Trước nay, tư tưởng chúng ta bị chi phối bởi hai hệ thống ý thức đều cùng có tính khắt khe và qui luật:
- Một bên thuần túy duy linh, trừu tượng, dựa trên căn bản thần học, tạo nên một thứ “Định mệnh thuyết siêu hình” nghiêm mật;
- Một bên thuần túy cơ năng, dựa trên những tương quan bất biến giữa các sự vật, tạo nên một thứ “Định mệnh thuyết tự nhiên” (hay “Định mệnh thuyết lịch sử”, đứng về mặt xã hội) cũng vô cùng nghiêm mật.
Định mệnh thuyết siêu hình rõ ràng nhất nơi các tôn giáo, và nơi một số nền triết thuyết duy tâm, cho rằng mọi sự vụ thế gian, cả vũ trụ, vạn vật được an bài theo một lẽ tiền định, bất khả cải đổi. Mỗi người bị ghim vào một cái Nghiệp; cuộc sống luôn diễn tiến trong vòng nghiệp chướng, luôn luôn chịu quả báo, luân hồi trầm luân trong đau khổ, tội lỗi, và chỉ được giải thoát do một ơn Thiên triệu. Trần gian là trường diễn xuất tấn kịch do Thượng Đế đạo diễn. Nhưng không phải ai cũng được Thượng Đế cứu rỗi. Sự cứu chuộc của Thượng Đế chỉ đến với một số người do Thượng Đế chọn.
Saint Augustin chia nhân loại ra làm hai hạng người: hạng người được Chúa chọn (élus) và hạng người khác bị gạt bỏ (réprouués) (44). Vì thế, phải có đức tin nơi Thượng Đế, dâng mình cho Thượng Đế để được tan vỡ mình hoàn toàn vào Thượng Đế, tuân phục hoàn toàn tuyệt đối vào mọi lời răn khuyên, rao giảng của Ngài để hy vọng được Ngài sắp xếp vào hàng ngũ những người được chọn.
Bên Đông phương, quan niệm về một đấng Trời quyền năng, sáng tạo và sắp xếp mọi việc thế gian, rất phổ biến nơi đại đa số quần chúng. Quan niệm số kiếp lại còn thịnh hành. Mỗi người một số phận, số phận hôm nay lại do những cái quả gây ra từ kiếp trước...
Những quan niệm trên diễn dịch từ một số tôn giáo lớn có tác dụng an ủi, trấn an lòng người trước những nghịch cảnh, bất trắc, điêu linh, thống khổ, nhưng không thể giải thích được. Các quan niệm đó đã “thần hóa” Thượng Đế, Chúa, Phật... lôi kéo con người mê man trong một đức tin thần bí, có thể có tác dụng giải thoát cá thể bằng một công phu tu chứng trong cách tu thân, xử thế thánh thiện ở đời, nhưng khó lòng ứng dụng vào tổ chức nhân sinh. Do đó, người tin đạo, theo đạo khá đông, nhưng áp dụng Đạo vào Đời hầu như chưa có thành quả nào mỹ mãn.
Trong lúc đó, Định mệnh thuyết tự nhiên của các nhà duy vật chủ nghĩa và khoa học thực nghiệm lại chỉ cơ sở trên sự kiện thực tại để giải thích vạn vật, và y cứ vào những qui luật tự nhiên tìm ra, thiết dựng nên những quan niệm về chánh trị, kinh tế, xã hội... để giải thích nhân sinh. Định mệnh thuyết tự nhiên hoàn toàn chỉ chú ý đến tính cách cơ năng của cuộc sống, tin tưởng thuần túy vào lý trí con người, phát triển cái tư tưởng qui hoạch, thực nghiệm, đưa đến những thành công đồ sộ về khoa học kỹ thuật, về tổ chức hợp-lý-hóa, nhưng lại luôn luôn tạo nên bất an, thảng thốt cho con người.
Nền văn minh duy lý, nền văn minh kỹ thuật cơ giới - nền văn minh Faustienne, nói theo Oswald Spengler - đang là một đe dọa lớn cho con người và cho cuộc sống con người. Tiện nghi cuộc sống có nhiều thêm, khả năng chinh phục ngoại giới có lớn lao và mầu nhiệm thêm nhưng con người lại rẫy rụa, khổ đau do chính bởi những phát minh, sáng tạo đó, và phần sống tâm linh càng thêm nghèo nàn, nhạt nhẽo.
Lẩn quẩn trong hai định mệnh thuyết đó, ta đặt câu hỏi: Tự do là gì? Tự do của con người ở đâu? Tự do vốn là cái bản nhiên mà con người tư hữu ngay từ lúc được sinh ra, hay tự do chi có giữa những con người với nhau, nghĩa là tự do là sản phẩm của xã hội.
