Tôn giáo và Khoa học chống đối nhau chăng? Đã có nhiều ý kiến nói rõ những khác nhau giữa hai bên.
Tôn giáo, cũng như một số nền triết lý, đi vào bản chất của sự vật, của cuộc đời, giải thích cái nguyên nhân đầu tiên và cuối cùng của vũ trụ, vạn vật, đi sâu vào cái bản chất, bản thể của hiện thể; trong lúc Khoa học thực nghiệm chỉ để ý đến những hiện tượng, những thực tại, theo dõi và tìm ra những qui luật nói lên mối quan hệ giữa chúng. Đối tượng của tôn giáo là con người với cuộc sống của nó và chủng loại, cái vô hình, cái tâm linh, cái tuyệt đối; trong lúc đối tượng của khoa học là vũ trụ khách quan, cái thực tại, cái hữu hình, cái tương đối.
Tôn giáo hướng đến “cái sẽ phải là”, Khoa học chú ý đến “cái đang là”, cái hiện hữu. Tôn giáo đi từ một thực thể tiên thiên, phổ quát, chiếu rọi vào cõi hoạt sinh, để giải thích lý do hiện hüu của hiện thể, của các pháp, cùng con đường phải đến, phải về của cõi tại thế; khoa học, ngược lại, đi từ cõi tồn sinh hiện hoạt để dần dà tìm đến cái chung, cái tổng quát.
Tôn giáo đi từ cái Nhất thể đến cái đa tạp, Khoa học đi từ cái đa tạp đến cái khái quát, nhất nguyên.
Phương pháp của khoa học là quan sát, phân tích, tổng hợp, thí nghiệm, chứng minh, hoàn toàn thuần lý; phương pháp của tôn giáo là trực nhận, trực cảm, trực giao và đức tin. Lý trí chỉ dùng minh chứng chứ không giúp tìm ra được chân lý.
Tôn giáo nhằm cứu rỗi linh hồn, phục vụ cái phần tâm linh của con người; khoa học nhằm phục vụ đời sống, tạo ra mọi điều kiện giải quyết nhu cầu thực tế. Tôn giáo lo cho “con người tín ngưỡng”, khoa học lo cho “con người tồn sinh”.
Do những khác nhau về đối tượng, phương pháp và mục đích trên, mà giữa hai bên hầu như luôn luôn xung đột, nếu không thì cũng là hai lãnh vực riêng biệt, hai sinh hoạt riêng biệt của con người. Tôn giáo tìm nơi những lệch lạc, sơ hở, những điều khoa học không (hay chưa) khám phá, giải thích được, để biện minh cho mình. Khoa học lại luôn luôn chất vấn, đòi hỏi tôn giáo phải minh chứng cái thực thể căn nguyên về lý do hiện hữu.
Mỗi phát minh, phát kiến của khoa học được tôn giáo dùng để minh thị cho điều tôn giáo đã nói, hoặc để bài bác vì lý do đạo đức, hoặc để chỉ trích về sự phá hoại của khoa học đối với nhân sinh. Khoa học lại công kích tôn giáo về cái Đức Tin mù mờ, huyền hoặc, phủ nhận ý chí tự do sáng tạo của con người. Nhưng cả hai bên vẫn chưa tranh thủ được phần đúng hoàn toàn về phía mình và cũng chưa phối kết với nhau được.
Khoa học vẫn bước những bước thần tốc và tôn giáo vẫn hưởng thụ những “của cải” do khoa học làm ra để bành trướng, phát triển. Tôn giáo vẫn tồn tại, càng lúc càng phổ cập vào quần chúng, giữa lòng thời đại mà tư tưởng khoa học hầu như ngự trị, thắng thế. Cả hai bên đều là hai mặt của cuộc sống, hai khả năng của con người.
Tôn giáo là thứ tư tưởng suy niệm, hướng nội, quy tâm. Khoa học là thứ tư tưởng qui hoạch, phóng ngoại, thực dụng. Cả hai không hề chống đối, mâu thuẫn nhau. Cả hai đều cùng đối tượng phục vụ: con người và cuộc đời. Cả hai cùng một cứu cánh: đưa con người đến cảnh an lạc, hằng vui, thoát khỏi mọi thiếu thốn, tội lỗi, đau khổ. Cả hai đều cùng nằm trong Đạo. Tôn giáo là tiếng nói của Đạo. Khoa học là phương thế thị hiện Đạo. Tôn giáo hướng về tâm linh. Khoa học đi vào cơ năng. Tôn giáo giải thích ý nghĩa hiện hữu. Khoa học phục vụ sự tồn tại của cấu trúc hiện thể. Khoa học quan sát, thí nghiệm, phát kiến, phát minh nhằm “hiện thực hóa” những cái “cụ thể chưa hiện thực”. Cái “cụ thể mà chưa hiện thực” đó là những cái mà tôn giáo đề cập.
