Nhân Loại Mới

a7/ cặp phạm trù mâu thuẫn 7: “con người - xã hội” “cá nhân - tập thể” “quyền lợi riêng-quyền lợi chung”

Có người bảo “con người là một xã-hội-hữu”, cái tính xã hội có sẵn nơi con người. Có người lại bảo vì nhu cầu đối phó với các trở ngại thiên nhiên và để bảo vệ, phát triển cuộc sống, con người đã hợp tác với nhau, hình thành cuộc sống xã hội. Giải thích thế nào cũng được. Một đằng do từ yêu cầu tự thân, do yếu tính phát sinh từ bản chất, một đằng do cần thiết của đời sống, do tác động của bên ngoài. 

 

Do kết hợp thành xã hội mà hình thành ý chí sống chung và cơ cấu tổ chức. Mỗi cơ cấu tổ chức tạo nên một hình thái xã hội, một chế độ chánh trị, kinh tế. Không ai chối cãi ích lợi của xã hội đối với con người. Không sống thành xã hội, chắc hắn con người còn tồn tại trong trạng thái sơ khai, mông muội. Do xã hội, con người phát huy được khả năng mình một cách hiệu quả, đưa cuộc sống mỗi ngày một tiến bộ, văn minh. 

 

Mặc dù xã hội là môi trường tạo điều kiện cho con người phát triển, nhưng xã hội cũng là môi trường tỏa chiết, đọa đày con người lắm nỗi. Con người và xã hội hầu như miên viễn trong một thế đối phó thường trực. Con người trông cậy vào xã hội, luôn luôn đòi hỏi xã hội đáp ứng mọi điều kiện sống của mình, trong lúc đó xã hội càng lúc càng tha hóa con người, ràng buộc con người vào những nghĩa vụ và trách nhiệm càng lúc càng nhiều, càng cấp bách. Quyền lực xã hội mỗi ngày càng lớn rộng, càng khe khắt, bắt con người càng lệ thuộc chặt chẽ, sít sao hơn. Con người đòi hỏi được sinh hoạt trong tư cách một cá thể tự do, ngược lại xã hội nhìn và đối đãi với con người như một kẻ đóng góp, một bộ phận của guồng máy. 

 

Quan hệ giữa xã hội và con người dần dần mang tính cách cơ năng một lúc một thêm nặng nề. Nhân danh quyền lợi chung, xã hội dần dà chi phối con người về đủ mọi mặt, biến thành quyền lực mà con người khó lòng thoát vượt, chống đối. Những quyền căn bản mà con người thỏa thuận, hiến nhượng lúc ban đầu để tổ chức thành xã hội, như Jean Jacques Rousseau quan niệm qua lý thuyết “Khế ước xã hội”, đã không được xã hội trao trả lại trọn vẹn, mà còn hạn chế và tước đoạt thêm lên. 

 

Trong những xã hội phát triển, đời sống tuân theo vận hành của máy móc, con người hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào cơ giới, bị cuốn hút vào vận chuyển cơ năng để đến nỗi hầu như không còn điều kiện và thì giờ sống cho chính mình. Đấy là tình trạng xã hội hóa mà thiếu xã hội tính. Sự phát triển nhân số cùng sự gia tăng nhu cầu và sở thích càng nhiều và thay đổi nhanh chóng, con người chỉ còn phải lo chạy đua đuổi bắt cái sống vật chất, cái sống xã hội để theo kịp thời trang, theo đòi hỏi của tiện nghi và thị hiếu. Mọi tự do có được ghi nhận và tôn trọng, mọi an ninh xã hội có dồi dào nhưng con người lúc nào cũng như không đủ điều kiện để hưởng thụ một cách thoải mái. Nền văn minh của tiêu thụ, và có thể nay mai, nền văn minh của rảnh rỗi, càng lúc càng gia tăng, nhưng cuộc sống của con người trong những xã hội tiến bộ đó lại nghèo nàn, cằn cỗi về mặt tâm linh (dĩ nhiên ngoại trừ một số ít được ưu đãi hoặc có đủ điều kiện vượt ra ngoài sự vận hành cơ năng của cuộc sống xã hội). 

