗ hồng của hãng Ethan Allen , một chiếc giường thấp và nhỏ hơn dành cho người bệnh, có thể điều chỉnh độ cao đã được kê vào. Chiếc giường vợ chồng Ogi từng dùng bây giờ đã quá to và quá cao so với anh. Chỉ thay mỗi giường nhưng căn phòng đã hoàn toàn mất đi dáng vẻ vốn có, trở nên cô quạnh và lạnh lẽo như một viện dưỡng lão với trang thiết bị tồi tàn.
Người hoàn thành thủ tục ra viện và chuẩn bị phòng cho Ogi là mẹ vợ anh. Bà đã trao đổi với bác sĩ điều trị chính để lên lịch cho lần phẫu thuật tiếp theo. Bà hỏi bác sĩ về quá trình hồi phục và tường thuật lại những gì mình nghe được cho anh. Bà cũng bàn bạc với bác sĩ vật lý trị liệu về phương pháp phục hồi trong tương lai. Để điều trị ngoại trú, bà đã ký hợp đồng thuê xe, rồi còn thuê thêm một bác sĩ vật lý trị liệu ở ngoài. Ogi sẽ đến bệnh viện kiểm tra định kỳ và được bác sĩ giúp phục hồi chức năng của cơ và khớp. Mẹ vợ cũng mua cho anh một chiếc giường y tế cùng các thiết bị cần để luyện tập.
Ngoài mẹ vợ ra sẽ chẳng có ai sẵn sàng vì anh làm những việc này. Bà là người thân duy nhất còn lại của anh. Trên thực tế, bà cũng là người duy nhất có đủ tư cách làm người giám hộ hợp pháp cho Ogi.
Mẹ vợ cũng đã tìm một hộ lý tại gia cho anh. Nhờ sự giúp đỡ của y tá bệnh viện, bà đăng thông báo tuyển dụng lên một trang web. Vì là vị trí hộ lý tại gia nên không có nhiều người đăng ký. Mẹ vợ đã gặp gỡ từng người đến ứng tuyển và phỏng vấn kinh nghiệm làm việc của họ. Sau khi tìm được ứng viên ưng ý, bà thỏa thuận tiền lương và những điều kiện công việc với hộ lý mới.
Mẹ vợ nói, tuy hộ lý ăn mặc có chút quê mùa, nhưng là một người giàu kinh nghiệm.
“Cô ấy kể đã cứu sống bệnh nhân đang cận kề cái chết ở cái nhà cô ấy từng làm trước đây cơ đấy!”
Nghe bà kể vậy, Ogi chỉ cười thầm. Nếu có thể phát ra âm thanh, anh sẽ bật cười ha hả. Mẹ vợ không phải là kiểu người thích nói quá và phóng đại mọi việc, nên đó hẳn là lời khoác lác của người hộ lý rồi.
Bác sĩ vật lý trị liệu cũng từng khẳng định điều tương tự, rằng anh ta đã giúp bệnh nhân hiện tại của mình phục hồi chức năng thành công.
“Bác sĩ trị liệu bảo là chỉ sau đúng một năm, bệnh nhân của mình đã có thể tự đi lại được. Đúng là tài giỏi hơn người!”
Một trong những điều Ogi ghét nhất chính là mấy câu chuyện về việc điều trị dứt điểm bệnh nan y. Lúc bình thường, chắc anh sẽ giễu cợt chuyện ấy. Anh sẽ mỉa mai rằng để sinh tồn thì con người ta cái gì chẳng dám ăn, chuyện gì chẳng dám làm. Nhưng bây giờ, Ogi muốn hưởng ứng lời của mẹ vợ, và vì chẳng thể phát biểu ý kiến, anh chỉ biết chớp mắt.
Mặc dù bây giờ âm thanh Ogi phát ra vẫn chỉ là những tiếng rên rỉ không một ai nghe hiểu, nhưng bác sĩ bảo, sau lần phẫu thuật tiếp theo, tình trạng chắc chắn sẽ cải thiện. Nếu cơ hàm vỡ nát của anh được đưa lại về vị trí cũ thì dây thanh âm bị tổn thương cũng sẽ dần hồi phục.
“Phải, phải, phải rồi. Đương nhiên đó là việc mẹ phải làm mà. Con không cần cảm ơn đâu.”
Mẹ vợ tự đáp lại theo ý hiểu của bản thân. Ogi chớp mắt lần nữa như thể muốn nói, anh cũng đồng tình với bà.
“Không phải mẹ thì ai sẽ làm những chuyện này chứ?”
Sau khi thở dài một tiếng, bà hỏi:
“Lâu lắm rồi mới trở về nhà, con thấy sao?”
Ogi ngước mắt lên nhìn bóng đèn vuông quen thuộc trên trần. So với bệnh viện, ánh sáng ở nhà tối hơn nhiều, làm anh băn khoăn chẳng biết có phải một bóng đã bị hỏng hay không. Tuy nhiên, đối với anh, đó là thứ ánh sáng ấm cúng, đem lại cảm giác an toàn.
“Con thấy tuyệt, đúng không?”
Như thể thúc giục, mẹ vợ lại hỏi thêm lần nữa.