Nhìn vào quá trình phát triển của khoa học, ta thấy khoa học, sau giai đoạn ngỡ mình là độc tôn, vạn năng, dần dần tiến đến những khám phá phủ nhận cái “tất định qui luật” cứng ngắc lâu nay. Càng đi vào lãnh vực năng lượng và nguyên tử, .... khoa học càng phát hiện tính cách “bất liên tục” của cấu trúc vật chất, tính cách “xác suất” của những định đề từng được khẳng định trước đây. Trên diễn trình tiến hóa chung của vạn hữu, cái thực tại mà ta bắt gặp, khám phá và được khoa học khẳng định, thực ra chỉ là một dạng hiện hữu, một trạng thái thể hiện của cái “tính khả thể” của sự vật hay hiện thể, “Vật chất là cái phi-vật-chất đang chuyển động” (37), do đó “không thể tưởng tượng ra một sự vật mà không nêu ra một hoạt động nào đó của sự vật” (38). Cái “phi- vật-chất đang chuyển động”, cái “hoạt động” nào đó của sự vật, để sự vật được nhìn là sự vật, đấy là cái năng lực chuyển hóa của sự vật, ta có thể gọi đấy là cái năng lực trên tiến trình “trở thành tồn thể” (le Devenir être) của từng hiện thể.
Hiện thể không là một hiện vật chết, bất động, ù lì trong một trạng thái bất di, mà mang chứa nơi mình một sự “tự thực hiện chính mình trong quá trình thời gian”, nói theo M. Heidegger. Cái ta gọi là “hiện tượng” không phải chỉ là cách thế hiện bày của sự vật đến với ta, do ta nhận biết, mà còn là - và đấy là phần quan trọng - cái tác động “tự lộ liễu, tự tiết lộ, tự biểu thị, tự phơi mở” của từng sự vật, bên cạnh mọi sự vật khác, để thông hiểu chính mình. Khoa học chú ý đến phần đầu, nghĩa là quan sát, tìm hiểu, thí nghiệm, để ghi nhận những sự vụ thường hằng xảy ra, trong những điều kiện nhất định, mà hình thành những qui luật tương giao bất biến giữa các vật thể. Tôn giáo chỉ chú ý đến phần sau, nhưng không có một phương pháp để thông diễn.
Cái tác động “tự thể hiện chính mình trong quá trình thời gian” là hoạt động, là “hành động” của từng hiện thể. Mỗi hoạt động như thế làm cho hiện thể tự biểu thị, tự lộ liễu. Nhà khoa học ghi nhận cái biểu thị, cái lộ liễu đó trong thực tại để tìm hiểu nguyên nhân, kết quả cùng lợi ích nó cống hiến cho ta. Nhà tôn giáo cho rằng mọi biểu thị, hiện bày của hiện thể là do yếu tính tự thân của nó để tuân theo cái trật tự an bài tiền định, nghĩa là tuân theo cái ý chí tối thượng của Thượng Đế. Nếu ta đồng ý với M. Heidegger: “Hiện thể chỉ có thể tự thông hiểu mình và tự biểu lộ ra bằng sự tự thực hiện và bằng sự thông hiểu mà thôi” và “thời gian là chính tính thể nó (hiện thể con người), bằng chính sự thực hiện của nó” (39) thì ta có thể lý giải được rằng mỗi sự vật hiện hữu là hiện hữu để nó tự thực hiện nó. Mỗi hiện tượng do ta ghi nhận được nơi vật thể là một cách thế, một dạng hiện hữu của nó, do hoạt động “tự thực hiện” kia tạo ra. Sự “tự thực hiện” đó của mỗi vật thể không là một hiện bày ngẫu nhiên, hời hợt, ngắn ngủi, mà là kinh qua một quá trình lịch sử, nghĩa là qua sự “tự thực hiện” đó, vật thể tự trải mình, tự phơi mình, tự xuất hiện ra trong từng sát na tại thế, thể hiện cái nghiệp của nó trong môi trường hiện hữu.