 

Tính cách máy móc, tính cách “nhật tụng của cuộc sống” (la quotidienneté de la vie) đã khiến con người chán sống, luôn luôn trong trạng thái bơ thờ, bực dọc, ngơ ngẩn với chính mình. Từ đó, con người, nhất là giới trẻ, luôn luôn bị thôi thúc bởi bung phá, nổi loạn, không phải đưa đến xây dựng những gì tốt đẹp hơn, mà thường chỉ để thỏa mãn nhất thời, để giải tỏa cái ngột ngạt của cuộc sống đều đặn, ngăn nắp, trật tự, nhưng thiếu nội dung cho tâm hồn nầy nở. 

 

Những tự do được hưởng trở thành nhàm chán, cuộc sống có đủ, có vui, cuộc sống có yên ổn đối với bên ngoài, nhưng lại không mấy “yên ổn” ở bên trong, tâm tư lúc nào cũng uể oải, ù lì, ngưng đọng, ngột ngạt, ray rứt, cô đơn và đầy ẩn ức. Dòng sống sôi nổi, náo loạn bên ngoài nhưng tự thâm tâm lại lặng lờ, tẻ ngắt, cô đơn. Rồi mọi ẩn ức được thể hiện bằng hành động bung phá, bằng những tội lỗi được “văn minh hóa” do những cống hiến của kỹ thuật. Hầu như không ai nhìn ra được ý nghĩa cao quí của cuộc sống mình, của cuộc sống nói chung, và đành buông xuôi theo cái thực tại thường ngày, theo dòng diễn biến của cái định mệnh xã hội. 

 

Lịch sử tự tạo mà không tự thức”, lời của ai đó (hình như của Jean Paul Sartre) ám ảnh con người nên mỗi người hầu như chẳng còn để ý đi tìm một ý nghĩa cao quí nào cho cuộc sống mình, vì trong thực tại dù có muốn cũng không có điều kiện. 

 

Tình thương không cạn, khả năng sáng tạo không vơi mà không một điều kiện, môi trường nào phát huy, phát triển”, đấy là cái cô đơn đệ nhứt của con người hiện nay. 

 

Trong những xã hội độc tài của số đông, cuộc sống con người càng bi đát hơn. Con người nghèo nàn cả về vật chất lẫn tinh thần. Con người khối lượng, con người đoàn lũ dần dà thay thế con người tự do, con người nhân bản. Quyền lực xã hội, nhân danh số đông càng đè nặng lên thân phận con người. Nhà nước của số đông càng khai thác, bóc lột, áp bức con người đủ mọi mặt, bằng mọi cách, biến con người thành phương tiện, thành công cụ không hơn không kém. Nơi đây, chỉ có nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm, phấn đấu, hy sinh, chỉ có sẵn sàng tuân phục mọi yêu sách nhân danh xã hội, nhân danh quyền lợi chung. Con người quay quắt, nhào lộn cho ăn nhịp với những yêu sách đó để mong giữ được cái khẩu phần đã định, để hy vọng giữ được đều đặn mọi cái ăn, cái mặc, cái tiêu dùng ở mức độ sơ đẳng. Con người trơ trụi. 

