Những cặp phạm trù mâu thuẫn cặp đôi kể trên đã chi phối dòng tư tưởng con người lâu nay, làm nảy sinh bao bệnh thái và hiện tượng xã hội. Những bệnh thái và hiện tượng này đã được đề cập ít nhiều trong những trang trước, nay xin tỉ mỉ hơn dù có dài dòng thêm đôi chút.
a. Hiện tượng số đông
- Xã-hội-hoá thiếu xã-hội-tính
- Xã hội hợp-lý-hoá:
Những tiến bộ thần tốc của kỹ thuật về mặt truyền thông, vận chuyển cùng sự gia tăng nhanh chóng về mặt nhân số trên địa cầu đã đẩy đưa xã hội loài người càng ngày càng sít sao, chặt chẽ hơn. Mọi người thường cận kề, gặp gỡ, gần gũi nhau hầu như hàng ngày trên những chuyến xe, tàu hoả, phi cơ, trong các cuộc ăn chơi, du lịch, du hí, lao động.. Hiện tượng “đông đầy” (phénomène du plein) này đã được Ortega Gasset đề cập trong tác phẩm “Cuộc nổi loạn của quần chúng” (50). Trong các trường học, các hãng xưởng công nghệ, các cuộc nhóm họp, các cuộc giải trí... và ngay trong chiến tranh, ta thấy “hiện tượng đông đầy” đó luôn xảy ra.
Hiện tượng “đông đầy” khiến mặt đất như hẹp lại, không gian sống bị “nhiễm độc” vì sự chen chúc, sự tranh giành và thời gian sống cũng bị “co rút” theo. Người ta hối hả bon chen trong đủ mọi trường hợp: cố tranh sắp hàng trước để mua được chiếc vé, tìm được chỗ ngồi, chỗ đậu xe, đến nơi sớm và trở về thật sớm để kịp thì giờ lo liệu những việc khác.
Hiện tượng số đông và thường xuyên gặp gỡ này đã khiến con người không còn quá xa lạ nhau, thường quen mặt nhau, bớt sự kỳ thị, tự ti. Trên chuyến xe hoả, xe ca, tàu thủy, phi cơ, trong quán ăn, rạp hát, tiệm nhảy, trong cơ sở lao động, ta có thể thấy đủ mọi hạng người, mọi lứa tuổi, mọi quốc tịch, mọi lớp người thuộc mọi ngành nghề, địa vị xã hội khác nhau.
Ngay trong chiến tranh - dù nội loạn hay xâm lăng - ta thấy sự tham dự - tự nguyện hay bị cưỡng bức - của nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều loại binh chủng và nhiều thành phần tham chiến dù chính kiến, ý thức hệ, quan điểm tôn giáo, chính trị, quyền lợi khác nhau.
Hiện tượng số đông và sự phát triển của kỹ thuật truyền thông, vận chuyển đã khiến xã hội loài người càng lúc càng “xã-hội-hóa” nhưng cũng từ đó càng mất dần cái “xã-hội-tính” nơi con người.
Càng “xã-hội-hóa” con người càng quen mặt nhau. Từ đó, con người không còn xa lạ, cách biệt nhau nữa, không còn đố kỵ, không còn mặc cảm tránh né, ngờ vực, nghi ngại giữa người và người. Sang, hèn, giàu, nghèo, người miền xuôi, kẻ vùng ngược hay người dân tộc này, kẻ dân tộc nọ, kẻ tôn giáo này, người tôn giáo kia...; mọi cái khác nhau về màu da, ngôn ngữ, về cách sống, về ý thức hệ không còn là nguyên nhân gây nên xa lạ, chia rẽ, tỵ hiềm. Người ta sống bên nhau, gần gũi, tiếp xúc, chào hỏi, trò chuyện, trao đổi với nhau hàng ngày. Các hiệp hội, các tổ chức đoàn thể về đủ mọi ngành nghề, về đủ mọi mặt sinh hoạt (thể thao, nghệ thuật, du hí, tương tế, nhân đạo...) càng lúc càng nhiều khiến con người lúc nào cũng như ràng buộc, liên kết, quan hệ với nhau.
Hiện tượng số đông và “xã-hội-hoá” đó đưa đến nhiều cách thế giải quyết cuộc sống khiến sự quần cư của con người càng lúc dính chặt với nhau hơn. Các thành thị mỗi ngày mỗi lớn với nhung nhúc từng đám đông. Nhà cửa không còn có thể là những biệt thự biệt lập, những ngôi nhà riêng rẽ cho từng gia đình cách xa nhau một khoảng lớn, vườn tược hẹp lại hoặc mất đi.
Khung cảnh thiên nhiên dần dà nhường chỗ cho nhà ở, cho đường sá, cho cơ xưởng kỹ nghệ, cho các kiến trúc về mặt này mặt nọ. Những căn nhà lụp xụp, những ổ chuột, những cầu cống, những công viên, những lề đường tương đối rộng biến thành nơi trú ngụ cho đám đông nghèo khổ đổ xô về thành phố vì tránh chiến tranh, vì để dễ tìm công ăn việc làm, vì để hưởng thụ tiện nghi văn mình tại những quốc gia còn nghèo nàn, lạc hậu. Đấy là không kể những chỗ cư trú gọi là “nhà tập thể” trong các nước Cộng Sản như ở Hà Nội chẳng hạn. Tại những quốc gia tân tiến, cao ốc, bin-đing mọc lên, đâm vút vào bầu trời.
Không gian của mỗi gia đình thu hẹp lại. Người ta chen chúc trong từng căn phòng bé nhỏ, trong những chiếc “nhà hộp” mà không khí không đủ hoặc bị nhiễm độc vì hơi thở, vì mồ hôi, vì rác rưởi, vì mọi tiện nghi choán chỗ quá nhiều, nhất là lúc cửa sổ, cửa cái thường xuyên phải đóng kín để tránh cái lạnh bên ngoài tại các vùng hàn đới.
