Hiện tượng số đông và phương tiện truyền thông nhanh chóng, tiện lợi đã phổ cập nền văn hoá đến quảng đại quần chúng.
Sách báo đủ mọi loại với điều kiện in dễ dàng, tối tân, đẹp đẽ xuất bản với số lượng lớn và phương tiện chuyên chở nhanh chóng đã khiến sự giao lưu văn hoá trở nên thường xuyên, rộng rãi. Truyền thanh, truyền hình, phim ảnh, video, băng nhạc, dĩa hát, máy ảnh, rọi hình... đem lại bao nhiêu kiến thức về đủ mọi mặt cho số đông. Dù không đi đâu xa, dù không chứng kiến tận nơi, con người cũng có thể thấy, nghe, biết được những sự kiện xảy ra trên thế giới, sinh hoạt của các dân tộc khác, những phong tục tập quán, những phát minh sáng chế, những thú tiêu khiển ăn chơi, những thắng cảnh di tích cùng tình hình chánh trị, kinh tế, an ninh trên thế giới. Mọi kiến thức ngày trước phải học ở nhà trường hay phải đọc kỹ sách báo nay được phổ biến rộng rãi, giúp con người thu thập được những hiểu biết mỗi ngày một nhiều.
Nạn mù chữ hầu như không còn, ngoại trừ tại một số quốc gia còn nghèo nàn, lạc hậu. Nhiều nơi, giáo dục được cưỡng bách đến hết bậc tiểu học hay trung học phổ thông. Trường học về đủ mọi ngành nghề từ kỹ thuật đến thương mãi, ngôn ngữ, thể thao, du hí, nghệ thuật... mở ra nhan nhản.
So sánh với con người trước kia, trong những xã hội cũ cách đây chừng hơn nửa thế kỷ, con người ngày nay quả có một vốn liếng kiến thức phong phú và đa tạp. Văn hoá, nhìn chung, xâm nhập vào đủ mọi ngành, mọi giới, mọi lứa tuổi không như trước đây thường dành riêng cho những thành phần giàu có hoặc có truyền thống văn nghiệp hay có điều kiện theo đuổi việc học.
Nền văn hoá đại chúng này (culture de masse) đưa đến sự hiểu biết nhau giữa các dân tộc, quốc gia khiến xã hội mỗi ngày một xã-hội-hoá hơn. Mọi sản phẩm, mọi phát minh, sáng tạo được trao đổi; mọi phong tục, tập quán, nếp sống, mọi tin tức, tình hình, sinh hoạt được quen thuộc khiến sự liên kết giữa các quốc gia, dân tộc khắng khít thêm, từ đó mọi quan hệ, tương trợ, liên minh, hợp tác, đầu tư, giao thương và cứu trợ được nhanh chóng và nhiều hơn.
Nhìn chung, nền văn hoá đại chúng có những đặc điểm sau đây: Cập nhật hóa, thời đại hoá, phổ thông hóa, phổ cập hoá mọi công trình, mọi sinh hoạt của nhân sinh về đủ mọi mặt từ xưa đến nay đưa đến kết quả là sợi dây liên đới nhân loại thêm chặt chẽ, bớt kỳ thị, mâu thuẫn, đố kỵ nhau. Không ai không biết đến lợi ích của nền văn hoá đại chúng này.
Nhưng cũng có một phần nào đó nền văn hoá đại chúng làm cạn dần tính sâu sắc của tâm hồn, sự lắng đọng của tâm tư cùng những chiêm nghiệm cần thiết về cứu cánh, về ý nghĩa cuộc sống và cuộc đời.
Con người dần dần cạn tắt phần tư tưởng - tư tưởng, hiểu theo M. Heidegger không chỉ là những nghĩ ngợi, suy tư, trù liệu, qui hoạch, tính toán mưu sinh mà còn là những viễn lự, trầm tư, chiêm nghiệm về lẽ sống, về dòng đời, về hướng đi lịch sử để hiện thực cuộc sống con người và nhân loại thoát được mọi trầm luân, để con người đạt được cái bản chất thật, cái giá trị đích thực toàn chân, toàn mỹ ngay trong cõi tại thế khổ đau - Không tư lự về những điều đó thì cuộc sống nhàm chán đến bao nhiêu vì cuộc sống có khác gì cây cỏ, có khác gì với bao nhiêu sinh vật khác (*).
* Thực ra, các giới loại khác trong dạng tồn tại của chúng có chăng những tư lự siêu hình về cuộc đời, cuộc sống, về ý nghĩa hiện hữu của chúng, ta không rõ.
Cây cỏ sống với cái thực-vật-tính (végétalité, arboréité) và động vật sống với cái động-vật-tính (animalité, bestialité) của chúng thì con người sống với cái “con-người-tính”, cái “tính người” của mình.
Cái “con-người-tính” hay cái “nhân tính” còn là điều kín nhiệm mà mọi phát hiện trước nay (con người lý trí, con người tình cảm, con người xã hội, con người tự do, con người lịch sử...) chưa thể nào đầy đủ. Vì thế con người luôn luôn tư lự, nghĩ suy, trầm tư, viễn lự, thao thức, băn khoăn.
Người ta nói đến một “nhân bản thuyết”, người ta đòi hỏi “nhân-bản-hoá” mọi tổ chức, mọi chế độ nhưng cái gọi là “nhân bản” tức bản chất con người, cái gốc của con người đến nay chưa ai minh chứng, xác quyết rõ ràng. Mọi thứ nhân quyền thiêng liêng, cao trọng được nhìn nhận và được thực hiện cho mãi đến nay hầu như vẫn chưa phản ảnh đúng đắn, trọn vẹn cái bản-chất- người mà trong những trang trước đã có nói đến.
Trong thiên cảo luận “Sérénité” (Bình đẳng tánh trí) (52) cũng như trong tác phẩm “Qu’appelle-t-on penser?” (Sao gọi là tư tưởng?)(53), M. Heidegger đã nói đến sự “bần nhược tư tưởng” (l’indigence de la pensée) của con người ngày nay, sự việc con người từ chối hay lẩn trốn tư tưởng (fuite devant la pensée) và “Cái điều khiến ta phải tư tưởng hơn cả trong thời đại buộc phải tư tưởng là ở chỗ chúng ta chưa chịu tư tưởng “(64).
Không có những tư lự siêu hình đó, không trầm tư, suy niệm về ý nghĩa cuộc sống, về “con-người-tính” nơi mình, về sự “hữu-tại-thế” của chúng ta và của mọi vật phát khởi ngay từ thực tại đang sống, con người vô tình phủ nhận quá khứ và cả tương lai của riêng mình, của dòng họ, của dân tộc và của cả nhân loại nói chung.
Ta biết rằng cuộc sống rnỗi người luôn luôn là một thực tại được hoàn tất (réalité achevée) do cái hữu-hạn- tính của hiện thể (con người sống trong vòng 100 năm). Mỗi người có mơ đến một tương lai thì cũng chỉ trong cái hạn kỳ ngắn ngủi đó thôi, trong lúc quá khứ của mỗi người chất chứa a-tăng-kỳ-kiếp thế hệ liên quan đến cả dòng họ, dân tộc, đến cả loài người nói chung.
Thuyết di truyền và lịch sử sinh hoá của con người, của dân tộc, của nhân loại có thể minh chứng cho ta điều này. Tương lai mà mỗi người mong ước trong cuộc sinh hoạt thường nhật cũng chỉ là một thứ hiện tại được kéo dài trong một số điều kiện mới: phương tiện, tiện nghi nhiều và mới mẻ hơn, cuộc mưu sinh dễ dàng hơn, lợi nhuận khá hơn hoặc một số công việc làm thích hợp, thích thú hơn, thuận tiện cho sự thành đạt của ta về cuộc sống, về sự nghiệp lý tưởng, về tình ái... Cái tương lai đó, một khi đạt được rồi, cũng lại lặng lờ, tẻ ngắt như cái nhật tụng hiện nay để rồi ta lại vẽ ra một tương lai khác nữa hầu vơi quên cái sầu bi, cái “thiên cổ lụy” đến với ta trong từng giờ, từng phút.
Không tư tưởng, không chiêm nghiệm về ý nghĩa, về lẽ sống và cứu cánh nhân sinh thì cảnh sống, cảnh đời có mới, có khác với hiện tại bao nhiêu cũng chỉ là chuỗi thời gian lo lắng ví đuổi phương tiện để thoả mãn thiết yếu, nhu cầu và sở thích theo thúc đẩy của cơ năng do từ cái “động-vật-tính” nơi mình. Không chịu tư tưởng theo hướng đó thì chỉ là mình tự trói buộc mình, trói buộc lẫn nhau trong cái “Tất định qui luật” và không bao giờ tìm được cái an lạc, tự do của tâm hồn, cái “quyền người” đúng nghĩa, là chối bỏ cái “tôi siêu việt”, cái “tôi tín ngưỡng”, cái “tôi chủ thế” để chỉ chạy theo cái “tôi xã hội”, bị trói buộc bởi cái “tôi xã hội” giữa dòng đời bất trắc. Xã hội có tiến bộ đấy, cuộc sống có dễ dàng hơn trước đấy nhưng con người vẫn bị quằn quại trong những điều kiện mới với những lo, những buồn, những đau khổ mới để rồi lẩn quẩn với “nỗi buồn tại thế” không nguôi.
Sự sống như thế luôn luôn là một “hư-vô-hoá” bản chất người vì ta luôn luôn rẫy rụa trong một vũ trụ hiện tượng chằng chịt, trong cõi sắc giới, dù hình thức có đổi thay muôn vẻ. Cái Tâm của ta không thể nào hiển lộ và ta hết chìm đắm trong vô minh này đến chìm đắm trong vô minh khác. Sự thiếu hoặc không chịu tư tưởng theo lối đó đưa đến tình trạng “mất gốc” (déracinement) nơi con người. Con người tự làm cho mình không còn “truyền thống người”.
“Mất gốc” trước tiên có nghĩa là không gắn bó với chính mình, đánh mất cái phần nội tâm sâu kín, nền tảng và động lực của cuộc sống, của ý nghĩa cuộc sống mỗi người. Thiếu cái bằng an tự tại của tâm hồn, ta sẽ thấy thiếu cái “can trường hiện hữu”, cái ý nghĩa của hy sinh, của chịu đựng, của chịu khó cho nhau. Thiếu cái đó, mặc nhiên ta xem tha nhân là người lạ mặt, lạ lòng, không gắn bó, yêu thương và mọi liên hệ giữa người và người không thiết tha, bền chặt, thủy chung. Không tư tưởng theo lối đó để tìm được cái bình an tự tại của tâm hồn, ta sẽ thấy cuộc đời luôn luôn là biển sóng và từng lúc, từng khi ta trở nên cuồng loạn trước những bão dông dập dồn, nghiệt ngã hoặc trống vắng, lạnh căm như bếp tro tàn tơi tả cuốn theo từng cơn gió hốt hoảng chìm vào trong hoang vắng mịt mù.
“Mất gốc” còn có nghĩa là xa lạc, chối bỏ truyền thống của quê hương, dân tộc, giống nòi. Vì phải quay cuồng lo đuổi bắt kịp thời trang và tiện nghi cuộc sống, con người buông mình theo đà kéo lôi của thực tại gần gũi, không còn thì giờ cũng như không thiết tha nghĩ đến quá khứ. Con người bị tách rời khỏi những liên hệ với thiên nhiên, với dòng họ, ra khỏi dòng liên tục lịch sử sinh hoá để chỉ còn quay quắt nhào lộn trong thứ thời gian hiện hữu đương tại, vô tình không nghĩ đến sợi dây liên đới giữa các thế hệ, không còn nghĩ đến nguồn gốc, không quyến luyến thân thuộc với dĩ vãng của đất nước, dân tộc, dòng họ ngay cả với thiên nhiên. Những tư tưởng sâu xa, kín nhiệm của người xưa không còn là chất sống; quá khứ của tổ tiên không còn là động lực và niềm tin khích lệ, động viên khí lực mình. Con người không còn bận tâm đến quá khứ, cho rằng quá khứ chỉ là lạnh nhạt, lỗi thời, không còn sinh khí cho cuộc sống nẩy nở, thăng hoa; chỉ những kẻ bất lực hay cùng đường mới thấy tự hào về quá khứ hoặc đau buồn cho quá khứ. Con cái do đó đòi hỏi cha mẹ lo lắng cho cuộc sống của mình nhưng lại tìm cách sớm thoát ly ảnh hưởng cha mẹ, cố thoát ra mọi chăm sóc dạy dỗ của cha mẹ và không còn phải bận tâm săn sóc cha mẹ là điều dĩ nhiên thôi.
Nền văn hoá đại chúng đem đến cho con người nhiều hiểu biết hữu ích nhưng không cung cấp hay làm tan loãng chiều sâu của suy nghĩ. Người ta biết quá nhiều, quá rộng nên cũng rất dễ quên, biết được sự việc mà không rõ cái “lý” của sự việc, “đốn sự mà không đốn lý”. Vì thế, trong mọi phán đoán tình hình, người ta thường chỉ suy luận trên những biến cố của thời sự mà không suy luận trên thế động của tư tưởng. Người ta biết cái “bề ngoài”, cái ngoại tại mà không tìm hiểu cái “bên trong”, cái mạch ngầm nội tại của sự việc.