Ogi mở mắt thật to rồi chớp một cái. Đương nhiên là tuyệt rồi! Suốt khoảng thời gian gần đây, anh chỉ cảm thấy chán chường và bi thảm. Mặc dù sau này, những tháng ngày ấy có lẽ sẽ vẫn tiếp tục kéo dài, nhưng ít nhất bây giờ, anh đang cảm thấy dễ chịu. Ngay cả khi thân thể bị tổn thương, ngay cả khi chẳng thể di chuyển, ngay cả khi vợ anh đã không còn, lúc này đây, anh vẫn thoải mái đến mức khó tin.
“Đương nhiên là tuyệt rồi. Hẳn là con đang rất vui phải không?”
Mẹ vợ anh nói như thở dài, rồi đột nhiên, bà lại bắt đầu sụt sịt. Đó không phải tiếng khóc vui mừng vì Ogi đã có thể hồi phục được tới mức này, mà có lẽ là tiếng khóc đau lòng vì con gái. Bà khóc, vì buồn thương cho đứa con yêu quý không thể trở về nhà, dù là trở về trong tình trạng giống như anh. Bà khóc, vì mãi mãi bà sẽ chẳng bao giờ còn được gặp con gái mình nữa.
Ogi nhìn mẹ vợ chớp mắt như thể muốn an ủi. Khác với khi ở bệnh viện, mẹ vợ anh đang nức nở thành tiếng, bà muốn anh khen ngợi những gì bà nói và đồng ý với những quyết định bà đưa ra. Mặc dù mệt mỏi nhưng Ogi vẫn muốn chiều ý mẹ vợ.
Thế nhưng, khi tiếng khóc của bà to hơn, Ogi chỉ lơ đãng đưa mắt lên nhìn trần nhà. Cũng có những lúc anh cảm thấy dễ chịu khi không phải lên tiếng, không phải chớp mắt để cố gắng giao tiếp, và nếu muốn, anh thậm chí có thể chẳng cần phải làm gì cả. Bây giờ chính là một trong những lúc như vậy.
Ogi đã kiệt sức rồi. Giờ anh không thể an ủi bất cứ một ai. Không còn ai có thể bất hạnh hơn anh lúc này. Mẹ vợ anh chắc phải tự mà biết điều đó chứ! Mặc dù anh có thể thông cảm với chuyện bà khóc lóc, nhưng nếu cứ tiếp tục thế này, không chừng anh sẽ nổi giận mất.
Bây giờ, mẹ vợ lặng lẽ thổn thức. Nếu như khóc một trận thật to, khóc cho thật đã, thì người ta sẽ nhanh chóng nguôi ngoai, nhưng nếu khóc sụt sùi kiểu này, thật chẳng biết bao giờ mới kết thúc. Ogi cảm thấy mình vô cùng bất hạnh. Có lẽ bây giờ với anh, hạnh phúc và an vui là điều gì đó quá xa xỉ. Mẹ vợ giúp Ogi nhận ra, giờ vợ anh đã chết và anh chỉ còn lại một mình. Bản thân anh rất ghen tị với người đã khuất, nhưng những người xung quanh anh đều nói rằng, còn sống sót, dù là trong tình trạng như thế này, vẫn là một điều tốt đẹp.
Ogi chỉ muốn ở một mình. Đã lâu lắm rồi anh mới được trở về ngôi nhà quen thuộc. Ở bệnh viện, đôi khi anh cũng được ở một mình. Mặc dù phòng anh nằm là phòng dành cho hai người song thi thoảng, bệnh nhân nằm bên cạnh cũng đi tới phòng trị liệu nên anh có thể một mình. Nhưng những khoảng thời gian như vậy quá sức ngắn ngủi. Y tá, hộ lý, đôi khi là mẹ vợ anh, rồi cả bạn bè, người thân của bệnh nhân giường bên không ngừng đi ra đi vào, chẳng để anh yên tĩnh một mình được mấy lúc.
Thế nên hồi ấy dù đang ở trong bệnh viện nhưng anh cảm thấy như thể mình đang giữa một buổi chợ phiên. Lúc nào cũng ồn ào, lúc nào cũng có người mở cửa bước vào. Ngay cả khi Ogi đang đi tiểu thông qua ống nối, vẫn sẽ có người vừa để cửa mở toang vừa hỏi chuyện anh. Từ giờ anh sẽ phải phó thác bản thân cho hộ lý, thế nên ước mơ được yên lặng một mình khó mà trở thành hiện thực. Dẫu vậy, lúc này, dù chỉ trong chốc lát, anh vẫn muốn được yên tĩnh một mình ngắm nhìn và ngửi mùi hương của căn nhà quen thuộc, xem xét họa tiết trên trần phòng, và đưa tay sờ lên tấm ga trải giường mình đang nằm.
Hình như mẹ vợ không có ý định rời khỏi phòng. Đang lặng lẽ thổn thức, chẳng biết từ lúc nào bà đã thôi không khóc nữa và ngồi lên chiếc ghế ở phía chân giường. Bà ngồi đó và nhìn Ogi chằm chằm. Bà không rời mắt khỏi anh, rất tập trung, thật chăm chú, như thể sẽ chạy đi lấy ngay bất cứ thứ gì anh yêu cầu. Đôi khi bà cũng lúng túng hay lầm bầm gì đó trong miệng, nhưng không phải là nói với Ogi. Anh chẳng muốn nhờ vả mẹ vợ bất cứ điều gì lúc này. Sau này, hẳn anh sẽ phải nhờ bà không ít việc, nhưng ít nhất thì không phải bây giờ.