Sự “tự thực hiện” đó, cũng theo M. Heidegger, ta có thể hiểu là “hoạt động, hành động” (agir), điều mà M. Heidegger đã nói ngay trong những dòng đầu của “Thư về nhân bản thuyết” gởi cho Jean Beaufret: “Chúng ta chưa suy tư rốt ráo về tính thể của hành động. Người ta thường nhận thức hành động như là sự sản sinh ra một kết quả mà thực tại của nó được đánh giá thế này thế nọ tùy thuộc vào lợi ích nó cống hiến. Nhưng tính thể của hành động là hoàn thành. Hoàn thành có nghĩa phơi trải một sự vật trong toàn bộ viên dung của tính thể nó, đạt đến cái toàn bộ viên dung đó. Chỉ có thể được hoàn thành, đặc biệt riêng đối với cái gì đã “là”. Cái “là” trước tiên hết, nhiên như là Tồn thể” (40). Vậy, sự “tự thực hiện” của từng sự vật là hành động của nó, và nó hành động là để “nó hoàn thành nó”. Mỗi sự vật mang chứa nơi mình cái yếu tính đó, cái mà dựa theo M. Heidegger, ta gọi là cái “khả thể tính” (le possible) của nó. Chính cái “khả thể tính” đã đun đẩy vật thể qua một diễn tiến “trở thành tồn thể”.
Các ngành khoa học trước đây chỉ mới chú trọng khai mở sự vật trong mục đích khai dụng chúng. Ngày nay, khoa học có khuynh hướng xa hơn: trong khi khai triển, mở phơi cái Nghiệp của từng sự vật, qua từng dạng hiện hữu của chúng, dần dần tiến đến khám phá những “chủ hướng tính” đã qui định nên quá trình tự thực hiện của chúng, nghĩa là cái diễn trình “trở thành tồn thể” nơi mỗi sự vật, vì “làm cho tự khai mở, viên dung một vật gì trong từ căn nguyên của nó, có nghĩa là làm cho nó là hữu thể” (41). Do trên quá trình đó “nên tinh thần khoa học không thể chỉ bằng lòng suy luận cái thường nghiệm hiện tại trong những nét nổi bật nhất mà phải suy tư về tất cả những khả tính có thể kinh nghiệm được... Cuối cùng, do từ những khả thể kinh nghiệm mà khoa vật lý toán học tìm cách thuyết minh. Trong lý thuyết đó, cái khả tính có thể gần sót với cái hiện thực, cái thực tại, như là một trường hợp đặc biệt của cái khả tính. Cái vọng dự đó có lẽ đã đánh dấu cho sự khuếch sung tư tưởng khoa học” (42).
Xét trên quá trình “trở thành tồn thể” đó, ta thấy rằng mỗi vật thể, mỗi hiện thể, cũng cùng một diễn trình “tự thực hiện mình”, “tự biểu thị mình”, “tự chứng về mình” để “tự hoàn thành mình”, chẳng khác diễn trình của Tồn thể (l’Être, hay Thượng Đế, hay Tâm chân như, hay Đạo thể) tự thoái tàng thành vô vàn sắc tướng để ý thức được chính mình.
Sự vật hiện hữu là để biểu thị ra với xung quanh (mỗi biểu thị đó là một hiện tượng) trong từng lúc của lịch sử nó, của cái Nghiệp của nó, để qua những biểu thị đó mà hiện hữu cho nó, với nó, nghĩa là tự thông hiểu nó. Mỗi dạng hiện hữu với xung quanh (tức hiện tượng) là một cơ hội để sự vật thể hiện chân tính của mình. Lịch sử một cái gì chỉ là chuỗi dài diễn biến những thể hiện cái Nghiệp của nó qua từng dạng hiện hữu. Đấy là tuân theo dòng dịch chuyển của Đạo mà con người cũng như vạn hữu đều nằm trong đó. (Xin xem phần: Thượng Đế - Đạo lý vận hành).
M. Heidegger, theo người viết, có lẽ đã làm một bước nghịch hành trong tư tưởng để người ta thấy lẽ Đạo chi phối vũ trụ, vạn vật. Ông công kích hệ thống siêu hình học truyền thống để triết lý từ bỏ quan điểm chủ quan duy thực dùng duy niệm một chiều, mà phối kết cả hai để tìm ra được cái ý nghĩa thực của hiện hữu, của cuộc sống, của diễn tiến nhân sinh và vũ trụ. Khoa học ngày nay đang đi vào chiều hướng đó. Vì thế ta thấy bao nhiêu quan điểm của các khoa học gia ngày trước lần lượt được bổ sung, mở rộng để phù hợp với cái thực tướng của hiện thể. Xin mượn lời của Gaston Bachelard khi nói về nền “cơ giới không Newton” (la mécanique non-newtonienne) để xác minh ý kiến trên: “Tóm lại, nếu người ta đứng trên cái nhìn tổng quát về những tương quan nhận thức luận của khoa học vật lý hiện đại và của nền khoa học không Newton, người ta thấy rằng những lý thuyết cũ không phải được mở rộng thành những lý thuyết mới mà chính là những lý thuyết mới đã bao gồm những lý thuyết cũ. Các thế hệ tri thức đã phát triển theo những bước liên tiếp lồng khớp vào nhau. Từ tư tưởng không Newton đến tư tưởng Newton, không hề có mâu thuẫn mà chỉ có thu hút, kết hợp thôi. Chính cái thu hút, kết hợp đó cho phép ta thấy rằng cái hiện tượng đã bị câu thúc bên trong cái thực thể bao trùm nó, cái trường hợp riêng bị câu thúc bên trong cái trường hợp chung, để không bao giờ cái riêng có thể phơi bày được trọn vẹn cái chung. Từ nay, sự nghiên cứu, tìm hiểu về hiện tượng được chấn khởi do từ một hoạt động hoàn toàn cơ sở trên thực thể, chính toán học đã mở những nẻo đường mới cho kinh nghiệm” (43).