Tự do là quyền của mỗi người được hành động hoàn toàn theo ý chí, ý muốn của mình, hay chỉ là một tự do chọn lựa giữa những sự vụ xảy đến cho con người ?
Nếu tự do là quyền được làm theo ý muốn, sở thích của mình thì từ ngay cái “ý muốn” của ta cũng đã không có tự do rồi, vì đã phải do những động cơ, những nguyên nhân nào đó đun đẩy. Tôi muốn giàu vì tôi đang nghèo; tôi muốn sung sướng vì tôi đang khổ cực... Và liệu cái ý muốn của ta có được thỏa mãn không?
Muốn ý muốn ta được thành tựu, ta phải vận dụng, đem mọi khả năng, tạo bao điều kiện để tranh thủ, thể hiện; mọi hoạt động đó đưa ta đến đối diện, đương đầu với bao trở ngại, khó khăn, cản ngăn tự do của ta, và làm tê liệt luôn cả ý muốn của ta nữa. Câu tục ngữ hay châm ngôn “Muốn là được” (Vouloir, c’est pouvoir) chỉ là câu nói khuyến khích, động viên ý chí chớ không để nói về tự do.
Khi nói “Tôi muốn” là mặc nhiên ta nói với người nào đấy, với sự vụ, sự kiện nào đấy đang phá khuấy ta, gây trở ngại cho ta. Khi nói “Tôi muốn” là ta phát biểu một đòi hỏi, một thèm khát tự do, chứ không hẳn là thể hiện tự do. Nếu chỉ nói “Tôi muốn” là có tự do rồi thì cái “tự do” đó chẳng công dụng, chẳng ích lợi gì vì hằng ngày ta có thể luôn miệng nói “tôi muốn”. Một điều nữa, động từ “muốn” là một ngoại động từ (verbe transitif), đòi hỏi một túc từ (complément) theo nó: “Tôi muốn gì, tôi muốn thế nào, tôi muốn ra sao...”: tôi muốn cưới vợ, tôi muốn yên lặng, tôi muốn nước nhà được độc lập... Như vậy, tự do chỉ có khi có tiếp cận hoặc với sự vật, sự kiện thiên nhiên, hoặc với người khác, với xã hội.
Như vậy, tự do là sản phẩm của xã hội ư? Không. Xã hội không tạo ra tự do, xã hội chỉ là một môi trường để con người thể hiện tự do; xã hội chỉ tạo điều kiện để tự do của con người được thể hiện, được bảo đảm. Trong xã hội dân chủ, con người dễ thực hiện tự do hơn trong xã hội độc tài, cái khác nhau giữa hai thể chế chánh trị đó, trước tiên là ở đây.
Có người quan niệm một thứ “Tự do nội tại”, “Tự do bên trong” con người (liberté intérieure). Như thế có nghĩa là “tôi tự do với tôi” thôi, “tôi tự do giữa tôi và tôi”. Thật khó lòng hiểu được thứ tự do này về mặt xã hội.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp, thứ tự do này được thể hiện: người tù trong nhà giam tự do nghĩ ngợi, sáng tác, sáng tạo lặng lẽ, âm thầm trong tâm trí, những kẻ hối hận, sám hối, cầu nguyện trong lòng mình hay nuôi dưỡng một viễn mơ, một ý tình, một cảm giác từ tự thân mà không thể hiện ra bên ngoài.
Bên Đông phương, cái “Tự do bên trong” này, tuy không nói ra rõ ràng, nhưng được thể hiện nơi chữ TÂM. Biết sống và biết giữ cái Tâm sáng suốt, trong lành để lúc nào cũng “an nhiên tự tại”, cũng “vô nhâp nhi bất tự đắc yên”, cũng “bình an trong Chúa” là đã thể hiện tự do của mình. Cái “Tự do bên trong” này là một vấn đề của triết học từ nghìn xưa đến nay, nhưng về mặt chánh trị, xã hội, không trở thành điều kiện của tổ chức nhân sinh.
Nếu tự do là quyền được chọn lựa giữa những sự vụ xảy đến cho con người thì sự chọn lựa đó dựa trên những tiêu chuẩn nào? Nếu những tiêu chuẩn đó hoàn toàn do tôi thì lại lẩn quẩn trở lại với câu hỏi: Tự do là bẩm sinh hay là sản phẩm của xã hội? Nếu bảo rằng các tiêu chuẩn đó nằm trong khung cảnh thời đại, xã hội thì là tôi bị cưỡng bách bởi hoàn cảnh, bởi xã hội rồi, sự chọn lựa của tôi nào còn là tự do thuần túy nữa.