Về mặt nhân loại, ta thấy sự hợp tác, liên minh giữa nhiều quốc gia, dân tộc vì an ninh, vì hoà bình, vì mậu dịch, vì thị trường kinh tế, vì hợp tác kỹ thuật, vì trao đổi công nhân, vì du lịch... dù chế độ chính trị, ý thức tín ngưỡng, phong tục tập quán khác nhau.
Một điều cần để ý là càng “xã-hội-hoá”, chỗ cư trú của con người, của gia đình càng hẹp lại, chật chội thêm nhưng không gian sinh hoạt công cộng càng rộng thêm. Đường sá phải rộng để chứa số xe cộ quá nhiều; mỗi hãng xưởng, mỗi công sở phải có bãi đậu xe rộng; trường học, nhà thương, hí viện phải rộng hay phải mở ra thật nhiều để đủ chứa số đông học sinh, người chữa bệnh, khách mua vui; những bãi tắm trở thành chật chội; những khách sạn phải nhiều phòng, nhiều tầng; các siêu thị phải rộng, phải nhiều tầng; xe hỏa, xe buýt, máy bay, tàu thủy phải lớn, phải thêm tầng, phải chạy, bay thật nhanh để kịp cung ứng nhu cầu của số đông.
Tại các nước tiên tiến về kỹ thuật, người ta tìm cách “chui” vào lòng đất như những xe điện ngầm, những đường hầm xuyên biển nối nhau giữa nước này với nước nọ, giữa những đảo trong lãnh thổ quốc gia cũng như tìm cách đổ ra biển bằng những thành phố xây trên mặt đại dương trước khi xây dựng những thành phố lưng chừng khí quyển cũng như những cách thế di cư khỏi địa cầu đến những tinh cầu khác trong ngày mai.
Hiện tượng số đông và tính cách “xã-hội-hoá” làm tăng trưởng sự cạnh tranh thương mãi và kỹ thuật. Để tiết kiệm “không gian và thời gian sống”, người ta (dĩ nhiên tại những nước tân tiến về kỹ nghệ) chế tạo ra những “vật dụng bé” (micro-produits), những vật dụng không đòi hỏi sự tốn thì giờ quá nhiều của con người. Chẳng hạn như máy phát thanh, truyền hình không còn quá choán chỗ như trước; những chiếc bàn, chiếc giường có thể mở ra hay xếp lại hoặc xếp hẳn vào tường khi không sử dụng; những tủ lạnh gìn giữ thực phẩm khỏi tốn công đi mua lắt nhắt; những sách báo được thu vào phim hay băng nhựa để khi cần chỉ bấm vào truyền hình hay bỏ vào video- cassette; những vật dụng tự động như nồi cơm điện, máy giặt, máy sấy; những chuông reo, những cửa tự động, những thang máy hay cầu thang cuốn,...
Do cạnh tranh thương mãi, thị trường, người ta tìm cách hạ giá mặt hàng, cố tạo ra kỹ thuật tinh vi hơn, nâng cao hoặc hạ thấp lãi suất, bớt nhân công, bớt giờ lao động...
Nhìn chung, tính cách “xã-hội-hoá” - trong đó kỹ thuật giữ vai trò quan trọng - về mặt nhân sinh đã tìm đủ mọi cách thế “tiết kiệm” cho con người và xã hội về bốn phương diện: tiết kiệm không gian, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công sức và tiết kiệm tiền nong. Tuy nhiên, kỹ thuật cùng tính cách “xã-hội-hoá”, qua cách thế “hợp-lý-hoá” tổ chức, dù đem lại những tiết kiệm trên nhưng lại không tạo được cho mỗi người những điều kiện để thực hiện các tiết kiệm đó.
Tính cách “xã-hội-hoá” đó giới hạn hoặc làm tan loãng cái “xã-hội-tính” của con người. “Xã-hội-tính” hay tính xã hội là một trong những đặc điểm quan trọng, thiết yếu của con người, một trong những thể hiện của bản chất người trong cuộc đời. Đấy là cái tình thương yêu, hợp tác, đoàn kết, tương trợ, đùm bọc, chịu đựng nhau trong cuộc sống giữa người và người. Đấy là một sở hữu bản nhiên của con người trước khi là một cần thiết của cuộc sống thực tiễn.
Cái tính xã hội không do xã hội đem lại. Không thể bảo con người từ xa xưa do run sợ trước những sức mạnh thiên nhiên và do cần thiết của cuộc sống mà kết tập thành xã hội, do đó phát sinh cái tính xã hội. Vì rằng, bao nhiêu loài sinh vật khác cũng bị đe dọa bởi những hiện tượng thiên nhiên và cũng cần thiết duy trì cuộc sống nhưng chúng có biết đoàn kết, chở che, giúp đỡ cho nhau đâu, có biết tổ chức thành xã hội và duy trì, phát triển xã hội đâu. Có thể nói rằng những đe dọa của thiên nhiên và nhu cầu bảo vệ cuộc sống là những điều kiện tác động để thể hiện tính xã hội nơi con người, từ đó đưa đến kết tập thành xã hội. Xã hội chỉ là môi trường và điều kiện tác động xã-hội-tính của con người. Cái tính xã hội là một yếu tính của bản chất người thể hiện ra trong thực tế, trong môi trường hiện hữu giữa đồng loại.
Do sự quần tụ, gần gũi, kế cận nhau, xã-hội-tính có điều kiện phát triển, tuy rằng cũng có rất nhiều trường hợp vì lòng dục tư hữu, chiếm hữu, xã-hội-tính có thể mất biến nơi một số người để trở thành ý chí quyền lực thống trị kẻ khác.
Trong xã hội ngày nay, do sự tiến bộ của kỹ thuật, sự gia tăng nhân số và sự hợp-lý-hoá của tổ chức, xã hội càng xã-hội-hoá bao nhiêu thì cái tính xã hội nơi con người lại càng mờ nhạt, tan loãng, không thiết tha, sâu đậm như trước. Điều này không do từ con người càng lúc càng mất đi cái “tính người”, không do con người ngày nay cạn rỗng “tình người” mà do từ những nguyên nhân ngoại tại do cuộc sống xã hội đưa đến.
