Khu vườn là một mớ hỗn độn. Hỗn độn đến mức khiến người ta băn khoăn tại sao nó có thể trở nên như vậy chỉ trong vòng tám tháng. Những cây cối đã chết hoặc héo khô vẫn hiên ngang đứng nguyên đó, cắm rễ sâu xuống đất, trông thật đáng sợ. Dường như khu vườn đã trở về với dáng vẻ ban đầu, khi mà Ogi đến thăm căn nhà lần đầu tiên thông qua môi giới nhà đất, khi mà bà lão mắc Alzheimer và ông lão chẳng còn nhiều sức sống đứng dưới bóng râm của những tán cây và dõi theo vợ chồng anh.
Khu vườn vợ Ogi từng chăm sóc bây giờ đã không còn nữa. Anh không nhớ ngày ấy có những loài hoa nào nở rộ. Một phần cũng là do anh lãnh đạm, thiếu quan tâm, nhưng phần nhiều là do những hoa ấy đan xen rất hài hòa và tự nhiên với nhau, thật không dễ phân biệt.
Những người đi đường ngó qua hàng rào sắt thấp thường dừng lại nhìn ngắm khu vườn, đôi khi còn xin vào hẳn trong để xem. Vợ chồng Ogi luôn sẵn lòng đồng ý, bởi vợ anh muốn khoe thành quả của mình, còn anh thì tự hào vì những thành quả của cô ấy. Vườn của các nhà khác trong khu hoặc được để thoáng theo phong cách hiện đại, loại bỏ tất cả những cây cần phải chăm sóc nhiều, hoặc chỉ trồng những giống cây thông và cây bụi có kích cỡ tương thích với diện tích vườn không quá rộng rãi. So với những khu vườn đó, vườn nhà Ogi hoàn toàn khác biệt.
Để có được khu vườn như vậy, vợ anh đã phải bỏ ra không ít công sức trong nhiều năm trời. Năm đầu tiên, cô thất bại. Cô trồng cùng một giống cây bụi với nhà hàng xóm, nhưng chưa đến hai mùa chúng đã chết sạch. Năm tiếp theo cũng không khá hơn là bao. Phải đến năm thứ ba, tức là hai năm trước, thì khu vườn mới bắt đầu đi vào quy củ.
Ogi không thực sự biết tại sao vợ mình lại chăm chỉ làm vườn tới vậy, nhưng anh biết cô bắt đầu say mê công việc ấy từ khi nào: đó là khi cô bắt đầu thay đổi mục đích sử dụng của khu vườn.
Ban đầu, khu vườn chỉ là nơi tổ chức những bữa tiệc thịt nướng. Vợ chồng Ogi dựng lên một cây dù thật lớn, đặt một cái bàn to ở ngay chính giữa vườn với hai vỉ nướng đặt bên cạnh. Họ thường nướng thịt thăn cao cấp, xúc xích, khoai tây và các loại nấm ở đó. Đôi khi, hai người cũng mời bố mẹ vợ hoặc bạn cùng trường cũ và đồng nghiệp của Ogi đến nhà làm một bữa tiệc đơn giản.
Vợ Ogi thay đổi mục đích sử dụng của khu vườn vào sau ngày đồng nghiệp anh đến chơi. Cô bán chiếc bàn, cất vỉ nướng và những món đồ khác vào nhà kho. Sau đó, cô bắt đầu cày xới đất trong vườn. Mặc dù việc đó xảy ra ngay trước mắt anh nhưng phải đến vài ngày sau, Ogi mới nhận ra quyết tâm thay đổi của vợ mình.
Quãng thời gian đó, Ogi đang rất bận rộn. Ngoài công việc ở khoa, anh bắt đầu hứng thú và dồn tâm sức vào những hoạt động có thể giúp bản thân tích lũy kinh nghiệm. Anh thành lập một nhóm nghiên cứu được giúp đỡ bởi quỹ hỗ trợ. Để thực hiện mục đích này, Ogi tham gia vào nhiều hội thảo và cũng không ngần ngại tham khảo ý kiến từ những tổ chức bên ngoài. Không chỉ vậy, năm ngoái nhà xuất bản một cuốn sách được nhiều tổ chức, doanh nghiệp quan tâm, nên thỉnh thoảng anh cũng nhận được những lời mời đi giảng. Ban đầu, anh đồng ý vì cảm thấy thú vị nhưng sau đó, anh nhận lời là vì có thể xào đi xào lại một nội dung chẳng cần phải chuẩn bị gì nhiều. Đôi lúc anh còn đến tận những tỉnh xa xôi như Daegu, Gunsan hay Busan để giảng.
Hầu như lần nào Ogi cũng gặp khó khăn khi giới thiệu chuyên ngành của mình. Ban đầu Ogi còn cố gắng giải thích địa lý học là môn khoa học vẽ nên thế giới, khác với lịch sử là một kiểu văn học viết về thế giới, nhưng dần dần, anh cảm thấy giải thích là không cần thiết. Chuyên gia thì đã quá rõ, còn người thường, họ chẳng quan tâm.