Sau tám tháng, cuối cùng anh đã về nhà. Anh tự hỏi liệu người khác có hiểu được ý nghĩa của việc anh về nhà một mình sau chuyến đi cùng vợ hay không. Anh vừa tức giận với hoàn cảnh hiện tại của mình vừa cảm thấy cô đơn vì chẳng được ai hiểu cho.
Có lẽ mẹ vợ sẽ đi ra nếu anh ngủ. Ogi nhắm mắt lại. Mẹ vợ vẫn ngồi yên. Hình như bà sợ rằng một âm thanh nhỏ nhất cũng có thể gây ảnh hưởng đến anh, nên ngay cả thở bà cũng chỉ dám thở rất khẽ. Ogi cố tình thở ra một tiếng thật to. Vì liếc nhìn mẹ vợ nên chắc mí mắt của anh đã động đậy một cách bất thường, nhưng anh vẫn kiên quyết giả vờ ngủ tới cùng. Anh muốn được ở một mình, dù chỉ một lát thôi cũng được.
Đó là lần đầu tiên Ogi ở một mình với mẹ vợ lâu đến như vậy. Mặc dù đã thành người một nhà được mười lăm năm, nhưng chưa lần nào anh và bà nói chuyện nhiều với nhau. Cả hai không có gì để bàn bạc, cũng chẳng có chủ đề nói chuyện chung. Mẹ vợ là một người ít nói và hay ngại, còn Ogi cũng chẳng phải kiểu người thân thiện hòa nhã. Anh không cần nỗ lực để trở nên gần gũi hơn với mẹ vợ, vì luôn có vợ anh đứng giữa hai người. Lúc nào mẹ vợ cũng tìm vợ anh, có chuyện gì bà cũng chỉ bàn với cô ấy. Anh thỏa mãn với việc thỉnh thoảng được chen vào giữa câu chuyện của hai người họ. Khi không có vợ, thì đã có bố vợ, một người chẳng khi nào thiếu chuyện để nói. Dù là bất cứ chuyện gì, ông cũng bắt đầu bằng chửi bới và chỉ trích, thế nên ông nói không bao giờ hết chuyện.
Ogi vẫn nhớ như in lần đầu tiên gặp mẹ vợ. Anh căng thẳng và cố gắng nhẩm lại hai lời khuyên vợ đã cho từ trước. Cô bảo rằng bố mình nói nhiều còn mẹ thì ngược lại. Vì vậy, Ogi dự định sẽ hưởng ứng những gì bố vợ nói và gợi chuyện với mẹ vợ. Lời khuyên thứ hai là: “Bố em đã đạt được nhiều thứ trong đời, nhưng cả đời mẹ em chỉ có duy nhất mình em mà thôi.” Điều này có nghĩa, bố cô là người thờ ơ, còn mẹ là người gắn bó với cô. Anh quyết định sẽ ca tụng những thành tựu bố vợ đã đạt được và khen ngợi vợ mình trước mặt mẹ vợ.
Ogi muốn làm tốt nhất có thể. Anh muốn thể hiện thật tốt trước mặt hai đấng sinh thành của vợ mình. Anh yêu cô ấy, và muốn tổ chức một đám cưới khiến cả bố mẹ cô cũng cảm thấy hạnh phúc. Bấy giờ vì còn chưa đủ khả năng nên anh càng muốn nỗ lực hơn nữa. Hồi đó, Ogi đang theo học tiến sĩ một ngành nhân văn tương lai mù mịt, bố mẹ anh đã mất cả, anh cũng chẳng được thừa kế từ bố mẹ bất cứ tài sản nào. Lúc đến gặp bố mẹ vợ, anh nhận thức rất rõ hoàn cảnh của bản thân.
Mẹ vợ trông khá trẻ và thanh lịch, vẫn giữ được nét đẹp thời con gái ngay cả khi đã đứng tuổi. Bà không có chút dáng vẻ của mấy bà cô quê mùa gần nơi anh sinh sống. Khác với vợ anh sở hữu khuôn mặt sắc sảo và đôi mắt to, mẹ vợ mang khuôn mặt tròn trịa và đôi mắt hình bán nguyệt cùng vẻ ngoài ưa nhìn. Dù vậy cả hai vẫn có nét gì đó rất giống nhau. Sau này có tuổi, vợ anh cũng được như mẹ vợ thì thật tốt.
Thế nhưng Ogi cảm thấy bất tiện vì bà có vẻ không phải là người cởi mở và thích bông đùa. Nếu mẹ vợ dạn dĩ và hòa nhã hơn một chút thì có lẽ Ogi đã chẳng phải đổ mồ hôi lạnh suốt bữa ăn.
Ban đầu, anh gặp phải không ít khó khăn vì bố vợ không ngừng tìm cách bới móc khuyết điểm. Anh ngậm ngùi nghĩ thầm chắc mình chẳng có cơ hội để thể hiện nữa rồi. Nhưng anh cảm thấy mẹ vợ, người từ đầu tới cuối chỉ tươi cười dịu dàng còn khó gần hơn thế. Trong khi đó, vợ anh lại thờ ơ lãnh đạm, như thể đang ngồi giữa những người xa lạ không có chút quan hệ máu mủ ruột rà. Thật là lạ, anh cảm thấy lúng túng trước mặt bố mẹ vợ tương lai là lẽ đương nhiên, nhưng tại sao đến cả vợ sắp cưới của anh cũng chẳng khác nào một người anh không hề quen biết? Sau này nghĩ lại, anh đoán có lẽ cô lạnh lùng và cảm thấy khó xử khi phải ngồi giữa một ông bố luôn bận rộn công việc bên ngoài và một bà mẹ hy sinh tất cả cho con gái, thậm chí thay thế luôn cả vai trò của người bố.