Xem thế, ta thấy Tôn giáo và Khoa học không là hai lãnh vực đối lập, riêng rẽ nhau, không thể không tương hợp nhau.
Tôn giáo đặt vấn đề cho khoa học tìm hiểu, khám phá; và khoa học càng lúc càng chứng minh những tiền đề, những chân lý mà tôn giáo đề cập, xác quyết mà không thể luận giải tường minh. Tôn giáo cũng như triết học mở nẻo đi cho khoa học, hướng dẫn khoa học thắc mắc, tìm tòi sau bao lần phi bác, đả kích.
Tôn giáo là tiếng nói của Đạo; khoa học là phương tiện thể hiện Đạo, thể hiện dòng đi của Đạo vào cuộc đời.
Khoa học đã làm sáng tỏ những điều tôn giáo nói, đã giúp cho một số giới răn, giới cấm của tôn giáo được thực hiện mà bao lời thuyết giảng, bao kinh kệ không đủ sức mạnh ngăn cản tội lỗi của con người. Không phải do những thành quả của khoa học, tức kỹ thuật áp dụng vào cuộc sống, mà con người bớt đi nhiều sai lầm, nhiều hành động trái với đạo lý, với các tín điều của tôn giáo sao? Bao nhiêu điều sai trái như trộm cướp, gian dối, quỵt lường... chẳng đã do những khí cụ, máy móc, những chế tác của khoa học kỹ thuật mà bớt đi nhiều sao? Khoa học kỹ thuật chẳng đã nâng từng dạng hiện hữu của con người, của xã hội mỗi lúc một lên cao sao? Khoa học kỹ thuật chẳng đã ảnh hưởng đến chánh trị, học thuật, kinh tế... để đổi thay hình thái tổ chức xã hội đấy sao? Khoa học kỹ thuật không liên hệ đến tôn giáo, không do tôn giáo mà phát triển, nhưng những hiện tượng do khoa học kỹ thuật tạo ra đã mặc nhiên thực hiện, giúp con người thực hiện, những điều tôn giáo ước mong cho con người, cho xã hội loài người. Chủ ý của khoa học kỹ thuật không là đả phá, diệt trừ tội lỗi, nhưng thành quả của khoa học kỹ thuật đã mặc nhiên khiến cho tội lỗi mất bớt đi điều kiện phát sinh.
Dĩ nhiên, khoa học kỹ thuật cũng tạo ra nhiều đau khổ, tội lỗi mới, và đấy là trách nhiệm của tôn giáo làm thế nào để khoa học kỹ thuật đi đúng theo vận hành của lẽ Đạo. Trách nhiệm đó không là đả kích, phản đối, dè bỉu, ta thán hoặc khuyến cáo, mà phải là làm sao cho lẽ Đạo được sáng ra, nghĩa là “mở rộng Đạo”, giúp khoa học kỹ thuật càng lúc càng đi đúng hướng với yêu cầu của nhân sinh, không chỉ riêng về mặt thực tiễn mà còn về mặt tâm linh hướng thượng của con người, Khoa học có thể xem là những đứa con ngoan cố, lì lợm, bướng bỉnh, tung tăng, ngang dọc, tự hào về những thành tựu, thành công của mình nhưng thực ra đang trên lộ trình của lẽ Đạo mà tôn giáo đã thông đạt theo lối riêng của mình.
Đến nay, mặc dù giữa hai bên vẫn còn những khác biệt, chống đối, vẫn đi theo ngã riêng chuyên biệt của mình, mặc dù nhân gian vẫn còn cấu xé nhau trong những sai biệt trầm trọng, nhưng nhìn suốt diễn trình sinh hóa của nhân loại, ta đã thấy những dấu hiệu đưa khoa học và tôn giáo đến một tương thuận tròn đầy, vì cùng đồng quy về lẽ Đạo.