Nền văn hoá có tính cách “truyền thông, bác vấn” chứ không tích lấy nơi con người cái chất sống nội tâm cần thiết cho sự nẩy nở, thăng hoa, không triển sinh được phần sống tâm linh u mật. Nền văn hoá đại chúng làm dậy lên cảm giác, kích thích cảm giác, đem lại thỏa mãn, thích thú cho cảm giác, cho thị hiếu hơn là in sâu vào đầu óc những ý nghĩ, những tình cảm, những suy tư, viễn lự, những cao đẹp, siêu vượt của tâm hồn, của trí tuệ. Dù rằng cũng nhiều sách báo, cũng nhiều phim ảnh, nhiều chương trình truyền thanh, truyền hình có nội dung sâu sắc, phong phú nhưng dần dần những sản phẩm đó bị quên lãng, không còn được chú ý, bị chìm ngập trong vô số thứ khác có tính cách thoả mãn tính hiếu kỳ, tính ưa vui nhộn nghĩa là phục vụ cảm giác; phần khác những sản phẩm tốt đẹp đó càng lúc càng ít đi vì lẽ không tạo ra được nhiều lợi tức. Người ta khai thác nhiều về phương diện thính thị, chạy theo cảm nghĩ bình thường của số đông để thu hút lợi nhuận. Nhìn chung, có thể nói đấy là nền văn hoá phần lớn phục vụ cho cảm giác hơn là cho suy tư.
Nền văn hoá đại chúng dần dần đưa đến sự phá sản, sự tê liệt của các hệ tín ngưỡng, hệ tư tưởng. Sách báo tư tưởng, triết lý, biên khảo, nghiên cứu không được mấy ai đọc, những thi ca, những sáng tác nghệ thuật cao sâu bị đánh giá là phù phiếm, viển vông chẳng giúp ích cho cuộc sống thực tế; tất cả nhường chỗ cho sách báo khiêu dâm, các truyện tình nhạt nhẽo, các loại văn nghệ kích động. Loại “sách rút gọn” ra đời khiến các tác phẩm giá trị không còn được nhiều người đọc. Nghệ thuật cũng theo đà đó dần dần mất đi tính cách viễn tượng để phục vụ thị hiếu, cảm giác của đám đông. Trong văn chương, dần dần thiên nhiên không còn được miêu tả thơ mộng, gắn bó với người như trước đây mà chỉ là một thiên nhiên u sầu, tăm tối, ảm đạm hoặc đối lập với con người.
Từ ngày triết lý hiện sinh ra đời, người ta được dịp khai thác cái phần tiêu cực của nó để phổ vào trong cuộc sống buông thả theo trác táng, đọa lạc hoặc than thở, buồn đau, chán chường cuộc sống để rồi đầu độc tuổi trẻ bằng những sáng tác phẩm khai thác dục tình, khai thác hưởng thụ, khai thác cảm giác, đưa tuổi trẻ vào trong cảm thức thấy cuộc đời vô nghĩa, cuộc sống vô vị và con người chỉ là một “hữu thể thừa thãi” (un être de trop).
Nền văn nghệ gọi là Hiện thực xã hội chủ nghĩa của Cộng sản đi đúng theo chánh sách văn hoá của tập đoàn lãnh đạo Đảng và Nhà nước lại còn “tệ” hơn, quần chúng độc giả như ở Việt Nam chắng hạn chẳng hề để ý. Tại vì cái “hiện thực xã hội chủ nghĩa” trong văn hoá Cộng sản phản ảnh sai lạc hiện thực đã đành mà còn đóng khung suy nghĩ và sáng tạo vào trong những “công thức” chắc nịch, khiến người sáng tác rơi vào tình trạng phải dối mình, phải tự lừa gạt mình, nếu không phải uốn cong ngòi bút, cây cọ, chất xám của mình theo ý muốn độc tôn của lãnh đạo để bảo toàn mạng sống hay để giữ được cái khẩu phần lương thực ít ỏi hàng ngày.
Nền văn hoá đại chúng đó tạo nên một lớp người mới đã được nói đến từ lâu là “con người khối lượng” hay “con người đoàn lũ” (homme de masse).
Chúng tôi chưa tìm thấy một định nghĩa, một giải thích rõ ràng về “con người đoàn lũ”. Nay theo cảm nhận đơn sơ, xin được trình bày một cách khái quát.
“Con người đoàn lũ” là con người biểu hiện được những tính cách của đám đông.
Đám đông - như chúng ta đã biết - thường là một tập hợp ô hợp, tạp nham mang đủ màu sắc, dễ tin, dễ ngờ, dễ bị tác động, dễ bị kích thích, lôi cuốn, thường nhìn gần, thấy hẹp, chuộng cái thông thường, cái nhất thời, cái trước mắt, cái hiếu kỳ, cái thoả mãn tức thời tự ái và dục vọng, cái ve vuốt được bản năng và sở thích.
Đám đông thường dễ bị kích động, lợi dụng tạo thành lực lượng bạo cuồng, dễ bị quyến rũ bởi những xúc động nhất thời, bởi quyền lợi thực tế, bởi những hứa hẹn dễ dãi, bởi những nhân danh tốt đẹp, bởi những lợi ích gần gũi sẽ đến với mình và do sức mạnh của mình tạo nên.
Đám đông thường hời hợt, nhạy cảm, dễ bị ru ngủ, mê hoặc bởi những cảm giác mạnh, bởi những tình cảm tiêu cực (căm hờn, thù hận) nên thường bộc phát, sôi động và năng động.
Đám đông thường ỷ lại nguồn sinh lực tập thể, sức mạnh của khối lượng, dễ đưa đến quá khích, bè phái.
Dại dột cho ai, trước đám đông sôi nổi như thế mà nói điều đứng đắn, phân tích nên không, phải trái không phù hợp với sở thích, với định kiến của đám đông này.
“Con người khối lượng” hay “con người đoàn lũ” tiêu biểu cho những đặc điểm, những sắc tính đó của đám đông.
Con người đoàn lũ thường chỉ thích nói về “cái tôi” của mình, ưa tranh thắng mà ít chịu nhường nhịn, thiếu hắn tính nhân nhượng và hoà hợp, ưa chỉ trích, bài bác, ưa khuynh loát, đố kỵ và tranh giành phần hơn, phần đúng về mình theo định kiến của mình. Với con người đoàn lũ, không thể có đối thoại, thông giao mà chỉ có về hùa với họ, nhập bọn với họ, chiều theo thị hiếu thời trang của họ và chỉ có thể “chinh phục” họ bằng bả quyền lợi hoặc bằng thế lực, bằng sức mạnh.
Con người đoàn lũ đó, trong xã hội ngày nay, xuất hiện càng lúc càng nhiều. Con người ngày nay học rất nhanh và quên rất chóng, hiểu(?) quá nhiều nhưng thiếu bề sâu. Với những kiến thức rộng rãi, phổ quát do nền văn hoá đại chúng cung cấp, con người đoàn lũ tự thấy mình không thua sút ai vì cái gì mình cũng biết. Họ tham gia vào đủ mọi mặt, hiện diện trong mọi sinh hoạt, lấy sự “có mặt” rộng rãi đó làm nguồn tự mãn, tự hào, ưa tranh thắng trong mọi hoạt động, ưa chỉ trích, đả phá những ai không đồng chính kiến hoặc không về hùa, không kết hợp với mình.
Với sự phổ cập của nền văn hoá đại chúng, con người năng khiếu, con người “đặc phẩm của Thượng Đế” không còn nữa. Số người gọi là “thiên tài” không còn điều kiện phát huy vì những sản phẩm của họ không thích hợp với thời trang, với thị hiếu, không hái ra được tiền. Tôn giáo, thi ca, nghệ thuật, khoa học mọi ngành hầu như ai cũng biết, cũng tự cho là biết, cũng tham gia, cũng biện bác, cũng tự hào thông suốt, cũng tranh cãi, bàn bạc. Người ta không đào sâu suy nghĩ, không tìm hiểu cặn kẽ, không trầm tư, chiêm nghiệm. Cái biết tổng quát, hời hợt đó đã giết chết hết phần tư tưởng, phần nội dung của mọi sáng tạo, mọi sự việc.
Người ta hành động theo kích động, theo thói quen, theo mệnh lệnh hoặc theo cảm hứng nhất thời. Người ta đổ xô vào đám đông, thích ồn ào, náo loạn, ưa góp mặt vào tập thể, ưa kết hợp thành bè lũ để tâng bốc nhau, nịnh bợ nhau, tranh chiếm chỗ ngồi với những đám đông khác, hoặc dìm chết những tài năng nào vượt lên trên họ. Tính đố kỵ, khuynh loát và giành giựt nhau “uy tín” (!), tiếng tăm, địa vị trở thành một bệnh thái thâm nhập vào đầu óc con người đoàn lũ.
Mọi thứ cao xa đối với họ trở thành phù phiếm vì không hoà nhập vào với cái “biết” phổ thông của họ, không hoà nhập vào trong cuộc sống ăn chơi, vui nhộn ồn ào của họ, không đem lại cho họ lợi tức, quyền lợi về một mặt nào đó, không giúp nâng họ lên thành người “sáng giá”(?) mà còn có thể dìm họ giữa đám đông, giữa xã hội.
Mọi khen chê, phẩm bình, ưa thích... dần dà trở thành những cái “mốt”, những “kiểu cách” theo lối thời trang vội vã. Ngoại trừ những tạo tác về mặt khoa học cần có những phòng thí nghiệm, những dụng cụ tinh vi, đắt tiền, những thời gian lặng lẽ, nghiên cứu tìm tòi, còn thì tất cả mọi thứ khác trở thành những vấn đề mà hầu như bất cứ ai cũng tự xem như có khả năng, có kiến thức, có sở trường và có điều kiện thực hiện được nếu muốn. Nhưng cái “muốn” đó chẳng được thể hiện hoặc có thể hiện thì cũng chẳng có giá trị sâu sắc nào ngoài việc tìm cách tâng bốc nhau bởi số đám đông của họ. Hầu như ai cũng có thể bàn về tôn giáo, triết lý, chánh trị, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật... trong cái tâm lý không chịu thua sút ai.
Người ta đọc rất nhiều, xem rất nhiều, nghe rất nhiều, bàn cãi với nhau rất nhiều trong những lần nhậu nhẹt, trong những cuộc họp mặt, nhưng chỉ để mua vui, để giải trí hoặc để chứng tỏ mình là người “hiểu biết”, để kết bè, lập nhóm tâng bốc nhau. Tư tưởng, kiến thức của người xưa, lịch sử của dân tộc, lịch sử tiến hoá của nhân loại, những gương anh hùng, danh nhân không còn được để ý hoặc bị quên đi nhanh chóng, dù có học ở trường, để chạy theo những phong trào đang sôi nổi, phồng lên xẹp xuống từng hồi. Người ta thuộc lòng tên tuổi, tài nghệ, cả tiểu sử đời tư của những tài tử chiếu bóng, những quán quân về bóng đá, quyền anh, đô vật, quần vợt, đua xe, trượt tuyết... Người ta đua nhau đọc, xem truyện chưởng, phim chưởng, truyện tình, truyện giả tưởng, chạy theo những thứ văn nghệ thời trang. Người ta đua nhau làm thơ, làm văn, làm nhạc, học đàn, học nhảy,... cốt để nâng cao cái “tôi bé bỏng” của họ giữa đám đông.
Con người đoàn lũ không cần biết đến những ý nghĩa cao xa, những công trình bền bỉ, qui mô, những gì cần thiết cho tâm linh nẩy nở. Con người đoàn lũ chỉ nhìn thực tại gần kề, một thực tại mà họ có thể dự phần, một thực tại nâng niu được cái tự ái, cái khoác lác của họ. Do phương tiện truyền thanh nhanh chóng, do cái tâm lý chuộng thời trang, tất cả trở thành từng phong trào sôi nổi, bồng bột. Rõ ràng nhất là trong thể thao, du hí, ăn mặc, văn nghệ. Dần dần, đám đông với cái tâm lý “con người đoàn lũ” đó vô tình đã bị dẫn dắt, bị lợi dụng, bị mê hoặc bởi một thiểu số đưa vào những mục tiêu tranh đấu cho quyền lợi bè nhóm họ, chạy theo những cái “mốt” nhất thời. Ở Việt Nam, chúng ta đã thấy bao nhiêu phong trào nào hiện sinh, nào thiền, nào nhân vị, nào “con người mới xã hội chủ nghĩa”, “tố cáo tội ác Mỹ Ngụy”, phong trào “văn nghệ quần chúng, văn nghệ nhân dân”...
Con người đoàn lũ và đám đông bị lợi dụng đó biến thành những lực lượng bạo cuồng, hoặc để chứng tỏ mình là kẻ thức thời, kẻ tiến bộ, hoặc bị mê hoặc bởi những khẩu hiệu “trí tuệ tập thể”, “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “biến đau khổ thành căm hờn, biến thù hận thành đấu tranh”, “biến tư tưởng thành sức mạnh vật chất”,...
Dĩ nhiên, cái tâm lý muốn được là kẻ thức thời, kẻ theo kịp trào lưu cùng những khẩu hiệu trên không hẳn là sai, nhưng tiếc thay đã trở thành những điều kiện cho một thiểu số lợi dụng để củng cố uy tín và quyền lực.