Tự do theo đôi người, có nghĩa là được nói “KHÔNG”, nghĩa là được quyền từ chối mỗi khi không thích. Nhưng ta có thể bất kỳ lúc nào cũng được quyền “từ chối” không? Cuộc sống luôn luôn cưỡng bức chúng ta. Ta có quyền từ chối nhưng xã hội lại chối từ cái “từ chối” của ta.
Cuộc đời là một trường tương tác miên viễn, bất tận giữa vạn pháp. Có tương tác là có động cơ, có nguyên nhân để tạo ra kết quả. Phật giáo bảo “Đời là bể khổ”, Kinh Thánh bảo “Vì sự phạm tội phải có”, như vậy, ta tự do từ chối cái khổ này, cái tội kia thì lại rơi ngay vào cái khổ khác, cái tội khác rồi.
Như thế, muốn thật sự tự do, chỉ có tự do thật sự khi mọi ý muốn, mọi hoạt động của ta không bị chi phối bởi bất kỳ một cái “nhân” và một cái “quả” nào, nghĩa là thoát ra vòng “nhân quả”. Đấy là điều Phật giáo chủ trương. Con người phải tu chứng đến độ thoát vòng “sinh tử luân hồi” thì mới đạt được tự do đích thực, còn trong vòng cuộc sống hiện tại thì phải “thiền định”, phải giữ cái Tâm thanh tĩnh, thoát được mọi phiền trược do từ những vọng tâm, vọng niệm, vọng động của cõi ta bà, sắc tướng.
Ki-Tô-giáo khuyên con người phải tìm “bình an trong Chúa” trong cuộc sống thường nhật để được tự do, điều này không khác với Đạo học Đông phương về việc trau dồi cái Tâm, để đến lúc được “Sanh lại” thì đạt được tự do hoàn toàn, tuyệt đối vì lúc bấy giờ con người sẽ như là “Thiên sứ trên trời vậy”. (Tân ước).
Trước nay, đã có nhiều định nghĩa về tự do.
F. Engels quan niệm: “tự do không phải ở trong sự độc lập tưởng tượng ra đối với những qui luật của tự nhiên mà là ở trong sự nhận thức những qui luật đó và ở trong cái khả năng - do nhận thức nói trên mà có - vận dụng những qui luật một cách có kế hoạch vào những mục đích nhất định. Điều đó là đúng đối với những qui luật tự nhiên bên ngoài cũng như đối với những qui luật chi phối đời sống vật chất và tinh thần của bản thân con người - hai loại qui luật mà giỏi lắm thì chúng ta chỉ có thể phân chia ra trong ý nghĩ của chúng ta chứ không thể phân chia ra trong thực tế được -. Như vậy, tự do của ý chí không phải là cái gì khác hơn là cái năng lực quyết định một khi đã hiểu rõ được sự việc. Cho nên sự phán đoán của một người về một vấn đề nhất định, càng được tự do bao nhiêu thì sự tất yếu quyết định nội dung sự phán đoán đó càng lớn bấy nhiêu; còn sự trù trừ, bất quyết do sự không hiểu biết mà sinh ra, bên ngoài thì có vẻ tha hồ tùy ý chọn lựa một trong nhiều khả năng quyết định khác nhau và trái ngược nhau, song chính ra thì chỉ là biểu hiện của sự không tự do, sự khuất phục trước đối tượng mà lẽ ra nó phải khắc phục, Vì vậy, tự do là ở chỗ chúng ta chi phối được bản thân chúng ta và chi phối được tự nhiên bên ngoài, căn cứ vào sự nhận thức những điều tất yếu của tự nhiên, do đó tự do là một sản phẩm tất nhiên của sự phát triển lịch sử” (45).
F. Engels thuộc trường phái duy vật. Ông công nhận tự do là sản phẩm của xã hội, của lịch sử. Muốn có tự do phải có nhận thức đúng về qui luật của tự nhiên và qui luật của xã hội chi phối mình. Nhận thức về qui luật của tự nhiên có thể dễ dàng vì nhờ vào kinh nghiệm và nhờ vào khoa học, nhưng nhận thức về qui luật của xã hội, của tồn tại xã hội, thì quả khó khăn, vì không hẳn lúc nào cũng đúng. Tự do theo Engels nói mới chỉ là tự do trong phán đoán, trong chọn lựa, còn tự do trên mặt hành động thì sao?
