Cựu Đại úy Hale trầm ngâm rít một hơi thuốc. Ông ta lên tiếng. “Ông hứng thú với vụ này thì lạ thật đấy, ông Poirot.”
“Có lẽ là hơi khác thường thật,” Poirot thận trọng đồng tình.
“Ông thấy đấy,” Hale nói, “chuyện đã qua lâu lắm rồi.”
Hercule Poirot dự đoán trước sau gì mình cũng sẽ phát ngấy với câu nói ấy. Ông ôn tồn đáp. “Dĩ nhiên vì thế mà mọi thứ lại càng khó khăn hơn.”
“Đào lại chuyện xưa,” người đối diện ông trầm ngâm. “Chả biết để làm gì nữa, giờ…”
“Có mục đích đấy.”
“Là gì thế?”
“Người ta có thể tìm thấy niềm vui trong hành trình đi tìm sự thật chứ. Tôi thì có đấy. Và ông hẳn vẫn còn nhớ cô con gái.”
Hale gật đầu. “Phải, tôi hiểu quan điểm của cô ấy về vụ án này. Nhưng… thứ lỗi cho tôi, ông Poirot, ông là một người thông minh. Ông có thể dựng lên một câu chuyện cho cô gái mà.”
Poirot trả lời. “Thế là ông không biết cô ấy rồi.”
“Ôi, thôi nào… một người với đầy kinh nghiệm như ông!”
Poirot thẳng người lên. “ Mon cher Bạn tôi ơi , tôi có thể là một tay nói dối khéo léo và có hạng, có vẻ như ông nghĩ thế. Nhưng theo tôi đó không phải là một cách làm đạo đức. Tôi có tiêu chuẩn của riêng mình.”
“Xin thứ lỗi, ông Poirot. Tôi không có ý xúc phạm ông. Nhưng có thể nói, nhiều khi như thế lại tốt hơn.”
“Ồ tôi thắc mắc đấy, thật vậy sao?”
Hale từ tốn đáp. “Thật xui xẻo cho một cô gái ngây thơ vui vẻ khi vừa chuẩn bị kết hôn thì phát hiện ra mẹ mình là kẻ sát nhân. Nếu tôi là ông, tôi sẽ đến chỗ cô ấy và nói rằng, xét cho cùng, đây là một vụ tự sát. Nói rằng vụ này bị Depleach làm hỏng. Nói rằng ông hoàn toàn tin chắc chuyện Crale tự đầu độc chính mình!”
“Nhưng tôi hoàn toàn không tin điều đó! Tôi không tin lấy một giây việc Crale tự bỏ thuốc độc. Liệu ông thật sự tin rằng điều đó là có cơ sở ư?”
Hale chậm rãi lắc đầu.
“Đấy, thấy chưa? Không đâu, tôi phải có sự thật, không phải một lời nói dối, dù đáng tin hay không.”
Hale quay sang nhìn Poirot. Gương mặt phớt đỏ vuông vuông của viên đại úy dường như lại càng thêm đỏ và bạnh ra hơn. Ông nói. “Ông đòi sự thật. Nói thật với ông chứ chúng tôi nghĩ mình đã có sự thật trong vụ nhà Crale ấy.”
Poirot nói nhanh. “Lời tuyên bố ấy của ông có ý nghĩa rất lớn. Tôi biết ông là người thế nào, một con người chính trực và tài năng. Giờ thì nói tôi nghe, có phải ông hoàn toàn tin chắc bà Crale là hung thủ không?”
Viên đại úy đáp ngay. “Hoàn toàn chắc chắn, ông Poirot. Mọi chi tiết đều chỉ ra bà ấy, mọi thông tin chúng tôi thu thập được đều ủng hộ điều đó.”
“Ông có thể nói sơ qua cho tôi về những bằng chứng chống lại bà Crale không?”
“Được chứ. Tôi có xem lại vụ án khi nhận được thư ông.” Viên đại úy nhặt một cuốn sổ nhỏ lên. “Tôi đã chép lại những chi tiết quan trọng nhất ra đây.”
“Cảm ơn ông bạn. Tôi rất nóng lòng muốn nghe đây.”
Hale hắng giọng. Giọng ông phảng phất nét trịnh trọng. Viên đại úy nói. “Vào hai giờ bốn mươi lăm chiều ngày 18 tháng Chín, Thanh tra Conway nhận được cuộc gọi từ bác sĩ Andrew Faussett. Bác sĩ Faussett nói ông Amyas Crale ở Alderbury đã đột ngột tử vong và xét theo tình trạng của cái chết cũng như theo lời tuyên bố của ông Blake – một vị khách ở trong nhà – ông ta nghĩ đây là một vụ cần đến cảnh sát.
“Thanh tra Conway, cùng một hạ sĩ và một nhân viên giám định đến Alderbury ngay tức khắc. Bác sĩ Faussett ở đó đợi và đưa ông ấy đến hiện trường nơi xác của ông Crale vẫn chưa bị động đến.