Người ta áp dụng đúng lời Karl Marx - Engels: “Lượng đổi chất đổi” và xem đó như là qui luật nói lên cách thức và trạng thái của sự phát triển. Nhưng Karl Marx và Engels cũng như mọi người Cộng sản đã ứng dụng câu đó ngược lại.
Lý tưởng Xã hội Cộng sản phát triển không là “chất” sao? Chủ nghĩa Cộng sản không là “chất” sao? Chính những cái “chất” đó đã bắt họ phải thay đổi cái “lượng”, tức là “tập thể hoá hết mọi của cải”, xoá bỏ phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, thay thế bằng “phương thức sản xuất Xã hội chủ nghĩa”. Nhưng rồi, kết quả ra sao? Giá trị con người và cuộc sống con người qua cách thực hiện những “khẩu hiệu” đó, những “qui luật” đó ra sao, ta đã thấy quá rõ.
Vấn đề quan trọng đối với nhân sinh chưa phải ở “chất” hay ở “lượng” mà ở “bản chất”, ở “ý nghĩa” của “lượng” cũng như của “chất”. Những vấn đề này lại thuộc suy tư triết, thuộc trầm tư, suy niệm nghĩa là thuộc về mặt tư tưởng: tư tưởng về con người, tư tưởng về cuộc sống, cuộc đời, tư tưởng về dòng sinh hoá của vạn hữu.
Nhưng khốn nỗi, những luận cứ đó lại quyến rũ, hấp dẫn được đám đông và con người đoàn lũ vì kích thích được bản năng tranh đấu hiếu động, vẽ ra viễn ảnh tươi đẹp cho họ và có tác dụng như nâng cao vai trò, vị thế, cuộc sống của họ.
Nhưng không chỉ riêng người Cộng sản mới biết quyến rũ và lợi dụng đám đông cùng con người đoàn lũ phục vụ ý đồ của họ. Biết bao kẻ, biết bao nhóm người, biết bao chánh phủ đã lợi dụng con người đoàn lũ và đám đông vào các mục tiêu đen tối của họ về chánh trị, về kinh tế cũng như về mọi mặt khác. Họ đem những quyền lợi trước mắt, những lý tưởng hào nhoáng làm miếng mồi câu nhử số đông.
Chúng ta đã thấy trào lưu khoa học kỹ thuật và nền tự do kinh tế theo phương thức Tư bản chủ nghĩa đã nhân danh tiến bộ và phát triển đến với những quốc gia còn chậm tiến, tất cả đã được quần chúng và các chánh quyền hưởng ứng ra sao, nhưng hậu quả lại tạo ra cảnh “phồn vinh giả tạo” và “bất ổn chánh trị” cùng sự “sa đọa văn hoá” như thế nào tại những quốc gia kém mở mang đó!? Dân không giàu, nước không mạnh, chỉ có một thiểu số nào đó và tập đoàn cầm quyền mới giàu mới mạnh mà thôi. Tại vì, phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa trong dạng thức chiếm hữu thị trường đến với nước nào lại cố tạo ra hay làm nẩy sinh và nuôi dưỡng cái dạng thức chiếm hữu phong kiến tại nước đó (xin xem quyển II).
Con người đoàn lũ và đám đông vì không đào sâu suy nghĩ, vì chỉ nghĩ đến lợi ích thường nhật, trước mắt, đã vô tình hay tự nguyện chạy theo cái xu thế nhất thời đó mà kết quả chỉ gây thêm điêu đứng cho mình, cho đất nước trong những điều kiện có khác với trước.
Một điều cần để ý là con người đoàn lũ không chỉ riêng là những người thất học, thiếu học mà xuất hiện ngay nơi tầng lớp học nhiều, có bằng cấp cao cũng như nơi những thành phần tư sản.
Do nền văn hoá đại chúng mà xã hội thêm đa tạp và phân hoá. Người ta bài bác cái “Nhất nguyên” để rồi rã rời trong các “Đa nguyên”. Dĩ nhiên, Nhất nguyên nơi đây không có nghĩa là độc tài, độc tôn, độc quyền, độc đoán vì “Nhất nguyên” không hề hàm chứa những thứ “độc” đó.
Nền văn hoá đại chúng và con người đoàn lũ đã khiến con người đánh mất cái toàn nguyên, toàn khối của con người mình, đã khiến con người xa lạ với chính mình và với tha nhân, đã không hề nghĩ đến nguồn gốc, truyền thống, quên cả quá khứ và không tha thiết đến tương lai của giống nòi, dân tộc. Và dù có dự phóng tương lai thì cũng chỉ là một tương lai cho cá nhân mình, cho tập đoàn của mình chứ không là tương lai của đất nước, của toàn thể nhân dân, nghĩa là của con người nói chung. Vì tất cả đều quay cuồng trong cái “Tất định qui luật” để chỉ lo nghĩ đến cái sống của cấu trúc hiện thể.
Trong những xã hội ngày trước, nếu xuất hiện những con người “hương nguyện, tiểu nhân, vũ phu” thì trong xã hội trong những thế kỷ gần đây và bây giờ lại xuất hiện con người “trưởng giả” và con người “đoàn lũ”. Con người hương nguyện luôn luôn bảo thủ, ỷ lại vào sở học, sở đắc của mình luôn tìm cách đố kỵ, dìm chết những tài năng son trẻ khiến đức Khổng đã phải lên án là “Hương nguyện đức chi tặc dã” (kẻ hương nguyện là tên đạo tặc đối với đạo đức); con người trưởng giả chỉ nghĩ đến phú quí, địa vị, chức quyền; con người đoàn lũ lại chỉ biết ỷ lại vào đám đông, biến thành lực lượng bạo cuồng hoặc thờ ơ với tất cả mọi thứ chỉ lo cho riêng mình phó mặc mọi sự việc cho xã hội. Nhưng nếu con người hương nguyện và con người trưởng giả có dụng ý trong mọi hành động của họ thì con người đoàn lũ hầu như chỉ bị lôi kéo chỉ vì nông nổi nhẹ dạ chứ bản tâm không ác ý, ngoại trừ lúc bị lôi kéo và cưỡng ép bởi số người hay bè phái lợi dụng.
Nhưng, ngày nay, dù theo Tư bản hay Cộng sản thì con người cũng không còn làm chủ được mình mà chỉ có xã hội làm chủ con người. Con người mặc nhiên trở thành kẻ đóng góp vì trách nhiệm, bổn phận để có điều kiện chu toàn cái sinh hoạt của cấu trúc hiện thể trong bất an, bất ổn, trong lo lắng, phiền muộn mà không thể rõ lý do, không tìm ra nguyên nhân rõ mặt do từ tính cách “cơ năng hoá” của cuộc sống và sự cần thiết “hợp lý hoá” của tổ chức xã hội.
Nói như thế có hoàn toàn bi quan chăng? Dĩ nhiên là có bi quan nhưng không hoàn toàn. Nền văn hoá đại chúng và con người đoàn lũ có những đặc điểm đáng quí, những điều hay tốt của nó mà trước tiên là phổ cập kiến thức và tạo được điều kiện cùng môi trường phát hiện và làm nấy nở những khả năng, những tài năng mới. Nhưng số này cũng không được bao nhiêu và cũng thường chỉ là những phong trào ngắn ngủi được nâng cao do quảng cáo và thương mãi để sau đó ít lâu lại chìm đi bởi những phong trào sau. Nền văn hoá đại chúng đã khiến cho thương mãi và dịch vụ phồn thịnh, nhất là trong thể thao, du hí, văn nghệ, nhưng như đã nói, đã làm cho con người thiếu bề sâu và xã hội thêm phân hoá.
Tuy nhiên, cũng như trạng thái “xã-hội-hoá thiếu xã- hội-tính”, nền văn hoá đại chúng và con người đoàn lũ là một thiết yếu lịch sử trong dòng đi của lẽ Đạo, trong quá trình sinh hoá của chủng loại người. Vì mọi thứ trong cõi sắc giới không bao giờ giữ được cái toàn nguyên, toàn bích của mình mà luôn luôn bị phân hoá, bị chia nhánh, chia ngành, điều mà P. Teilhard de Chardin gọi là “ramification” trong diễn trình hiện tượng hoá. Đạo của Chúa Ki-Tô rao giảng chẳng đã chia ra nào Thiên Chúa giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành giáo... đạo của Phật chẳng đã phân ra nào Tiểu thừa, Đại thừa và bao nhiêu tông phái; lý thuyết Hégel, Marx, kể cả những thuyết tiến hoá của Darwin, Lamarck cũng phân ra từng phái hệ nào cổ, nào tân, nào bảo thủ, cải lương, nào già, nào trẻ... Đấy là qui luật của tại thế.
Có thể nói nền văn hoá đại chúng và con người đoàn lũ cùng trạng thái “xã-hội-hoá thiếu xã-hội-tính” và sự “hợp-lý-hoá” tổ chức xã hội là trạng thái phân hoá cuối cùng của bản chất con người trên mặt chủng loại theo tiến trình của phát triển cơ năng để từ đó, con người trở về với tâm linh thống hợp cho chung nhân loại, thể hiện trọn vẹn được cái bản chất người, cái Bổn lai diện mục của mình sau chu kỳ sinh hóa trong sai biệt.
c. Hiện tượng “Bung phá và Nổi loạn”
Vì không tìm ra ý nghĩa cuộc sống hay vì thấy cuộc sống không có ý nghĩa, cuộc đời vô nghĩa nên con người luôn luôn bị quay quắt bởi sức cuốn hút của thiết yếu, nhu cầu và sở thích để lúc không đủ điều kiện với bắt, hoặc lúc có đủ lại đâm ra ngán ngẩm, chán chường, thấy mọi thứ đều nhạt nhẽo, rỗng không. Cái tình trạng “hư vô hoá” nơi tự thể con người luôn luôn âm ỉ vì mọi mục đích, mọi ước mơ được hay không được thoå mãn rút cuộc ra không đem lại một bình an, thơ thới, thoải mái nào cho tâm hồn. Vì thế, con người lúc nào cũng đầy ắp những ẩn ức, những giằn vặt, xao xuyến, bàng hoàng.
Ở cå hai phần thế giới hiện nay, con người càng lúc càng bị đẩy vào tình trạng “chán sống”, nhất là nơi giới trẻ.
Tại các vùng Cộng sản ngự trị, con người rẫy rụa trong đọa đày, trong tình trạng “khổ sai” miên viễn của thân xác, không còn thấy tương lai mình ra sao. Cuộc sống vật chất bị hạn chế đến mức khó lòng bảo đảm cho cá nhân mình khiến cái “tình người” tê liệt vì không điều kiện thể hiện dù con tim có cháy bỏng yêu thương. Một hiện tại quay quắt trong bất ổn, bất an, một tương lai mịt mờ, vô vọng, cuộc sống không còn sinh khí.
Ở phần thế giới tư bản, tại một đôi nơi, sự sung mãn về vật chất đưa đến sự mất giá của tâm linh. Sự dồi dào hưởng thụ không hẳn là điều kiện phong phú cho tâm hồn. Trừ lớp người còn gìn giữ được truyền thống gia đình theo nề nếp cũ, nơi những tầng lớp khác, giới trẻ hầu như bị “bỏ rơi”, không được sự chăm sóc của cha mẹ hay của lớp người lớn tuổi vì sinh kế khó khăn, vì quan niệm tự do quá rộng rãi hay vì sự trái ngược nhau về quan niệm, quan điểm sống.
Giới trẻ phải “vào đời” quá sớm, buông mình theo nếp tự do quá trớn, mặc sức sống bừa bãi theo sở thích. Sức cuốn hút của thời trang, của quảng cáo, của những thú vui thỏa mãn thị hiếu và cảm giác khiến giới trẻ bị thôi thúc phải tung mình bắt kịp thời đại, hoà đồng với cái số đông “tân tiến” để khỏi phải thua sút mọi người.
Sự đào luyện trí tuệ và tâm hồn do đó không còn là một thiết yếu. Tỷ lệ bỏ học nơi giới trẻ trở nên phổ quát. Vì cần thiết phải tìm công ăn việc làm, vì phải ví đuổi tiện nghi để thỏa mãn được sở thích và vì sự tế vi của kỹ thuật cùng sự ngự trị của kỹ thuật trong đời sống, phần đông giới trẻ hầu như cảm thấy không cần thiết phải trau dồi học vấn đến mức độ cao ở nhà trường cũng như tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu thêm - có học cao đến mấy thì cuộc sống cũng như vậy thôi - mà chỉ cần giới hạn ở một chừng mực nào đó rồi buông mình vào lo cái sống thường nhật.
Cuộc sống cứ thế trôi đi trong một thứ không gian đều đặn và trong một thứ thời gian co rút khiến tuổi trẻ đâm ra thờ thẫn chán chường, tuy vẫn bận rộn với mưu sinh và du hí. Năng lực phần lớn chỉ được dùng vào hai sự việc đó. Ý chí không có chỗ sử dụng vì cuộc sống không được đun đẩy bởi một ý hướng cao đẹp nào. Nền văn minh của tiêu thụ, của rảnh rỗi và nay mai đây nền văn minh của khí cụ đã đưa giới trẻ đến chỗ thấy mình thừa thãi, vô tích sự, không hữu ích cho mình cũng như không hữu ích cho ai. Cuộc sống trở thành một miễn cưỡng, một bắt buộc không có ý nghĩa, ý vị gì.
