Nhân Loại Mới

a6/ cặp phạm trù mâu thuẫn 6: “tự do - bình đẳng”

Đây là cặp phạm trù mà hai bộ phận luôn luôn đi đôi với nhau và không mâu thuẫn nhau. Tự do và Bình đẳng là hai thứ mà mọi xã hội đều nhân danh, đều chủ trương và con người luôn luôn tìm kiếm. 

 

Tự do như đã nói ở trước. Riêng về Bình đẳng lại càng khó thực hiện hơn Tự do vì Tự do có thể là vấn đề cá thể lo liệu được phần nào, còn Bình đẳng nằm trong cơ cấu tổ chức. 

 

Có thể nói, trước nay, chưa có một quan niệm rõ rệt về bình đẳng và “bất bình đẳng” hầu như là sự việc tất nhiên ngự trị cõi nhân hoàn. Mọi quan hệ giữa người và người trước nay xuôi chiều theo cái tâm lý sai biệt, cư xử với nhau trong cái tâm sai biệt đó. Bóc lột, áp bức, đố kỵ, tranh giành, chiếm đoạt... mọi tương giao dù có hợp tác, liên minh cũng chỉ lẩn quẩn trong vòng tranh giành, mưu cầu hơn thua về quyền lợi, địa vị, chức quyền, tiếng tăm dù là về mặt vật chất hay tình cảm, trí tuệ. 

 

Ai cũng khao khát, đòi hỏi công bình, bình đẳng, nhưng rồi ai cũng muốn phần hơn. Cách mạng 1789 của Pháp nêu rõ ba nguyện vọng cũng là ba mục tiêu, ba cứu cánh của cuộc sống xã hội: Tự do, Bình đẳng, Bác ái, nhưng rồi nhân loại vẫn triền miên trong bất bình đẳng, trong áp bức, bất công. 

 

Bình đẳng là gì? Ở đây không bàn đến định nghĩa về bình đẳng theo triết lý và toán học, theo đó hai vế trong một hệ thức hoàn toàn như nhau, giống nhau, đồng nhất với nhau. Ở đây, chỉ xin được nói Bình đẳng về mặt Chánh trị, Xã hội thôi. 

 

Bình đẳng là ngang nhau, như nhau, bằng nhau về tất cả mọi phương diện. Hiểu như thế thì không bao giờ có bình đẳng, hoặc bình đẳng không còn là bình đẳng nữa vì có nghĩa là một sự san bằng tàn nhẫn, như lưỡi máy xắn cụt đầu ngang nhau đám cỏ trong vườn. Vì, giữa người này và người nọ vốn đã có sẵn những khác biệt tự nhiên rồi. Bình đẳng là đối xử ngang nhau, như nhau, đồng đều với nhau, mình cũng bằng người, không thiên trọng, không vị nể giữa kẻ này, người nọ. Nhưng căn cứ vào những tiêu chuẩn nào ? Trong cuộc sống, tính vị kỷ, lòng dục chiếm hữu chi phối con người, thì còn biết tạo lập bình đẳng ra sao. Ngay trong gia đình, tình thương của cha mẹ đối với con cái, tình cảm giữa anh chị em đối với nhau cũng đã khác nhau quá xa rồi. 

 

Để đạt được bình đẳng, người ta nêu ra rất nhiều nguyên lý, nguyên tắc. 

 

Trước tiên, Tôn giáo bảo: “Mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế”. Nhưng biết thế nào là bình đẳng trước Thượng Đế? Giữa mọi người, làm sao thực hiện được cái bình đẳng đó? Thượng Đế là ai? ở đâu? Làm sao biết được Ngài? đến với Ngài? nghe ra lời Ngài? Nếu Thượng đế là đấng nhân hình nhân ảnh, thưởng phạt công minh, thì trong cuộc sống đã lắm lần thiên vị, ghét bỏ kẻ này người nọ. Biết bao người hiền lương, đức độ mà suốt cuộc đời lại khổ cực, truân chuyên, trong lúc bọn gian, kẻ dữ lại được Thượng Đế ưu đãi, cho chễm chệ quyền uy, sang giàu, có đủ mọi điều kiện, cách thế tác yêu tác quái dân lành. “Bình đẳng trước Thượng Đế”, điều này đúng nhưng làm sao thực hiện và phải nên hiểu thế nào? 