Người không chuyên hay lầm tưởng rằng, ai theo chuyên ngành Địa lý học cũng sẽ hiểu biết sâu rộng lĩnh vực bất động sản và có thể mua được những mảnh đất tốt. Ogi biết điều đó nên anh vẫn hay đùa rằng, đó là lý do tại sao anh mua một căn nhà khu liền kề.
Ogi lựa chọn Bản đồ học làm chủ đề bài luận văn là vì giáo sư hướng dẫn mới của anh, một người đã nghỉ dạy để chuyên tâm viết sách. Lúc giáo sư hướng dẫn trước của anh nghỉ hưu, Ogi vẫn chưa làm xong luận văn nên đã phải đổi sang một giáo sư khác. Vị giáo sư mới này khuyên Ogi đổi đề tài luận văn sang Bản đồ học vì cho rằng sẽ thật vô nghĩa nếu anh đặt cược cuộc đời mình vào Địa hình học ở một đất nước nhỏ bé thế này. Anh đã nghe theo lời ông ấy. Vị giáo sư hướng dẫn cũ rất tức giận với Ogi. Ông cảnh cáo anh rằng Bản đồ học là một lĩnh vực nhiều mạo hiểm, vì hiện nay hiểu biết về ngành đó vẫn còn hạn chế. Những nhà nghiên cứu nổi tiếng trong ngành Bản đồ học hầu như đều ở Mỹ hoặc châu Âu, nếu anh không đi du học thì mọi chuyện chẳng có nghĩa lý gì. Vì hiện nay tại Hàn Quốc việc nghiên cứu và vẽ bản đồ vẫn còn khá sơ khai nên tương lai của những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này thậm chí còn mờ mịt hơn cả những tấm bản đồ họ định phân tích. Mặc dù có để tâm lắng nghe những lời khuyên của giáo sự hướng dẫn cũ nhưng Ogi vẫn kiên quyết không thay đổi quyết định.
Nhiều tiền bối thường giễu cợt quyết định này của Ogi. Họ không mỉa mai ngay mà bắt đầu bằng những lời khen đáng ngờ. Dần dần, họ chuyển sang bảo Ogi láu cá. Thậm chí, có người còn gọi thẳng Ogi là “thằng bỏ cả vợ con” để đạt được công danh. Họ liên tục chế nhạo anh theo kiểu tự châm biếm bản thân, nào là Ogi đúng là biết nhìn xa trông rộng, không như bọn mình chỉ là một lũ chẳng biết thích ứng với thời đại, phải học theo Ogi mới đúng. Sau này, họ lộ liễu chửi thẳng Ogi: Thằng ranh này đúng là biết tính toán. Ban đầu tưởng nó khổ sở vì bài luận văn nhưng ai ngờ nó lại đang cố tình kéo dài thời gian. Chỉ mấy thằng kiểu như nó mới thành công nổi .
Để chứng minh tất cả chỉ là hiểu lầm, Ogi dành nhiều thời gian nghiên cứu phương pháp vẽ và xem xét những tấm bản đồ cổ hình chữ nhật. Anh thường xem nhiều loại bản đồ khác nhau, từ các bản đồ cổ đại thời Babylon cho đến những bản đồ gần đây. Càng xem anh càng cảm thấy mờ mịt. Ogi nhận ra rằng, dù có cố gắng thế nào chăng nữa thì cuối cùng anh vẫn không thể chắc chắn được bất cứ điều gì. Suy đoán dấu vết của cuộc sống thông qua bản đồ là điều bất khả. Mặc dù không có bản đồ thì sẽ chẳng hiểu được thế giới, nhưng trong lòng anh cũng nảy sinh nghi ngờ, liệu có thể thể hiện toàn bộ thế giới chỉ thông qua tấm bản đồ?
Nhưng những tấm bản đồ cũng không hẳn là không có ý nghĩa. Chúng là nỗ lực của một người nào đó, để biến đổi những dấu vết khó xác định chính xác và không rõ ràng đường nét thành một không gian có thực. Tuy nhiên, đôi khi anh cảm thấy chán ngán cũng chính vì lý do đó. Nếu đó là một thế giới không thể nào biết rõ, cũng không thể lý giải chính xác và thường xuyên bị vặn vẹo theo những mục đích phe phái chính trị, thì nó cũng chẳng khác nào thế giới mà anh đang sống bây giờ. Dẫu vậy, thông qua những sai lầm và thất bại trong quá khứ, bản đồ vẫn có thể ngày một trở nên chính xác hơn. Nhưng cuộc sống thì không như vậy, nó chỉ ngày càng chồng chất nhiều hơn nữa những sai lầm, và chẳng bao giờ thèm rút kinh nghiệm để cải thiện.