Trước tiên, cuộc sống mỗi người không còn giới hạn nơi những thiết yếu và những nhu cầu vừa đủ như trước đây. Xā hội trước đây là một “xã hội tĩnh”, cuộc sống vật chất tức những điều kiện để duy trì và phát triển sự sống về mặt cấu trúc hiện thể hoàn toàn dựa vào sức lực, khả năng sẵn có của mỗi người trong trạng thái kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp, dù có dùng đến máy móc nhưng phần lớn là máy móc công cụ. Sự sống mỗi người được bảo đảm, không ai phải hoảng hốt lo sợ cái đói, cái rét, cái thất nghiệp làm điêu đứng, ngoại trừ tại những vùng đất quá cằn cỗi, tại những miền luôn luôn bị đe dọa bởi thời tiết, thiên tai và ngoại trừ trong những chế độ bạo tàn với sưu cao, thuế nặng. Cuộc sống của các sắc dân miền Thượng ở Việt Nam chẳng hạn, tuy thiếu hết mọi tiện nghi văn minh nhưng hầu như chẳng hề lo chết đói, chết rét ngoài bịnh tật ra.
Cuộc sống tĩnh vị, không lo đuổi bắt tiện nghi nên sự đấu tranh xã hội không gay cấn, hối hả. Không gian và thời gian không co rút, cưỡng bức con người. Do đó, con người có điều kiện để sống thanh thản với phần nội tâm của mình và tính xã hội do đó có phần sâu đậm. Con người dễ xúc động trước cái nghèo, cái khổ, cái ác, cái thiện; con người dễ trở nên thân thích, quyến luyến, gắn bó, tơ tưởng, nhớ nhung. Sợi dây liên kết giữa vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh em, dòng họ và mối quan hệ giữa thầy trò, bạn bè, chủ thợ cũng bền chặt, thiết tha. Người ta cứu giúp nhau trong hoạn nạn, tai ương, tương trợ nhau một cách thật lòng. Sự giao tiếp giữa người và người thường xuyên gắn bó. Mọi thú vui, giải trí còn nặng về mặt tâm tình. Dù rằng về mặt tinh thần, lễ giáo và đạo đức có quá gò bó, khắt khe khiến con người nhiều khi rẫy rụa, đọa đầy nhưng cũng chính những khe khắt của lễ giáo đã khiến cho cái “xã-hội-tính” càng sâu đậm tuy có phải gánh vác nhiều khổ lụy. Nghĩa gia tộc, tình đồng bào, nghĩa vụ đối với tổ quốc, tình thân thuộc hàng xóm láng giềng và liên giao tâm tư nam nữ đậm đà, sâu sắc.
Tóm lại, dù lễ giáo, đạo đức nghiệt ngã đến bao nhiêu, dù cuộc sống triền miên trong trạng thái kinh tế lạc hậu hay bán khai, dù chế độ chính trị có hà khắc bạo tàn, dù lao động có nhọc nhằn, dù tính ích kỷ, ghen tuông, đố kỵ, lòng tham... có dậy lên thì trong những xã hội trước, con người vẫn cảm thấy sự việc “không thương được người” là một giằn vặt, thiếu vắng của tâm tư.
Ta đã thấy bao nhiêu người mẹ, người cha suốt đời chịu bao nhiêu cái khổ để nuôi con cái nên người; bao nhiêu con cái hết lòng với cha mẹ, ông bà; bao nhiêu người vợ gánh hết mọi thiếu thốn, đớn đau để thờ chồng, nuôi con và cả gia đình chồng đến trọn đời; bao nhiêu người tôi trung thành với vua, với nước (đến nỗi đôi trường hợp hầu như ngu xuẩn theo cái châm ngôn xuyên tạc tinh thần Nho giáo: trung thần bất sự nhị quân); bao nhiêu người chủ thương yêu công nhân như ruột thịt; bao nhiêu nô bộc xem gia đình người chủ như gia đình mình; bao nhiêu cặp nam nữ gửi trọn tình yêu đến suốt đời dù có phải ép duyên hay vì hoàn cảnh phải lập gia đình với một người nào khác; bao nhiêu bạn bè chung thủy trước sau như một.
Nói cách khác, dù khổ cực đến mấy, con người vẫn dành được thì giờ sống cho nội tâm, vẫn xao xuyến sao cho tình yêu người nơi mình được trọn vẹn, được phát huy, mở rộng. Những câu tục ngữ, ca đao, đại để như:
- Thương người như thể thương thân
- Của ít lòng nhiều
- Miếng khi đói bằng gói khi no
- Lá lành đùm lá rách
- Dù xây chín bậc phù đồ
Không bằng làm phúc cứu cho một người,
hầu như dân tộc nào cũng có vì nó nói lên được cái “xã-hội-tính” có sẵn nơi con người. Cái “xã-hội-tính” đó bắt đầu từ tình thương giữa một người với một người rồi mở rộng đến số đông, được duy trì bởi huyết thống, bởi sinh hoạt chung đụng nhau, bởi lễ giáo, bởi tập quán và có thể bởi cả pháp luật.
Ngày nay, cuộc vật lộn mưu sinh quá nhọc mệt - không do tính cách nặng nhọc của lao động mà do sự co rút của thời gian - và cuộc đấu tranh xã hội càng lúc càng gay cấn, gấp rút. Nhu cầu càng lúc càng gia tăng để trở thành sở thích và sở thích lại biến thành nhu cầu mới và cứ thế tiếp diễn không ngừng. Kỹ thuật mỗi ngày thêm tân kỳ, mặt hàng luôn đổi mới, tiện nghi cuộc sống mỗi ngày thêm nhiều, con người và cuộc sống của nó mỗi lúc một bị cuốn hút theo thời trang để bắt kịp yêu cầu của thời đại.