“Ông Crale đang vẽ tranh trong một khu vườn nhỏ khép kín, tên là vườn Đại Bác, sở dĩ có tên đó là do nó hướng ra biển và có vài khẩu đại bác nhỏ đặt bên bờ tường răng cưa. Khu vườn nằm cách ngôi nhà khoảng bốn phút đi bộ. Ông Crale không về nhà để ăn trưa vì ông ta muốn nắm bắt một vài hiệu ứng nhất định của ánh nắng lên đá, nếu để trễ hơn thì mặt trời sẽ không còn được như thế nữa. Do đó, ông ta đã ở lại một mình trong vườn Đại Bác để vẽ tranh. Việc này được xác nhận là không phải chuyện lạ. Ông Crale không chú ý đến giờ ăn lắm. Đôi khi sẽ có người mang bánh kẹp xuống cho ông ta, nhưng thường thì ông thích được ở một mình hơn. Những người cuối cùng nhìn thấy ông ta còn sống là cô Elsa Greer (ở trong nhà) và ông Meredith Blake (hàng xóm). Hai người này cùng nhau đi bộ về lại ngôi nhà và cùng dùng bữa với tất cả mọi người trong nhà. Sau bữa trưa, họ uống cà phê ở ngoài hiên. Bà Crale uống xong chỗ cà phê của mình và nói rằng bà sẽ xuống chỗ Amyas và xem xem ông ta thế nào. Bà Cecilia Williams, gia sư, đứng lên và đi cùng bà Crale. Bà ta muốn tìm cái áo len chui đầu của học trò mình, là cô Angela Warren, em gái bà Crale. Cô Warren đã để quên cái áo ở đâu đó và bà ta nghĩ có thể nó bị bỏ lại ở ngoài bãi biển.
“Hai người họ cùng nhau lên đường. Con đường dốc xuống, xuyên qua những hàng cây, rồi hướng lên đến chỗ một cánh cửa dẫn vào vườn Đại Bác. Ông có thể vào vườn hoặc đi tiếp con đường đó xuống bãi biển.
“Bà Williams tiếp tục đi xuống dưới còn bà Crale bước vào vườn Đại Bác. Tuy vậy, gần như ngay lập tức, bà Crale thét lên và bà Williams chạy lại. Ông Crale ngả người trên ghế và đã chết.
“Bà Williams rời vườn Đại Bác sau lời kêu cứu của bà Crale và chạy vội lên nhà để gọi bác sĩ. Tuy vậy, trên đường về, bà ta gặp ông Meredith Blake và giao phó nhiệm vụ của mình cho ông ta, còn mình thì quay lại với bà Crale vì nghĩ bà ấy có thể sẽ cần có người bên cạnh. Mười lăm phút sau bác sĩ Faussett có mặt ở hiện trường. Bác sĩ thấy ngay là ông Crale đã chết được một thời gian rồi, ông ta xác định thời gian tử vong là vào khoảng một và hai giờ. Chẳng có dấu vết gì cho thấy nguyên nhân cái chết. Không có vết thương nào và điệu bộ của ông Crale hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, bác sĩ Faussett, vốn rất rõ tình trạng sức khỏe của ông Crale, cũng như chắc chắn việc ông ta không có bệnh hay suy nhược gì, đã yêu cầu xem xét sự việc ở mức nghiêm trọng. Đến lúc này ông Philip Blake mới tiết lộ với bác sĩ Faussett.”
Đại úy Hale ngừng nói, hít một hơi sâu và rồi tiếp tục Hồi Hai của câu chuyện.
“Rồi thì ông Blake lặp lại lời đó với Thanh tra Conway. Tóm lại thế này. Sáng hôm đó ông ta nhận được điện thoại từ anh mình, ông Meredith Blake (sống ở Trang viên Handcross, cách đó một dặm rưỡi). Ông Meredith Blake là một dược sư nghiệp dư… một nhà thảo dược học thì đúng hơn. Khi bước vào phòng thí nghiệm sáng hôm đó, ông Meredith Blake sửng sốt nhận ra một cái lọ đựng chất độc cần, mới ngày hôm trước còn khá đầy, giờ đã gần cạn. Vừa lo vừa sợ, ông ta gọi ngay cho em mình để hỏi xem nên làm gì với chuyện đó. Ông Philip Blake giục anh mình đến Alderbury ngay lập tức và sẽ cùng nhau bàn cách. Ông ta đi bộ được nửa đường thì gặp em trai và cả hai cùng nhau đến ngôi nhà. Họ vẫn chưa nghĩ ra phương án nào khả dĩ và đành gác sự việc qua một bên đợi sau bữa trưa sẽ bàn tiếp.
“Sau những lần thẩm vấn nữa, Thanh tra Conway đã xác định được những sự kiện sau: Vào buổi chiều hôm trước đó năm người đã từ Alderbury đi bộ đến Trang viên Handcross để uống trà. Họ là ông bà Crale, cô Angela Warren, cô Elsa Greer và ông Philip Blake. Trong thời gian đó, ông Meredith Blake đã rất hào hứng khoe sở thích của mình và đã đưa nhóm người xuống phòng thí nghiệm nhỏ của mình để tham quan. Trong chuyến tham quan ấy, ông ta đã đề cập đến một vài loại thuốc, trong số đó có coniine, là hoạt chất trong cây độc cần. Meredith Blake đã giải thích đặc tính của nó, than vãn chuyện giờ đây tên nó đã biến mất khỏi Dược thư và khoe rằng ông biết vài liều nhỏ của chất này có thể rất hữu hiệu trong việc trị ho gà và hen suyễn. Sau đó ông ta đã nhắc đến những đặc tính chết người của nó và thực tế là đã đọc cho các vị khách của mình vài đoạn do một tác giả người Hy Lạp viết miêu tả về tác dụng của chất này.”