Ogi nghĩ cách tận dụng chuyên ngành của mình. Anh để ý tới sự mở rộng của những dịch vụ và ứng dụng bản đồ được cung cấp bởi Google Earth và những trang web khác. Nhờ khảo cứu về vấn đề này, anh bắt đầu viết báo và đi giảng dạy nhiều nơi. Mặc dù những tấm bản đồ cổ không đem lại lợi ích cho anh ngay, nhưng khi kết hợp với Google Maps, chúng đã mở ra một con đường mới.
Trong bài giảng, Ogi thường trích dẫn câu nói nổi tiếng của nhà địa lý học người Mỹ, Waldo R. Tobler: “ Quy tắc đầu tiên của Địa lý học chính là, tất cả mọi thứ đều có mối liên hệ, nhưng những vật ở gần có quan hệ mật thiết hơn những vật ở xa ”. Không chỉ thế, anh còn biến nó thành một câu mang ý nghĩa hoàn toàn khác, rằng mọi người nên đối xử tốt với người thân và thành thật với bạn đời. Kết thúc bài giảng, Ogi tuyên bố với vẻ giễu cợt:
“Rõ ràng bản đồ không cho chúng ta nhìn thấy bản chất thật sự của thế giới, bởi vì đó là chuyện không thể. Nói tóm lại, bây giờ không tồn tại một thế giới chính xác, và ngay cả sau này cũng vậy, sẽ không bao giờ tồn tại một thế giới hoàn toàn chính xác.”
Sau buổi giảng đầu tiên, Ogi thấy xấu hổ vì bản thân đã thốt ra những sự thật căn bản và hiển nhiên với giọng điệu quá đỗi hùng hồn như vậy. Tuy nhiên, sau này anh nhận ra người nghe sẽ dễ bị thuyết phục hơn nếu người nói tự tin với bài thuyết trình của mình.
Khi đồng nghiệp tỏ vẻ không hài lòng vì Ogi tập trung quá nhiều vào những việc bên ngoài khoa, anh lại viện cớ cũng như tự nhủ rằng mình đang sắp đi hết cái tuổi bốn mươi, và anh cần phải làm được nhiều hơn là chỉ quanh quẩn trong trường.
Khi nhắc tới tuổi bốn mươi, người đầu tiên anh nghĩ tới là mẹ. Vào năm bốn mươi tuổi, mẹ anh đã tự lấy đi mạng sống của mình. Đó cũng là khi bố anh có vị trí nhất định trong công ty, bắt đầu cân nhắc đến chuyện kinh doanh riêng và hầu như không còn về nhà mấy nữa. Nói cách khác, tuổi bốn mươi là một ngã rẽ, hoặc ta sẽ phải thích nghi với thế giới, hoặc ta sẽ hoàn toàn bị đánh bại.
Tất nhiên, Ogi muốn thích nghi với thế giới. Đôi khi, để vượt qua sự tự ti anh lại nghĩ tới bài thơ của Heo Yeon mà vợ từng đọc cho anh nghe. Bài thơ có một câu đại ý, bốn mươi là tuổi mang đầy tội lỗi. Khi nghĩ tới câu ấy, Ogi ít nhiều cảm thấy dễ chịu hơn. Anh nhẹ nhõm khi biết rằng không phải chỉ riêng mình mà đa phần mọi người đều như vậy.
Cách đây ít lâu, Ogi đi tìm lại bài thơ ấy. Anh đang định viết một bài xã luận về sự hợm hĩnh của những gã đàn ông bốn mươi tuổi và muốn trích dẫn câu đó. Anh lấy ra mọi tập thơ của Heo Yeon trên giá sách của vợ và bắt đầu kiểm tra mục lục. Không một bài thơ nào có tiêu đề “tuổi bốn mươi” hay “bốn mươi” cả.
Không thể có chuyện anh nhớ nhầm tên tác giả. Anh vẫn còn nhớ như in mình đã cùng vợ đọc và bình luận về bài thơ đó. Người ta nói “Tuổi ba mươi là Choi Seung Ja, tuổi bốn mươi là Heo Yeon”. Nếu nhà thơ Choi Seung Ja chuyên nói về cái mờ mịt của tuổi ba mươi thì Heo Yeon chính là người nắm rõ nhất sự tha hóa của tuổi bốn mươi. Lúc ấy, vợ anh đã hỏi: “Vậy ai sẽ viết về tuổi năm mươi nhỉ?” Nhưng cả anh và vợ đều không nghĩ ra nhà thơ nào cụ thể nên chỉ nêu đại vài cái tên mà mình biết. Sau đó họ còn đùa rằng, đến tuổi năm mươi thì chuyện gì cũng biết cả rồi, thơ ca còn có ý nghĩa gì chứ?