 

Ngoài lúc sinh ra và chết đi, “Bình đẳng trước Thượng Đế” có nghĩa xem nhau cùng là con cái Thượng Đế, mỗi người có một nhân vị, một giá trị như nhau. Nhiều triết gia bảo thế nhưng cơ sở vào đâu định ra giá trị con người ? Biết đo lường ra sao để xác định nhân vị, nhân phẩm kẻ này người nọ nếu không dựa vào một số tiêu chuẩn đạo đức hay tiêu chuẩn về trí tuệ... do chính con người đặt ra. Giá trị, nhân vị con người là những điều trừu tượng, những khái niệm, biết cơ sở ra sao để thiết lập bình đẳng đúng nghĩa? bình đẳng thực sự giữa người và người? Trong nhiều Giáo hội, ngay cả các nhà lãnh đạo tôn giáo họ cũng chẳng đã đối đãi với con chiên, tín đồ theo ý riêng của mình sao? 

 

Về mặt đức lý, Bình đẳng được quan niệm trong cách thực hiện là: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (lời Đức Khổng) và “Hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình thì cũng hãy làm điều đó cho họ” (Ma: 7- 19). Đấy là tín điều đạo đức ứng dụng cho từng cá thể; trong cuộc sống sai biệt, làm sao mọi người đều như thế cả. 

 

Điều ta không muốn mà vẫn gặp kẻ khác làm cho ta, điều ta muốn làm cho kẻ khác thì kẻ khác lại không ưa. Cái “muốn” chẳng là khởi đầu của dục vọng hay sao? Cái ta “muốn” chưa hẳn là tốt đối với kẻ khác; cái kẻ khác “muốn” cho ta chắc gì đã hợp với cái “muốn” của ta. Sống trong vòng sai biệt, ai cũng bị vô minh che lấp, bị ngũ uẩn tác động và cái vòng nhân quả lẩn quẩn không buông tha ta. Vô minh vì ta bị lệ thuộc vào thiết yếu, bị quay quắt trong vòng cơ năng, từ đó ta bị “tư hữu và chiếm hữu” chi phối. Lời Đức Khổng và lời Chúa Giê-Su nói trên là một khuyến cáo, một hạn chế để kềm hãm bớt “tham, sân, si” nơi ta chứ chưa đích thực là cái Đạo Công bằng hay cái Đức Bình đẳng mà các Ngài muốn rao giảng với chúng ta. 

 

Về mặt xã hội, người ta phỏng theo lời tôn giáo, đề ra nguyên tắc: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Nhưng pháp luật là gì? Pháp luật do ai đặt ra, do đâu mà có? Pháp luật, nhìn chung là một số nguyên tắc, một số qui điều, qui ước rút ra từ cuộc sống thực tế để bảo đảm cho quan hệ giữa người và người bớt gay cấn và giữ xã hội được trật tự, quân bình. 

 

Những qui điều đó có thể do một người, một tập đoàn, một giai cấp, một số người định ra rồi áp dụng vào cho xã hội, nhiều khi không cần hoặc không được sự đồng ý của toàn thể mọi người. Pháp luật mỗi nơi một khác; pháp luật thay đổi theo tập tục, thói quen, theo từng dạng hiện hữu của xã hội, mỗi khi lịch sử bước sang một khúc ngoặt. Pháp luật nhiều khi chỉ là ý muốn thống trị của một quyền lực độc tài, do sự thắng thế của một cá nhân, một tập đoàn, một giai cấp, bằng tài ba tranh đấu của mình, nâng mình lên địa vị chủ nhân rồi áp đặt lên đầu kẻ khác bao đòi hỏi, bao yêu sách. Ta chẳng thấy nhiều kẻ suốt đời đau khổ thế mà tìm cách đưa kẻ khác vào tù; có kẻ suốt đời tranh đấu xóa bỏ ngục tù, bất công, lúc thành công lại dựng lên bao nhiêu ngục tù, bất công càng tồi tệ hơn trước. 

 

Pháp luật cơ sở trên tình thương, trên cái “tính thiện” vốn có nơi con người, nhưng cái “tính thiện” đó cũng thay đổi theo từng dạng, từng thời, từng môi trường hiện hữu. Cái pháp luật “Nhân trị” của các chủ trương “Đức trị”, xem ra không bảo đảm được bình đẳng, không đủ hiệu năng thiết lập cuộc sống an lạc, dài lâu. Vì thế đã gặp phải phản ứng của chủ trương “Pháp trị”. Quan niệm con người vốn ác, con người thiết yếu là “có ác ý” (de mauvaise foi) và phải dùng quyền lực xã hội để uốn nắn, sửa trị; thực ra đến nay, ta đã thấy bao xã hội pháp trị làm tan nát con người bao nhiêu, không những không tạo được bình đẳng mà còn làm mất biến tự do của con người. Biết bao nhiêu lần, nhân danh luật pháp, người ta đã gây ra bao nhiêu tội ác. 