Mẹ vợ im lặng nhai thức ăn rồi lần lượt nhìn Ogi và vợ anh. Khi nhìn con gái, bà có vẻ tự phụ kiêu ngạo, nhưng khi nhìn anh, mắt bà lại ánh lên nét nghi ngờ. Tuy thế, trên môi bà vẫn thường xuyên nở một nụ cười lịch thiệp, thể hiện mình là người gia giáo. Nói tóm lại, đó là vẻ mặt khiến anh cảm thấy thật xa cách.
Người duy nhất liên tục hỏi chuyện Ogi là bố vợ. Ông chủ yếu hỏi về bố mẹ anh. Mặc kệ anh trả lời thế nào, ông luôn kết thúc bằng một câu than thở kiểu như “Làm sao mà bố mẹ cậu lại qua đời sớm như vậy”.
Mọi người đều cẩn thận khi nói chuyện với Ogi về bố mẹ. Nhờ thế anh hiểu rằng, hồi còn nhỏ mình đã gặp phải những chuyện không nên xảy ra. Mọi người cố hết sức để không nhắc tới bố mẹ với Ogi, và nếu có lỡ lời chạm vào vết thương lòng của anh, họ sẽ trịnh trọng xin lỗi. Mỗi khi như vậy, Ogi đều không vui. Cảm giác ấy cũng tương tự như khi anh phải đối mặt với đám trẻ con đã tẩy chay mình mà chẳng cần một lý do nào cả. Cách cư xử của tất cả bọn họ đều nói với Ogi rằng, những người không có bố mẹ là những người thiếu tư cách. Tất cả mọi người đều ý thức được điều đó và ép Ogi phải cảm thấy rằng mình là người không đủ tư cách.
Bố vợ hỏi mẹ Ogi đã qua đời như thế nào. Ông muốn biết thật cụ thể, bà ấy ốm bệnh gì, trong bao lâu, đã được chữa trị bởi bác sĩ chuyên khoa nào…
Ogi thường nói dối về mẹ mình, nhiều đến nỗi bây giờ anh không còn thấy khó khăn khi làm vậy nữa. Anh trả lời rằng mẹ mình qua đời vì bệnh gan, và đôi khi chính anh cũng tin rằng đó là sự thật. Mẹ anh đã khổ sở trong một khoảng thời gian dài vì mất ngủ do chứng trầm cảm, và dù cho không phải lao động vất vả, cũng không hề uống rượu bia, sự mệt mỏi kéo dài ấy đã đủ để gây tổn thương nghiêm trọng lên gan của bà.
Ogi lúng túng trước những câu hỏi của bố vợ. Giống như một bác sĩ chuyên khoa đang đổ lỗi cho bác sĩ đã đưa ra những chẩn đoán sơ bộ, ông không ngừng chất vấn xem chỉ số men gan của mẹ anh cao bao nhiêu, nó đạt tới mức đó trong bao lâu, có phải cách điều trị ban đầu không phù hợp không, thậm chí còn vặn vẹo xem anh đã hỏi bác sĩ tất cả những điều ấy chưa.
Chuyện tệ hơn khi bố vợ bắt đầu hỏi về bố Ogi. Anh đã lỡ lời nói về chẩn đoán tắc ruột của ông bác sĩ. Bố vợ liền chỉ trích anh là kẻ bất tài không tìm nổi một vị bác sĩ khá khẩm khám cho bố mình, rồi lại tiếp tục đặt thêm nhiều câu hỏi khác.
Ogi không ứng phó nổi trước những lời phê bình của bố vợ. Ban đầu anh cũng cố gắng đáp trả, nhưng sau đó anh muộn màng nhận ra mình không biết câu trả lời là điều hiển nhiên, vì hồi đó anh có quan tâm đến bệnh tình của bố mấy đâu. Thế là, Ogi bắt đầu kể vòng vo chuyện bố mình đã chuyển hết từ viện này sang viện khác, rồi nói lan man trừu tượng về những gì mình không quá rõ. Nghe anh trả lời, bố vợ lại càng được thể bới lông tìm vết, rồi thậm chí còn hỏi xem có phải gia đình có tiền sử bệnh gan và ung thư không.
Sau đó, bố vợ đột ngột quay lại nói về mẹ Ogi. Chẳng phải ông lo lắng bố mẹ anh chết vì những căn bệnh đặc biệt có thể di truyền lại cho con cháu sau này, mà dường như ông chỉ không hài lòng về bản thân Ogi thôi. Hình như ông cố tình nhắc nhở Ogi nhớ lại những gì anh không có. Ông muốn anh phải nhận thức được hoàn cảnh của bản thân, bằng cách nói về những thứ bây giờ anh không sở hữu và trong tương lai tuyệt đối cũng chẳng thể có được. Ogi nhìn vợ mình. Cô nhìn thẳng vào bức tường đối diện, vô cảm, vẻ như không có ý định giúp đỡ gì anh. Chắc hẳn trước khi họ gặp nhau ở đây, cô đã nghe bố mẹ nói tất cả những chuyện này rồi.