Sau khi đọc toàn bộ các tập thơ của Heo Yeon, cuối cùng Ogi cũng tìm ra bài thơ ấy. Nhưng cả tiêu đề và nội dung của nó đều không nhắc đến tuổi bốn mươi. Chắc là hồi đó, vợ chồng Ogi dựa vào tuổi của nhà thơ mà đoán rằng ông đang nói về tuổi bốn mươi. Anh hơi hoang mang một chút, vì vừa nghe lần đầu anh đã tin chắc bài thơ nói về tuổi bốn mươi.
Thế nhưng, Ogi vẫn nghĩ rằng không có một định nghĩa về tuổi bốn mươi nào đúng hơn định nghĩa bốn mươi là tuổi mang đầy tội lỗi. Bốn mươi là thời điểm để tội lỗi có điều kiện phát triển, vì người ta hoặc là có quá nhiều thứ, hoặc là chẳng có gì. Nói cách khác, vào tuổi bốn mươi, con người dễ dàng gây ra tội lỗi vì quyền lực hoặc vì phẫn nộ và cảm giác bị tước đoạt. Những người có quyền lực thì thường kiêu ngạo và dễ làm điều ác. Phẫn nộ và cảm giác bị tước đoạt thì dễ dàng động chạm đến lòng tự trọng, cướp đi tính nhẫn nại, làm bản thân cảm thấy mình nhu nhược, khiến người ta tự cho rằng hành động của mình là vì công lý. Nếu lạm dụng quyền thế vào mục đích xấu là người thực dụng thì vì phẫn nộ mà làm chuyện xấu lại chẳng khác nào kẻ thua cuộc cay cú. Vì vậy, có thể coi năm bốn mươi tuổi là thời điểm thể hiện thành quả sống của những tháng ngày trước đây và cũng là căn cứ để phán đoán tương lai sau này. Người ta hoặc sẽ vĩnh viễn sống thực dụng, hoặc sẽ mãi mãi thua cuộc.
Nếu nhất định chỉ có hai loại người như vậy, Ogi muốn giống loại đầu tiên hơn. Một cách có ý thức và đôi khi vô thức, Ogi muốn có nhiều thứ hơn và không từ thủ đoạn để đoạt được thứ mình muốn. Anh cũng chẳng hề thấy xấu hổ vì những gì mình đã làm. Đôi khi anh cảm thấy cuộc đời như thế này quá yên ổn đến nỗi không muốn thay đổi bất cứ điều gì. Anh không muốn đánh mất bất cứ thứ gì mình đang nắm giữ trong tay. Mặc dù thường chỉ trích bố mình là kẻ luôn mù quáng theo đuổi mục đích, nhưng giờ chính Ogi cũng đang sống với những giá trị tương tự.
Đôi khi, Ogi vô thức nắm chặt tay lại. Nhiều lúc anh không hề cảm nhận được điều đó dù đã gồng sức nắm một lúc lâu. Thế rồi một lát sau, anh sẽ nắm mở bàn tay nhiều lần để máu lưu thông trở lại. Rốt cuộc anh đã gồng sức để giữ chặt lấy điều gì? Chỉ trong thoáng chốc, rất nhiều suy nghĩ nảy lên trong đầu anh.
Ogi chưa bao giờ cho rằng vợ mình là người thất bại, nhưng anh lại luôn lo lắng bản thân cô sẽ nghĩ vậy. Vợ anh thất bại hết lần này đến lần khác, dù làm bất cứ việc gì cũng hiếm khi đạt được cảm giác thành tựu với năng lực của bản thân. Nhưng cũng may là cô vẫn coi cuộc sống là để tận hưởng. Tuy nhiên, bất chợt một ngày nọ, mọi chuyện đã thay đổi. Cô không gặp gỡ bạn bè, không học thêm điều mới, và cũng chẳng nhắc đến chuyện muốn trở thành ai khác. Cô không để ảnh người nào trong ví và cũng chẳng muốn viết lách gì thêm. Cô thôi không đọc nhiều sách như trước, và chỉ thỉnh thoảng, cô mới đọc tạp chí Kinfolk hay những tạp chí liên quan đến làm vườn. Đôi khi, vợ anh cũng ra phòng khách ngồi, đảo mắt nhìn quanh căn nhà và khu vườn với vẻ mông lung, như thể không rõ đây là đâu. Lúc hồi tưởng lại ánh mắt ấy, anh tự hỏi, liệu có phải cô đắm mình vào việc trồng cây để lấp đầy sự đói khát và nghèo nàn của cuộc sống cô đang sống?
Nhưng cũng có thể cô bắt tay vào làm vườn với một lý do hoàn toàn khác. Có thể, cô chỉ muốn cướp khu vườn khỏi tay anh thôi? Nghĩ lại thời điểm vợ bắt đầu làm vườn, Ogi cho rằng đó là một lý do hợp lý.
Sau cái hôm anh cùng đồng nghiệp thức tới khuya để uống rượu, cười nói ồn ào và trước khi ra về, còn hẹn gặp nhau vào một ngày khác, thì vợ anh bắt đầu biến khu vườn thành nơi chỉ thuộc về riêng mình.