 

Nhân danh là làm chủ tập thể, phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhưng người dân chẳng có cái gì thực sự gọi là làm chủ cả. Nơi đây, xã hội đem cái trừu tượng, cái khái niệm phú trùm lên tất cả, bắt cái thực tế, cái thực thể phải phục vụ, phải uốn mình để thích nghi hóa. Ngay cả những tư liệu sinh hoạt cũng không được bảo đảm vì có thể bất thần phải hiến dâng, phải nhân nhượng cho nhu cầu xã hội, phải “tự nguyện” đem đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Thiếu thốn, nghèo đói, lao động cưỡng bức (bởi chế độ hay bởi đói ăn) cùng tính chất một chiều, độc đạo của tư duy khiến cuộc sống lạnh buồn, hiu hắt, khổ nhục, lo lắng triền miên. Thêm vào đó, kỷ luật hay pháp chế xã hội, thứ pháp chế độc đoán, chuyên chính, nhân danh giai cấp và số đông đưa đẩy con người đến trạng thái bị động, khuất phục hoặc ù lì, mất hết khả năng sinh hoạt. Cuộc sống lê lết trong bi thảm, triền miên không yên, không đủ, không vui. 

 

Ở cả hai bên, con người rơi vào một thứ trạng thái “hư không”, trông ra náo động, nhộn nhịp tưng bừng, nhưng thực sự lại rỗng không, nhạt nhẽo. Tiểu thuyết, thi ca hiện sinh đã mô tả cái cô đơn, bi đát của con người trong xã hội ngày nay. 

 

Mọi liên giao tâm tư, mọi gắn bó tâm tình, mọi tình cảm cha mẹ con cái, vợ chồng, thầy trò, bè bạn... dần dần mất hết tính cách thân tình, thiết tha, bền chặt, cao đẹp. Tất cả đã tan loãng, hời hợt, dễ vỡ, dễ tan, dễ quên, dễ mất. Vì tất cả được “xã hội hóa, hợp lý hóa”. Tình thương yêu như lòng nhân đạo chẳng hạn không còn trực tiếp giữa người và người mà thông qua tổ chức đoàn thể, xã hội. Phải chăng điều này phù hợp với lời Chúa, lời Phật: “bố thí tay trao mà mắt nhắm” hoặc “tay phải trao mà không cho tay trái biết”. Những hội thiện nguyện quốc tế, những tổ chức nhân đạo quốc tế đã thay con người để tiếp xúc với mọi người. Những ràng buộc về tình cảm dần dần không còn là nỗi lo của từng người mà đã có những tổ chức xã hội và luật pháp lo lắng, bảo đảm. Kể ra, như thế cũng khỏe khoắn nhưng cái chất sống thực của con người với con người hầu như mất đi. 

 

Dĩ nhiên, khó lòng cưỡng ép xã hội đi ngược lại với tiến trình “xã hội hóa” và “hợp lý hóa” đó, không thể kéo lùi xã hội và con người trở lại với trạng thái trong thời kỳ mà lễ giáo, đạo đức quá khắt khe, kềm hãm mọi phơi bày cởi mở tự nhiên của tâm tình, mọi tiến bộ của xã hội về mặt cơ năng. Nhưng làm sao để kết hợp được cả hai thể hiện trong cùng một lúc. 

 

Và dần dần, những tình cảm nhân đạo lại núp dưới những ẩn ý chánh trị trong mối quan hệ giữa quốc gia, dân tộc với nhau. Thay thế vào những tình cảm tích cực đó lại là cái quá khích của bè phái, cái tính cực đoan của quốc gia, dân tộc, của chủ nghĩa, cái hận thù của giai cấp, của thế hệ, của hốt hoảng tranh giành hưởng thụ, giành chiếm chỗ đứng xã hội, cùng cái bơ thờ chịu đựng, cái thái độ an phận xuôi chiều, cái xót xa tủi buồn âm ỉ, cái cô đơn lạnh lẽo, chán chường, cái thái độ khuất phục, đầu hàng, chiến bại, không hẳn vì thiếu khả năng mà vì thiếu điều kiện, và bao nhiêu mặc cảm tự ti, tự tôn giữa người với người, giữa quốc gia dân tộc với nhau từ đó mà phát sinh. 