Đại úy Hale ngừng lời, lại châm thuốc vào tẩu rồi mới bắt đầu Hồi Ba.
“Thượng tá Frere, Cảnh sát trưởng, giao vụ án cho tôi. Kết quả khám nghiệm cho thấy rõ rành rành. Coniine, theo tôi hiểu, không để lại bất cứ dấu vết gì rõ ràng sau khi chết, nhưng các nhân viên khám nghiệm biết mình phải tìm gì, và họ đã thu lại được một lượng thuốc độc lớn. Họ cho rằng thuốc đã được đưa vào người khoảng hai hay ba giờ trước khi chết. Trước mặt ông Crale, trên bàn, là một cái cốc không và một chai bia không. Người ta đã cho phân tích phần cặn trong cả hai thứ. Trong chai không có coniine, nhưng trong cốc thì có. Tôi đi hỏi thăm và biết được rằng, trong căn chòi hóng mát nhỏ ở vườn Đại Bác có một két bia và mấy cái cốc để sẵn phòng khi ông Crale thấy khát trong lúc vẽ tranh, thế nhưng sáng ngày hôm đó bà Crale lại mang từ ngôi nhà lớn xuống một chai bia ướp lạnh. Lúc bà ấy đến ông Crale đang mải vẽ còn cô Greer thì đang ngồi trên bờ tường răng cưa, làm mẫu cho ông ta.
“Bà Crale mở nắp chai bia, rót ra và đưa cốc bia vào tay chồng mình trong lúc ông đang đứng trước giá vẽ. Ông uống một hơi hết luôn – một thói quen, theo tôi được biết. Rồi ông nhăn mặt, đặt cái cốc xuống bàn, và nói: ‘Hôm nay cái gì cũng có vị kinh thế!’ Cô Greer đến lúc đó bèn bật cười và bảo, ‘Do gan đấy!’ Ông Crale đáp: ‘Ừ, chí ít bia cũng lạnh .’”
Hale ngừng nói.
Poirot hỏi. “Chuyện này xảy ra vào lúc nào?”
“Vào khoảng mười một giờ mười lăm. Ông Crale tiếp tục vẽ. Theo lời cô Greer, lát sau ông ta ca cẩm việc tay chân bị tê và càu nhàu rằng chắc ông bắt đầu bị thấp khớp rồi. Nhưng ông Crale là người ghét phải thừa nhận mình bị bệnh dù đó có là bệnh gì đi nữa, và hẳn nhiên ông cũng cố không thừa nhận bản thân thấy không khỏe. Có thể nói, việc ông Crale cáu kỉnh yêu cầu được ở một mình còn những người khác lên nhà ăn trưa cũng không lạ gì so với tính tình ông ta trước giờ.”
Poirot gật đầu.
Hale tiếp tục. “Vậy là Crale bị bỏ lại một mình trong vườn Đại Bác. Chắc hẳn ông ta đã ngả người trên ghế và nghỉ ngơi ngay khi chỉ còn lại một mình. Sau đó cơ bắp bị tê liệt. Không có ai bên cạnh để giúp đỡ, rồi cái chết đến.”
Poirot lại gật đầu.
Hale kể tiếp. “Chà, tôi đã thực hiện mọi thứ theo đúng trình tự. Chẳng khó khăn gì mấy với việc xem xét các sự kiện. Vào cái ngày trước đó bà Crale và cô Greer đã cãi nhau. Cô Greer đã khá xấc xược khi nói tới một số thay đổi trong cách bố trí đồ đạc ‘khi em sống ở đây.’ Bà Crale vặn lại, hỏi rằng, ‘Ý cô là sao? Khi cô sống ở đây ư.’ Cô Greer đáp: ‘Chị đừng giả vờ không hiểu ý em chứ, Caroline. Chị chả khác gì con đà điểu vùi đầu dưới cát. Chị biết rõ là Amyas và em yêu thương nhau và sẽ cưới nhau mà.’ Bà Crale nói: ‘Tôi chẳng biết gì về chuyện đó.’ Sau đó cô Greer mới đáp: ‘Ờ thì, giờ chị biết rồi đó.’ Và rồi, hình như, bà Crale quay sang ông chồng lúc đó vừa bước vào phòng và nói: ‘Amyas, có thật là anh sẽ cưới Elsa không?’”
Poirot hỏi đầy hứng thú. “Và ông Crale trả lời thế nào?”
“Hình như ông ta quay sang cô Greer và quát lên: ‘Em có bị điên không mà đi xì ra chuyện đó? Không biết giữ mồm giữ miệng hay sao?’
“Cô Greer nói: ‘Em nghĩ chị Caroline nên biết sự thật.’
“Bà Crale hỏi chồng mình: ‘Có thật thế không hả Amyas?’