Không gian sống gần gũi của con người bị giới hạn, bị thu hẹp. Chỗ cư trú bé lại, không chỉ về diện tích để ở mà còn về diện tích bị choán bởi bao nhiêu vật dụng. Ngày trước, diện tích ngôi nhà bị choán bởi những vật dụng quá lớn, ngày nay vật dụng tuy bé nhỏ nhưng lại quá nhiều. Khí trời như thiếu đi hoặc không còn thanh sạch do những cao ốc cao tầng che khuất ánh sáng và cản trở sự ra vào thong dong của không khí bị vẩn đục bởi hơi, bởi khói xe cộ và nhà máy. Thành phố càng lúc càng thêm lúc nhúc người.
Thời gian sống cũng co lại, thắt đai cuộc sống. Lao động cơ giới phù hợp với vận chuyển cơ năng không cho con người được thanh thản trong khi làm việc cũng như sau giờ hết việc. Hầu như không một ai không đi làm ngoại trừ bé thơ và người già cả. Mọi người trong gia đình chỉ gặp nhau thoáng chốc, không thể trao đổi, trò chuyện, thân cận nhau lâu vì cần phải ngủ để lấy sức, phải xem truyền hình, đọc báo hoặc phải vội vã đi làm theo ca hoặc lăn xả vào những trò vui. Những bữa ăn vội vàng, những cuộc ái ân cũng vội vàng, những chuyến đi chợ, đi giải trí cũng vội vàng. Người ta hầu như lúc nào cũng thiếu thì giờ để nghỉ ngơi, để hưởng thụ và nhất là để ngủ.
Thân xác co rút suốt tám, chín tiếng đồng hồ mỗi ngày trong suốt năm, sáu ngày liền mỗi tuần để được giãn nở vội vàng trong một, hai ngày nghỉ cuối tuần hầu như không được quân bình trong một tiết điệu điều hoà. Tại những nước tiên tiến, thì giờ nghỉ có nhiều, những weekend cuối tuần, những dịp nghỉ dài ngày có trả lương, người ta lăn xả vào những cuộc du hí, những chuyến du lịch và cũng vì hiện tượng số đông, những đợt giải trí đó mất đi tính cách thanh thản, nhàn nhã. Những cuộc tắm biển, xem đua thuyền, đua xe, trượt tuyết, những cuộc hoà nhạc, xem phim, nhảy đầm... nhìn chung để mua vui, để thoả mãn cặp mắt, đôi tai, để tiêu dùng cho qua số thì giờ không phải lao động hơn là để trang trải thần trí, trao đổi cảm thông, phong phú hoá tâm hồn. Thời trang cuốn hút khiến con người hầu như bị “cưỡng bách” phải hưởng thụ thú vui, phải nhảy xô vào mọi giải trí vội vã và ồn ào.
Người ta gặp gỡ nhau luôn, quen mặt mà không quen lòng; người ta chào hỏi, xã giao lịch sự, tế nhị nhưng sự thân cận, gắn bó chỉ có bề ngoài, hời hợt. Cứ xem cuộc sống trong những cao ốc, chung cư, nhà nào chỉ biết nhà nấy, không hề lưu ý đến nhà bên cạnh ra sao. Nhà bên có cãi lẫy, xô xát vì ghen tuông hay vì cớ sự nào đấy, thậm chí có đi đến cảnh đánh đập, sát hại nhau, nhà bên cũng hầu như không biết, hầu như không thể và không nên can thiệp, cùng lắm là điện thoại cho cơ quan công lực.
Người ta tôn trọng đời tư của nhau nên không can dự vào cuộc sống của người khác, của gia đình khác. Do đó, mọi cảm thông, chia xẻ giữa hàng xóm láng giềng không có hoặc hầu như không có. Nhà nào có nghèo, có đói, có rét... cũng không đón nhận được những an ủi, giúp đỡ của nhà bên vì lẽ không can thiệp vào đời tư, vì lẽ không có thì giờ, vì lẽ để tránh rắc rối phiền tạp và nghĩ rằng đã có xã hội lo rồi. Một kẻ bị ngã trên đường không được ai nâng dậy ngoài cái nhìn có vẻ xót xa vì ai nấy bận tranh thủ thì giờ đến sở, đến hãng xưởng đúng giờ. Một tai nạn xe cộ, không ai đến đỡ đần kẻ bị thương, chở đến nhà thương mà để cho cảnh sát và y tế lo liệu. Một kẻ gặp trường hợp bất hạnh -thất nghiệp, thất tình, thất chí hoặc bịnh hoạn, buồn khổ vì việc gì - ngồi co ro nơi lề đường hay góc phố, không ai đến hỏi han, trò chuyện, an ủi chỉ vì không có thì giờ, không xen vào việc riêng của ai, không can dự phá khuấy tự do của kẻ khác. Người công nhân không chia xẻ những khó khăn, gian khổ của người chủ; người chủ không cần thông cảm những thiếu thốn, khó khăn của gia đình công nhân; người thầy làm đầy đủ bổn phận, trách nhiệm không cần lưu ý đến cảnh ngộ học sinh; học sinh thích, kính nể thầy nhưng tình yêu thương thầy không sâu sắc, không cần thiết. Tình gia đình không mặn mà, sâu đậm, cái gọi là “tổ ấm gia đình” không mấy quan trọng và hầu như cũng không thể có vì mọi người trong gia đình ít họp mặt, gặp gỡ nhau; cha mẹ về già đã có nhà dưỡng lão, con cái chỉ gởi tiền, không mất thì giờ tận tụy, săn sóc mẹ cha. Tình cảm vợ chồng vì yêu thích nhau hơn là vì nghĩa “tương tri” vàng đá sắt son. Tình bằng hữu chỉ có trong giao du, trong hội đoàn, ít có tính cách gắn bó ruột thịt, thâm giao. Hầu như sự keo sơn, chung thủy giữa người với người không còn là vấn đề cần thiết, không còn là chất sống của tâm hồn. Tình yêu tổ quốc, đồng bào cũng hời hợt, ngoại trừ trường hợp đất nước bị xâm lăng, đô hộ. Ngay cả trong chuyện làm tình giữa vợ chồng, trai gái thường chỉ để trao đổi dục tình hơn là liên giao tâm tư. Gái giang hồ xem chuyện làm tình với khách làng chơi hoàn toàn là thương mãi, bán buôn thân xác tính theo giờ, không có những trao đổi ân tình nghĩa là vắng hết mọi tương giao giữa tình người khiến cuộc mây mưa không có chút gì ân ái.