“Con người đoàn lũ” có điều kiện gia tăng, đoàn lũ theo nghĩa chỉ biết ăn chơi phè phỡn, chỉ chạy theo thị hiếu và dục vọng riêng mình, bất biết đến mọi thứ khác, không còn thấy trách vụ của mình đối với đất nước, dân tộc, xã hội, không hướng vọng, không niềm tin, không nghĩ gì đến một sự nghiệp nào ngoài tầm hiện tại.
Nhưng chất sống bên trong, cái phần nội tâm ẩn mật nơi một số kẻ thao thức nghĩ suy, vẫn âm ỉ, tiềm tàng khiến giới trẻ luôn luôn ray rứt bān khoăn, giằn vặt, bất an. Trạng thái bung phá, nổi loạn nẩy sinh từ đó.
Giới trẻ luôn luôn cô đơn và nhàm chán. Giới trẻ không còn một tin tưởng vững chắc nào vào các giá trị tinh thần. Đức tin tôn giáo dần dần khô cạn, tan loãng, nếu không vì để cầu xin ân sủng, phước hạnh được thoát một ngặt nghèo, bất trắc nào đó. Mọi ý thức hệ đối với họ trở nên què quặt, bất lực và hoang tưởng. Mọi chế độ chánh trị, kinh tế..., không còn thuộc phần vụ của họ nữa mà hầu như chẳng giải quyết được gì cho thân phận họ. Cái trật tự bằng phẳng, lặng lờ trong một tiết điệu hầu như không đổi không đem lại cho họ cái bằng an tâm hồn và ngăn chặn mọi ước mơ, mọi hoạt động của họ.
Tính cách “hợp-lý-hóa” của xã hội khiến họ cảm thấy bị ràng buộc, cưỡng bức mọi tự do, làm tê liệt ý chí phấn đấu vì họ không thể nào thoát vượt được cái “logic” của đời sống được tổ chức quá chu đáo, nghiêm nhặt. Họ bị cuốn hút vào cái “logic” đó; cái “logic” bao trùm quấn chặt con người họ, không cần biết đến họ, làm tê liệt hết mọi phản ứng của ho. Họ không dự phần vào trong cái “logic” đó, trái lại như bị “giam lỏng”, bị “an trí” trong đó.
Cái tính “anh hùng, hiệp sĩ, dũng sĩ” nơi tuổi trẻ không có điều kiện thể hiện, cái tính vị tha, bác ái cũng bị hạn chế vì họ không còn khả năng, điều kiện hoặc vì do xã hội đã “chu toàn” rồi, không cần thiết đến những đóng góp cao quí của họ. Sự chuyển đổi tình thương trực tiếp giữa người và người sang trách vụ của xã hội đã làm cạn tắt, vô nghĩa và vô ích mọi hoạt động cao đẹp, thiết tha của tình người nơi họ.
Giới trẻ cảm thấy bị tù ngục giữa xã hội đang sống, cảm thấy mình là “người lạ mặt” giữa mọi người, ngay trong gia đình, ngay trong mọi tổ chức, hội đoàn. Xã hội càng lúc càng như một nọa lực làm ngưng đọng, tiêu tan hết mọi năng lực của họ. Trước mắt họ, một hiện tại nhầy nhụa, vô vị, một tương lai không mùa xuân, không sắc hồng, không ánh sáng. Nơi họ hầu như không còn hy vọng, hướng vọng nào cả. Ẩn ức càng lúc càng như chất chứa, tích lũy, đầy ắp. Để giải tỏa, giới trẻ tìm mọi cách bung phá, nổi loạn. Thật sự, họ không tìm ra mà bị thôi thúc bởi những ngột ngạt từ bên trong.
Tấm thân xác đang độ nẩy nở cùng năng lực phương cương của tuổi trẻ là những động lực khiến giới trẻ không thể nào thụ động, ù lì. Cái “chán sống” trong một tiết điệu đều đặn, quanh quẩn, tù túng đưa họ đến trước tiên là “hủy phá” hoặc “tiêu dùng” mọi năng lực mình không vì một mục đích nào cả. Họ đâm bổ vào ăn chơi, trụy lạc, sống trác táng, chạy theo đủ mọi thú vui để quên đi phiền muộn, để tiêu pha số thì giờ rảnh rỗi. Họ tung mình vào từng phong trào, sử dụng năng lực và sức khỏe của tuổi trẻ vào những trò chơi táo bạo, nguy hiểm, lạ kỳ. Họ buông mình vào những cảm giác mạnh, những kích thích sôi nổi, bồng bột. Họ tìm cách thoát ra trong từng lúc ngắn ngủi cái ngục tù của cái “logic” xã hội. “Điều tôi muốn bây giờ là thoát ra khỏi cái cơ giới này” (55).
Cái sức khoẻ đầy ắp, cái sức sống không được dùng phục vụ một lý tưởng, một cứu cánh nào tốt đẹp nên được phung phí, hủy hoại bằng ma túy, bằng mọi chất kích thích dục tình.
Nhan nhản những thiếu niên, thanh niên nam nữ ghiền nha phiến, bạch phiến, sử dụng những dược phẩm có độc tính. Tệ hại xã hội gia tăng do tuổi trẻ buông thả theo đà kéo lôi của dục tình sôi nổi, của những “nổi loạn, bung phá” ẩn ức. Sách báo làm tình, phim ảnh đồi trụy, những loại văn nghệ nhảm nhí càng gia tăng những kích thích, những khao khát bạo dâm, cuồng dâm được biện minh là “sở thích, thị hiếu thời đại”.
Thiếu nữ hơ hớ xuân xanh đã khao khát ân tình, thấy cần phải có một gã trai để che chở, để khỏi bị đánh giá là “vô duyên, lạc hậu, cổ hủ”, đã buông rơi theo mọi quyến rũ bất cần hậu quả thế nào. Trong những quốc gia quá nghèo đói, con gái quá trẻ cũng đã phải bán thân để có điều kiện đua đuổi thời trang. Trong những chế độ tư bản, sự tàn phá tiết trinh quá sớm không là điều cấm kỵ và hầu như cũng không có gì là trái với đạo đức, pháp luật.
Chủ trương hạn chế sinh đẻ hay “sinh đẻ có kế hoạch” nhằm mục đích ngăn chặn sự gia tăng nhân số quá nhanh lại tạo điều kiện cho việc giải quyết sinh lý trở nên quá tự do, bất chấp luân lý và dư luận. Hiện tượng phá thai, nạo thai không còn là điều lén lút, xấu hổ, tội lỗi. Mặc dù bị cấm đoán, mặc dù nguy hiểm, hiện tượng ăn chơi bừa bãi về mặt dục tình vẫn phổ biến để bao nhiêu chứng bịnh càng lan tràn.
Sự “đồng tính luyến ái”, bịnh Sida (ở Hoa Kỳ được gọi là Aids) dần dần phổ biến khắp nơi. Giáo dục sinh lý đã đi vào học đường quá sớm, ngay từ lứa tuổi 15, 16 và việc làm tình lộ liễu, công khai qua phim ảnh, sách báo, qua các tổ chức mãi dâm, qua quảng cáo đã khiến tuổi trẻ rời bỏ những mộng mơ cao đẹp mà chạy theo vật dục.
“Động vật tính” nơi con người không bị hạn chế mà còn có cơ hội phơi bày lộ liễu. Những cách ăn chơi buông thả, sự lăn xả vào những thú vui ầm ĩ, náo loạn trong các thú giải trí cho dù là lành mạnh như thể thao, du lịch, tắm biển... do cuốn hút của thời trang, xét ra cũng là cách thế giải tỏa những ngột ngạt của cuộc sống vô vị nhàm chán do vận tốc của cơ năng.
Cao hơn nữa, giới trẻ còn buông theo những hành động vượt ra ngoài luật pháp. Những phong trào hippy, cao bồi, du đãng, những vụ cướp phá giết người,... bao nhiêu lỗi lầm của “tuổi trẻ can phạm” (jeunesse délinquante) càng ngày càng nhiều.
Tội lỗi cũng tiến theo đà văn minh cơ giới. Trong lúc người ta kêu gọi hòa bình, tình thương thì sách báo, phim ảnh lại nhan nhản những vụ cưỡng dâm, bắn giết, cướp phá, sử dụng bạo lực. Ngay cả đồ chơi trẻ nhỏ cũng đầy rẫy súng đạn, xe tăng, máy bay, tàu chiến, đại bác, hoả tiễn. Người ta gợi nơi giới trẻ hình ảnh những “anh hùng” không vì chính nghĩa cao xa như những hiệp sĩ, dũng sĩ ngày trước mà chỉ vì tự ái, vì bị mất mặt, bị thua cuộc trong một cuộc ăn chơi hay đọ sức về một mặt nào đấy. Người viết chúng tôi không có những thống kê về “tuổi trẻ phạm pháp”, về số lượng sử dụng ma túy, về những vụ tự tử, giết người nhưng những kêu gọi, những than thở của các bậc có trách nhiệm hầu như được nghe hàng ngày, được thấy thường xuyên trên mặt báo, đủ chứng tỏ tình trạng sa đọa của giới trẻ chỉ có gia tăng mãi.
Những hiện tượng “bung phá, nổi loạn” để giải tỏa ẩn ức, ngột ngạt, tự thân chỉ là những hành động tự phá hủy mình để chống đối một cách tiêu cực và vô ích cái trật tự cơ giới, cái “logic” nghiêm nhặt của xã hội hợp- lý-hoá hoặc của nếp sống quá sung mãn và tự do quá trớn tại một số nước tư bản hay của cuộc sống không còn sinh khí nơi những quốc gia cộng sản. Đấy là những “cuồng loạn bất lực”(66) chẳng nhằm xây dựng hay tạo ra một thứ gì tốt đẹp mà chỉ làm sa đọa thêm xã hội. Đấy là những rẫy rụa, những phản ứng của cái trạng thái tâm lý ngột ngạt trước một xã hội ổn định mà bất an, tự do mà ràng buộc, sung mãn mà nghèo nàn,... trong những sợi dây xích vô hình của cái “logic” tổ chức hợp lý.
Tình trạng chán sống, bung phá và nổi loạn, sa đọa của tuổi trẻ, tình trạng ngán ngẩm buông xuôi của lớp tuổi về già, sự ẩn mặt của các nhà tư tưởng “dư dục vô ngôn” (57), sự mất giá của tôn giáo và các ý thức hệ cùng sự suy đồi của hàng ngũ tu sĩ, trí thức là những báo biểu sự thoái hoá của xã hội về mặt nhân văn. Hầu như không một thức giả liêm khiết nào không bi quan về thực trạng văn hoá ngày nay.
Tuy nhiên, không đến nỗi phải quá chán chường. Những hiện tượng trên có thể xem là những báo hiệu để xã hội có thể “đổi mới”. Diễn tiến sinh hoá của mỗi dân tộc hay của nhân sinh nói chung hầu như luôn luôn cùng lúc hiện diện đủ cả hai phần “đúng-sai, phải-trái, tốt-xấu, thiện-ác...”.
Xã hội cũng như con người tiến về mặt này lại thụt lùi về mặt kia, luôn luôn bơi lội trong những cặp phạm trù mâu thuẫn đã nói trong cái “Tất định qui luật” nhưng đã đến thời kỳ chuẩn bị cho một bước nhảy vọt của thời sử vào trong trục vận hành của thời thể, nghĩa là của lẽ Đạo hằng cửu, để chấm dứt giai đoạn “mạt pháp” hay “buổi hoàng hôn của lịch sử” của kỷ nguyên thứ nhất hiện nay.
d. Mặc cảm tự tôn, tự ty, mất giá
giữa các dân tộc, quốc gia:
Sau đệ nhị thế chiến, trật tự thế giới có nhiều thay đổi. Trung tâm quyền lực không còn nằm ở các quốc gia Âu Châu như Anh, Pháp, Đức mà qui tụ nơi hai nước lớn: Hoa Kỳ và Liên Sô, một trẻ, một già xét về mặt cấu tạo dân chúng.
Dạng thức chiếm hữu thuộc địa (thực dân kiểu cũ) dây dưa một thời gian sau thế chiến rồi chấm dứt do phong trào giải phóng dân tộc khiến các cường quốc trước đây mất dần địa vị, ảnh hưởng và bị sút giá trước hai đại cường vừa mọc lên, đang sung sức, có nhiều điều kiện trổi vượt về diện tích đất đai, nhân số, tài nguyên cùng sức mạnh quân sự, vũ khí.
Kế hoạch Marshall đã đem lối sống và sức mạnh của Hoa Kỳ thâm nhập vào một phần lớn quốc gia trên thế giới, để rồi Hoa Kỳ dần dà chi phối các quốc gia này không những về mặt kinh tế, kỹ nghệ mà cả về mặt chánh trị, an ninh và văn hoá. Ảnh hưởng Hoa Kỳ đối với thế giới đã khá lớn từ sau đệ nhất thế chiến, đến nay càng được củng cố và bành trướng. Nhiều quốc gia đã có nền văn minh cao như Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Trung Hoa... buộc lòng phải dựa vào Hoa Kỳ để phục hồi đất nước sau chiến tranh, để tránh sự phá sản và bảo vệ mình trước sự bành trướng của một thứ đế quốc mới là Liên Xô.