 

Tại một số nước tiền tiến về kỹ thuật, tự do cá nhân là cái mộc cho trác táng, nổi loạn; tại các nước độc tài nhân danh giai cấp thì tập thể lại là cái nhân danh để dập tắt hết mọi nhân quyền và thúc ép con người đi vào khuôn khổ đồng nhất. “Hầu như người ta bắt buộc phải khích động những tình cảm tiêu cực, giả tạo hướng đến chống đối một cái gì, một kẻ nào, và khi không có những mục tiêu cụ thể để căm hờn, thù hận hay những lý do để sợ hãi thì lại phải phát minh, sáng tạo chúng ra” (47). 

 

Bên cạnh cái quyền lực rõ mặt của xã hội, thông qua luật pháp và tổ chức, còn có một thứ quyền lực khác cũng vô cùng tàn nhẫn, khắt khe. Đấy là dư luận, “cái nhìn” của kẻ khác, cái nhìn thường chỉ soi mói, đố ky, gièm pha và hạ nhục. “Kẻ khác là địa ngục của tôi”, lời của một triết gia hiện sinh mô tả đầy đủ tính cách tàn bạo của cái nhìn xã hội trong cuộc sống thường nhật đối với con người. 

 

Trong một số xã hội, “cái nhìn” đó được nêu thành chủ trương, biến thành khí giới của cơ quan công an, mật vụ, để thám báo, canh chừng, theo dõi, kiểm soát và tố cáo con người, nhiều khi từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ miếng ăn đến lời nói, đến hành động. Con người không còn một sinh hoạt nào cần thiết cho sự thanh tĩnh, trong sáng của tâm hồn, sự thảnh thơi, khoan khoái của thân xác và sự bình tâm sáng tạo của trí tuệ, tâm tình.

 

Trong xã hội, ngày nay, con người bị chia năm xẻ bảy, bắt buộc phải tham dự, phải có mặt trong từng tổ chức lớn hay nhỏ, từ công ăn việc làm đến hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du hí. Mỗi người là một tín hữu, đoàn viên, đảng viên, hội viên, phần tử của tập thể này, tập thể nọ. Nhiều khi sinh hoạt của các xã hội đó xung đột nhau khiến con người bị xé ra từng manh mún, phải phân vân, ray rứt, băn khoăn, quằn quại giữa bao xu hướng, bổn phận, trách nhiệm mâu thuẫn, đối kháng nhau. Con người cá nhân bị nuốt trửng trong con người xã hội, con người tập thể. Nhân danh quyền lợi chung (xã hội, quốc gia, dân tộc, giai cấp, giáo hội, đảng phái, đoàn thể, hội đoàn), mỗi tập thể đòi hỏi và bắt ép con người nhiều nghĩa vụ, nhiều bổn phận mỗi lúc một nặng nề trong lúc quyền lợi riêng thiết thực của cá nhân chẳng có hoặc chẳng được đền bù cân xứng. 

 

Thực sự, cái “quyền lợi chung”, quyền lợi tập thể, chỉ là thứ quyền lợi cá nhân được nới rộng, được công cộng hóa, tổng quát hóa, càng lúc càng mờ nhạt đối với mọi phần tử gia nhập vào tập thể. Cái quyền lợi chung đó thường cũng chỉ ở trong tay một số ít người lãnh đạo, thao túng mọi nhân danh để củng cố quyền lực, tích lũy quyền lợi.

 

Rồi cuộc đấu tranh xã hội lôi kéo các tập thể đấu tranh nhau, bên nào cũng nhân danh quyền lợi, nhưng là quyền lợi của tập thể mình. Cá nhân trong mỗi tập thể nhiều khi phải trong tư thế đấu tranh cho quyền lợi của hai ba đoàn thể cùng một lúc. Cá nhân chỉ còn là kẻ đóng góp hết mặt này đến mặt nọ. 