Cuối cùng, bố vợ hỏi đùa một câu: “Nếu giờ cậu mồ côi, thì chắc chúng ta có thể bỏ qua nghi lễ bái lạy nhỉ?” Ogi ngập ngừng chưa biết trả lời sao, thì mẹ vợ đã lên tiếng:
“Ông hiệu trưởng, tôi cũng là trẻ mồ côi mà. Không phải ông cũng vậy sao? Ai chẳng có ngày mất đi cha mẹ, sao ông lại đối xử với con rể tương lai như thế?”
Bố vợ uống nước để giấu sự ngượng ngùng. Uống xong, ông lớn tiếng yêu cầu mang thêm nước. Ogi lom khom đứng dậy, gọi người phục vụ.
Mẹ vợ nhỏ giọng khuyên bảo chồng mình. Dường như vợ anh đã quá quen với cách cư xử đó của bố, cả cách mẹ mình cằn nhằn gọi bố là “ông hiệu trưởng”. Cô hơi nhăn mặt một chút, nhưng cũng chẳng nói gì cả.
Dường như những lời của mẹ vợ đã có tác dụng, trong suốt bữa ăn, ông bố vợ nhiều chuyện thôi không nhắc lại từ “mồ côi” nữa. Ông cũng thôi hỏi về bố mẹ Ogi mà chuyển sang nói tới ngành học và tương lai chẳng có triển vọng gì của anh. Những câu hỏi đó tương đối ổn. Đó là chủ đề mà Ogi cùng vợ và đồng nghiệp, thậm chí là cả giáo sư hướng dẫn vẫn luôn bàn bạc. Họ vẫn thường đùa với nhau rằng bản thân đang đổ không ít thời gian và tiền của vào một công việc vô ích. Chỉ khi bông đùa như vậy, họ mới có thể rũ bỏ bớt phần nào sự bất an về một tương lai chẳng có gì chắc chắn.
Hơn nữa, việc trở thành một người không đáng tin cậy trong mắt phụ huynh chẳng phải là một việc lạ lẫm với Ogi. Ngay cả bố đẻ cũng luôn không bằng lòng với anh. Mỗi lần gặp, bố đều hỏi bao giờ anh mới chịu làm tròn bổn phận của một con người, một thằng đàn ông? Lúc nào cũng chỉ cắm đầu vào mấy cuốn sách trong góc nhà thì sau này làm nên trò trống gì? Cái ông gọi là “làm tròn bổn phận của một con người” chính là sự tự lập về mặt kinh tế.
Một lần nữa, mẹ vợ lại thẳng thừng lên tiếng phê phán chồng:
“Ông hiệu trưởng, không phải ông cũng dạy môn đạo đức sao? Cả đời chỉ toàn học với dạy những thứ vô dụng mà giờ ông lại nói con rể như vậy à?”
Mẹ vợ vừa nói vừa cười như thể đó là một câu đùa thật hài hước. Ogi ngập ngừng không biết phải phản ứng ra sao. Bố vợ cũng cười hùa theo. Vợ anh đang lầm lì ngồi yên bên cạnh cũng hơi mỉm cười một chút. Duy mình Ogi là chẳng thể nào cười nổi. Câu nói đùa chỉ người trong cuộc mới hiểu khiến Ogi nhận ra rằng anh hoàn toàn là một kẻ xa lạ với những người đang ngồi ở đây.
Từ lúc khai vị cho đến khi món tráng miệng được mang lên, mẹ vợ đều sử dụng dao dĩa hết sức thuần thục. Ogi rất ấn tượng với cách bà lấy khăn cẩn thận lau khóe miệng sau khi ăn xong và cách bà xếp ngay ngắn dao dĩa ở phía bên phải đĩa ăn.
Ban đầu Ogi không khỏi bối rối khi ngồi giữa ông bố vợ sử dụng dao dĩa tùy tiện, cô vợ sắp cưới coi việc quá chú tâm để ý vào chuyện thìa dĩa là quê mùa và bà mẹ vợ ăn uống lịch thiệp theo một trình tự hoàn hảo. Sau đó, anh lén nhìn vợ và mẹ vợ để lựa chọn dao dĩa cho đúng, rồi cố gắng ăn cùng tốc độ với họ. Anh muốn thể hiện thật tốt trước mẹ vợ thanh lịch giấu kín suy nghĩ thật sự của mình, hơn là với ông bố vợ ra sức chê trách anh thẳng mặt.
Khi món thứ ba được mang ra, mẹ vợ dừng lại nhìn Ogi. Bố vợ và vợ anh đều đã bắt đầu ăn. Bà nói, lúc anh còn đang ngập ngừng:
“Con ăn trước đi.”
Mặc dù bà mời anh với giọng điệu dịu dàng và khuôn mặt trìu mến nhưng không hiểu sao Ogi có cảm giác như thể mình đang bị kiểm tra vậy. Hình như bà biết trong suốt bữa ăn anh đã lén quan sát bà. Hoặc cũng có thể anh chỉ đang lo lắng không đâu, biết đâu bà no rồi nên không muốn ăn lắm. Thế nhưng với Ogi, tất cả đều là bài kiểm tra, bởi vì anh đang quá căng thẳng.