Lòng nhân đạo được trao cho xã hội, thuộc trách nhiệm của xã hội do Nhà Nước hay những cơ quan, những tổ chức xã hội, từ thiện lo liệu. Những cơ sở bảo hiểm, những quỹ tiết kiệm bảo đảm về già nua, ma chay, tai nạn, bịnh tật, hôn phối... càng lúc càng nhiều, mỗi người chỉ hàng tháng gởi tiền vào đó, tích lũy và thêm lời, thế là an tâm. Kể ra thật khỏe khoắn vì tránh được cho con người những lo lắng sốt vó trong những trường hợp khẩn cấp. Người ta chán chường, ghê tởm, kinh hoàng trước sự nghèo đói, dơ bẩn, trước cảnh sát hại, những thủ đoạn áp bức, đè nén, giết người nhưng người ta không mấy xúc động, không mấy phẫn nộ, căm hờn. Người ta không sống nỗi khổ, niềm đau của kẻ khác giống như một tín đồ quỳ trước tượng Chúa mà không đau xót trước những dòng máu rỉ ra từ thân Chúa bị đóng đinh. Người ta không chia xẻ, chịu đựng lẫn nhau, không chịu khó cho nhau.
Tính cách “xã-hội-hoá” và tính cách “hợp-lý-hoá” trong tổ chức xã hội đã chuyển dời tình cảm thân thiết của con người đối với con người sang trách nhiệm của con người đối với xã hội. Tình cảm được (hay bị) “xã-hội-hoá” nên không còn tính chất tha thiết, đậm đà nữa. Cái “xã-hội-tính” nơi con người do đó tan loãng, hời hợt và trở thành nguồn lợi của thương mãi qua những nhà băng, những dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm... nhằm bảo đảm an ninh cho con người về mọi trường hợp nhưng cũng là cách thức làm tiền. Tất cả đều qua trung gian của tổ chức xã hội, của Nhà Nước; tình người không còn trực tiếp giữa người và người nữa nên cái tính xã hội nơi mỗi người trở nên nhạt nhẽo không là điều khó hiểu.
Thêm vào đó, cuộc sống phải hối hả đuổi bắt tiện nghi nên ai nấy đều phải tìm công ăn việc làm để có thể thụ hưởng các tiện nghi của thời đại. Mọi tiện nghi càng lúc càng nhiều, càng đa dạng trở thành nhu cầu và sở thích không thể thiếu.
Kỹ thuật tạo ra tiện nghi nhưng lại đào thải nhân công và hạn chế, giảm thiểu công việc làm như đã nói trong những trang trước. Vì thế không ai không đi làm nhưng tìm được việc làm, chỗ làm không phải dễ. Tiền lương xét ra không đủ cung ứng cho mọi nhu cầu thỏa mãn những tiện nghi càng lúc càng thêm nhiều, càng thêm mới mẻ.
Trong những xã hội trước, một người đi làm có thể nuôi cả gia đình (ông bà, cha mẹ, vợ con, anh chị em); trong xã hội ngày nay, mỗi người đi làm chỉ nuôi nổi riêng mình hoặc cùng lắm là người vợ, người chồng và một đứa con. Vì thế nên con cái thường vừa phải đi làm vừa phải đi học, phải lao động trong tháng nghỉ hè và đến tuổi trưởng thành hầu như phải tự túc cuộc sống để đến phải gián đoạn việc học.
Sự tiến bộ và cạnh tranh kỹ thuật đưa đến tình trạng phá sản của nhiều cơ sở kỹ nghệ, nhiều nghiệp vụ kinh doanh. Nạn thất nghiệp dài hay ngắn hạn là điều thường xuyên xảy ra. Sự ví đuổi tiện nghi của đời sống do đó khiến con người không còn thì giờ và điều kiện để lo lắng, giúp đỡ được ai dù có muốn.
Hiệu năng được tính bằng lợi tức. Về mặt Nhà Nước, quốc gia, lợi tức thu nhập ngoài việc xuất cảng ra nước ngoài thật nhiều, là tạo thêm kỹ thuật mới, cơ sở kỹ nghệ kinh doanh mới để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm cho dân và tạo thêm mọi tiện nghi, tạo thêm nhiều trò du hí, nhiều loại thuế để thu hút tiền bạc của nhân dân. Nhưng, như đã nói, nhu cầu an ninh, nhu cầu phát triển khoa học không gian, nhu cầu bảo vệ nhân quyền, nhu cầu cạnh tranh kỹ thuật và thị trường, nhu cầu về nghĩa vụ quốc tế (bảo vệ hoà bình, viện trợ nhân đạo...) đưa quốc gia đến tình trạng không đủ điều kiện tài chánh nên phải cần đến sự đóng góp của nhân dân càng lúc càng nhiều. Về mặt cá nhân, lợi tức mỗi người là đồng lương hàng tháng để với bắt tiện nghi và đóng góp cho nhà nước. Lợi tức đó, ngoại trừ nơi một số ít người, xét ra không đủ cung ứng cho cuộc sống của mình và gia đình mình trước yêu cầu của thời trang và tiến trình tiến bộ của thời đại.
Thêm vào đó, tính cách “hợp-lý-hoá” của tổ chức xã hội cũng gián tiếp làm cạn tắt tính cách xã hội của con người.