 

Chủ nghĩa cá nhân xuất hiện khá sớm là một phản ứng trước mọi áp bức của bên ngoài, của xã hội đối với con người. Chủ nghĩa này đòi hỏi phải tôn trọng, phải để con người được sống tự do và phát huy quyền tự do của mình theo ý muốn, từ đó đưa đến “chủ nghĩa tự do” (libéralisme) trong hành động, trước tiên trong hành động thoát ly, cởi mở những buộc ràng của đời sống vật chất. Sự đòi hỏi này đưa đến những chủ trương “tự do kinh tế” và “tự do chánh trị”. Những đòi hỏi tự do quá trớn cho cá nhân đã đưa con người và xã hội đến bao nhiêu bất công, áp bức, bóc lột, nặng nề nhứt là trong thời gian đầu của sự hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản. 

 

Chủ nghĩa xã hội là phản ứng lại chủ nghĩa cá nhân, chủ trương bài bác chủ nghĩa tự do về mặt kinh tế, và xem chủ nghĩa tự do về chánh trị không hội đủ điều kiện bảo đảm cuộc sống con người. Chủ nghĩa xã hội lúc đầu có quá nhiều tính cách lý tưởng với một “kinh tế cộng đồng” (mutuellisme) với một thể chế “vô chánh phủ” như Proudhon, mặc lấy tính cách không tưởng như Saint Simon, Fourier... chủ trương không cần đến Nhà nước, và hủy bỏ sự “tự do cạnh tranh”, trước hết về mặt kinh tế. 

 

Từ chủ nghĩa xã hội không tưởng đó, hình thành chủ nghĩa “xã hội khoa học” của Mác chủ trương phải có một thời kỳ quá độ thông qua nhà nước chuyên chính để tập thể hóa hết mọi phương tiện, công cụ và tư liệu sản xuất, để tiến tới hủy bỏ Nhà nước và thiết lập chế độ Cộng sản phát triển. 

 

Cả hai chú nghĩa trên không giải quyết được mối mâu thuẫn giữa con người và xã hội, chưa phục vụ được con người, được quan niệm là thực thể, là chủ thể hiện sinh. 

 

Chú nghĩa cá nhân đã bị bài bác quá nhiều rồi. Riêng cái gọi là “chủ nghĩa xã hội” theo hướng lý thuyết Mác và Lê-nin đang được áp đặt tại một số quốc gia, và cũng được một số nhà trí thức tư sản phương Tây hâm mộ, có thật là một “chủ nghĩa xã hội” đúng nghĩa hay không? Nơi đây không làm công việc phân tích dài dòng, tỉ mỉ, vì không là chủ đề của tập sách. Chỉ xin nói một cách đơn sơ rằng cái gọi là “chủ nghĩa xã hội” đó đã mắc phải một khuyết điểm sâu đậm về quan niệm cá nhân và xã hội, nên rốt cuộc chủ nghĩa đó thành công nơi đâu chỉ làm cho con người điêu đứng. 

 

Chủ nghĩa này quan niệm xã hội thuần về mặt cơ cấu, chỉ chú trọng “xã hội là một tập hợp”, và nhìn “con người” thuần về phương diện “cá nhân”, nghĩa là xem mỗi người chỉ là phần tử, chỉ là bộ phận của tập hợp, của guồng máy xã hội, vì thế cá nhân phải lệ thuộc, phải hy sinh cho sự điều hành sinh hoạt của xã hội. Cá nhân dĩ nhiên chưa hẳn là “con người” thực sự, mà chỉ là phần biểu hiện của “con người” ra mặt hiện thể, trong cõi tại thế giữa và cùng với bao nhiêu hiện thể khác đồng loại hay khác loại. Cá nhân là cái phần “hiện tượng” của bản chất người. 