Địa điểm họ gặp mặt là một khách sạn ở Jangchungdong. Khi Ogi gọi đặt trước người ta bảo là không còn phòng trống, nhưng đến lúc bố mẹ vợ anh gọi thì lại đặt được một phòng nhỏ. Ngay cả thực đơn hôm ấy cũng là do mẹ vợ anh lựa chọn sẵn. Tất cả những điều này làm Ogi thấy phiền muộn.
Sau khi ăn xong và ra khỏi phòng, mẹ vợ cố tình bước chậm lại để đi cùng Ogi. Bố vợ ho húng hắng bước phía trước họ. Vợ anh lần lượt quan sát Ogi và mẹ. Mẹ vợ nhìn ông chồng đang đi trước rồi thì thầm động viên anh đã vất vả rồi, thậm chí còn nói thêm như để giải thích: “Ông hiệu trưởng kia tính tình lúc nào cũng phiền nhiễu như vậy đấy.” Ogi vội vã xua tay, đáp lại: “Không có gì đâu ạ.”
“Con là một người hiểu chuyện. Bố mẹ con trên trời hẳn cũng đang cảm thấy tự hào về con lắm. Bác tin chắc là như vậy. Lúc đầu, bác còn lo con cảm thấy tự ti vì mồ côi cả bố lẫn mẹ, nhưng chắc bác đã lo lắng không đâu rồi.”
Mẹ vợ vỗ vào tay Ogi hai lần như thể động viên, quay sang nhắc nhở con gái hãy về sớm, rồi đi lên trước cùng chồng.
Ogi và vợ lặng lẽ dõi theo bóng lưng của hai ông bà rồi đi ra khỏi hành lang. Sau khi chiếc xe màu đen sạch bóng chở bố mẹ vợ rời đi, anh đang đợi để vợ nắm tay mình, nhưng đúng lúc ấy, cô lại chìa tay ra để vẫy taxi.
Sau này ngẫm lại, Ogi thấy hơi hối hận, đáng ra anh nên chủ động nắm tay vợ thay vì chờ đợi. Anh muốn được vợ an ủi, nhưng cô lại chỉ xin lỗi anh. Cô xin lỗi, nhưng không vì điều gì cụ thể cả, có lẽ cô cũng chẳng rõ mình nên xin lỗi vì cái gì.
Câu nói của mẹ vợ cứ văng vẳng bên tai Ogi. Bà bảo anh là một người hiểu chuyện, lo anh sẽ mặc cảm tự ti. Những lời ấy đâm sâu vào tim anh, hơn cả những lời chỉ trích lộ liễu của bố vợ trong suốt bữa ăn. Dường như mẹ vợ có thể nhìn thấu tâm can anh, có thể hiểu rõ rằng anh tự ti vì những gì mình không thể có, và rằng thực ra anh cũng chẳng phải là người hiểu chuyện gì. Bố vợ đem những điều ấy ra để chỉ trích, còn mẹ vợ thì lại tinh tế nhắc cho anh nhớ về chúng.
Vợ anh không kể lại cho Ogi nghe bố mẹ mình nghĩ gì về cậu con rể tương lai hay những gì họ nói sau bữa ăn hôm ấy. Cô có vẻ không thoải mái khi nhắc đến cuộc gặp mặt đó. Dù muốn thể hiện tốt trước mặt bố mẹ vợ, nhưng hình như mọi chuyện không diễn ra theo ý muốn của Ogi. Có khi nào vợ anh đã cãi nhau với bố mẹ vì cuộc hôn nhân này không?
Sau mấy ngày băn khoăn không ngừng, cuối cùng anh bèn hỏi thẳng vợ. Cô chỉ nhún vai. Ogi đã hiểu nhầm. Anh tưởng rằng bố mẹ không nói tốt về anh nên cô mới không kể, nhưng sự thật hóa ra không phải vậy. Chỉ là cô không có gì để kể mà thôi. Cô giải thích rằng mình không bàn luận bất cứ chuyện gì về anh với bố mẹ cả. Thấy Ogi bối rối, cô đành miễn cưỡng mở miệng:
“Bố mẹ em đã cãi nhau.”
“Vì anh à?”
“Không, vì mẹ em gọi bố em là ‘ông hiệu trưởng’.”
Vợ anh cười nhẹ như thể ngại ngùng.
“Mỗi khi bực mình, mẹ em đều gọi bố như vậy. Đó là cách bà mỉa mai ông. Bố em không phải là hiệu trưởng mà. Ông còn chưa đủ tuổi nghỉ hưu đã thôi việc rồi chứ nói gì đến chuyện làm hiệu trưởng. Bố em nghỉ hưu sớm.”
“Tại sao vậy?”
“Có chuyện đã xảy ra nên ông phải chịu trách nhiệm.”
“Chuyện gì vậy?”
“Em cũng chẳng rõ nữa.”
“Chuyện của bố mẹ mình mà em không biết sao?”
“Vậy anh có biết rõ chuyện của bố mẹ mình không?”
Vợ anh nghiệm mặt hỏi lại, Ogi bật cười đánh trống lảng.
Phải đến mãi sau khi quyết định ngày tổ chức lễ cưới, Ogi mới biết lý do tại sao bố vợ phải xin thôi việc. Ông bị phát hiện ngoại tình với một đồng nghiệp khác. Sau lần thứ hai ra mắt nhà vợ, vợ Ogi đã kể cho anh chuyện đó, đúng một năm sau cuộc gặp mặt tại khách sạn ở Jangchung-dong. Lúc đó vợ anh đang tìm cách giải thích tại sao mối quan hệ của bố mẹ mình lại lạnh nhạt như vậy, nên chuyện đó cũng tự động được nhắc tới.