Một xã hội “hợp-lý-hoá” là một xã hội được tổ chức hết sức trật tự, ngăn nắp, lo tính và dự phòng tất cả những gi sẽ xảy đến cho người dân, ấn định được mọi biện pháp bảo đảm an ninh cho con người và đủ mọi mặt từ an toàn thân xác đến điều kiện dinh dưỡng, môi sinh, bịnh tật, chỗ cư trú, việc giáo dục, sự đi lại, trường hợp già nua, thất nghiệp, mọi va chạm, rắc rối về quyền lợi, tình cảm cùng những tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, nhân phẩm đi đôi với việc gìn giữ an ninh trật tự xã hội và sự tiến bộ, phát triển của đất nước. Tất cả đều được hoạch định có phương pháp, có quy hoạch theo một hệ thống sít sao.
Sự “hợp-lý-hoá” trong khoa học kỹ thuật là tạo điều kiện cùng chọn lựa, sắp xếp mọi dữ kiện nhằm đưa đến kết quả mong muốn. Về mặt tổ chức, sự “hợp-lý-hoá” là dự phòng, ấn định trước mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, mọi sự kiện tất yếu sẽ xảy ra để thiết lập những cơ cấu và quy định những biện pháp, những điều kiện giải quyết mọi tình huống đó.
Lý thuyết Mác-Lênin cũng như người Cộng sản cũng nghĩ như thế nên chủ trương xóa bỏ tư hữu, chiếm hữu, quốc hữu hoá và tập thể hoá mọi tài sản của nhân dân, hy vọng với phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa sẽ phát triển được cái “xã-hội-tính” của con người (đoàn kết, thương yêu, lo lắng cho nhau), tránh được những va chạm, mâu thuẫn giữa người và người (không còn áp bức, bóc lột, không còn giai cấp, không còn chênh lệch nhau trong cuộc sống...) và xã hội sẽ đạt được trạng thái hoà đồng, hoà hợp, hoà bình trong đó mặc nhiên con người được hưởng đủ mọi quyền tự do, bình đẳng, mọi thứ nhân quyền để phát triển và “tự tạo chính mình” (création de soi par soi) cùng lúc vừa làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ chính mình.
Nhưng tiếc thay, cả chế độ dân chủ tự do, cả chế độ xã hội chủ nghĩa đều chỉ mới chú trọng đến cái “Tất định qui luật” của cuộc đời, cuộc sống nên mọi cách thế giải quyết cuộc sống và thân phận con người còn phiến diện, lệch lạc khiến cho tình người bị tan loãng trong đó trước tiên là cái tính xã hội của con người. Không phải do cố tình, cố ý mà chính do từ sự phát triển cơ năng đã đẩy đưa đến đấy.
Không nói đến những xã hội gọi là “Xã hội xã hội chủ nghĩa” của người Cộng sản vì những đổ vỡ, tan nát mà người dân và xã hội hay con người nói chung đã phải chịu đựng được phơi bày lộ liễu ra sao rồi, trong những chế độ dân chủ tự do nơi các quốc gia tiên tiến về kinh tế, kỹ thuật, cái tính xã hội của con người dần dà cũng bị giới hạn, bị mất dần đi.
Do tính cách “hợp-lý-hoá” vì dự phòng tất cả những gì sẽ xảy đến cho con người và xã hội, pháp lý xã hội càng lúc càng thêm nhiều, càng chi ly, chi phối hết mọi sinh hoạt và có thể can dự trực tiếp vào cuộc sống thâm sâu riêng tư của từng người, của từng gia đình. Tất cả mọi trường hợp xảy đến cho con người đều đã có pháp luật bảo đảm nên con người không còn cần thiết phải lo lắng cho nhau, nhờ cậy, nương tựa nhau nữa.
Chữ Tín, chữ Hiếu, chữ Nhân, chữ Tình, chữ Nghĩa... trước đây là những vấn đề đạo đức khiến cho con người phải lo lắng thực hiện cho nhau để được là con người có liêm sỉ, có nhân cách, ngày nay không còn bó buộc con người thái quá. Tất cả được trao về cho xã hội, do xã hội sắp đặt cho con người phần lớn. Con người tin tưởng, ỷ lại vào pháp lý xã hội, chỉ còn lo lắng cho phần sống vật chất của cá nhân mình thế nào để có đủ điều kiện với bắt tiện nghi và thỏa mãn được mọi thị hiếu thời đại.
Xã hội “hợp-lý-hoá” giảm thiểu cho con người mọi trách nhiệm về lễ giáo, đạo đức... nhưng đã đưa con người gắn chặt vào xã hội mỗi lúc một nhiều hơn, một chặt chẽ hơn, do đó - vô tình hay mặc nhiên - tách con người ra khỏi cuộc sống tình cảm, tâm linh. Con người mỗi lúc một tha hoá, một vong thân vào xã hội.
Tình cảm đẻ ra trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ, như nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc phát xuất từ tình yêu dân tộc, từ nghĩa đồng bào, từ niềm quyến luyến quê cha đất tổ. Xã hội “hợp-lý-hóa” dần dà làm phai nhạt tình cảm cao quí đó để chỉ biết đến trách nhiệm, trách vụ, chuyển đổi mọi liên giao tình cảm giữa người và người thành quan hệ trách vụ giữa cá nhân với xã hội. Do đó, càng lo lắng cho cuộc sống con người, xã hội “hợp-lý-hoá” càng đòi hỏi nơi con người nhiều bổn phận, trách vụ, nhiều nghĩa vụ đóng góp mới về mặt này mặt nọ.