 

Pháp luật nhiều khi lại tạo tính cách hợp lý, hợp pháp cho kẻ xấu hoặc cho tập đoàn cầm quyền hãm hại người ngay, bóc lột dân chúng. Luật pháp thiết yếu phải cơ sở trên lý, tính cách duy lý chính là con đẻ của cơ năng, lại càng tỏa chiết con người nhiều khi không tìm ra được nguyên nhân. 

 

Ngày xưa, đóng thuế, đi lính... là tuân theo luật nhà vua, ngày nay là bổn phận của người công dân, là tuân theo pháp luật của nhà nước, là thực thi nghĩa vụ công dân, là tôn trọng “quyền làm chủ của nhân dân”. Pháp luật căn cứ trên quyền lợi chung mà thiết lập để bảo vệ quyền lợi chung. Nhưng cái “quyền lợi chung” này nhiều khi nghe ra mơ hồ quá. Nhiều nơi, thực sự nó không là quyền lợi chung mà chỉ là một thứ quyền lợi cá nhân hay tập đoàn được tổng quát hóa, công cộng hóa, cho một số đông người cùng một vị thế giai cấp, cùng một vị trí, cùng một vai trò trong xã hội mà thôi. Luật pháp như thế chỉ là luật pháp của tập đoàn đó, chứ không phục vụ cho quyền lợi chung một cách đúng đắn. Quyền lợi chung chỉ là nhân danh, chiêu bài để đòi hỏi nghĩa vụ, bổn phận của người dân thôi. 

 

Trong các chế độ dân chủ, luật pháp hình thành bởi những đại diện của nhân dân nơi Quốc Hội và được thực thi bởi nhà nước, gồm những người cầm quyền do nhân dân bầu ra. Tuy luật pháp đó và người thực thi luật pháp đều được mọi người đồng ý, cử ra, nhưng thực sự nhân dân có mấy người hiểu luật pháp và tuân theo luật pháp như là một bắt buộc tự nguyện, một việc làm tất nhiên. Dĩ nhiên, không người nào không công nhận ích lợi và cần thiết luật pháp nhưng không một ai lại không thấy khó chịu, bực bội vì luật pháp mỗi ngày thêm chi ly, phức tạp. 

 

Cuộc sống mỗi ngày thêm đa dạng, muôn hình muôn vẻ, luật pháp vì thế càng lúc càng nhiều, về đủ mọi lãnh vực, nên càng khiến cuộc sống con người thêm khó khăn, thêm hãi sợ luật pháp, cũng như nhàm chán luật pháp (như tình trạng bầu cử, ứng cử chẳng hạn). Luật pháp, cơ sở đầu tiên của xã hội, của thể chế chánh trị để bảo đảm an ninh trật tự, do từ đó mà đem lại bình đẳng xã hội nhưng hầu như muốn hưởng được những quyền bình đẳng đó, cũng như những tự do mà luật pháp bảo đảm, phải có điều kiện, phải có phương tiện. 

 

Vì bao nhiêu nhu cầu của thời đại, của tiến bộ, điều kiện hưởng thụ phương tiện của từng người hầu như càng lúc càng khó khăn hơn. Con người có thể được giải phóng khỏi những áp bức về mặt lễ giáo, luân lý, tình cảm và bóc lột của những chế độ phong kiến, độc tài ngày trước, nhưng con người lại phải lệ thuộc quá nhiều về điều kiện sống, về phương tiện sống. Trước kia, con người bị kềm hãm bởi nếp sống tinh thần quá nặng nề, khắc nghiệt do tôn giáo, đạo đức, lễ nghĩa thì ngày nay con người lại phải quay quắt trong những vật lộn mưu sinh để mong tạo đủ điều kiện, phương tiện mà thụ hưởng tự do, bình đẳng. 