“Ông ta không nhìn vợ, hình như vậy, ông ta quay mặt đi và lẩm bẩm gì đó.
“Bà Crale nói: ‘Nói đi. Em phải biết chứ.’
“Và lúc đó ông ta đáp: ‘Ừ, đúng thế đấy… nhưng giờ anh không muốn nói tới chuyện đó.’
“Rồi ông ta lại rảo bước ra khỏi phòng, còn cô Greer nói: ‘Chị thấy chưa!’ và tiếp tục, cô ta nói gì đó về việc bà Crale không nên tỏ thái độ như chó già giữ xương thế. Tất cả mọi người nên cư xử như những người biết điều. Cô ta mong rằng Caroline và Amyas sẽ có thể luôn là bạn bè tốt của nhau.”
“Thế bà Crale đáp gì?” Poirot tò mò hỏi.
“Theo lời các nhân chứng, bà Crale bật cười. Bà nói: ‘Khi nào tôi chết đã, Elsa.’ Bà đi ra cửa và cô Greer gọi với theo: ‘Ý chị là sao?’ Bà Crale quay lại và nói: ‘Tôi sẽ giết Amyas trước khi để anh ấy rơi vào tay cô .’”
Hale ngừng lời chốc lát. “Kinh khủng… nhỉ?”
“Phải.” Poirot có vẻ trầm ngâm. “Những ai nghe được điều này?”
“Bà Williams và Philip Blake lúc đó ở trong phòng. Tình thế rất khó xử cho họ.”
“Lời khai của họ về sự việc giống nhau chứ?”
“Đủ giống, làm gì có hai nhân chứng nào nhớ giống hệt nhau về một sự việc đâu. Ông cũng biết điều đó như tôi mà, ông Poirot.”
Poirot gật đầu. Ông trầm ngâm nói. “Phải, hẳn là thú vị lắm nếu thấy…” Ông bỏ lửng câu nói.
Hale tiếp tục kể. “Tôi tiến hành khám xét ngôi nhà. Trong phòng ngủ của bà Crale tôi tìm thấy dưới đáy ngăn kéo tủ, vùi sâu dưới mấy lớp với mùa đông, một cái lọ nhỏ dán nhãn hương hoa nhài. Cái lọ rỗng không. Tôi cho kiểm tra vân tay. Trên đó chỉ có vân tay của bà Crale. Khi phân tích chúng tôi phát hiện trong đó còn sót lại ít dấu vết của dầu hoa nhài, cùng với dung dịch coniine bromhydric đặc.
“Tôi báo với bà Crale và cho bà ấy xem cái lọ. Bà hồi đáp ngay lập tức. Nói rằng, tâm trạng bà đang không được ổn định. Sau khi nghe ông Meredith Blake miêu tả về thứ thuốc đó, bà đã lẻn trở lại phòng thí nghiệm, đổ lọ dầu hoa nhài có sẵn trong túi xách và đổ đầy chiếc lọ dung dịch coniine. Tôi hỏi vì sao lại làm thế thì bà đáp: ‘Nếu được tôi mong không phải nói quá cụ thể, nhưng gần đây tôi vừa bị một cú sốc lớn. Chồng tôi có ý muốn bỏ tôi để theo một phụ nữ khác. Nếu đúng thế thật, thì tôi không muốn sống nữa. Đó là lý do tôi trộm thuốc.’”
Hale ngừng nói.
Poirot nói. “Sau cùng thì cũng có khả năng như thế.”
“Có thể, ông Poirot ạ. Nhưng nếu là thế thì nó không khớp với những lời người khác nghe thấy bà ấy nói. Và rồi sáng hôm sau lại có thêm một chuyện nữa. Ông Philip Blake nghe lỏm được một phần của vụ đó. Cô Greer lại nghe được một phần khác nữa. Chuyện xảy ra giữa ông bà Crale ở trong thư viện. Ông Blake đang ở ngoài hành lang và nghe được một hai câu. Cô Greer đang ngồi bên ngoài gần cửa sổ để mở của thư viện nên nghe được nhiều hơn.”
“Thế họ nghe được những gì?”
“Ông Blake nghe bà Crale nói: ‘Anh và đám đàn bà của anh. Tôi giết anh. Có ngày tôi sẽ giết anh.’”
“Không nhắc gì đến tự sát à?”
“Chính xác. Không hề. Không có câu nào kiểu ‘Nếu ông làm thế, tôi sẽ tự sát.’ Lời chứng của cô Greer cũng chẳng khác mấy. Theo lời cô ta, ông Crale nói: ‘Hãy cố mà biết điều một chút, Caroline. Tôi yêu em và luôn mong những điều tốt nhất cho em – em và con. Nhưng tôi sẽ cưới Elsa. Ta đã đồng ý sẽ để cho nhau được tự do mà.’ Bà Crale đáp trả: ‘Được lắm, đừng bảo là tôi không cảnh cáo anh.’ Ông ta nói: ‘Ý em là sao?’ Và bà ấy đáp: ‘Ý tôi là tôi yêu anh và tôi sẽ không để mất anh. Tôi thà giết anh còn hơn để anh đi với con nhỏ đó.’”