Hồi ấy, nhà vợ anh vừa chuyển tới một khu chung cư ở Mapo. Giữa phòng khách là một chiếc sô-pha lớn, làm bằng da trâu đã sờn cũ. Vì nó mà căn phòng khách sâu hun hút trông càng nhỏ hẹp. Chiếc ti-vi treo tường phía đối diện cũng có kích thước quá lớn, làm cho khoảng cách giữa ghế và ti-vi thành ra khá gần. Bố vợ ngồi thoải mái dang hai tay đặt lên thành sô-pha, giảm âm lượng xuống hết cỡ xem một trận đấu gôn. Ông xem với một vẻ mặt quá sức nghiêm túc đám người mặc bộ đồ sặc sỡ đang dồn sức xuống đôi chân và đung đưa thân trên để đánh bóng trông đến là nực cười.
Mẹ vợ mặc váy ở nhà dài quét đất. Trong bộ đồ ấy, bà bê một khay bạc đựng trà ra, trông thật kỳ lạ và không thực. Hồng trà khá nóng, nhưng có lẽ là trà để lâu nên không còn thơm nữa. Ogi vừa thổi vừa uống cạn chén trà. Mỗi lần mẹ vợ kéo lê váy trên sàn đi qua đi lại, chồng bà đều tặc lưỡi thành tiếng.
Chẳng biết có chuyện gì mà ông bố vợ vốn nhiều lời của anh lại chỉ ngồi tặc lưỡi suông. Vợ anh bảo sẽ đi thay đồ rồi vào phòng trong, còn mẹ vợ thì ngồi đọc sách, chẳng thèm liếc về phía ông chồng lẫn con rể tương lai một cái. Ogi lặng lẽ đưa mắt quan sát xung quanh.
Anh nhìn thấy dấu vết của những đồ đạc đã mòn cũ. Những đồ điện gia dụng hãng nước ngoài to quá khổ, một bức tranh vẽ chú chim màu đỏ của họa sĩ Kim Gi Chang (có lẽ là tranh chép), nhiều hộp đựng giày nhãn hiệu nổi tiếng bày la liệt một bên gần cửa ra vào, có lẽ vì không cất vừa vào tủ.
Đồ đạc trong nhà thực sự quá lớn, chẳng hợp chút nào với không gian căn nhà. Chiếc tủ lạnh của Pháp to đến mức không thể nằm gọn trong gian bếp, mà thòi hẳn một phần ra ngoài phòng khách. Trên bàn ăn cồng kềnh làm bằng gỗ nguyên thớ, cũng chính là thứ làm cho phòng khách nhỏ hẳn đi, nào lò nướng, nào máy pha cà phê, nào ấm đun nước siêu tốc. Có lẽ chúng được đặt ở đó để khi nấu ăn người ta không phải mất nhiều công di chuyển.
Có một món đồ gốm nhỏ được đặt bên trong tủ kính phòng khách. Ogi nhìn vật đó một lúc lâu, nhận ra đó là thứ duy nhất ở trong tủ - bên cạnh những bộ nồi, đĩa, ấm chén - không hề có dấu hiệu từng được sử dụng.
Sau khi bố vợ nghỉ hưu vì một lý do không rõ ràng, hoàn cảnh gia đình vợ anh hẳn cũng sa sút. Hẳn họ đã phải bán tất cả những thứ đáng tiền, và có lẽ món đồ kia là thứ duy nhất còn lại. Món đồ ấy màu xanh, hình dạng không có gì đặc biệt, trông có vẻ cũng không đắt tiền, chắc bởi vậy mà nó không bị bán mất.
Vợ trở lại phòng khách và liếc Ogi một cái. Khi ấy anh mới nhận ra mẹ vợ đã phát hiện anh đang chăm chú nhìn về phía tủ kính. Bố vợ cũng đang quan sát anh với vẻ bất mãn.
“Bình gốm kia có màu sắc đẹp thật đấy ạ!”
Ngại ngùng, Ogi liền buông ra một câu thừa thãi. Bố vợ vừa tặc lưỡi vừa ngả người sâu hơn vào ghế sô-pha. Mẹ vợ đang ngồi yên, nhưng khi nghe thấy tiếng trẻ con chơi đùa dưới sân vọng lên, bà đột ngột đi ra bạn công, hét lớn:
“Này này, ồn ào quá đấy! Mấy đứa đi ra chỗ khác chơi đi!”
Bố vợ lại tiếp tục tặc lưỡi, rồi ngang nhiên nhìn vợ mình chòng chọc. Ogi rất ngạc nhiên với thái độ của ông, nhưng giọng sắc lạnh của mẹ vợ cũng làm anh không thoải mái.
Vợ anh viện tạm một cái cớ rồi dẫn anh ra ngoài. Trong lúc đi thang máy, cô đột nhiên kể cho anh lý do bố mình nghỉ hưu sớm. Có lẽ cô cho rằng đó là cách duy nhất để giải thích về hành động kỳ lạ của bố mẹ mình. Thế nhưng, trước khi Ogi kịp phản ứng, vợ anh đã bật cười:
“À tiện thể em nói luôn, mình ạ, cái đó không phải là bình gốm đâu.”