Tất cả đồng nghiệp đều học cùng trường với Ogi và đều trạc tuổi anh. Giáo sư M là tiền bối cùng khoa, còn K và J là hai người cùng học cao học với Ogi. S là học trò của anh. Ogi và K cùng tham gia phỏng vấn cho chức vị giáo sư, Ogi đỗ, còn K trượt. J là đàn em cùng anh quán xuyến công tác nghiên cứu. S là trợ giảng đầu tiên sau khi anh trở thành giáo sư.
Từng có một thời gian, Ogi và họ có chung một tương lai mờ mịt và cùng một mối quan tâm. Họ hay gặp nhau để uống rượu giải khuây, tạm thời vui vẻ quên đi nỗi hối hận vì đã học cao học. Vì cùng tuyệt vọng, nên tình bạn giữa họ đã nảy nở và nhanh chóng trở nên khăng khít. Nhưng bây giờ thì không còn như vậy nữa. Thời gian thân thiết ấy đã trôi qua, dù Ogi vẫn duy trì quan hệ tốt với họ.
Vợ đã quen biết với đồng nghiệp của anh từ lâu. Khi gặp nhau, cô cũng không cảm thấy ngại và có thể vui vẻ trò chuyện cùng họ. Thực ra, người chủ trì buổi tiệc ngày hôm ấy chính là vợ anh. Ogi đứng nướng thịt gần đó, còn cô ngồi bên chiếc bàn gỗ tếch dưới cây dù lớn, vui vẻ tán gẫu với đồng nghiệp của anh, sẵn sàng giúp đỡ những lúc anh cần. Mỗi khi hết đồ ăn, cô cũng nhanh chóng chạy vào bếp để lấy thêm.
Ogi hết sức cẩn thận để buổi tụ họp không giống như anh đang khoe khoang căn nhà của mình. Thế nhưng, anh lại huênh hoang mình đã vay ngân hàng một số tiền lớn đến thế nào, mỗi tháng phải trả tiền lãi bao nhiêu. Ngay khi vừa thốt ra những lời đó, anh lập tức thấy hối hận.
Mặc dù buổi tiệc chỉ mới bắt đầu, nhưng J đã nhanh chóng uống say và cảm thấy buồn ngủ. M và K trò chuyện như thể chẳng bao giờ dứt, không còn cách nào khác Ogi đành đích thân dìu J vào phòng khách. Anh để J nằm lên ghế sô-pha, rồi lấy thêm một chai rượu trong tủ lạnh. Vài ngày trước, vì biết M thích vang chát, anh đã mua sẵn vài chai vang Pháp ở siêu thị.
Ngoại trừ J thì không còn ai say nữa. Cả vợ anh và những vị khách còn lại đều tỉnh táo. Dần dần, cuộc trò chuyện lắng dịu, chẳng còn tiếng tranh luận, không còn tiếng cười lớn, và cũng chẳng còn một chủ đề cụ thể nào. Đó là một buổi tụ họp đáng hài lòng và là một bữa tiệc tuyệt vời.
Tuy nhiên, vợ Ogi lại không nghĩ như vậy. Ngày hôm sau, cô thường xuyên nổi giận vô cớ và cãi nhau với anh vì những chuyện vụn vặt. Anh cố gắng dỗ dành vợ, lặp đi lặp lại rằng những chuyện cô đang nghĩ không hề xảy ra.
Đây chẳng phải là lần đầu tiên cô cư xử như vậy. Trước đây, hễ có chuyện là cô lại bới lông tìm vết và tưởng tượng ra những tình huống tồi tệ nhất, phóng đại xác suất xảy ra của những việc đó. Mỗi lúc như vậy, vợ anh cực kỳ nhạy cảm và hay cáu kỉnh, chỉ tin vào suy nghĩ của bản thân và chắc chắn hoàn toàn đó là sự thật. Cô phủ nhận mọi lời của Ogi, cho rằng anh đang nói dối, và dồn ép đến khi anh chịu thừa nhận mới thôi. Nổi giận đùng đùng chưa được bao lâu cô sẽ lại xuống nước xin lỗi. Cô nói vì tính mình hay quá khích nên mới vậy, rồi còn hứa từ giờ sẽ chỉ nghĩ về những điều tốt đẹp.
Ogi vẫn giữ bình tĩnh, dù buồn nhưng anh không tức giận. Xét cho cùng, vợ anh không phải lúc nào cũng như vậy.
Vợ anh đào xới toàn bộ khu vườn, đào bất cứ chỗ nào cô có thể đặt chân tới. Cô không hài lòng với việc chỉ nhổ đi đám cây chết và đào xới đất. Sau khi cày bừa xong khu vườn, cô đi mua cây giống về trồng. Chẳng bao lâu sau, chúng đều chết rũ.