Tự do là biết vận dụng những qui luật của tự nhiên và xã hội sau khi đã nhận thức đúng vào những mục đích nhất định, điều này quá mơ hồ, nó có giá trị về mặt triết lý, nói lên đường hướng đi tìm tự do hơn là định nghĩa về tự do, xác nhận quyền tự do của con người. Thế ở những xã hội mà trình độ nhận thức về khoa học còn quá kém thì con người trong những xã hội đó không có tự do sao?
Tự do là một điều kiện thiết yếu, một yếu tính của cuộc sống chứ không là một thứ của cải được cho, được ai ban chấp. Con người đòi hỏi tự do, khao khát thể hiện tự do chứ không phải chờ trông xã hội hoặc người nào đó đem tự do trao cho mình. Tự do là cái quyền của con người chứ không phải là thứ của cải được bố thí. Xã hội có thể đem tự do đến cho con người, điều đó có nghĩa là xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho tự do của con người được thể hiện, chẳng khác thuốc men, mọi cách chữa bệnh có công dụng duy trì, bảo đảm sức khỏe con người chứ không tạo nên sức khỏe. Xã hội không tạo ra tự do mà chỉ nhằm thỏa mãn tự do của con người nếu là một xã hội tổ chức tốt.
Tự do, theo Engels, là sự nhận thức đúng qui luật tự nhiên để vận dụng đúng vào mục đích đã nhắm, khoa học đã sử dụng cái tự do lối đó lâu rồi nhưng còn cái tự do trong đời sống giữa người và người thì sao?
Tự do là cái năng lực quyết định một khi đã hiểu rõ được sự việc giữa bao nhiêu khả năng quyết định khác nhau và trái ngược nhau, tự do là ở chỗ chi phối được bản thân chúng ta và chi phối được tự nhiên bên ngoài, như Engels bảo thì tự do chỉ là một năng lực, một khả năng chứ không phải là một cái quyền, một khuynh hướng, như thế những quyền tự do cư trú, tự do hội họp... chẳng hạn là cái năng lực sao? Và theo Engels, tự do như thế là do xã hội, do lịch sử đem đến cho con người. Xã hội, lịch sử, như đã nói, chỉ tạo điều kiện cho tự do được thể hiện, phát huy chứ không ban cấp tự do được. Nếu xã hội ban cấp tự do thì xã hội cũng có thể thu hồi cái tự do đó, vì thế ta thấy biết bao phen xã hội đã thay đổi đường hướng, chính sách tùy thuộc vào trường hợp, hoàn cảnh và nhu cầu của tập đoàn lãnh đạo để hoặc nới rộng, hoặc hạn chế mọi điều kiện thể hiện tự do của người dân.
Cái định nghĩa về tự do theo Engels cùng quan niệm tự do theo quan điểm người Cộng Sản chỉ là lý thuyết, có thể ứng dụng trong phạm trù chủng loại chứ không thể áp dụng trong đời sống xã hội thường nhật. Chính vì quan niệm kiểu đó nên trong những nước Cộng Sản mọi tự do của con người bị tước đoạt hầu như toàn diện, vì chỉ có Đảng và Nhà Nước Cộng Sản mới có quyền tự do, vì họ tự cho là người hiểu biết và có năng lực vận dụng sáng tạo qui luật của tự nhiên và qui luật của xã hội.
Nói đến tự do của con người trong xã hội, thường chúng ta liên hệ đến chánh trị. Mọi thể chế chánh trị đều nêu ra khẩu hiệu “tôn trọng, bảo đảm tự do” cho con người, cho người dân, nhưng mục tiêu đầu tiên của chánh trị không là tự do mà là an ninh, trật tự. Có thể do từ sự việc “ổn định” đó mà tự do của con người, của người dân được bảo đảm và nẩy nở. Dĩ nhiên, không đề cập đến những thể chế chánh trị độc tài, cai trị theo “luật rừng” như tại một số quốc gia hiện nay.
Tuy nhiên, nền chánh trị nào cũng có thể hạn chế tự do của con người hoặc tạo ra những điều kiện mới để con người khao khát, đòi hỏi thêm tự do, mà thể chế chánh trị đó không thể nào thỏa mãn, vì thể chế chánh trị chỉ chú ý phần lớn đến cấu trúc xã hội. Vì thế, xã hội có những quyền tự do của nó. Quyền tự do của xã hội thể hiện nơi quyền lực của nó qua luật pháp, bắt buộc, cưỡng bức mọi người phải tuân thủ, phải phục tùng nhân danh đời sống chung, nhân danh an ninh trật tự, phồn vinh và tiến bộ. Vì thế, trong bất cứ xã hội nào, dưới bất kỳ thể chế chánh trị nào, tự do của con người chỉ là thứ tự do tương đối, tự do có giới hạn, có mức độ, nhiều khi muốn được tự do phải có điều kiện.