Poirot khẽ cựa quậy. “Tôi chợt nghĩ,” ông lẩm bẩm, “cô Greer thiếu khôn ngoan lạ lùng khi nói ra chuyện đó. Bà Crale có thể dễ dàng từ chối không ly dị chồng.”
“Chúng tôi có vài bằng chứng liên quan đến chuyện đó,” Hale nói. “Có vẻ như, bà Crale đã tâm sự một chút với ông Meredith Blake. Ông ta là một người bạn cũ đáng tin cậy. Ông ta rất buồn và đã tìm cách nói vài lời với ông Crale về chuyện đó. Hình như họ nói chuyện với nhau vào chiều hôm trước. Ông Blake tế nhị khuyên can bạn mình, bảo rằng mình sẽ buồn thế nào nếu cuộc hôn nhân của ông bà Crale tan vỡ một cách tồi tệ như thế này. Ông Blake cũng nhấn mạnh việc cô Greer còn rất trẻ và lôi cô gái trẻ ấy qua cả phiên tòa ly hôn là một việc rất nghiêm trọng. Ông Crale cười (quả là một kẻ nhẫn tâm), đáp rằng: ‘Đó không phải ý của Elsa đâu. Cô ấy sẽ không xuất hiện. Bọn tôi sẽ thu xếp mọi chuyện theo cách bình thường.’”
Poirot nói. “Thế thì việc cô Greer tiết lộ mọi thứ ra lại càng quá khinh suất còn gì.”
Đại úy Hale đáp lời. “Ôi, ông biết phụ nữ là thế nào mà! Phải đấu đá nhau mới bằng lòng. Dù sao thì tình thế lúc ấy hẳn cũng khó xử lắm. Tôi không hiểu vì sao ông Crale lại để cho việc đó xảy ra. Theo lời ông Meredith Blake, ông Crale muốn hoàn thành bức tranh. Ông hiểu nổi không?”
“Có đấy ông bạn ạ, tôi nghĩ là mình hiểu.”
“Tôi thì không. Ông ta rõ ràng đang muốn kiếm chuyện!”
“Có lẽ ông ta rất bực mình với người tình trẻ của mình vì đã để lộ mọi chuyện như thế.”
“Ồ đúng rồi. Meredith Blake nói thế. Nếu Crale phải hoàn thành bức tranh thì tôi không hiểu sao ông ta không chụp vài tấm ảnh rồi vẽ lại. Tôi biết một gã vẽ tranh phong cảnh, gã làm thế đấy.”
Poirot lắc đầu. “Không… tôi có thể hiểu con người nghệ sĩ của Crale. Ông phải hiểu, bạn tôi ơi, vào lúc đó, có lẽ với Crale không gì quan trọng hơn bức tranh ấy. Dù ông ta có muốn cưới cô gái đó thế nào đi nữa, thì bức tranh cũng được ưu tiên hàng đầu. Đó là lý do vì sao ông ta hy vọng việc cô gái ấy đến ở sẽ không biến thành một trận cãi vã. Còn cô gái, dĩ nhiên, không thấy như vậy. Với phụ nữ, tình yêu luôn là ưu tiên hàng đầu.”
“Lẽ nào tôi không biết?” Đại úy Hale trầm ngâm nói.
“Đàn ông,” Poirot tiếp tục, “và đặc biệt là giới văn nghệ sĩ… họ khác.”
“Nghệ thuật!” Viên đại úy thốt lên đầy khinh miệt. “Nói gì cũng chỉ xoay quanh Nghệ thuật! Tôi không hiểu và sẽ chẳng bao giờ hiểu được nó! Ông nên nhìn thấy bức tranh Crale đang vẽ ấy. Méo mó vẹo vọ. Ông ta khiến cô gái trông như đang bị đau răng, còn bờ tường răng cưa thì xiêu vẹo. Trông chả đẹp đẽ gì, cả bức tranh ấy. Tôi chẳng thể giữ hình ảnh đó ra khỏi đầu suốt một thời gian dài sau đó. Thậm chí còn mơ thấy nó. Mà hơn thế nữa, bức tranh ấy tác động tới thị lực của tôi, tôi bắt đầu nhìn tường răng cưa lẫn tường bình thường và mọi thứ như là trong bức tranh đó. Phải, cả phụ nữ nữa!”
Poirot mỉm cười. Ông nói. “Dù ông không nhận ra, nhưng ông đang thừa nhận sự xuất chúng trong tranh của Amyas Crale đấy.”
“Vớ vẩn. Sao họa sĩ họ không thể về một thứ gì đó trông tử tế và dễ thương nhi? Sao cứ phải cố hết sức để tìm kiếm cái xấu xí?”
“ Mon cher Bạn tôi ơi , với vài người, họ thấy cái đẹp ở những chốn lạ thường.”
“Cô gái ấy rất xinh đẹp, phải,” Hale nói. “Trang điểm đậm xì và ăn mặc hở hang. Con gái con lứa như thế thật chẳng ra thể thống gì. Và xin nhắc ông nhớ, khi đó cách nay đã mười sáu năm. Giờ thì chẳng ai nghĩ gì về việc đó. Nhưng hồi trước… ừ thì, tôi bị sốc. Quần với sơ mi vải bố, hở cổ… và hình như chẳng còn gì khác nữa!”