Sau đó, cô bắt đầu công việc làm vườn một cách nghiêm túc hơn. Cô mua và đọc sách dạy làm vườn, cả ngày chỉ quanh quẩn với khu đất. Sau khi tham khảo một vài cuốn sách của chuyên gia, cô đã tự vẽ một vài tấm bản đồ quy hoạch. Khi Ogi đi làm, dù trời nắng hay không, vợ anh vẫn sẽ đội chiếc mũ rộng vành che nửa khuôn mặt, vắt khăn quanh cổ, đeo găng tay chuyên dụng, đi ủng và bắt đầu công việc san bằng phần đất trong khu vườn. Đi làm về, Ogi sẽ thấy vợ mình ngồi trong vườn, nguyên bộ đồ ban sáng, nhưng quần áo đã dính đầy đất và bẩn thỉu hơn. Nếu ra ngoài, vợ anh cũng chỉ đi đến chỗ bán cây giống hoặc vườn hoa ở Yangjae. Ngoài bay, cuốc cầm tay, cô còn mua cả cào, cuốc dài, kéo dài dùng để cắt những thứ ở trên cao, gỗ chống cây, và vải cuốn. Mỗi khi mua dụng cụ mới, cô đều giải thích cho Ogi công dụng của chúng.
Ogi đề nghị thuê chuyên gia nhưng vợ anh không muốn. Anh thôi chẳng can thiệp nữa. Nhưng đến khi cô bảo mình sẽ mua đất đổ vào vườn, anh liền lắc đầu phản đối:
“Chúng ta mua nhà chứ không phải mua vườn hoa.”
Anh muốn bày tỏ sự bất mãn của mình.
“Chỗ này không có giun đất.”
Vợ anh đáp lại.
“Giun đất?”
“Chỗ này là đất chết, là đất không có giun. Phải có giun thì mới trồng cây được. Với cả, đất nhà chúng ta…”
Nói đến đây, vợ anh bật cười. Nhưng Ogi đoán điều cô định nói tiếp chẳng đáng cười chút nào, và suy nghĩ của anh quả nhiên không sai.
“Em ngửi thấy mùi amoniac, chắc mấy cụ già đã đi tiểu ở đây.”
Ogi cau mày. Anh muốn ủng hộ mọi công việc mà vợ mình say mê, bởi vì thật đáng buồn khi cô có tài nhưng việc gì cô làm cũng chỉ dừng lại là những thử nghiệm vô ích. Cô chẳng đạt được một thành tựu nào, ngày càng tự giễu cợt và nhạo báng bản thân nhiều hơn. Nếu Ogi dành thời gian để phát triển lĩnh vực của mình thì vợ anh lại bị dòng thời gian bỏ lại đơn độc phía sau. Khi nghĩ lại thời tuổi trẻ của vợ, anh không khỏi cảm thấy buồn bã và tiếc nuối.
Nhưng dù vậy, anh chẳng thích thú gì khi nghĩ tới chuyện vợ mình cả ngày ngồi xổm đào đất chỉ để ngửi toàn mùi amoniac hay quần quật tìm giun đất. Tất nhiên, anh hiểu là cô chỉ muốn kiểm tra xem đất có tốt hay không, nhưng vẻ mặt kỳ dị lúc cô nói về chuyện đất không có giun và khi cô cười lặng lẽ vì nghĩ rằng có người đã đi tiểu ở trong vườn vẫn khiến anh cảm thấy ghê tởm ngay chính căn nhà mà mình khó khăn lắm mới mua được.
Cuối cùng thì vợ Ogi cũng mua đất mới lấp lên và cày xới lại toàn bộ khu vườn. Cô xúc một xẻng đất lên rồi lại đổ xuống, trộn phần đất phía trên với phía dưới để không khí được lưu thông.
Bên phải hiên nhà, vợ anh trồng cây bụi và những cây mọng nước, còn phía bên trái là hoa và cây thảo dược, những loài cần được thường xuyên chăm sóc. Ở vị trí gần ngôi nhà nhất, cô làm những luống nhỏ để trồng rau ăn. Hai bên cạnh nhà, cô trồng nhiều loại cây khác nhau. Gần trước hiên là cúc ngũ sắc, còn hai cây bạch mộc liên vốn ở trong vườn nay được chuyển sang bên phải nhà, bên trái là cây long não. Trên hai bên đường dẫn từ cửa sắt vào đến hiên nhà là những loại cây như: nghệ tây, thu mẫu đơn, môn đốm, thược dược hay mao lương. Ogi không thể phân biệt nổi và gọi tất cả bọn chúng là “hoa”. Vợ anh gắn lên từng loại những tấm bảng nhỏ. Đôi khi, cô dùng tay che biển, rồi hỏi Ogi tên của chúng. Mặc dù biết câu trả lời của mình sẽ làm vợ hài lòng nhưng anh vẫn cảm thấy khổ sở mỗi khi phải đáp lời. Lúc anh ấp úng không nói được tên, vợ anh sẽ hỏi lại với vẻ thực sự tò mò: “Sao anh lại không nhớ được tên chúng nhỉ?” Lần nào Ogi cũng thầm phản bác trong lòng, tại sao phải ghi nhớ những thứ này? Nói thật, Ogi không tự tin mình có thể phân biệt được cỏ lan chi và hoa oải hương. Cánh của hoa nghệ tây và thu mẫu đơn có độ lớn tương đương và màu sắc cũng giống nhau, thật không dễ để biết loại nào là loại nào. Dù vợ anh có giải thích rằng nhị hoa nghệ tây màu vàng, còn nhị hoa thu mẫu đơn có màu tím sẫm hơn lá, thì anh cũng chẳng tìm ra nổi điểm khác biệt.