Vấn đề tự do quả thật rắc rối. Trước nay, người ta công nhận tự do là cái quyền của con người, quyền được sống tự do. Nhưng cái quyền đó là bẩm sinh, là thứ của cải bản nhiên hay là do xã hội, lịch sử sản sinh? Vấn đề chưa được giải quyết, dù về mặt triết lý hay chánh trị.
Cuộc sống mỗi người luôn luôn bị giới hạn bởi thiên nhiên và xã hội. Mỗi người sinh ra đã ở trong một khung cảnh thiên nhiên và xã hội có sẵn rồi, nghĩa là bị ném vào trong một thực tại không do nó dự phần quyết định. Sự sinh ra nó đã là một việc không tự do cho nó rồi. Vì thế, mỗi người đã được hay bị nhận lãnh cái “hiện hữu thô sơ” đầy tính cách ngẫu nhiên và phi lý, nói theo quan điểm của Jean Paul Sartre. Sự “không tự do ngay từ thuở ban đầu” đó luôn luôn tiếp nối trong cuộc sống dẫy đầy bất trắc khiến “hiện sinh” con người lúc nào cũng nhầy nhụa, bi đát.
Trong dòng sống như thế, tự do của con người chỉ còn có nghĩa là “tự do chọn lựa” trong từng hoàn cảnh vì cuộc sống chỉ là “cuộc sống tùy cảnh”. Tự do như thế chỉ là một rẫy rụa thoát được hoàn cảnh ngục tù này lại rơi vào hoàn cảnh ngục tù khác như đã nói ở trên.
Các nhà chánh trị, đạo đức cho rằng tự do của con người là quyền tự nhiên và thiêng liêng. Quyền tự do đó được cụ thể hóa nơi mọi lãnh vực, được tuyên bố và ghi nhận trong những văn kiện quốc tế, xem tự do là một “nhân quyền” tiên thiên. Nhưng trên thực tế, tự do vẫn còn là vấn đề luôn luôn được bàn cãi và luôn luôn được đòi hỏi phải thực hiện. Ngay tại các quốc gia tự do, dù mọi thứ tự do như tự do cư trú, tự do làm việc, tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng... được coi trọng và công nhận, nhưng con người vẫn khát khao tự do, vẫn đòi hỏi và đấu tranh cho tự do. Tại sao? Tại vì tự do là một khuynh hướng bản nhiên, một yếu tính của cuộc sống con người.
Sống trong vòng tương đối nhưng con người luôn luôn hướng vọng về tuyệt đối, chính sự hướng vọng về tuyệt đối đó nên tự do trở thành một cái quyền tất yếu của con người. Chính cái khuynh hướng về tuyệt đối đó, cái khuynh hướng đạt được cái toàn thiện, toàn mỹ, toàn chân đã đun đẩy con người, đã là động lực khiến con người đấu tranh để với bắt mà có tiến bộ, văn minh. Do đó, đối với nhà trí thức, nhà sáng tạo, nhà nghệ sĩ thì tự do hầu như lúc nào cũng thiếu và không biết đến mức nào mới vừa, mới thỏa mãn.
Trong đời sống tại thế, lẩn quẩn trong vòng cơ năng, tự do của mỗi người bị hạn chế bởi tự do của kẻ khác, bởi trật tự và quyền lợi của xã hội. Vì thế, tự do chỉ có tính cách tương đối và điều kiện thực hiện tự do càng ngày càng lệ thuộc vào tính cách cơ năng của cuộc sống cộng đồng nên chỉ có tự do khi có phương tiện. Con người đòi hỏi và khát khao tự do, ai cũng công nhận tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm nhưng làm thế nào để luôn luôn có tự do, đấy là điều chưa được xã hội nào bảo đảm hữu hiệu.
Trong các nước độc tài, tự do vắng bóng, dĩ nhiên rồi, nhưng tại các nước dân chủ, tự do chỉ có khi có phương tiện, nếu không thì chỉ là tự do trên lý thuyết, trên các văn kiện. Một điều kỳ quặc khác là tự do càng được sử dụng, xã hội lại càng trở nên bất an và tự do lại được nhân danh để làm rối loạn, ung thối xã hội, nếu không muốn nói là làm sa đọa xã hội và con người. Trong các tranh chấp quốc tế hiện nay, tự do biến thành cái cớ, biến thành chiêu bài để đả kích, khuynh loát lẫn nhau.