Thấy Ogi tỏ vẻ khó hiểu, vợ anh lại tiếp tục cười khúc khích:
“Cái gì mà màu đẹp chứ. Anh đúng là không có mắt nhìn.”
“Nó là đồ giả à?”
“Giả hay không không quan trọng. Nó không phải là đồ gốm bình thường đâu, mà là bình đựng tro cốt.”
“Tại sao bình đựng tro cốt lại đặt ở đó?”
“Đó là tro của bà ngoại em.”
Ogi cố gắng tỏ vẻ không hề ngạc nhiên, vì sợ vợ mình bối rối. Nhưng hình như vẻ thản nhiên của Ogi lại càng làm cô thấy kỳ lạ hơn.
“Anh biết rồi à?”
“Làm sao anh biết được.”
“Mẹ em thực ra là người Nhật đấy.”
“Hả?”
“Nói chính xác hơn bà là con lai. Bà ngoại em là người Nhật. Đến năm cấp hai, bà và ông em ly hôn, mẹ em theo bố trở về Hàn Quốc. Ông ngoại em tái hôn cùng một người Hàn, nên mẹ em sống cùng mẹ kế trong một khoảng thời gian dài. Bà chẳng còn lý do gì để trở về Nhật Bản nữa, mà ông ngoại cũng không định cho bà về. Mấy năm trước, khó khăn lắm mới liên lạc được với mấy người họ hàng bên ngoại để họ mang tro cốt của bà em sang. Nhưng anh có biết tại sao những người ấy lại đến Hàn Quốc sau mấy chục năm không?”
“Để mang tro cốt cho mẹ em?”
Ogi trả lời như thể đó là lẽ hiển nhiên.
“Ha ha, không phải. Họ đến đảo Nami, để gặp Bae Young Jun, Yon Sama ấy. Nhờ có Yon Sama mà mẹ và bà ngoại em mới được đoàn tụ.”
Ogi và vợ cùng cười một lúc lâu.
“Tại sao không đặt nó ở nhà để hài cốt?”
“Hình như ban đầu mẹ em cũng chỉ định giữ trong nhà một thời gian ngắn, nhưng rồi cứ để luôn ở đó. Hồi còn nhỏ, nhà mẹ em có một butsudan. Anh có biết cái đó không? Đó là bàn thờ Phật trong gia đình người Nhật. Ở đó có đặt tượng Phật và bài vị của người đã khuất. Mẹ em từ nhỏ đã sống trong căn nhà có đặt tro cốt trên bàn thờ nên chắc là không cảm thấy chuyện ấy lạ lùng.”
“Hình như anh từng đọc chuyện này trong sách rồi. Người ta bảo rằng phải đặt hài cốt trên bàn thờ trong bốn mươi chín ngày.”
“Nếu bà chỉ đặt ở đó trong bốn mươi chín ngày thì thật tốt… Ban đầu, em vừa thấy kinh vừa thấy sợ. Cứ nghĩ đó là xương của bà ngoại là em lại không dám nhìn vào.”
“Bây giờ vẫn vậy à?”
“Bây giờ thì em quên mất rồi. Đôi khi có người giống anh, tưởng đó là bình gốm, thì em cũng buồn cười… Nhưng dù vậy, vẫn có lúc em thấy sợ.”
“Không phải vì chiếc bình ấy phát ra âm thanh đấy chứ?”
“Có lần mẹ em ngồi nói chuyện với chiếc bình ấy. Bà vuốt ve chiếc bình rồi thì thầm điều gì đó, bằng giọng của một cô bé đang tâm sự với mẹ mình. Khi ấy, em thực sự đã cực kỳ kinh hãi.”
Vợ anh hạ giọng như thể đang tiết lộ một bí mật.
“Mẹ em nói gì cơ?”
“Làm sao mà em biết, bà nói bằng tiếng Nhật mà.”
“Giờ bà vẫn nói giỏi tiếng Nhật nhỉ?”
“Hình như bà chỉ nói bằng những gì còn đọng lại trong trí nhớ thôi. Bà kể là ông ngoại em cấm bà dùng tiếng Nhật. Mỗi lần bà lỡ lời, ông ngoại đều mắng mỏ bà thậm tệ. Chắc ông lo người khác sẽ tưởng bà là người Nhật. Bà cũng bảo vì sống ở Nhật đến tận năm cấp hai, nên khi quay về Hàn, phát âm tiếng Hàn của bà hơi kỳ quặc. Vì thế bà cũng ít nói hơn. Có lẽ bà sợ bạn bè trêu chọc và người khác nghĩ mình không bình thường.”
Đó gần như là lần đầu tiên vợ anh kể về gia đình mình. Có thể với cô mọi chuyện cũng không quá quan trọng, nhưng với anh, đó lại là chuyện cực kỳ thú vị. Ogi có cảm giác như thể mình đã tìm được lời giải cho câu đố bấy lâu nay vẫn làm anh đau đầu. Điều này đặc biệt giúp anh hiểu rõ hơn về mẹ vợ mình. Sau khi đem những hình ảnh anh có về người Nhật Bản áp lên mẹ vợ, dù nhã nhặn và cao quý nhưng khó nắm bắt được nội tâm, anh cũng đã ít nhiều hiểu bà hơn. Tuy đó là một ý tưởng tồi, nhưng mỗi khi cảm thấy lạc lõng trong gia đình nhà vợ Ogi đều tự nhủ rằng, mình đang đối diện với người nước ngoài.