Ogi đặc biệt không thích khi nghe vợ nói về ngôn ngữ các loài hoa. Với anh, ngôn ngữ các loài hoa cũng vô nghĩa như mục vận số hằng ngày trên báo vậy. Thế nhưng, cô ấy vẫn liên tục thao thao bất tuyệt, không biết mệt mỏi. Hoa thu mẫu đơn có nghĩa là “khát khao đã biến mất” và “tình yêu phù du”. Dù lơ đãng gật đầu trước những gì vợ nói, nhưng anh không khỏi thấy cô càng ngày càng ấu trĩ, thật khó mà chịu đựng được.
Năm đầu tiên, sự nghiệp trồng vườn của vợ anh thất bại, nhưng cô không hề tỏ ra thất vọng, như thể đã sớm đoán từ trước. Cô nói, phải mất vài năm mới có được một khu vườn ưng ý. Mỗi khi sửa xong sơ đồ khu vườn, cô đều dán nó lên bàn làm việc. Một lần, cô nói sẽ biến nó thành một khu vườn kiểu Anh. Khu vườn kiểu Anh là kiểu gì chứ? Phải chăng là một khu vườn rực rỡ sắc màu, đám cây cối tuy được trồng lộn xộn nhưng vẫn hài hòa với nhau?
Những lúc Ogi ngồi trong phòng đọc sách, vợ thường bưng vào cho anh một ấm hồng trà Anh. Khi ấy, anh hay quan sát bàn tay cô, trông thấy những vết bị kéo cắt hiện lên rõ ràng, còn cả bụi đất bám vào kẽ móng tay nữa. Vợ anh nói nếu dùng găng tay thì không thể cảm nhận được cây cối, vì thế cô muốn dùng tay trần nhiều nhất có thể. Khi nghĩ tới chuyện vợ mình dùng chính bàn tay ấy để vo gạo thổi cơm, nấu canh, Ogi chợt cảm thấy chẳng muốn ăn gì nữa.
Những lúc không hiểu nổi vì sao vợ lại ám ảnh với việc làm vườn, Ogi chỉ cần nghĩ tới khoảng thời gian cô muốn làm phóng viên, lúc nào cũng mang theo ảnh của Oriana Fallaci trong ví. Có lẽ bây giờ, vợ anh đang muốn trở thành một người như bà cụ Tasha Tudor hoặc cũng có thể là cô muốn viết một cuốn sách về làm vườn. Thế nhưng, cuốn sách ấy rồi sẽ giống như bao cuốn sách khác của cô, chẳng bao giờ có thể chào đời. Anh nghĩ, bất hạnh của vợ mình chính là lúc nào cũng muốn trở thành một ai đó khác và lúc nào cũng bỏ dở giữa chừng.
Đến cuối tuần, Ogi miễn cưỡng giúp vợ làm vườn. Cô vui vẻ bảo anh làm hết việc này đến việc kia. Anh bị cào cấu trong niềm vui của vợ và công việc nhanh chóng làm hai tay anh đỏ lừ lên. Vậy mà anh thậm chí còn bị vợ mắng, toàn mấy câu kiểu “Có phải anh không thích nên mới cố tình làm ăn chẳng ra sao không”. Tuy thế, khi ngồi xổm cùng vợ trong vườn, anh vẫn thấy vui, có thể chào hỏi những người hàng xóm đi qua phía bên kia hàng rào sắt thấp. Mặc dù anh chưa bao giờ mơ ước cụ thể về sự đầm ấm hòa thuận này, nhưng đó chắc chắn là một trong những cảnh tượng anh từng tưởng tượng ra. Trong quang cảnh đó, hẳn cũng có một cây phong bên cửa sổ, hay một cây thảo dược được trồng trong chậu lớn màu đất.
“Hay chúng ta thuê chuyên gia rồi em làm việc khác được không?”
Một hôm, Ogi hỏi vợ. Cô chỉ chăm chăm nhìn anh, nét mặt không đổi, rồi lặng lẽ hỏi lại:
“Việc khác?”
“Không phải việc này, một công việc có thể giúp em phát triển.”
“Em vốn đã bước qua thời kỳ phát triển rồi. Cây cối sẽ luôn lớn lên, nhưng con người thì không. Đến một độ tuổi nào đó, con người sẽ thôi không lớn lên nữa.”