 

“Con người”, như đã biết, là một “hữu thể”, một thực thể trừu tượng với bao nhiêu yếu tính, đặc điểm của nó mà triết học, khoa học, trước nay đã nói đến: hữu thể lý trí, hữu thể chánh trị, hữu thể kinh tế, hữu thể xã hội, hữu thể lịch sử... Do những yếu tính đó mà con người luôn luôn là một “dự phóng” (projet) mãi mãi hướng về hoàn thiện mình, tìm đến một ý nghĩa cao hơn, đẹp hơn để tự thực hiện chính mình. Nhưng hiện hữu là “hiện hữu trong toàn thể” nên những yếu tính đó chỉ được thể hiện qua những hoạt động, hành động trong môi trường sinh hoạt, trước tiên là trong xã hội. Vì thế, xã hội muốn thực sự phục vụ con người phải nhắm đến những yếu tính đó của con người, qua cái phần cá nhân của nó trong từng dạng hiện hữu. Nhưng con người vốn là bản thể, hữu thể chỉ có thể hiện hữu qua những biểu hiện của mình trong môi trường, tức là qua cái phần “cá nhân”, cá thể trong cộng đồng, do đó phải phù hợp với cộng đồng, vì nếu không thì con người sẽ chỉ còn là một hữu thể đơn độc, vô nghĩa, vì nếu không “hiện hữu tại thế” thì cái bản thể kia cũng không thể nào đạt được. 

 

Con người không thể đòi hỏi xã hội phải hoàn toàn hy sinh cho mình, hoàn toàn phục vụ cá nhân mình vì như thế con người sẽ không còn hiện hữu được nữa. Nhưng xã hội cũng không thể xem cá nhân là công cụ, là phương tiện, đòi hỏi cá nhân phải hoàn toàn phục vụ xã hội, vì như thế là “giết chết” con người, là xem con người chỉ là sức lao động đóng góp cho xã hội không thôi, chẳng khác sức “lao động chịu đựng” của chiếc đinh ốc trong vòng quay của trục hay của bánh xe. Chủ nghĩa xã hội, nhất là “chủ nghĩa xã hội khoa học” của người Cộng sản, trước nay chỉ xem con người về mặt “cá nhân” không thôi nên đã vô tình - hay cố ý - hy sinh con người, không xem con người là chủ thể mà chỉ là một phần tử, một bộ phận. 

 

Dĩ nhiên, chú nghĩa đó cũng nói đến con người, đến Công bình, Tự do, Tình thương, cũng vạch ra viễn ảnh một xã hội đại đồng, để con người sáng tạo chính mình, còn trong hiện tại, con người phải qua xã hội tạo điều kiện thỏa mãn hết mọi thiết yếu đã, nhưng cuộc sống của con người có bao giờ chia ra hai phần tách biệt cho đâu. Cơ năng và tâm linh, hoặc nói thông thường là vật chất và tinh thần luôn luôn hiện diện trong nhau. Vì thế, theo người viết, xã hội muốn phục vụ đúng đắn con người cần phải được định nghĩa một cách đầy đủ: “Xã hội trước tiên là ‘kẻ khác’, tiếp theo là một tập hợp của đông người”... 

 

Thiết tưởng, định nghĩa như thế mới đầy đủ cả hai mặt “đối tượng phục vụ” và “cơ cấu phục vụ”. Chỉ thiên về một mặt thôi, sẽ chẳng phục vụ hiệu quả con người. Vì thế, những “chủ nghĩa xã hội” theo quan điểm Mác- xít đã hiểu xã hội thuần túy về mặt cấu trúc, về mặt cơ năng và chỉ nêu quyền lợi xã hội làm mục tiêu tranh đấu, mà quên hay gác qua cái thực chất của con người. 

 

Một số triết gia bảo “Tự tại với chính mình là tự tại một trong hai” (48) và “Tôi chỉ là tôi nơi kẻ khác” (49), cái “một trong hai”, cái “kẻ khác” đó trước tiên là một người, một chủ thể hiện sinh như tôi trước khi nói rộng ra là xã hội. Vì thế, trong mọi tiếp xúc, giao tế, trao đổi giữa người và người, con người chỉ thể hiện được sự ngay thẳng, thành thật, sự cảm thông, nói chung mọi giao liên tâm tư - dù tích cực hay tiêu cực - giữa “một người” với “một người”, hơn là giữa một người với đám đông, với tập thể, vì lúc đó, con người nhìn “người thứ hai” như là một chủ thể như mình. 