Liên Xô lợi dụng sự thất trận của Đức Quốc Xã và những nhân nhượng của phe đồng minh, đã ngang nhiên xua quân chiếm trọn một số nước Đông Âu và cổ súy cho đảng Cộng sản tại các quốc gia khác tiến hành cuộc Cách mạng vô sản núp dưới chiêu bài “giải phóng dân tộc” và “chống đế quốc”.
Thế giới bị phân chia thành hai chiến tuyến rõ rệt: Tư bản và Cộng sản, mỗi bên dẫn đầu bởi một đại cường trên. Ngay tại mỗi quốc gia, hai “ý thức hệ” đó, hai kiểu mẫu xã hội đó cũng trở thành cuộc tranh chấp dai dẳng, trường kỳ đưa đến chiến tranh nội bộ với sự giựt dây, tiếp tay hé trợ của hai siêu cường Nga, Mỹ.
Với sức mạnh và ảnh hưởng đó, Hoa Kỳ và Liên Xô mặc nhiên nuôi cái mặc cảm tự tôn, tự hào, tự cho mình là “đàn anh” của thế giới, là thành trì bảo vệ tự do, là cường quốc số một, là ân nhân, cứu tinh của nhân loại, không còn ai là đối thủ và càng lúc càng tìm cách chi phối tất cả mọi dân tộc, mọi quốc gia để khống chế và bành trướng thị trường cùng quyền lực chiếm hữu.
Hoa Kỳ tự hào về sức mạnh kinh tế, tài chánh và khoa học kỹ thuật, về trạng thái tiến bộ văn minh của mình, xâm nhập vào mọi quốc gia dưới chiêu bài “bảo vệ tự do”, giúp đỡ khai phóng, phát triển, đẩy lùi tình trạng lạc hậu, chậm tiến...;
Liên Xô tự hào về những “ưu việt” của chủ nghĩa xã hội khoa học, vận dụng chủ nghĩa này cùng sức mạnh của mình chi phối, xâm nhập vào mọi nơi qua chiêu bài “giải phóng chống áp bức, bóc lột” của đế quốc tư bản. Chỉ còn hai cường quốc này là đối thủ của nhau nên luôn luôn tìm cách khuynh loát, đè bẹp, triệt hạ nhau bằng mọi cách. Cuộc đối đầu không trực diện giữa hai nước mà lại trực diện tại từng quốc gia khác nhất. là tại những quốc gia “nhược tiểu” hoặc vừa giải phóng khỏi chế độ thuộc địa.
Ở đây, không bàn và không ghi lại những thời sự đã xảy ra vì không là chủ đề của sách mà chỉ nói đến cái mặc cảm tự tôn và ý đồ chinh phục thế giới của hai cường quốc này đã đem lại bao nhiêu gãy đổ, điêu tàn cho nội bộ từng quốc gia.
Vì phải đối đầu với nhau mà mục đích cuối cùng là tiêu diệt lẫn nhau, cả hai tìm cách lôi cuốn thế giới về phía mình. Nhưng sự lôi cuốn đó không vì nhân đạo, không vì lòng hào hiệp, không vì lý tưởng cao cả “bảo vệ tự do, hoà bình” hay “chống đế quốc, chống bóc lột, giải phóng con người” mà chỉ vì quyền lợi của mỗi bên, vì sự sống còn của mỗi bên. Sự lôi cuốn đó chỉ nhằm chinh phục, khống chế, cưỡng bức các quốc gia khác phải theo họ, phải đứng vào hàng ngũ của họ, phải lệ thuộc vào họ, phải tuân phục mọi chánh sách, chủ trương của họ và phải tích cực đương đầu với đối thủ của họ.
Với sức mạnh và mặc cảm tự tôn là cường quốc, là “cứu tinh” của nhân loại, với chủ trương cưỡng chế mọi dân tộc đi theo thể chế và mô thức xã hội của mình, cả hai Hoa Kỳ và Liên Sô trở thành những con bạch tuộc quốc tế với bao nhiêu thủ đoạn, bao nhiêu ma-nớp mà đương thời khó lòng nhìn ra. Những cuộc chiến tranh địa phương, những cuộc chiến tranh nội bộ, những tranh chấp, xáo trộn tại một số quốc gia - nhất là tại những quốc gia gọi là đệ tam - là do sự tranh giành ảnh hưởng, quyền lực và quyền lợi giữa Nga-Mỹ. Đâu đâu cũng có sự nhúng tay đôi khi lộ liễu, công khai, đôi khi ẩn tàng, kín đáo của bàn tay phù thủy của hai siêu cường này.
Thế lực và ảnh hưởng Liên Xô dần dần bành trướng - ngoài các quốc gia Đông Âu ra, nay thêm Lào, Campuchia, Mông Cổ, Albanie, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Việt Nam và sẽ còn thêm nếu không hoàn toàn là chư hầu thì cũng là một thứ tay sai, một công cụ để Liên Xô chấp dài cánh tay xâm lăng và bành trướng. Lý thuyết Mác-Xít quá hấp dẫn - đối với nhân dân các nước lạc hậu, nghèo nàn, hoặc vừa thoát ra khỏi chế độ thuộc địa, đã giành được độc lập và đang lo xây dựng đất nước - cùng với sự tin tưởng vào khả năng, sức mạnh của Liên Xô đã quyến rũ bao dân tộc đang từ chỗ yếu kém tìm cách ngoi lên, khiến Hoa Kỳ khó đương đầu về mặt tư tưởng. Hoa kỳ chỉ biết đem sự giàu mạnh, trù phú cùng lý tưởng tự do ra đối chọi, nhưng khốn nỗi sự giàu mạnh và tự do đó chỉ riêng một số nhà tư bản và những kẻ được Hoa Kỳ ủng hộ tại mỗi nước mới có, còn đại đa số quần chúng vẫn là “khố rách áo ôm”, hưởng một tự do trên lý thuyết.
Không cần phân tích dài dòng vì không muốn đi vào thời sự, lãnh vực người viết chúng tôi không đủ dữ kiện. Tuy nhiên, điều dễ dàng thấy trước mắt là bất kỳ quốc gia nào bị khống chế bởi Liên Xô hoặc Hoa Kỳ thì nơi đó chỉ có chế độ độc tài mà thôi: độc tài đảng trị hoặc độc tài cá nhân, tập đoàn hay quân phiệt. Một Bắc Việt Nam (bây giờ là cả Việt Nam), một Bắc Triều Tiên, một Cuba,..., một Nam Việt Nam trước đây là điển hình. Cái mặc cảm tự tôn và thái độ trịch thượng của hai cường quốc Nga-Mỹ đã gây nên tự ái quốc gia cho bao nhà lãnh đạo và quần chúng tại các quốc gia yếu kém.
Lịch sử nhân loại hiện nay đang trải qua giai đoạn ngự trị của hai thế lực đế quốc Tư bản và Cộng sản và đang trên đà phát triển cùng tột của dạng chiếm hữu thị trường (xin xem phần Il). Sự đối nghịch và tương tranh giữa hai đế quốc đó đã chia nhân loại thành hai chiến tuyến mà mỗi quốc gia khác chiến tuyến mặc nhiên bị cưỡng bức phải thống thuộc hoặc phải tự ghép mình vào ảnh hưởng của mỗi bên. Tình trạng đó, trong tập sách này ghi lại là trạng thái “Lưỡng đối cực” hoặc “lưỡng nhị nguyên” cùng tột của thời đại cuối kỷ nguyên thứ nhất. Trạng thái đó có thể đưa đến một đụng đầu lịch sử tàn khốc và ghê khiếp nhất từ trước đến nay, tức là một thế chiến thứ ba với những thứ vũ khí mà sức tàn phá và sát hại không thể nào lường được.
Tuy nhiên, cuộc cờ thế giới không hẳn ngã ngũ như thế vì chưa hẳn bên nào thực sự muốn đương đầu trực diện với đối phương ngay tại phần đất của mình, và đến nay, cái mặc cảm tự tôn của cả Nga lẫn Mỹ hầu như tiêu tan dần.
Một số sự việc đã và đang xảy ra trên thế giới (xem phần II) cho phép ta nghĩ đến một thế hoà giải cuộc đụng đầu kinh khiếp đó không phải do thiện chí của Nga hay Mỹ mà do lịch trình vận hành của lẽ Đạo ứng vào nhân sinh (xem phần II), vì lẽ hai siêu cường đó cũng đang đầy ắp bên trong bao nhiêu mầm mống băng hoại.
Liên Xô với chế độ độc tài đảng trị càng lúc càng đưa dân chúng đến cảnh nghèo đói, kiệt quệ.
Sự bần cùng của nhân dân và tính cách “khổ sai” của thân xác trong lao động cùng sự áp chế về tư tưởng do chế độ cảnh bị khắt khe khiến đời sống người dân Liên Xô - cũng như ở bất kỳ quốc gia Cộng sản nào - mỏi mòn, không còn sinh khí. Từ đó năng xuất lao động giảm sút dần, nền kinh tế Liên Xô không thể nào vươn lên được. Một phần bị bao vây kinh tế bởi khối Tư bản, phần khác phải cạnh tranh vũ khí và khoa học không gian với Hoa Kỳ, phải nuôi dưỡng và bành trướng lực lượng ở Thái Bình Dương, phần phải chi viện quá nhiều cho các đàn em Cộng sản như Cuba, Việt Nam..., tài nguyên Liên Xô cạn dần, nền kinh tế, thương mãi đã không thể ổn định mà còn đi xuống. Do nhu cầu phát triển vũ khí, kỹ nghệ dân sinh bị ngưng trệ nên trên mặt này, Liên Xô thua sút hẳn các nước tư bản. Chiến tranh xâm lăng Afghanistan đã làm giảm sút uy tín và uy lực Liên Xô trên quốc tế khá nhiều.
Sức mạnh của Liên Xô hầu như hoàn toàn dựa trên ba yếu tố: quân số, vũ khí và lý thuyết Mác-Lênin. Ngoài quân số đông đảo và số lượng vũ khí qui ước ra, hai yếu tố còn lại đang trên đà mất giá. Vũ khí nguyên tử Liên Xô không theo kịp Hoa Kỳ.
Lý thuyết Marx-Lenin nếu có hấp dẫn đối với một số nước đệ tam ở Á Châu, Phi Châu và Mỹ Châu La Tinh, thì tại Âu Châu, tại các quốc gia Cộng sản Đông Âu, tại Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Việt Nam đã phơi bày bao nhiêu nhược điểm không thể nào khắc phục. Các đảng Cộng sản Tây Âu đã ly khai với điện Cẩm Linh và sự yếu kém của Liên Xô không thể nào che giấu được. Các nước Đông Âu không thể nào chịu đựng mãi tình trạng yếu kém mỗi ngày một gia tăng trước sức phát triển của Tây Âu. Liên Xô phải đề phòng khuynh hướng đòi hỏi “độc lập” về lãnh đạo của các đảng Cộng sản Đông Âu cũng như những cuộc nổi dậy của nhân dân Đông Âu, như trước đây phải đề phòng những đòi hỏi tự trị của các nước Cộng hoà trong nước, phải đối phó với Trung Quốc đang hướng về Tây phương trên mặt kinh tế và đang đối chọi với Liên Xô. Càng ngày Liên Xô càng cùng kiệt và bộ mặt xâm lược của Liên Xô cùng chủ nghĩa Marx-Lenin ở Afghanistan bị cả thế giới lên án. Đấy là không nói đến những đòn tấn công, phá hoại của đế quốc Hoa Kỳ về khắp mọi mặt.
Thế tất Liên Xô không thể duy trì mãi tình trạng hiện nay mà phải có những cải cách nào đó như thời Kroutchev và những cải cách đó nhất định đưa đến những xáo trộn để Liên Xô không thể duy trì mãi “bức màn sắt” cố hữu.
Không như trong chế độ phong kiến trước đây, sự cải thiện dân sinh phần nào làm tăng uy tín và củng cố quyền lực của giai tầng thống trị, trong chế độ độc tài Cộng sản, mọi cởi mở về kinh tế nhất định đòi hỏi những nới lỏng về chánh trị, mà nới lỏng về chánh trị là làm tổn thương và đe dọa đến quyền lực thống trị của Đảng, mà duy trì uy quyền thống trị độc tài về chánh trị thì kinh tế không thể nào phát triển để đất nước chỉ mỗi ngày một lụn bại. Trong tác phẩm “Gauche, année zéro”, Marc Paillet đã nói: “Cải cách lại đôi khi đồng nghĩa với lụn bại” (58). Liên Xô từ lâu đã lúng túng trong tình thế đó.
Nhưng đời sống cùng cực của nhân dân, nền kinh tế yếu kém cùng khuynh hướng dân chủ trong nội bộ Đảng, khuynh hướng tự trị trong các Cộng hoà trong Liên bang Xô viết, khuynh hướng độc lập phần nào nơi các quốc gia Cộng sản Đông Âu và trước sức phát triển của Tư bản không chịu “dẫy chết”, nhất định bắt buộc Đảng và Nhà nước Liên Xô phải có những biện pháp “nới lỏng” phần nào sợi “dây xích đỏ” đang siết chặt toàn thể khối Cộng sản nói chung. Đấy là điều người ta kỳ vọng và tin rằng sẽ xảy ra.