Có thể nào hiểu tự do là cái quyền hành động bất cần hậu quả không? Như thế, thực hiện tự do là để đón nhận nguy hiểm, để mất tự do thêm. Tự do có phải là cái quyền chịu đựng, chấp nhận hết mọi đọa đày, đau khổ chăng? Dĩ nhiên, không ai và cả xã hội cũng không làm mất cái tự do này của ta. Nhưng đấy là thái độ “can trường hiện hữu” chứ không ai cho đấy là cái quyền, và cũng chẳng muốn, chẳng ai thích cái quyền tự do theo lối đó.
Như vậy, Tự do chỉ là một khái niệm, một danh từ thôi sao? Tự do được đề cập nhiều trong triết lý, chánh trị, kinh tế và cả trong khoa học nhưng trong Đạo học lại ít hoặc không đề cập đến. Các kinh điển Phật giáo, Ki-Tô giáo hầu như không nhắc đến, trong lúc các vấn đề Bình đẳng, Bác ái... lại được xiển dương. Có lẽ, trong Đạo học, Tự do được xem như là bản nhiên, một vấn đề của bản chất con người, không do từ một cấu trúc nào tạo nên, hoặc Tự do đã nằm trong cái lẽ Đạo rồi.
“Tất định và Tự do”, cặp phạm trù này luôn luôn có mặt, làm ray rứt con người trong suốt mọi mặt hoạt động, ngay cả trong lãnh vực khoa học thực nghiệm. Mọi lý thuyết giải thích về “Tất định và Tự do” đều góp phần cụ thể hóa vấn đề. Cuộc sống là cuộc đấu tranh không ngừng để tìm tự do, với bắt tự do, thực hiện tự do.
“Tất định hay Tự do”? Con người bị chi phối bởi một định mệnh cay nghiệt hay con người có ý chí tự do? Mối mâu thuẫn “Tất định - Tự do” cũng là mối mâu thuẫn giữa “Đạo và Đời”, và chỉ được giải quyết trong đường đi của lẽ Đạo. Đạo như đã nói, không chỉ dành riêng cho chủng loại người mà cho tất cả mọi giới loại thì Đạo là một tất định, vì tất cả đều ở trong Đạo, bị chi phối bởi Đạo. Hiểu Đạo là lý vận hành biến dịch chung của vạn hữu thì Đạo là một thứ “Tất định như nhiên” (Déterminisme - Nature), bao giờ cũng thế.
Xin được giải thích sơ lược về từ “Như nhiên”. “Như nhiên” có nghĩa “là vậy, là thế”, bao giờ cũng thế, không hiểu do đâu, không hiểu tại sao. Dù có giải thích được, dù có tìm ra nguyên nhân, diễn tiến, dù có biện pháp sửa đối thế nào thì sự việc vẫn thế, vẫn cứ là như thế. “Như nhiên” bao gồm cả tự nhiên và có tính cách khẳng định hơn từ “tự nhiên” vì cái tự nhiên có thể sửa đổi, có thể thay thế, như có thể đào núi, lấp sông, ghép cây, thay tim... Nhưng cái Như nhiên thì không thể nào cải đổi, sửa chữa, hủy diệt.
Đức Phật nói đến cái khổ đầu tiên của con người là “Sinh, Lão, Bệnh, Tử” (có lẽ chung cho cả mọi giới loại), đấy là bốn cái “Như nhiên”. Cho dù ngày nay, y học dùng lối cấy tinh trùng để tạo nên một bào thai không cần đến sự giao hợp giữa nam và nữ theo cách tự nhiên, nhưng như thế sự sinh cũng đã có rồi. Cái chết cũng vậy. Điều kiện dinh dưỡng và y dược có thể kéo dài tuổi thọ nhưng thế nào rồi con người cũng chết; cho dù chết vì già yếu, bị bệnh tật hay bị sát hại, bị tai nạn... mà qua đời thì sự chết cũng đã đến, cũng đã xảy ra... Người Phật giáo gọi Đức Phật là “Như lai”, có nghĩa là như nhiên đến, không do ai, không do gì, điều đó có nghĩa Đức Phật không còn là Tất Đạt Đa, không còn là Thích Ca mà là biểu tượng của cái Tâm Chân Như. Tâm Chân Như là một thứ “Như nhiên”. Hiểu như thế, Thượng Đế là Như nhiên, cuộc sống, cuộc đời là Như nhiên.