“Có vẻ như ông nhớ những chi tiết này kỹ nhỉ,” Poirot lẩm bẩm đầy tinh quái.
Đại úy Hale đỏ mặt. “Tôi chỉ nói ra ấn tượng mình có thôi,” ông chua chát nói.
“Phải… phải,” Poirot dịu dàng đáp. Ông tiếp tục hỏi. “Vậy có vẻ như hai nhân chứng chính chống lại bà Crale là Elsa Greer và Philip Blake phải không?”
“Phải. Họ rất dữ dội, cả hai người họ. Nhưng bà gia sư cũng được công tố gọi lên nữa, và những lời bà ta nói có trọng lượng hơn cả hai người kia. Bà ta hoàn toàn theo phe của bà Crale, ông thấy đấy. Bất bình thay cho bà Crale. Nhưng bà ta là một người trung thực và đã thành thật đưa ra mọi lời chứng của mình mà không hề tìm cách tránh né giảm nhẹ.”
“Còn Meredith Blake?”
“Ông ta rất buồn vì chuyện này, tội nghiệp. Mà cũng phải thôi! Ông ta tự trách bản thân vì đã bào chế thứ thuốc ấy, bên pháp y cũng trách ông ta việc đó. Coniine và các muối chiết xuất ancaloit được liệt dưới Mục I trong Danh mục chất độc. Ông ta bị chỉ trích ghê lắm. Blake là bạn của cả hai bên, và chuyện đó khiến ông ta suy sụp kinh khủng, chưa kể việc là một người sống ở nơi điền viên lành xa chốn đông người bỗng một ngày bị ném ra trước mắt bàn dân thiên hạ.”
“Em gái của bà Crale có ra làm chứng không?”
“Không. Không cần thiết. Cô bé không có mặt ở đó khi bà Crale đe dọa chồng mình, và cô bé cũng chẳng thể cung cấp điều gì đặc biệt hơn mà chúng tôi không thể lấy được từ người khác. Cô bé thấy bà Crale đi đến tủ lạnh và lấy ra chai bia và, dĩ nhiên, bên Biện hộ đã có thể yêu cầu cô bé nói rằng bà Crale mang chai bia thẳng đến chỗ ông ta mà không đụng gì đến nó. Nhưng chi tiết ấy không liên quan vì chúng tôi chưa bao giờ xác nhận chất coniine có trong chai bia.”
“Làm sao bà ấy bỏ thuốc vào cốc khi có hai người quan sát được?”
“Ừ thì, trước hết, họ không hề quan sát. Có thể nói, ông Crale đang vẽ – nhìn vào tấm toan và người mẫu của mình. Còn cô Greer đang làm mẫu, ngồi gần như là xoay lưng lại với chỗ bà Crale đang đứng, và mắt thì nhìn qua vai ông Crale.”
Poirot gật đầu.
“Như tôi đã nói, cả hai người không ai quan sát bà Crale cả. Bà ấy để chất độc trong một cái ống – cái ống dùng để bơm mực trong mấy cây bút máy ấy. Chúng tôi tìm thấy những mảnh vụn của cái ống đó trên đường dẫn lên ngôi nhà.”
Poirot lẩm bẩm. “Ông có câu trả lời cho mọi thứ.”
“Thôi nào, ông Poirot! Chẳng có thành kiến gì đâu. Bà ấy dọa sẽ giết ông chồng. Bà ăn cắp chất độc từ phòng thí nghiệm. Cái lọ rỗng được phát hiện trong phòng bà và không có ai chạm vào nó trừ bà. Bà chủ ý mang bia ướp lạnh xuống cho chồng – một chuyện lạ đời, nhắc mới nhớ, khi ông nhận ra rằng họ đang cãi nhau…”
“Một chuyện rất lạ lùng. Tôi có để ý đến điểm này rồi.”
“Phải. Có hơi lộ liễu quá. Tại sao bà ấy bỗng nhiên lại tử tế như thế? Ông ta phàn nàn về vị bia, và coniine có mùi rất ghê. Bà Crale tính toán sao cho mình tìm thấy cái xác và nhờ người đi cùng đi gọi điện thoại. Tại sao? Để bà có thể lau cái chai và cái cốc rồi ấn dấu tay của ông ta lên đó. Sau đó bà có thể bảo rằng chồng mình hối hận và tự sát. Chuyện cứ như thật.”
“Quả tình là suy tính không được thấu đáo lắm.”
“Không hề. Tôi thì thấy bà ấy còn không thèm suy tính gì cơ. Hận thù và ghen tuông đến mù quáng. Bà chỉ có một suy nghĩ là giết ông ta. Sau đó, khi chuyện đã rồi, khi bà nhìn thấy ông chồng ngồi chết ở đó… Chà, đến lúc đó, tôi nghĩ bà chợt ngộ ra việc mình đã làm chính là sát nhân, và sát nhân thì sẽ bị treo cổ. Và trong tình thế tuyệt vọng, bà chỉ có thể nghĩ ra một cách thoát thân, chính là tự sát.”
Poirot nói. “Ông nói nghe thật có lý, phải. Bà ấy có thể nghĩ như thế.”