Và như thế, thế giới bớt lo ngại về một thế chiến thứ ba và những “cải cách”, thay đổi nào đó của khối Cộng sản sẽ khiến cái thế “lưỡng đối cực” bớt phần khẩn trương, đưa thế giới vào tình trạng hoà dịu, dẫn đến một hòa hợp nào đó giữa Đông và Tây, tức giữa Cộng sản và Tư bản. Dạng thức chiếm hữu thị trường qua sự xâm lược bằng chủ nghĩa dần dần mất công hiệu và cái “thành trì của Cách mạng vô sản toàn thế giới” không còn đủ điều kiện để duy trì.
Về phía Hoa Kỳ cũng không phải không có những dấu hiệu suy thoái.
Về mặt an ninh quốc tế, Hoa Kỳ phải luôn luôn phát triển vũ khí, phát triển nền khoa học và kỹ thuật không gian, phải chi viện cho khối Nato, khối Đông Nam Á, phải yểm trợ các phong trào chống Cộng ở nhiều nơi như Campuchia, Nicaragua, Afghanistan... và phải nuôi dưỡng một số chế độ chống Cộng nhưng phản dân chủ như ở Phi Luật Tân hiện nay, phải làm ngơ (hoặc phản đối chiếu lệ) trước những hành động, chủ trương phân biệt chủng tộc của Nam Phi, của Do Thái,... Những sự kiện đó khiến Hoa Kỳ phải chi phí quá nhiều và uy tín Hoa Kỳ giảm sút.
Sự cạnh tranh mậu dịch và kỹ thuật giữa các quốc gia Tư bản phát triển khiến nền kinh tế, thương mãi Hoa Kỳ không thể thường xuyên ổn định. Sức phát triển thần tốc của Nhựt Bổn về mặt kỹ thuật khiến giới tư bản Hoa Kỳ lo ngại. Khối Thị trường chung Âu Châu và nay mai có thể trở thành một khối Âu Châu đoàn kết sẽ tạo nên một trung tâm quyền lực ngang ngửa với Hoa Kỳ và Liên Xô, có thể khiến niềm tự hào, tự tôn về vị thế đàn anh của mình lâu nay mất giá.
Sự rút quân khỏi Việt Nam - cho dù là do kế hoạch toàn cầu của mình - bị đánh giá là một thất bại đau đớn để lại nơi các nhà lãnh đạo và nhân dân Hoa Kỳ một vết hằn tủi nhục khó phai. Sự rút quân đó khiến dư luận và các quốc gia khác trên thế giới càng khám phá ra những phản bội của Hoa Kỳ đối với những ai gọi là đồng minh của Hoa Kỳ. Sự bội ước, bội tín đã khiến một số quốc gia đệ tam, tuy vẫn cần thiết nương dựa vào Hoa Kỳ nhưng không mấy trọng nể và tin tưởng.
Đối đầu với lý thuyết Mác-xít, lý tưởng “tự do - dân chủ” của Hoa Kỳ không mấy thu phục được nhân tâm. Dân chủ và tự do nhưng trong sự chi phối của phương tiện, của đồng đô-la. Người dân được “thả lỏng” về mọi mặt nhưng không thể nào thoát khỏi sự bủa vây của guồng máy kinh tế, tài chánh. Ngân hàng, kỹ nghệ và kinh doanh nằm trong tay hoặc bị khống chế bởi tài phiệt.
Cái lý tưởng tự do dân chủ đó đến với quốc gia nào còn yếu kém chỉ tạo nên nơi đó một thứ chiếm hữu phong kiến làm điêu đứng dân chúng, gây bất ổn chánh trị và làm sa đọa nền văn hoá dân tộc của quốc gia đó như ở Việt Nam Cộng Hoà trước đây, ở Phi Luật Tân với chế độ Marcos. Sự bất mãn của quần chúng dần dần được Cộng sản khai thác để lôi cuốn vào vòng Cộng sản mà không ngờ.
Nếp sống Hoa Kỳ (le style américain) không mấy được ưa thích vì hầu như chỉ buộc con người chạy theo tiền tài và phương tiện mà xa lạ tình người. Tệ trạng kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ vẫn dai dẳng dù một số vị Tổng Thống như John Kennedy, Lyndon Johnson, Jimmy Carter cố gắng làm giảm thiểu. Phong trào tranh đấu cho người da đen của mục su Luther King (bị ám sát năm 1968) vẫn âm ỉ để có thể bùng lên với nhóm Ku- Klux-Klan và thiểu số người da đỏ.
Tình trạng căng thẳng của phát triển (la tension du développement) cũng là vấn đề lo nghĩ của Hoa Kỳ. Biết bao công trình, biết bao dự án thành hình nơi các phòng thí nghiệm, nơi các viện nghiên cứu chưa thể nào thực hiện, ứng dụng vào thực tế xã hội, chưa thể tung vào thị trường để kinh doanh vì đòi hỏi phải thay đổi cấu trúc xã hội mà hiện nay chưa thể nào làm được. Chẳng hạn, sự sinh đẻ bằng cách cấy tinh trùng không thể công khai áp dụng qua luật pháp để trở thành một kỹ nghệ, một phương cách doanh thương, một khi luật pháp hiện hành chưa thay đổi và quan điểm về tôn giáo, văn hoá hiện nay chưa cho phép.
Dạng thức chiếm hữu thị trường bằng sức mạnh kinh tế, tài chánh, kỹ thuật và thương mãi của Hoa Kỳ không thể tiến hành như lâu nay mà bắt buộc phải thay đổi đường hướng, quan niệm nếu muốn ổn định địa cầu, để tránh được nhüng chiến tranh nóng hay lạnh trong cạnh tranh thị trường và để giữ được vai vế “cường quốc số 1” về tất cả mọi mặt.
Do tất cả những sự kiện trên, ta có thể nghĩ đến những cải cách nào đó tại Hoa Kỳ để nảy sanh một chiều hướng văn minh mới, không quá lệ thuộc vào cơ năng, có thể đổi mới được nhân sinh, hoặc khiến Hoa Kỳ phải trải chịu một khủng hoảng toàn diện nào đó để trả giá cho những cái “nghiệp” mà Hoa Kỳ đã gây ra trên thế giới, từ đó đi vào trong cái thế hội nhập tất yếu của nhân loại theo lý vận hành của cái “Tất định như nhiên”.
Chúng ta hy vọng những cải cách tất yếu sẽ xảy ra ở Liên Xô cùng những thay đổi của Hoa Kỳ về đường hướng chiếm hữu thị trường trong nay mai, cùng với sự thành hình khối Âu Châu đoàn kết, sẽ đưa cái thế “lưỡng đối cực” thành “lưỡng bất nhị” (xem phần II) để tất cả cùng tìm ra và hướng về một nền tâm linh thống hợp, thực hiện được cuộc Cách mạng nhân bản tính thể toàn diện cho con người và cho nhân loại trong kỷ nguyên mới.
Ngoài ra, ta cũng phải để ý đến cái tự tôn, tự hào, tự kiêu của Trung Quốc với Mao Trạch Đông. Ỷ vào nhân số, ý vào lãnh thổ rộng lớn của mình - mà bất kỳ quốc gia tư bản nào cũng thèm thuồng thị trường - Mao Trạch Đông đã trở thành một thứ “thiên tử” của xứ sở ông và nuôi mộng Trung Quốc sẽ là thành trì của chủ nghĩa Marx ở Á Châu, hoặc cả trên thế giới, thay thế cho Liên Xô.
Mặc dù vẫn theo chủ nghĩa Marx nhưng thoát ly hẳn Liên Xô, Mao Trạch Đông vẫn đối lập với Hoa Kỳ và thế giới tự do, cố sao tạo được cuộc đụng đầu Nga-Mỹ để Trung Quốc dẫu có chết hơn phân nửa dân số thì số còn lại sẽ sinh con đẻ cháu trong một thời gian ngắn Trung quốc cũng sẽ là bá chủ thế giới khi nhân loại bị tiêu diệt và tê liệt vì cuộc chiến tranh tàn khốc đó.
May sao, Mao Trạch Đông đã qua đời, để lại cái “ô danh” bạo chúa với đầu óc điên loạn của một con người tự kiêu, tự đại và ngông tưởng. Những người kế tiếp Mao Trạch Đông hiện nay cũng không thoát ra khỏi cái tự tôn, tự kiêu đó cho dù không đến nỗi quá đáng như họ Mao. Cùng trong trạng thái tâm lý đó, Cộng sản Việt Nam cũng tự tôn, tự hào, tự kiêu không kém. Nhờ biết vận dụng lý tưởng dân tộc, nhờ được sự ủng hộ của Nga và Trung Quốc, nhờ vào thủ đoạn chánh trị khéo léo và nhờ vào tình trạng phân hóa cùng cực của người quốc gia cũng như lợi dụng cái thế “lưỡng đối cực” của Nga- Mỹ, Cộng sản Việt Nam đã trở thành chủ nhân ông của cả nước, tự cho mình đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai tên “đầu sỏ quốc tế”để tạo nên lịch sử vinh quang cho dân tộc. Niềm tự hào càng được đưa lên cao độ, cả tập đoàn lãnh đạo và nhiều lớp cán bộ được học tập chu đáo tự cho chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam mới là “sáng tạo” chủ nghĩa Marx-Lenin phù hợp với thực tế và tình hình, mới là kẻ theo lý thuyết Marx-Lenin một cách trong sáng nhất để đối lập với Trung Quốc từ sau ngày chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Đảng Cộng Sản Việt Nam từng tự kiêu tự đại, cho rằng Việt Nam của họ là “lương tri nhân loại”, là “trái tim của loài người”, là “đỉnh cao trí tuệ” và ông Hồ Chí Minh được nâng lên thành “vĩ đại, siêu tuyệt” có đầy đủ những phần “lập trí, lập đức, lập công”(*) mà bất kỳ một anh hùng vĩ nhân nào của dân tộc trước nay cũng không một ai có được. Ngay cả thơ văn của Hồ Chí Minh cũng được đề cao là hơn hẳn bất kỳ một văn nhân thi sĩ nào cổ kim.
* Trong một buổi thuyết trình cho toàn thể giáo viên bộ môn Văn quận 10 tại trường Nguyễn Tri Phương vào năm 1986, một cán bộ giáo dục thành phố Hồ Chí Minh đã phân tích đại để cho rằng “Bác Hồ hơn hẳn các danh nhân xưa nay vì có đủ 3 phần lập trí, lập đức, lập công”. Nguyễn Trãi lập công mà không lập đức vì còn cưới Thị Lộ; Nguyễn Bỉnh Khiêm lập trí, lập đức mà không lập công; Trần Hưng Đạo lập trí, lập công mà không lập đức vì phục vụ cho chế độ phong kiến, Riêng “Bác Hồ lập trí (tìm ra được đường cứu nước), lập công (giải phóng được dân tộc) và lập đức (không có vợ...)”.
Nhưng rồi, cái kiêu hãnh, tự hào đó dần dần xuống giá đến nỗi hiện nay hầu như họ không còn dám nói đến nữa. Cuộc tiến quân vào Campuchia, chỉ ít ngày sau đã làm mất hết cái “uy tín” đánh Mỹ cùng cái “chính nghĩa giải phóng dân tộc” mà họ tự hào, khoe khoang, cái tự kiêu về “anh hùng” mất giá một cách thê thảm để có một chính khách (hình như là Thủ Tướng Tân Gia Ba Lý Quang Diệu) đã mai mỉa: “anh hùng bữa trước, côn đồ bữa nay”. Rồi xã hội Việt Nam mỗi ngày thêm bi đát để cái tự kiêu về “trí tuệ tập thể” biến mất theo. Tất cả những khẩu hiệu tự đề cao mình đó đã trở thành đề tài nhạo báng trong nhân dân và ngay trong hàng ngũ cán bộ đảng.
Cuba với Fidel Castro, Bắc Triều Tiên với Kim Nhật Thành cũng cùng trong cái thói tự hào, tự tôn, tự kiêu như thế.
Cái mặc cảm tự tôn, tự đại và tâm lý trịch thượng của các đảng Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên đã góp phần đưa các quốc gia này đến chỗ điêu tàn, nhân dân đến chỗ tận cùng của thống khổ không biết đến ngày nào mới thoát được.
Bên cạnh cái mặc cảm tự tôn và thái độ trịch thượng của hai cường quốc Nga Mỹ là cái mặc cảm “sút giá, mất giá” của những quốc gia mà trong thế kỷ trước và ở tiền bán thế kỷ 20 đã là những cường quốc “oai trấn võ lâm”.