Nhiều người theo Phật giáo ngày nay bỏ luôn từ “Như”, chỉ dùng từ “Nhiên” không thôi trong dụng ý kết hợp cả cái “tự nhiên” và cái “là vậy” vào một. Đạo là Như nhiên vì Đạo là tự nhiên và bao giờ cũng là thế, cũng là vậy, không sinh sôi, không phát triển, không hư hoại, không hủy diệt, không trương nở, không giản lược, không tăng, không giảm, không tiến, không lùi, không xấu, không tốt, không mà có, có mà không, không Hữu, Không Vô, Hữu-Vô là một.
Tuy nhiên, bên cạnh Đạo, bên cạnh cái “Tất định Như nhiên” này, cuộc sống mỗi người cũng như của mỗi chủng loại cũng tuân theo một thứ tất định khác, vì tuân theo những qui luật của tự nhiên, tự nhiên nơi đây bao gồm khung cảnh thiên nhiên cùng môi trường sinh hoạt của cá thể và chủng loại trong cộng đồng hiện thể của mình.
Mỗi chủng loại cũng như mỗi cá thể trong chủng loại, từ tự thân, muốn tồn tại, tiếp nối và phát triển, phải thỏa mãn một số thiết yếu bản nhiên mà ta gọi là bản năng sinh tồn. Rồi do “hiện thể trong toàn thể” (kết hợp thành xã hội), các thiết yếu ban sơ đó dần dần phức tạp hóa, đa diện hóa, tạo nên vô số nhu cầu và sở thích.
Tất cả những thiết yếu ban sơ cùng nhu cầu và sở thích là nguyên nhân và động cơ phát sinh tư hữu và chiếm hữu bằng cách thế này hay bằng cách thế khác. Cuộc sống hoàn toàn bị đun đẩy bởi lòng dục tư hữu và chiếm hữu đó. Vì thế, cuộc sống có tính cách cơ năng (tuân theo những đòi hỏi của sinh vật lý). Lịch sử tại thế chính là dòng diễn biến của tính cơ năng. Tính cơ năng là một “Tất định Qui luật” (Déterminisme -Loi).
Những qui luật đó phát sinh từ trường tương tác của vạn pháp, những mối quan hệ hầu như bất biến giữa mọi sự, mọi vật mà khoa học thực nghiệm đã tìm và tìm mãi cùng với những qui điều trong các khoa học nhân văn phát sinh từ nhu cầu của đời sống thực tiễn của xã hội. Những qui luật và qui điều có thể thay đổi do nhận thức của con người, do diễn biến sinh hóa của nhân sinh qua lịch sử và được hướng dẫn bởi dòng vận hành của cái “Tất định Như nhiên”.
Cái “Tất định Như nhiên” là lẽ Đạo, là Ý chí của Thượng Đế và là nền tảng của Định mệnh thuyết siêu hình. Cái “Tất định Qui luật” là lịch sử hay cuộc sống của từng chủng loại, của từng cá thể trong chủng loại, nghĩa là của vũ trụ hiện tượng, của cõi sắc giới, và là nền tảng của Định mệnh thuyết tự nhiên (hay Định mệnh thuyết khoa học, Định mệnh thuyết lịch sử). Hai cái “Tất định” này không chống đối, phủ nhận nhau.
Cái Tất định Qui luật nằm trong cái Tất định Như nhiên và thể hiện cái Tất định Như nhiên ra mặt hiện thể. Trong ý nghĩa này, ta có thể hiểu lời nói của Gaston Bachelard: “Tất định thuyết đã từ cõi Trời đến với cõi đất” (46) mặc dù chủ ý của ông chỉ mới nói về mặt khoa học.
Vì tất cả đều trở về trong Đạo, khởi đi từ cái Một để trở về trong cái Một, nên cái Tất định Qui luật diễn biến qua thiên hình vạn trạng hình thái, cách thế, cuối cùng sẽ hội nhập, tan hóa vào trong cái Tất định Như nhiên để chấm dứt một chu kỳ biến dịch, tức là một kỷ nguyên sinh hóa của chủng loại. Làm thế nào và vào lúc nào, đấy là phần vụ của Ý chí Tự do của con người. Con người, cuộc sống con người bơi lội giữa hai dòng tất định đó, bị tác động, bị chi phối bởi cái Tất định Qui luật nhưng lại được hướng dẫn bởi cái Tất định Như nhiên.
Tự do con người thể hiện ở ý thức và hành động giải trừ, vượt thoát vòng chi phối, tác động của cái Tất định Qui luật để hướng về cái Tất định Như nhiên. Đấy là ý nghĩa của giải thoát, Cứu rỗi trên mặt cá nhân. Định mệnh thuyết siêu hình hướng con người đến cứu rỗi, giải thoát trong lúc Định mệnh thuyết tự nhiên tác động vào cuộc sống chung để con người và chủng loại dần dà qua hành động đấu tranh chống cơ năng (hoặc giảm thiểu chế hòa cơ năng, hoặc bành trướng cơ năng để loại dần cơ năng) mà tiến đến Đạo, đến cái Tất định Như nhiên (xem phần sau).