Xã hội “hợp-lý-hoá” phát sinh do từ kỹ thuật và thương mãi. Kỹ thuật sáng chế nhiều tiện nghi; thương mãi tạo thêm nhiều lợi tức. Cả hai thúc đẩy cạnh tranh tư hữu và chiếm hữu, từ đó đưa đến “hợp-lý-hoá” trong tổ chức chánh trị và dần dà tiến đến các tổ chức về mọi mặt sống khác: giáo dục, y tế, chiến tranh, du hí... Từ ngày kỹ thuật và thương mãi phát triển, giá trị con người bị sút giảm. Cả hai khiến sự tiếp xúc giao lưu, trao đổi thường xuyên và cần thiết hơn giữa người với người, giữa dân tộc với dân tộc, giữa quốc gia với quốc gia nhưng không đặt nặng trên quan hệ tình cảm mà đặt nặng trên quan hệ lợi tức. Tất cả trở thành hàng hoá, được tính theo lợi tức, lãi xuất.
Thân xác cũng trở thành món hàng. Trong lúc bao nhiêu luật pháp, cơ quan Nhà nước hoặc tư nhân luôn bảo đảm an ninh, sinh mạng cho con người thì không biết bao nhiêu tổ chức đã “bán buôn” thân xác con người được biện minh bằng cần thiết của giáo dục, y tế, thẩm mỹ... Những tạp chí, sách báo quảng cáo “thân xác đẹp” càng ngày càng tràn ngập. Phim ảnh “làm tình” nhan nhản, công khai, tục tĩu ngay trên màn ảnh truyền hình, trên video cassette, nhiều khi giữa những người cùng phái với nhau. Sự làm tình kiểu đó đã trở thành một thứ nghề nghiệp. Những cô gái, những chàng trai đóng những phim đó nêu danh rõ ràng, không chút ngượng ngùng, e thẹn. Những cửa hàng bán đủ mọi dụng cụ làm tình cho nữ cũng như nam, người ta mua bán không chút ngượng nghịu. Những cửa tiệm chiếu phim hoặc diễn xuất các cảnh làm tình lõa lồ được phép mở; các tiệm ăn, các khách sạn nhiều nơi đầy những chiêu đãi viên ăn mặc hở hang; các màn vũ thoát y, các tiệm nhảy, các phòng trà để khách tự do cởi mở những ẩn ức dục tình; gái mãi dâm công khai đăng quảng cáo trên báo chí.
Người ta hô hào nam nữ bình quyền, bảo vệ giá trị người phụ nữ trong lúc đó thân xác phụ nữ trở thành món hàng buôn bán với nhiều cách thế làm tình không chỉ đọa đày, hạ giá tấm thân mà còn hạ nhục cả giá trị người đàn bà. Tiết trinh phụ nữ không còn là vấn đề quí giá. Tình cảm vợ chồng nếu có ít nhiều thơ mộng lúc mới quen biết, tán tỉnh nhau, dần dà trở thành hời hợt để chỉ cần một lý do nhỏ bé nào đó (ngủ hay ngáy, chẳng hạn) cũng đủ để có cớ đưa ra toà xin ly dị. Vợ chồng, mỗi người tự lo cuộc sống của mình, làm việc và giữ lợi tức riêng, không còn là “của chồng công vợ” như xưa kia. Người ta ly dị nhau dễ dàng và cũng ít nghĩ đến chuyện lập gia đình lần nữa vì để rồi phải ly dị nữa thôi; có cần chuyện “gối chăn” thì đã có cảnh “gái bao, trai bao” không cần đến thủ tục hôn phối hoặc đã có sẵn những dụng cụ làm tình. Nhiều phim ảnh chiếu những động “đĩ đực” để các bà nạ dòng, những mệnh phụ góa chồng hay những bà vợ không được thoả mãn với chồng đến tìm lạc thú với bao nhiêu cảnh làm tình dâm ô, tục tĩu hơn cả thú vật.
Dĩ nhiên, cũng có một số người vẫn còn nuôi dưỡng cái tính người thắm thiết giữa nhau và truyền thống cũ còn lưu dấu phần nào sâu sắc nên chưa hẳn cái “xã-hội- hoá” làm phai nhạt được hết. Nhưng liệu nay mai đây, truyền thống cũ đó có còn được bảo tồn, nuôi dưỡng được nữa không (nhất là lúc số người ít ỏi này qua đời) và cái vận tốc “xã-hội-hoá”, “hợp-lý-hoá” của xã hội khiến con người quên hẳn đi để phải quay cuồng trong cuộc sống cơ năng, phó thác hết cả tình người cho xã hội?
Người ta đua nhau chiếm hữu về lợi tức, không tranh thủ tình cảm, tình thương. Con cái đến tuổi trưởng thành tự lo lấy cuộc sống, cha mẹ không cần chăm sóc nữa; cha mẹ về già có nhà dưỡng lão, con cái không cần chăm sóc sớm hôm, không như trong xã hội trước cha mẹ suốt đời lo cho con cái, con cái suốt đời hiếu kính cha mẹ, vợ suốt đời tận tụy với chồng, chồng suốt đời bảo bọc vợ; bè bạn luôn luôn tránh cảnh “mất nhau”.
Chạy theo lợi tức, lợi nhuận, đồng tiền trở thành bản vị của cuộc sống, của tất cả mọi công trình không chỉ riêng của hàng hoá. Trong xã hội “hợp-lý-hoá”, hai ngành học được đề cao là ngành kỹ thuật (về đủ mọi mặt) và quản trị thị trường (marketing), các ngành học khác dần dần mất giá vì không thực dụng, không tạo ra lợi tức.
Tính cách giải trí cũng biến thành nghề nghiệp. Thân xác không còn dùng vào lao động nhọc nhằn mà trở thành phương tiện làm tiền nhờ vào kỹ thuật tập luyện công phu với các khí cụ tinh xảo. Chưa bao giờ, thân xác được sử dụng khéo léo như ngày nay. Người ta dần dà chạy theo cảm giác, cảm giác càng mạnh càng được thích thú, càng được ưa chuộng và càng tạo thêm lợi tức.
Dạng thức văn minh ngày nay là như vậy.
- Văn minh của cặp mắt
Không của trái tim tình.
Nói thế có quá phóng đại và “bi thảm hoá” xã hội ngày nay quá đáng không? Một xã hội lo lắng, đề phòng cho con người tất cả mọi bất trắc, bất hạnh chẳng là quí hoá, tốt đẹp sao? Vâng, thì quí hoá, nào ai phản đối đâu.