 

Xã hội trước nay đã dần dà tách rời mối liên hệ giữa “người và người” thành liên hệ giữa người với tập thể, với xã hội nên cái “tôi chủ thể” nơi mỗi người bị tha hóa thành cái “tôi xã hội”, để hòa nhập vào đám đông, vào tập thể. Về mặt triết lý và tâm lý học, tự thân mỗi con người là nơi thể hiện cả ba cái “tôi” cùng một lúc:

 

 - Cái “tôi chủ thể” hay cái “tôi tự do” luôn luôn đòi hỏi được sinh hoạt tự do trong mọi phương diện;

 

 - Cái “tôi siêu việt” hay cái “tôi tín ngưỡng” lúc nào cũng hướng về sự thăng hoa mình và dạng hiện hữu của mình;

 

 - Cái “tôi xã hội” tức cái tôi phóng thể ra bên ngoài trong hiện hữu tại thế để “hiện thể trong toàn thể”. 

 

Cả ba cái “tôi” đó, trong cuộc sống, hòa nhập với nhau để trở thành cái “tôi hiện sinh”. Mọi lý thuyết, tôn giáo cũng như mọi tổ chức nhân sinh trước nay đã giản lược cái “tôi hiện sinh” đó của con người vào một cái “tôi” riêng biệt của nó, chỉ chú tâm vào một cái “tôi” nào đó thôi, lấy đấy làm cơ sở để giải thoát và giải phóng con người khỏi mọi đau khổ, tội lỗi. 

 

Tôn giáo chú trọng vào Tâm Đức, tức cái “tôi siêu việt”, cái “tôi tín ngưỡng”, để vượt thoát hai cái “tôi” kia, đưa đến xem thường hay chấp nhận đau khổ, tìm hoan lạc trong tâm hồn, tìm cái “tự tại”, cái Niết Bàn hay cái “bình an trong Chúa”. 

 

Lý thuyết Tự do Dân chủ chú trọng cái “tôi chủ thể”, cái “tôi tự do”, xiển dương chủ nghĩa tự do, dùng đấy làm căn bản để đấu tranh với cái “tôi xã hội” để đạt đến cái “tôi siêu vượt”. 

 

Chủ nghĩa xã hội lấy cái “tôi xã hội” cưỡng chế (hay phủ nhận) hai cái “tôi” kia, mong đưa đến một cơ cấu xã hội không còn áp bức, bóc lột, không còn tạo nên đau khổ cho con người. 

 

Cứu cánh là một nhưng phương pháp khác nhau xa. Vì con người là một “tổng hòa” của cả ba cái “tôi” kia nên muốn phục vụ con người phải phục vụ cả ba cái “tôi” đó cùng một lúc. 

 

Vấn đề thực khó khăn, nhưng đấy là vấn đề thuộc ý chí tự do của con người, để dần dà cải thiện mọi tổ chức xã hội, nhằm phục vụ con người càng lúc càng trọn vẹn hơn. Vì thế, quyền lợi chung phải được hiểu là quyền lợi của con người, chứ không phải quyền lợi của từng cá nhân trong một tập thể, và quyền lợi của tập thể cũng chính là quyền lợi của con người, chứ không là quyền lợi của cá nhân được “tập thể hóa”, “tổng quát hóa”. 

 

Điều này lại phải cầu cứu đến lẽ Đạo. Nhìn ra được lē Đạo, nhìn ra được cái “Tất định Như nhiên” chi phối vạn hữu và nhân sinh, con người mới biết hạn chế được những dục vọng “tư hữu và chiếm hữu” ở mỗi giai đoạn lịch sử, và xã hội mới thoát ly dần tính cơ năng của cấu trúc, để giúp nhân loại sớm thăng hoa được dạng tồn tại của con người và chủng loại nói chung.