Trong ý nghĩa và hướng đi đó, Tự do của con người, của mỗi người, chính là cái khuynh hướng, cái hướng vọng dẫn về trong cái Tất định Như nhiên và thể hiện nơi ý chí đấu tranh trước tiên với bản thân mình, để giải trừ mọi tác động của cơ năng nơi tự thân mình (có nghĩa không để tính động vật chi phối nặng nề) và đấu tranh với xã hội, để một mặt đòi hỏi xã hội thỏa mãn những yếu tính của tồn tại về mặt cơ năng (thỏa mãn nơi đây có nghĩa là cung cấp mọi điều kiện thuận tiện do từ cơ cấu tổ chức xã hội), mặt khác để dần dà giải trừ tính cách cơ năng của xã hội đối với cuộc sống, để rút ngắn cái quá trình diễn biến của cơ năng hầu sớm đưa chủng loại vào trong cái Tất định Như nhiên.
Trong chiều hướng đó, Tự do không là thứ của cải được ban cấp bởi xã hội mà là một yếu tính từ bản chất con người, và là động lực để cải biến con người và cải biến xã hội. Hiểu Tự do là cái quyền được sống theo ý mình, không bị cản ngăn; hiểu Tự do là cái Ý chí, cái Năng lực quyết định, chọn lựa giữa bao nhiêu trường hợp, bao nhiêu khả năng, không hẳn là sai, nhưng đấy chỉ là những thể hiện từng lúc trong cuộc sống theo cái Tất định Qui luật mà thôi; và như thế, Tự do không có một ý nghĩa, một tác dụng nào cao quý về mặt chủng loại. Cũng chính vì thế mà Tự do đòi hỏi và liên hệ mật thiết với Cảm thông, Yêu thương, Độc lập, Bình đẳng, Hòa bình, Đoàn kết, Hy sinh, Sáng tạo...
Cặp phạm trù “Tất định - Tự do” không phủ nhận nhau. Ta bị ghim vào trong cái “Tất định” nhưng nếu cái Tất định Qui luật gò bó, kềm hãm ta thì cái Tất định Như nhiên lại giải phóng ta vì cái Tất định Như nhiên, tuy là tất định nhưng lại không bó buộc ta một cách chặt chẽ, sít sao, vì để ta luôn luôn được tự do hướng về hoặc không hướng về nó.
Nhưng chính trong sự kềm hãm bởi cái Tất định Qui luật mà ta nhìn ra, hướng về cái Tất định Như nhiên. Đấy là những điều mà Phật giáo đã từng nói đến: “Không mê lầm sao có giác ngộ, không phiền não sao có bồ đề”. Chính do từ bắt buộc mà ta đòi hỏi tự do, chính do từ đau khổ mà ta tìm ra hạnh phúc, chính do từ tội lỗi mà ta tìm ra cứu rỗi. Cuộc sống nào cũng khởi đi từ những động cơ ti tiện, thấp hèn (do yêu cầu của động vật tính nơi ta), chối từ chúng là không sống (cái sống cơ năng trước tiên). Tự do chính là khuynh hướng và năng lực giải trừ mọi động cơ ti tiện thấp hèn đó để trở thành một cái “quyền” trong cuộc sống cơ năng. Giải trừ được tính cơ năng nơi ta và nơi xã hội là ta được tự do, tự do cho ta, tự do cho xã hội và cho nhân loại nói chung. Điều này đòi hỏi phải đấu tranh, đấu tranh cho tự do.
Cặp phạm trù “Tất định - Tự do” không phủ nhận nhau, hai thứ “Định mệnh thuyết” cũng không phủ nhận nhau. Chỉ vì “Tư hữu và Chiếm hữu”, chỉ vì thiên trọng cái này mà phi bác cái kia, chỉ vì không nhận ra mối quan hệ của chúng mà khuynh loát nhau, đưa đến đổ vỡ, tàn phá, không thể tìm về kết hợp, tan hóa chúng trong nhau. Tự do, vì thế, là “cái ta có” nhưng cuộc đời đã đánh mất và ta luôn luôn đi tìm. Mỗi bước tiến của lịch sử là mỗi bước ta ý thức và mở rộng tự do của ta hơn, và đưa xã hội đến tự do hơn để dần dần giảm thiểu cái quyền lực của xã hội đối với con người.