“Nhìn theo một hướng thì vụ này là một vụ có tính toán, nhưng nhìn theo hướng khác thì lại không phải vậy,” Hale nói. “Tôi không tin là bà Crale đã lên kế hoạch kỹ lưỡng mọi chuyện, ông biết đấy. Cứ thế mà nhắm mắt đâm lao thôi.”
Poirot lẩm bẩm. “Tôi tự hỏi…”
Hale tò mò nhìn viên thám tử, hỏi. “Liệu tôi đã thuyết phục được ông rằng đây là một vụ rất đơn giản chưa?”
“Gần thôi. Chưa hẳn. Còn một hai điểm kỳ lạ nữa…”
“Ông có thể gợi ý một đáp án khác hợp lý hơn chăng?”
Poirot nói. “Những người khác làm gì sáng hôm đó?”
“Chúng tôi đã điều tra họ rồi, tôi đảm bảo với ông. Chúng tôi đã kiểm tra tất cả mọi người. Không ai có cái mà ông có thể gọi là bằng chứng ngoại phạm cả, với một vụ hạ độc thì không bao giờ. Tại sao, vì một kẻ có ý định giết người hoàn toàn có thể đưa cho nạn nhân của mình một viên thuốc độc ngày hôm trước, bảo nạn nhân đó là thuốc đặc trị rối loạn tiêu hóa và dặn ông ta phải uống trước bữa trưa, sau đó thì trốn đến một góc nào đó của Anh quốc lắm chứ.”
“Ông không nghĩ vụ này có khả năng là như vậy à?”
“Ông Crale không bị rối loạn tiêu hóa. Và dù thế nào thì tôi cũng không thấy như vậy là khả thi. Tôi đồng ý là ông Meredith Blake có thể đã gợi ý vài món thuốc bậy bạ mà ông ta bào chế ra, nhưng tôi không nghĩ ông Crale lại thử chúng. Và nếu có thì hẳn ông ta đã kể lại và đùa về chuyện đó rồi. Vả lại, tại sao ông Meredith phải muốn giết ông Crale? Mọi thứ đều chỉ ra rằng họ rất thân thiết. Tất cả mọi người đều vậy. Ông Philip Blake là bạn thân của ông Crale. Cô Greer yêu ông ta. Bà Williams rất không bằng lòng với ông ta, theo tôi thấy, nhưng mâu thuẫn đạo đức không có nghĩa là phải hạ độc. Cô Warren nhỏ hay cãi nhau với anh rể, cô bé đang ở tuổi nổi loạn, chỉ vừa đi học, theo tôi nhớ, nhưng ông ta rất thích cô bé và cô bé cũng thế. Ông biết đấy, ở ngôi nhà ấy, cô bé được đối xử bằng một sự ân cần và quan tâm đến lạ thường. Ông có thể đã nghe lý do. Cô bé bị thương nặng khi còn nhỏ, bởi chính bà Crale khi bà ấy bị cơn hờn giận làm mờ mắt. Việc đó cũng cho thấy bà ấy là một người khá dễ mất bình tĩnh, phải không? Tấn công một đứa bé, và làm nó bị tật cả đời!”
“Việc đó cũng cho thấy,” Poirot trầm ngâm nói, “rằng Angela Warren có lý do để ôm hận với Caroline Crale.”
“Có thể, nhưng không phải với Amyas Crale. Và dù sao, bà Crale cũng rất yêu thương em gái mình – cho cô bé một mái nhà khi cha mẹ cô bé chết, và, như tôi nói, đối đãi với nó vô cùng tử tế – đến mức có thể nói là nuông chiều quá mức. Cô bé rõ ràng là rất thích ông Crale. Họ không cho cô bé đến tòa án và hết sức bảo vệ cô bé khỏi vụ xét xử, bà Crale kiên quyết yêu cầu chuyện đó, theo tôi biết. Nhưng cô bé rất buồn và mong muốn được gặp chị mình trong tù. Caroline Crale không đồng ý. Bà ấy nói những chuyện như vậy có thể làm ảnh hưởng đến tâm lý cô bé cả đời. Bà đã thu xếp cho cô bé được ra nước ngoài học.”
Ông Hale nói thêm. “Cô Warren về sau trở thành một phụ nữ phi thường. Đi đến những vùng đất lạ. Giảng dạy tại Hội Địa lý Hoàng gia… vân vân.”
“Và không ai còn nhớ vụ án ấy?”
“Chà, cũng một phần nhờ cái tên khác nhau. Họ thời con gái của hai người không giống nhau. Cùng mẹ mà khác cha. Nhũ danh của bà Crale là Spalding.”
“Bà Williams này là gia sư cho cô con gái hay Angela Warren?”
“Cho Angela. Đứa con gái có một bà vú, nhưng con bé cũng từng được bà Williams dạy vài bài học đơn giản mỗi ngày, theo tôi biết.”
“Con bé ở đâu lúc vụ án xảy ra?”
“Con bé với bà vú đi thăm bà. Một Phu nhân tên Tressillian. Một góa phụ đã mất hai cô con gái và rất thương con bé.”
Poirot gật đầu. “Tôi hiểu.”