Xã hội “hợp-lý-hoá” chẳng đã tránh cho con người bao nhiêu đọa đày, khổ ải vì công ăn việc làm, vì lễ giáo, vì tình cảm, không như trong những xã hội trước sao? Vâng, thì quả có thế.
Chỉ tiếc, xã hội “hợp-Iý-hoá” vô tình đã làm tan loãng, phai mờ cái tình người tha thiết, sắt son. Mà thiếu cái tình người này thì cuộc sống có được thoải mái đến cùng độ cũng mất hết thi vị để trở thành lạnh buồn, nhạt nhẽo, cô đơn, rỗng không và vô nghĩa. Gặp nhau mà lạ mặt, quen nhau mà lạ lòng, bên nhau mà không thông cảm, tương thân, gần nhau gang tấc mà cách nhau nghìn trùng! Vâng, một chiếc cây trong rừng cây, một cọng cỏ nơi bờ cỏ, một con cá trong lòng biển cả! Sa mạc trong lòng người!
Ôi!
- Thiếu một người, tất cả thành trơ trụi (51)
Và:
- Dẫu hai người cũng chẳng bớt cô đơn. (Xuân Diệu)
Nói thế không có nghĩa là lên án, phi bác, phủ nhận thực trạng xã hội hiện nay để quay về với các xã hội ngày xưa. Không ai dại khờ, điên loạn như thế. Không ai muốn quay ngược thời gian. Và lịch sử cũng không cho làm như vậy. Con người đã lên đường thì cứ tiến mãi, đôi lúc có tạm dừng là để nghỉ ngơi, để ôn lại bước đường qua mà đổi mới bước đi hoặc để đổi chiều đổi hướng hành trình sao cho sớm đến nơi đã định.
Ôn lại quá khứ không để quay ngược thời gian, trở về dĩ vãng. Thực trạng xã hội ngày nay, cái xã hội “hợp- lý-hoá”, cái “xã-hội-hoá thiếu xã-hội-tính” là một tất yếu lịch sử trong cái “Tất định qui luật” để dẫn về trong cái “Tất định như nhiên”. Thượng Đế phải tự mình “trần- tục-hoá” để trở về lại với mình trọn vẹn hơn xưa; Đạo phải tự dìm mình vào sa đọa, lầm lũi đi vào hàm hỗn mê cung để có điều kiện hồi phục lại mình, thị hiện tròn đầy và tươi thắm hơn xưa*.
* Xin xem “Tôi hiểu Chúa hiểu Phật” của Nguyễn Thùy.
Xã hội “hợp-lý-hoá” chỉ nghĩ đến phục vụ con người và cuộc sống của nó, nào có ý đưa con người vào lạnh buồn, hiu hắt cho đâu, nhưng đã vô tình mặc nhiên làm giảm giá con người và chất sống của nó. Các nhà kỹ thuật, kinh tế, thương mãi, chính trị nào có dụng ý đó đâu, họ chỉ nghĩ đến tạo hạnh phúc cho con người thôi, nhưng rồi tổ chức xã hội mặc nhiên đã cưỡng ép con người “thoát ly” khỏi nó, đánh mất một chất sống của nó. Quả là nghịch lý. Vâng, quả là nghịch lý, quả là:
- Đoạn trường là sổ thế nào
Bài ra thế ấy vịnh vào thế kia.
(Nguyễn Du - Đoạn trường tân thanh)
Và đấy có thể xem là một thứ “siêu hình”, một huyền nhiệm (mythe) của cuộc đời khiến con người tư tưởng, tư lường, băn khoăn, thắc mắc, luôn luôn tra vấn với mình, với thế gian, với lịch sử, với định mệnh.
Dĩ nhiên, chúng tôi không quên cái tình người được “xã-hội-hoá”, phổ quát hoá, nhân loại hoá qua bao tổ chức vị tha: những hội từ thiện quốc tế, những cơ quan cứu trợ của các tôn giáo, những hiệp hội “Đất lành” (Terre des hommes), “Không biên cương” (Sans frontières), “Thầy thuốc thế giới” (Médecins du Monde), những “Con tàu hy vọng” (chiếc tàu Hope của Tây Đức đã đến chữa bệnh cho người Việt Nam), những chiếc tàu cứu người tỵ nạn nơi biển đông, những cơ quan quốc tế trong Liên Hiệp Quốc như: Hội Bảo Vệ Nhân Quyền, Bảo Vệ Quyền Lợi Phụ Nữ, Bảo Vệ Bà Mẹ và Trẻ Em, Hội Luật Gia Quốc Tế, Hội Ân Xá Quốc Tế, cơ quan Lương Nông Quốc Tế... Tất cả đều tốt đẹp, đều cần thiết, đều thấm đượm tình người và đã an ủi, cứu vớt bao nhiêu người gặp hoạn nạn tai ương. Nhưng cái tình người tổng quát hoá đó chỉ có trong cấp thời, trong một số trường hợp đặc biệt, chứ không gắn chặt con người với nhau hơn, chưa đuổi xa được cái cô đơn lạnh giá nơi lòng người mỗi ngày một bắt buộc con người phải tan hoá vào xã hội, vào số đông, phải luôn luôn đuổi bắt tiện nghi, phải quay mãi theo vòng quay cơ giới trong một thứ không gian sống mỗi ngày thu hẹp và buồn nản trong một thứ thời gian sống mỗi ngày thêm co rút của mỗi con người.
Nhưng, như đã nói, đấy là một tất yếu lịch sử. Xã hội loài người tất yếu phải tiến đến, phải trải qua cái trạng thái đó vì có tiến đến trạng thái thì mới đổi thay được trạng thái, có tiến đến cộng nghiệp thì mới giải tỏa được cộng nghiệp, mới thoát được cái Tội Tổ Tông ở từng chu kỳ sinh hoá.