“Ý anh đâu phải là thứ phát triển đó. Em hãy tìm thứ gì mà mình thích, rồi…”
Cô lập tức ngắt lời:
“Có một thứ sẽ không ngừng phát triển.”
“Đó là thứ gì?”
“Ung thư. Ngay cả trong cơ thể đã không còn phát triển nữa ung thư vẫn có thể phát triển.”
Vợ Ogi bật cười khúc khích.
“Anh chỉ muốn nói em hãy tìm một việc mình thực sự muốn làm.”
“Bây giờ, đây là việc em thực sự muốn làm.”
Ogi nhận ra mình đã phạm sai lầm. Không có gì ngu ngốc bằng việc khuyên một người hãy phát triển bản thân, hay hãy trở thành hình mẫu lý tưởng mà chính mình mong muốn. Nhưng anh lại phạm chính sai lầm ấy. Ogi đã nói vậy với vợ anh, người biết rõ nhất anh là một kẻ ngốc nghếch đến mức nào.
Ogi quyết định để vợ làm những gì cô thích. Cô muốn làm vườn hay làm gì cũng được. Dù cô có tiêu tốn bao nhiêu tiền anh cũng có thể thông cảm được. Vợ anh xứng đáng được hưởng điều đó và anh cũng có đủ tiền để giúp cô. Anh sẽ tôn trọng cuộc sống, sở thích và lựa chọn của cô. Nói thật thì, anh quyết định như vậy cũng vì chẳng muốn liên quan đến việc này nữa. Tuy nhiên, anh vẫn yêu cầu vợ một điều, cô không được phủ kín bức tường bằng cây leo.
Mặc dù chẳng có tình cảm đặc biệt gì với thực vật và cây cối, song đôi khi Ogi cũng ngây người trước vẻ đẹp của những thân cây vươn lên thẳng đứng, chọc thủng bầu trời, chống lại trọng lực của Trái đất. Nhưng lũ cây leo không tạo ra cho anh cảm giác ấy. Chúng leo lên hàng rào và cột đỡ, hoặc trườn đi xung quanh, cố gắng tìm bằng được vật gì đó để bám. Giây phút những thân cây ấy chạm vào và quấn lấy mục tiêu, Ogi cảm thấy gớm ghiếc. Trên thân của chúng có những giác bám mãnh liệt tới mức, leo lên tới đâu chúng cũng có thể che phủ toàn bộ bề mặt vật thể tới đó. Chúng bám chặt như thể mọc rễ, vươn thân thể của mình, xâm chiếm lấy tất cả, trông đến là khiếp.
Mặc dù vợ đã giải thích nhiều lần rằng chúng có thể leo lên như vậy chẳng phải vì sức mạnh bí ẩn hay ma thuật, mà là do hormone bên trong thân cây (như octadecanoids , jasmonates và indole-3-acetic acid ) di chuyển ngược với phần chạm vào vật bám, nên thân cây mới cuốn lấy vật thể. Ấy chỉ đơn giản một cách để sinh trưởng. Mặc dù đó là một lời giải thích đầy tính thuyết phục, nhưng Ogi vẫn cảm thấy rùng mình trước bản chất đáng sợ của loài thực vật ấy.
Trước khi xảy ra tai nạn ít lâu, Ogi phát hiện ra có thứ gì đó đang ngọ nguậy bò lên bức tường phía sau nhà. Bình thường, anh hoàn toàn chẳng có việc gì để lảng vảng quanh đó, nhưng khi ấy vì nhận được điện thoại lúc đang ở sẵn ngoài vườn nên anh đã đi lang thang tới tận đó.
Vì đang dở cuộc điện thoại, nên lúc phát hiện ra, anh chẳng dám thở dài quá lộ liễu. Cây leo trông giống như một loài thuộc họ kim ngân, đang xâm chiếm lấy bức tường đằng sau nhà. Vợ anh đã để chúng vươn lên xum xuê, rậm rạp, ở một vị trí mà anh không để mắt tới. Hình như cô đã cắm cọc đỡ cách một đoạn so với cửa sổ, nên nếu nhìn từ mặt trước thì khó mà phát hiện ra. Với mức độ phát triển như thế này, nhất định chúng đã có thể vươn ra mặt trước, nhưng hẳn là vợ anh đã nhanh tay cắt đi mất rồi. Anh bực mình và nổi giận đùng đùng với cô.
Sau khi vợ anh không thể chăm sóc cho khu vườn nữa, cây cỏ hoa lá trong vườn đều chết hết riêng lũ cây leo sau nhà lại phát triển rất mạnh, bám chặt vào và vươn ra tận phần tường phía trước. Mỗi khi gió thổi vào cửa sổ phòng, Ogi lại thấy bất an trước vừng lá to lớn xanh thẫm đang rung động. Chỉ một thời gian nữa thôi, chúng sẽ chiếm lấy cửa sổ, rồi cản hết tầm nhìn của anh.