 

Xã hội càng ngày càng cơ năng hóa, hợp lý hóa và lịch sử gia tốc khiến thời gian co rút đưa cuộc sống con người đến tính cách hối hả, lo đuổi bắt tiện nghi mà điều kiện để với bắt những tiện nghi đó không thể dễ dàng có được nên tự do, bình đẳng hầu như bị hạn chế, cản ngăn, giới hạn trước cuộc sống càng ngày càng được mở rộng, đấy là không muốn nói đến phần sống tâm linh trở nên nhạt mờ. Trong cuộc sống xã hội, trước nay ta thực hiện bình đẳng hay công bình cơ sở trên cách tính theo tỷ lệ về từng phương diện. Chẳng hạn, trong việc trả lương, tính theo giờ công, ngày công, theo năng xuất lao động, theo phần vụ, theo khả năng, theo công việc làm...; về trợ cấp, tính theo thời gian, tình trạng sinh hoạt, tuổi tác, sức khỏe...; về đóng thuế, theo lợi tức thu hoạch, theo nhu cầu chi tiêu của từng người, từng gia đình...; về trừng phạt, tùy theo lỗi nặng nhẹ, theo do cố ý hay vô tình lầm lỗi, do chủ mưu hay do vô ý đồng lõa, theo tác hại của sự vi phạm gây ra... Căn cứ trên những biện pháp đó, người ta định ra nhiêu thứ luật lệ, nhiều hình thức thưởng phạt, nhiều cấp bực tòa án, nhiều cách thức phạm tội, nhiều cách thế hòa giải, điều hợp, bồi thường... để mong bảo đảm được trật tự xã hội và bảo đảm quyền bình đẳng cho mọi người. 

 

Nhưng rồi, tất cả cũng khó lòng đem lại bình đẳng thực sự. Vì thực ra có những cái bất khả thay thế, bất khả đền bù mà bất cứ hình thức thưởng phạt nào cũng không thể cân xứng. Hủy diệt thân xác, nhan sắc, tiết trinh thi nào có thứ của cải nào hay một tỷ lệ thưởng phạt nào cân xứng. Có những tội ác mà không một hình phạt hay ăn năn nào có thể xóa đi, chẳng hạn giết người, đoạt vợ, tàn phá nhan sắc để thỏa mãn lòng ghen; mượn cớ quyền lợi chung để thủ tiêu nhân tài; nhân danh những điều tốt đẹp xa xôi, mơ hồ, dựng nên một viễn ảnh không có thật để thiết lập nền thống trị độc tài; mượn tay người để thỏa mãn lòng đố kỵ, kiêu ngạo của mình; tiêu diệt một dân tộc để nô lệ hóa người... Có những kẻ bị kết án oan đến cả nửa thế kỷ sau mới nhìn ra cái sai lầm của luật pháp. 

 

Bên cạnh cái luật pháp minh thị bằng giấy tờ: hiến pháp, đạo luật... còn có cái luật pháp bất thành văn, tức dư luận, tập quán, phong tục. Dư luận hầu như luôn luôn tàn khốc, nhất là vào thời đại mà quảng cáo được phép tự do lan tràn cùng với luật gọi là “luật pháp nhân dân” thể hiện nơi các “Tòa án nhân dân” nơi các nước Cộng sản. 

 

Tóm lại, khi còn lẩn quẩn trong cái tư tưởng tính toán, đếm đo, vụ vào tư hữu, chiếm hữu, để thỏa mãn động vật tính trong dạng tồn tại của mình, thì không thể nào có tự do, bình đẳng thực sự. Mọi thứ nhân quyền thiêng liêng, trong đó bình đẳng là thứ tối thiết, khó lòng thực hiện, do từ tính cách cơ năng của cuộc sống. Rốt cuộc, tự do và bình đẳng là thứ kẻ yếu đòi hỏi, biến thành “vũ khí” của kẻ mạnh để nhân danh, và là “của cải” của ai có phương tiện, có điều kiện. 

 

Bình đẳng và tự do chỉ là tương đối trong tất cả mọi chế độ dân chủ trước nay và còn là những thứ mà con người cùng xã hội đi tìm, với bắt và thực hiện qua từng bước đi lịch sử. 

 

Tự do và bình đẳng vốn chẳng mâu thuẫn nhau. Mọi xã hội đều nhân danh hai thứ đó để quảng cáo mình. Không có tự do thì là độc tài, áp bức; không có bình đẳng thì là bất công, chênh lệch xã hội, để nảy sinh đấu tranh giai cấp, hoặc đấu tranh giải phóng. Nhưng có điều trái ngược là trên thực tế, trong xã hội, hai thứ đó hầu như trái ngược nhau.

 

 - Trong chế độ độc tài trước đây, dĩ nhiên Tự do và Bình đẳng mất biến như ta đã thấy, dù cố giải thích tự do và bình đẳng theo lối riêng của người cầm quyền hay theo lý thuyết chỉ đạo của nhà cầm quyền. Đặc biệt, trong chế độ Cộng sản hay Xã hội chủ nghĩa hiện nay trên thế giới, bình đẳng là tự chịu uốn nắn, ghép mình vào cái khuôn duy nhất của chế độ; lý thuyết Mác biến thành một thứ Định mệnh thuyết còn khắt khe gấp bao nhiêu lần so với Định mệnh thuyết của các tôn giáo.