Anh quốc, sau ngày phải trả độc lập cho Ấn Độ và sau ngày bị tàn phá và hao tổn vì chiến tranh quá nặng đã thấy không thể duy trì các thuộc địa do cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đang lan tràn trên thế giới, đã dần dà phải trả độc lập cho các quốc gia bị trị. Uy tín của Anh quốc sút giảm. Những khả năng về kinh tế, tài chánh, kỹ nghệ và quân sự, vũ khí không thể nào ngang hàng với Hoa Kỳ và Liên Xô. Thời kỳ vàng son đi vào dĩ vãng, cái tự hào, tự kiêu về “xứ mặt trời không bao giờ lặn” không còn được nhắc tới nữa. Thị trường bị thu hẹp vì mất thuộc địa và không cạnh tranh nổi với sức mạnh kinh tế, kỹ thuật của Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Nước Anh, từ sau đệ nhị thế chiến trở thành đồng minh khắng khít trong mọi chủ trương, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nên đã bị thế giới đồng hoá với Hoa Kỳ và khối Thị trường chung Âu Châu không mấy thích. Vì nương vào Hoa Kỳ, Anh quốc đã không tán thành gia nhập khối Thị trường chung Âu Châu và còn gây khó dễ bằng cách thành lập vào năm 1951 một vùng trao đổi mậu dịch tự do gồm Anh, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ và Áo quốc nhưng không thể cạnh tranh lại được. Đến năm 1960, Anh quốc mới xin gia nhập Thị trường chung Âu Châu nhưng lại gặp sự chống đối của Tướng De Gaulle đang cầm quyền ở Pháp, mãi đến năm 1978 mới chính thức là thành phần của Khối Thị trường chung cùng với Đan Mạch và Ái Nhĩ Lan.
Trong cái thế phân vùng và kết hợp khối (xem phần II), Anh quốc dù liên hệ với Hoa Kỳ bao nhiêu, cũng không thể biệt lập với một Âu Châu hợp nhất và sự đoàn kết Âu Châu cũng sẽ làm tan loãng cái thế “lưỡng đối cực” để hình thành một hướng đi mới cho nhân loại.
Nước Đức, với truyền thống văn hoá, đặc biệt về mặt triết lý, nghệ thuật và khoa học, sụp đổ hoàn toàn bởi tham vọng của Adolf Hitler, một người hùng nhưng vì chủ trương suy tôn chủng tộc và vì tính tự kiêu, quá khích, bất thường đã đưa quốc gia vào thảm họa.
Đất nước bị chia hai, trở thành hai quốc gia đối nghịch: Đông Đức theo chế độ Cộng sản đứng hẳn về phía Liên Xô; Tây Đức theo chế độ dân chủ tự do, chịu ảnh hưởng nặng nề của Mỹ, Anh, Pháp. Hai quốc gia được thành lập chính thức năm 1949 và cùng nhìn nhận nhau dưới thời kỳ Thủ Tướng Willy Brandt của Tây Đức. Do sự chiếm đóng của các cường quốc chiến thắng và do vị trí nằm giữa hai hệ thống đối nghịch Đông (Cộng sån) và Tây (Tư bản), nước Đức trở thành địa bàn của cuộc chiến tranh lạnh dai dẳng giữa hai khối Cộng sản và Tư bản, nhất là trong cuộc phong tỏa Bá Linh của Liên Xô suốt một năm trời từ tháng 5/1948 đến tháng 5/1949. Nhờ thế Tây Đức được Anh, Pháp, Mỹ cởi mở dần và hỗ trợ thêm. Mối hận thù Pháp Đức được gác bỏ và xóa đi từ cuộc thoả hiệp giữa Tổng Thống Pháp De Gaulle và Thủ Tướng Adenauer để tiến tới hình thành một Âu Châu thống nhất mà Tây Đức đóng một vai trò đáng kể.
Nhờ vào truyền thống dân tộc và một số lãnh tụ tài ba về chánh trị, kinh tế Tây Đức dần dần vươn lên để thành một nước có nền kinh tế, kỹ nghệ phồn thịnh mà người ta đã gọi là “phép lạ Đức quốc” (le miracle allemand).
Cái mặc cảm thất trận, bị hạ nhục vì chiến bại, mất giá đối với đối phương và thế giới và trong tình trạng phải phục hồi đất nước, người Đức không dám nghĩ đến một thống nhất đất nước bằng quân sự. Tuy nhiên, với sự lớn mạnh của khối Âu Châu trước nền kinh tế què quặt của Đông Đức so với Tây Đức, sự hướng về Tây Đức và Thế giới tự do của nhân dân Đông Đức sẽ là những yếu tố giúp cho sự thống nhất nước Đức sẽ được thực hiện bằng biện pháp hoà bình hơn là chiến tranh như ở Việt Nam. Sự thống nhất đó sẽ làm nước Đức “sống lại” huy hoàng như trước với cái gia tài văn hoá sâu dày; Đức quốc cùng với Âu Châu có thể là chiếc nôi cho một tư tưởng mới cho nhân loại.
Nước Pháp, sau thời kỳ chiến tranh và sau thời kỳ bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, hầu như sức cùng lực kiệt. Sự thắng lợi của Tướng De Gaulle, giải phóng đất nước, không đủ để xoá tan cái mặc cảm tủi nhục vì bị thất trận quá nhanh, cảnh phải bị chiếm đóng và cái mặc cảm phải nương nhờ vào đồng minh quá nhiều. Cái mặc cảm đó cùng với cái “tự ái quốc gia” đã khiến Tổng Thống De Gaulle tìm cách thoát ly bớt sự chi phối của Hoa Kỳ và cố vươn mình phục hồi địa vị cường quốc như xưa.
Trước cao trào giải phóng dân tộc, nước Pháp đành phải trả thuộc địa lại cho dân bản xứ. Nhưng không như Anh quốc đã giải tỏa dạng chiếm hữu thuộc địa của mình một cách êm thấm, hoà bình, nước Pháp lại trả thuộc địa sau một thời gian dài đẫm máu vì chiến tranh. Cuộc chiến Việt Nam đã làm tiêu hao sinh lực của Pháp chưa kịp phục hồi và khiến uy tín của Pháp sa sút trên thế giới. Sự thất trận tại Điện Biên Phủ đã để lại cho Pháp quốc một “vết nhục” trong lịch sử bành trướng quyền lực gần hai thế kỷ qua trên thế giới. Cuộc chiến dai dẳng ở Algérie đẩy nước Pháp vào chia rẽ nội bộ trầm trọng và tốn hao sinh lực thêm nữa, cuối cùng vẫn không duy trì được phần đất này cho mình.
Biết bao vấn đề nan giải đặt ra cho nước Pháp: nạn lạm phát, nạn thất nghiệp, sự chia rẽ giữa các đảng phái chính trị, nhu cầu xây dựng đất nước và cải cách các cơ chế tổ chức về mọi mặt. Nước Pháp không thể nào đơn độc giải quyết nên phải nhờ vào sự viện trợ của Hoa Kỳ về mặt kinh tế, tài chánh. Cái mặc cảm sút giá trước Nga Mỹ khiến niềm tự hào “cường quốc” trước đây của mình tiêu tan.
Sự chia rẽ chánh trị, ngay trong quân đội về cuộc chiến Algérie, đã khiến Tướng De Gaulle được bầu làm Tổng Thống lần nữa mà nhiệm kỳ đầu tiên là tạo nên một Hiến pháp mới và giải quyết vấn đề Algérie. Hiến pháp được biểu quyết ngày 28/9/1958 với 79% số phiếu. Về kinh tế, tài chánh, phát hành đồng quan mới hay đồng quan nặng (le franc fort, le franc lourd, mỗi quan mới ăn 100 quan cũ) và tiến hành giải quyết cuộc chiến Algérie bằng thương lượng.
Để thoát khỏi cái mặc cảm “mất giá” trên thế giới, Tổng Thống De Gaulle củng cố nền độc lập quốc gia, cố đưa nước Pháp vươn lên. Một mặt đòi hỏi Pháp phải có một lực lượng xung kích độc lập với Hoa Kỳ (từ đó Pháp chế tạo vũ khí hạch tâm: bom nguyên tử năm 1960, bom H năm 1968) và quân lực Pháp không lệ thuộc vào sự điều khiển của khối Bắc Đại Tây Dương (OTAN), chỉ trích chánh sách Hoa Kỳ ở Đông Dương, nhìn nhận Trung Hoa Cộng sản và cố xây dựng một Cộng đồng Âu Châu từ Đại Tây Dương đến chân núi Oural, bác bỏ việc gia nhập của Anh quốc vào khối Thị trường chung vì cho rằng Anh quốc hoàn toàn lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Ngoài ra, Tổng Thống De Gaulle chủ trương phải gấp rút đưa nước Pháp phục hồi lại uy tín về các mặt khoa học, kỹ thuật, kỹ nghệ và thương mãi.
Nước Pháp có hưng thịnh nhưng lại gặp nhiều khó khăn về mặt “hiện đại hoá” xứ sở. Nhưng rồi, nước Pháp cũng đã vượt qua và đã củng cố lại được uy tín trên quốc tế mặc dù không lắm “hào quang” như trước.
Trong việc thành lập Thị trường chung Âu Châu để dần dần tiến đến một Âu Châu đoàn kết, nước Pháp đã góp phần tích cực để thoát ra khỏi sức ép của hai đại cường Nga Mỹ. Đấy sẽ là trung tâm quyền lực thứ ba để cân bằng thế lực hai siêu cường.
Với truyền thống văn hoá tương đối nhân bản, với truyền thống Cách mạng 1789, nước Pháp rất có điều kiện để cùng với Anh, Đức, Ý... trong khối Âu Châu qua quá trình văn hoá sâu dày và qua quá trình đau thương, suy thoái của lịch sử mình, sẽ hình thành một tư tưởng mới đặt căn bản cho một nền tâm linh thống hợp cho toàn nhân loại. Tuy nhiên, triết lý Âu Châu hầu như chưa đủ. Chính cái triết lý đó đã tạo thành nền văn minh cơ giới hiện nay, đã đưa con người và nhân loại vào cái trạng thái “nô lệ không rõ mặt” hiện nay.
Để có thể hình thành một tư tưởng mới, triết lý Tây phương phải hoà nhập với Đạo học Đông phương sau khi đã đãi lọc những lệch lạc về mặt thực tiễn của tư tưởng phương Đông. Có lẽ đấy là điều mong ước của M. Heidegger dù ông chưa nói rõ ra. Ông mới chỉ muốn đặt lại vấn đề tính thể của tư tưởng, suy nghiệm lại cái tinh túy của triết lý khởi đi từ Cổ Hy Lạp để tiến đến một hội thoại Đông- Tây nghĩa là một hoà nhập tư tưởng của cả hai bên để nhân loại cùng nhận thức ra lẽ Đạo huyền vi, chung nhất của nhân sinh và vũ trụ.
Nhật Bản, sau chiến tranh là xứ sở bị tàn phá. Gần phân nửa diện tích đất đai bị phá hủy vì bom đạn, hơn hai triệu người bị chết và hai quả bom nguyên tử đã tiêu hủy hầu như sạch sẽ hai thành phố lớn... Cái tinh thần “võ sĩ đạo” hầu như ngỡ ngàng, tan tác để thay vào cái tâm trạng ngẩn ngơ, tê liệt trước cảnh hoang tàn của quốc gia dân tộc và sự chiếm đóng của đồng minh. Niềm tự hào dân tộc, kiêu hãnh về xứ sở “mặt trời mọc”, về tinh thần yêu nước mất dần sinh khí, thay vào đó là sự mong muốn hoà bình và nhu cầu đổi mới xứ sở.
Vốn là dân tộc biết đoàn kết, Nhật Bản đã sớm hàn gắn được vết thương chiến tranh và đưa đất nước tiến lên. Với một hiến pháp mới, nhà vua không còn trọn quyền về mặt chánh trị và tôn giáo mà chỉ còn là biểu tượng của quốc gia, Nhật Bản nghiêng hắn về thể chế đại nghị với một điều khoản quan trọng trong Hiến pháp là “từ bỏ chiến tranh” khiến thế giới yên lòng. Người Mỹ, dù chiến thắng Nhật Bản, nhưng phần nào nể phục dân tộc này nên tuy có kiểm soát nhưng đồng thời cũng giúp đỡ khá nhiều cho việc canh tân xứ sở của kẻ thù trước đây.
Những cải cách về kinh tế và nông nghiệp đã khiến người dân Nhật dễ sống hơn trước. Vấn đề giáo dục được đặc biệt chú trọng, phỏng theo lối giáo dục thực tiễn của Tây phương, đặc biệt là Hoa Kỳ.
Trước sức bành trướng lực lượng của Liên Xô ở Thái Bình Dương, ở vào vị trí được xem là cửa ngõ ngăn chặn sự bành trướng đó, Nhật Bản dần dần được đồng minh nới lỏng vòng kiểm soát, và đến năm 1951, sau Hiệp ước San Francisco, Nhật Bản được hưởng mọi chủ quyền của một quốc gia độc lập.
Do cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô, Hoa Kỳ không còn xem Nhật Bản là thù địch nên đã biến Nhật Bản thành một đồng minh của mình. Do đó, năm 1970, Nhật Bản được thành lập Bộ Quốc Phòng và lực lượng phòng vệ quốc gia.