Hale tiếp tục. “Về hoạt động của những người khác trong ngày xảy ra vụ giết người, tôi có thể thuật lại cho ông.
“Cô Greer ngồi ngoài hiên gần cửa sổ thư viện sau bữa sáng. Ở đó, như tôi đã nói, cô ta nghe thấy Crale và vợ cãi nhau. Sau đó, cô ta theo Crale xuống vườn Đại Bác và ngồi làm mẫu cho ông ta đến giờ trưa, đôi lúc tạm dừng để giãn cơ.
“Philip Blake sau bữa sáng thì ở trong nhà, nghe lỏm được một phần vụ cãi nhau. Sau khi Crale và cô Greer đi khuất, ông ta đọc báo đến khi anh trai mình gọi điện. Rồi ông ta đi xuống phía bãi biển để gặp anh. Họ cùng đi bộ lên, ngang qua vườn Đại Bác. Cô Greer vừa đi lên nhà để khoác thêm áo vì thấy hơi lạnh, còn bà Crale thì đang ở cùng chồng để bàn bạc chuyện gửi Angela đi học.”
“À, một cuộc trò chuyện hòa giải.”
“Chà, không hòa giải gì lắm đâu. Crale gần như là hét vào mặt bà ấy, theo tôi hiểu. Ghét bị làm phiền với những chuyện gia đình. Tôi cho rằng bà ấy muốn làm rõ mọi chuyện nếu như họ có chia tay.”
Poirot gật đầu.
Hale tiếp tục. “Hai anh em Blake trao đổi vài lời với Amyas Crale. Rồi cô Greer trở lại để tiếp tục công việc, còn Crale lại cầm cọ lên, rõ là muốn đuổi bọn họ đi. Họ hiểu ý và đi lên nhà. Nhân tiện, khi họ ở vườn Đại Bác, Crale có càm ràm việc tất cả đống bia ở dưới đó đều ấm cả, nên vợ ông ta đã hứa sẽ đem vài chai bia lạnh xuống cho chồng.”
“À ha!”
“Chính xác – À ha! Bà ấy thật ngọt ngào và dễ chịu làm sao. Họ đi lên nhà và ngồi ngoài hiên. Bà Crale cùng Angela Warren mang bia xuống.
“Sau đó, Angela Warren đi tắm biển và Philip Blake đi cùng cô bé.
“Meredith Blake mang theo một chiếc ghế ra khu đất trống ngay phía trên vườn Đại Bác. Ông chỉ thấy được cô Greer ngồi làm mẫu trên bức tường răng cưa và nghe giọng cô ta và Crale trong lúc họ trò chuyện. Ông ngồi đó và nghĩ về vụ coniine. Ông vẫn lo về vụ đó và chưa biết phải làm thế nào. Elsa Greer thấy Blake và vẫy tay chào. Khi chuông báo giờ trưa vang lên, Blake xuống vườn Đại Bác và cùng Elsa Greer trở lên nhà. Blake nhận thấy Crale trông rất lạ, theo lời khai, nhưng lúc đó ông chẳng nghĩ gì nhiều cả. Crale là kiểu người chẳng bao giờ ốm, vì thế không ai nghĩ ông ta ốm cả. Mặt khác, Crale hay có thái độ bực dọc và chán nản tùy theo việc bức tranh ông ta đang sẽ có được như ý muốn hay không. Vào những lúc như thế thì nên để Crale một mình và càng ít lời với ông ta càng tốt. Khi ấy hai người họ đã làm như vậy.
“Còn những người khác, người hầu bận rộn làm việc nhà và nấu bữa trưa. Bà Williams dành một khoảng thời gian buổi sáng ở trong phòng học để sửa bài tập. Sau đó bà ta mang vài món đồ cần khâu vá ra ngoài hiên. Angela Warren đi lòng vòng trong vườn gần hết buổi sáng, trèo cây và ăn, ông biết một cô bé mười lăm tuổi thì thế nào rồi đấy! Mận, táo xanh, lê, vân vân. Sau khi cô bé trở lên nhà thì, như tôi đã nói đấy, cô bé đi xuống bãi biển tắm cùng Philip Blake trước khi ăn trưa.”
Đại úy Hale ngừng lại. “Giờ thì,” ông nói đầy thách thức, “ông có thấy gì lạ thường trong đó không?”
Poirot nói. “Không hề.”
“Vậy thì tốt!”
Những từ đó tỏ rõ thái độ của viên đại úy.
“Nhưng đồng thời,” Hercule Poirot nói. “Tôi sẽ tự mình chứng minh lấy. Tôi…”
“Ông định làm gì?”
“Tôi sẽ đi gặp năm người này, và tôi sẽ nghe câu chuyện của từng người bọn họ.”
Đại úy Hale thở dài buồn bã. Ông nói. “Ông điên rồi ông bạn! Những câu chuyện của họ sẽ không bao giờ khớp với nhau! Ông không biết sự thật cơ bản ấy sao? Không có ai nhớ một sự việc y hệt nhau. Huống hồ là lâu lắm rồi! Trời ạ, ông sẽ có năm câu chuyện về năm vụ án mạng khác nhau!”
“Tôi,” Poirot nói, “chính là muốn thế đấy. Như vậy sẽ có ích lắm.”