 

 - Trong những chế độ dân chủ, tự do lại làm nảy sinh bất bình đẳng, bóc lột, nhất là về mặt kinh tế, tự do phần lớn là tự do của phương tiện, tự do do phương tiện. 

 

Tự do và Bình đẳng vốn dĩ đi đôi. Cái này cần thiết cho cái kia, cái này được thể hiện khi cái kia được thể hiện. Tự do là điều kiện của Bình đẳng, và Bình đẳng là điều kiện phát huy Tự do. Không có Bình đẳng thì Tự do là cái lý của kẻ mạnh. Không có Tự do thì Bình đẳng là cái quyền của kẻ độc tài. Trong cå hai chế độ độc tài và dân chủ hiện nay, Bình đẳng và Tự do có thể hình dung qua hình ảnh những ngọn đèn đường (Bình đẳng Xã hội chủ nghĩa) và ngọn đèn trong nhà (Tự do trong nước dân chủ). 

 

Tóm lại, Tự do và Bình đẳng liên quan mật thiết với nhau. Tự do là thiết yếu của Hiện thể; Bình đẳng là thiết yếu của Hiện hữu, của cuộc sống xã hội. Tự do vốn thuộc bản chất con người, Bình đẳng là yêu cầu của đời sống. Tự do thuộc tâm linh, Bình đẳng thuộc cấu trúc xã hội. Thánh nhân không minh thị về Tự do nhưng lại minh thị về Bình đẳng: Chúa Giê-Su luôn luôn đặt đức Công bình trước mọi sự: “Khốn thay cho các thầy thông giáo và người Pha-ri-si là kẻ giả hình! Vì các người nộp một phần mười bạc hà và hồi hương và rau cần mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp là sự công bình, thương xót và trung tín” (Ma: 25-23) 

 

Khi người Pha-ra-si hỏi Chúa về điều răn nào trong luật pháp là lớn hơn hết, Chúa trả lời: “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Đức Chúa Trời, ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây cũng vậy, ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri bởi hai điều răn ấy mà ra” (Ma: 22+37, 38, 39). Lời răn thứ nhất là sự hướng về Đức Chúa Trời tức hướng về lẽ Đạo; lời răn thứ hai nói về đức Công bình, tức sự Bình đẳng giữa nhau, vì “yêu kẻ lân cận như mình” là xem kẻ khác như mình, cả hai là một, đều cùng là chủ thể hiện sinh. 

 

Trong một đoạn khác, Chúa bảo thêm: “Hãy yêu kẻ thù như yêu mình”, đấy là cái Tâm bình đẳng, cái Tâm không sai biệt, cái Bình đẳng tánh trí của nhà Phật. Tình yêu hay lòng thương xót đến mức độ đó thì chính là đức Công bình tuyệt đối. Trong thực tế, tình yêu thương nhiều khi lại tạo ra bất công, tạo ra bất bình đẳng, ngoại trừ khi nào đấy là lòng bác ái thật sự, thương tất cå mọi người như thương mình, nghĩa là xem tất cả đều đồng đẳng và như thế là thể hiện được Bình đẳng, Công bình, vì không còn phân chia ranh giới, xóa bỏ hết mọi chênh lệch giữa nhau. 

 

Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, ba đức tính này trên thực tế thường gây đổ vỡ cho nhau. Điều hòa được cả ba là sự việc vô cùng khó khăn. Nói như thế, không có nghĩa là trước nay không ai thực hiện được, và mọi tổ chức không lo nghĩ đến. Cái tư tưởng suy niệm nơi con người càng lúc càng được đánh thức, do sự lồng lộn của cơ năng càng gia tăng, nên văn minh không thể tách rời văn hóa. 

 

Nhân loại hiện nay dù sự phát triển có nâng (cơ năng?) đến trình độ cao, ghê khiếp, nhưng cũng chính là giờ chuẩn bị của sự cô đọng của lượng vào phẩm, để cả ba đức tính trên cùng một lần thị hiện, tan hóa vào trong cái Tâm linh thống hợp. Đấy là lúc mà cái Tất định Qui luật hòa nhập vào trong cái Tất định Như nhiên, lúc dòng lịch sử sinh hóa của tại thế hội nhập vào trong chuyển dịch như nhiên của lẽ Đạo.