Nhờ vào tinh thần kiên trì chịu đựng truyền thống và lợi dụng các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, Việt Nam mà Hoa Kỳ bị sa chân, Nhật Bản đã thụ hưởng nhiều điều kiện thuận lợi để tiến nhanh về mặt kinh tế, thương mãi, tài chánh và kỹ thuật. Sức sản xuất của Nhật Bản trôi vượt ghê gớm khiến người ta nói đến “phép lạ Nhật Bản” (le miracle japonais) và Nhật Bản không đầy hai mươi năm sau chiến tranh đã thành cường quốc kinh tế hơn cå các nước Tây Âu và cạnh tranh kỹ thuật cả với Hoa Kÿ. Người Á Đông có thể nhìn vào Nhật Bản mà bớt mặc cảm “chậm tiến” đối với người da trắng. Đến nay, hàng hoá Nhật Bản xâm nhập hầu hết mọi quốc gia nhất là về mặt điện tử.
Có thể nói, trong thế kỷ này, Đức và Nhật là hai dân tộc đã xoá được cái nhục thất bại vì chiến tranh, đã phục hồi đất nước và đưa đất nước phồn thịnh như trước hoặc hơn trước một cách nhanh chóng nhất.
Với sự phát triển thần tốc đó, liệu Nhật Bản có thể trở lại với ý đồ quân phiệt trước đây không? Đấy là điều khiến nhiều người lo ngại nhưng tin rằng sự việc đó khó xảy ra trong những điều kiện của thế giới hiện nay và sắp đến.
Dân tộc Nhật Bản với sự hấp thụ nền văn minh kỹ thuật Tây phương để đưa mình lên hàng cường quốc kinh tế có phần sáng giá hơn cả Tây phương nữa, và với nền văn hoá Đông phương cổ truyền chắc hẳn Nhật đã nhìn ra được những đổ vỡ do nền văn minh kỹ thuật gây ra cho con người mà góp phần không nhỏ cùng nhân loại chuyển hướng được nền văn minh hiện nay.
Chúng ta hy vọng Nhật Bản sẽ không quá chạy theo tham vọng cường quốc kinh tế, kỹ nghệ mà quên đi cái chất Đông phương từ lâu đã là giá trị tinh thần cao quí của con người Nhật Bản và của con người nói chung.
Trung Quốc, thời Mao Trạch Đông, suy thoái và cùng kiệt. Nền nông nghiệp phá sản hoàn toàn do chủ trương “hợp tác hoá” và “Công xã hoá” đến nỗi người dân Trung Quốc không còn được một chiếc chén ăn cơm như lời tố cáo của Liên Xô thời Kroutchev được nhắc lại trong tờ Pékin Information. Cuộc cách mạng văn hóa man rợ tiêu hủy hết mọi năng lực tinh thần và toàn thể đất nước sống trong tình trạng “khủng bố đỏ” dưới sự cai trị độc tài khủng khiếp của họ Mao cùng bè lũ.
Lo sợ trước sức bành trướng của Liên Xô có thể bao vây mình về mạn Nam, Trung Quốc đã bắt tay với Hoa Kỳ và bớt ủng hộ Cộng sản Việt Nam để mong sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam kềm hãm được tham vọng của Liên Xô đối với mình.
Mao Trạch Đông chết, Trung Quốc trong tay Tứ Nhân Bang càng thêm xâu xé để Hoa Quốc Phong lên kế vị Mao nhưng chẳng có gì khả quan mấy. Hoa Quốc Phong phải nhường quyền cho Đặng Tiểu Bình và tập đoàn của ông ta, tuy vẫn là Cộng sản nhưng không quá quá khích và có cái nhìn thực tế hơn...
Tiêu diệt nhóm Tứ Nhân Bang, giải tán dần những công xã, nhóm cầm quyền mới đem lại ít nhiều tin tưởng cho quần chúng nông dân. Dần dần củng cố quyền lực, nhóm mới này giao thiệp với thế giới Tây phương, đặc biệt với Hoa Kỳ rộng rãi hơn, để nhờ vào sự tiếp tay của phe “đế quốc”`mà thực hiện chương trình “bốn hiện đại”
Với một số cởi mở về mặt kinh tế, về nhìn nhận lại giá trị cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) và Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan, nhóm Đặng Tiểu Bình ổn định được phần nào tình trạng đất nước nhưng phải đối phó với xu hướng đòi hỏi tự do mỗi ngày một mạnh mẽ của quần chúng, nhất là ở thành thị và nơi thành phần trí thức, sinh viên, thanh niên. Đặng Tiểu Bình hẳn nhìn ra không thể hoàn toàn tổ chức xã hội theo phương pháp luận Marx-Lenin nhưng cũng không thể đi theo hoàn toàn lối tổ chức của Tư Bản chủ nghĩa mà phân vân về một mô thức xã hội nào đó nhưng chưa hoặc không tìm ra.
Vì thế, chủ trương vẫn lắt lay, chưa dám xoá bỏ chế độ Cộng sản mà cũng chưa dám cho thực hiện những tự do như quần chúng đòi hỏi. Chúng ta chờ xem.
Có điều, chúng ta có thể tin là với một dân số quá đông đảo, với diện tích rộng rãi, với tình trạng chênh lệch quá lớn giữa nông thôn và thành thị, với nền kinh tế và sức phát triển không thể đồng đều giữa các miền, các vùng trong xứ và với ngôn ngữ khác nhau của từng vùng (dù tiếng quan thoại đã trở thành chung cho cả nước và được áp dụng), thế tất Trung Quốc không thể nào giữ mãi tính cách tập quyền cứng ngắc mà phải chuyển mình qua một thể chế liên bang kiểu nào đó. Đặng Tiểu Bình đã đến tuổi gần đất xa trời, các người kế vị ông liệu có khả năng thực hiện những điều ông muốn?
Dù sao, Trung Quốc đã có một truyền thống sâu dày và là nơi dung hòa được ba nguồn tư tưởng Đông phương: Nho, Lão và Phật, ta có thể tin tưởng rằng các nhà trí thức Trung Quốc ở lục địa cũng như ở Đài Loan sẽ phải chiêm nghiệm lại nền Đạo học Đông phương kết hợp với nền văn minh duy lý của Tây phương để phục hồi xứ sở và để hình thành một chế độ tốt đẹp cho một quốc gia gọi là “đang phát triển”.
Trong chiều hướng đó, Trung Quốc có thể cống hiến được nhiều điều kiện tốt để nhân loại tạo nên được một nền Tâm linh thống hợp, đổi hướng được chiều hướng văn minh chuyển vào kỷ nguyên mới.
Một số quốc gia đệ tam.
Sau chiến tranh thế giới lần hai, cả Hoa Kỳ và Liên Xô - do nhu cầu bành trướng và trong tình thế tranh chấp nhau - đều cùng hỗ trợ cho phong trào giải phóng thuộc địa.
Chủ nghĩa Cộng sản được đón nhận tại nhiều nơi như là “chiếc đũa thần” đánh gục những tên thực dân đầu sỏ để giải phóng dân tộc và con người nói chung.
Thể chế tự do dân chủ và sức mạnh kinh tế của Hoa Kỳ đáp ứng được khát vọng của các dân tộc bị áp bức thoát khỏi gông cùm thực dân và xây dựng quốc gia mình được độc lập và phú cường.
Trước sự sụp đổ do chiến tranh và trước sức ép của Hoa Kỳ và Liên Xô, các quốc gia thực dân cũ không còn đủ sức duy trì ách thống trị, đành phải lần hồi trao trả độc lập cho các quốc gia bị trị hoặc bằng thương lượng hoặc bằng chiến tranh dây dưa một thời gian.
Nhưng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Liên Xô không phải do hảo tâm mà do ý đồ bành trướng thế lực mình. Cả hai muốn thay thế các quốc gia thực dân cũ để đặt ách thống trị về chánh trị, về kinh tế và về cả mặt quân sự. Các quốc gia thực dân khi trao trả độc lập đã để lại một di sản bi đát trong lúc sự hỗ trợ, giúp đỡ của Liên Xô hoặc của Hoa Kỳ cũng không để nhằm phát triển, xây dựng cho số nước vừa giành được độc lập.
Trong cơn sốt của chủ nghĩa dân tộc và trong hào hứng xây dựng xứ sở, các quốc gia này đã phải đối diện với bao vấn đề nan giải. Vấn đề biên giới, chủng tộc, tôn giáo, thể chế chánh trị, mô thức xã hội, tình trạng dân trí u trệ đã gây nên bao rắc rối, bất ổn, tranh chấp trong nội bộ và giữa nhiều quốc gia với nhau. Một Ấn Độ chẳng hạn: chiến tranh biên giới với Trung Quốc, xung đột giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo, chia rẽ chánh trị giữa các đảng phái...
Ở bất kỳ quốc gia đệ tam nào cũng có tranh chấp giữa Cộng sản và quốc gia, giữa bảo thủ và cấp tiến, giữa độc tài và tự do...
Với một nền kinh tế lụn bại, với kỹ thuật còn ấu trĩ, với dân trí còn thấp kém, với bao đổ vỡ do chế độ thuộc địa để lại, các quốc gia này luôn luôn lúng túng trong việc đi tìm một thể chế chánh trị, kinh tế thích hợp cho mình.
Độc lập có giành được, tự do có trở về, hoà bình đã đến nhưng biết sao duy trì và phát triển? Một độc lập không vững chắc, một tự do bấp bênh, một hoà bình không ổn định trước bao nhiêu hàm hỗn của dân, nước. Hai siêu cường Nga-Mỹ không để yên, luôn luôn tìm cách ve vãn, mua chuộc, gây ảnh hưởng và phá hoại.
Những quốc gia do đảng Cộng sản nắm quyền thì hoàn toàn theo Liên Xô, thi hành độc tài đảng trị, tiêu diệt hết mọi thành phần không theo Cộng sản, đời sống nhân dân cơ cực, xã hội đi giật lùi, còn tệ hơn thời phong kiến hoặc thời còn bị thực dân cai trị. Các quốc gia không bị Cộng sản nắm quyền thì lắt lay trong một thứ thế chế chánh trị không nền tảng. Người Mỹ nhúng tay vào với bao đầu tư viện trợ, cố vấn, kết quả chỉ nuôi dưỡng một lớp tư bản tài phiệt bản xứ và một tập đoàn cầm quyền thối nát.
Sự hình thành “thế giới thứ ba” qua Hội nghị Bandung để mong giữ thế Trung lập giữa Mỹ và Nga rốt cuộc chẳng đem lại một kết quả nào đáng giá. Các quốc gia đệ tam này lay lắt giữa ảnh hưởng của hai siêu cường lúc nghiêng bên này lúc ngã bên kia, đất nước chẳng mấy ổn định và công cuộc xây dựng quốc gia không mấy thành tựu đáng kể ngoài một đôi công trình biểu kiến.
Trong ước mơ canh tân xứ sở, trong nhu cầu hối hả kỹ nghệ hoá đất nước, các quốc gia đệ tam này dần dần không còn giữ vững được tính cách độc lập và trung lập nữa mà càng lúc càng lệ thuộc vào bên ngoài: lệ thuộc vào thị trường, vào mãi lực của thế giới, vào kỹ thuật và vào vốn liếng đầu tư của bên ngoài, vào cố vấn, chuyên viên ngoại quốc. Những lệ thuộc đó đưa đến những món nợ kếch xù và về mặt chánh trị, văn hoá, xã hội, tình trạng luôn luôn bất ổn, chia rẽ; tranh chấp.
Để ổn định, chánh quyền rơi vào tay một đảng phái hay một tập đoàn độc tài do sức chi phối của bên ngoài và do nhu cầu ổn định quốc gia. Cái tự hào đấu tranh giành độc lập, cái phấn khởi được sống tự do, thoát khỏi lệ thuộc dần dần chìm xuống, nhường chỗ cho cái mặc cảm mất giá, cái tự ti về tính cách lạc hậu, chậm tiến đối chiếu với quốc tế.
Tất cå những mặc cảm tự hào, kiêu hãnh, tự ti, mất giá trên đã tạo nên bao chấp tranh, bao bất ổn, nghi ngờ, không còn tin tưởng nhau giữa các dân tộc, quốc gia. Thế giới vẫn lẩn quẩn triền miên trong vòng khống chế của quyền lực và quyền lợi của kế mạnh.
Sau đệ nhị thế chiến, về mặt chánh trị, kinh tế, nhìn chung, thế giới đã bày ra một số sự kiện nổi bật sau đây:
- Sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ theo dạng thức chiếm hữu thuộc địa để hình thành và phát triển chủ nghĩa thực dân mới theo dạng chiếm hữu thị trường, đưa thế giới vào tình trạng “lưỡng đối cực”.
- Cao trào giải phóng dân tộc tại những quốc gia thuộc địa để đưa các quốc gia này đến chỗ bị chi phối bởi hai siêu cường, biến thành những vùng chiến tranh nóng và lạnh giữa hai siêu cường đó.
- Tình trạng chênh lệch lớn lao giữa giàu và nghèo. Những quốc gia tiền tiến đã dựa vào sức mạnh kinh tế, kỹ thuật càng lúc càng trội vượt, dần dà chi phối toàn thể địa cầu trong lúc hai phần ba thế giới lâm vào tình trạng lạc hậu, chậm tiến, mãi mãi là nạn nhân của độc tài, của đói nghèo, thiên tai, bịnh tật, luôn luôn trông chờ những viện trợ nhân đạo của bên ngoài.
Thế kỷ XXI mở ra trong tình trạng bi đát đó của hai phần ba thế giới, hai phần ba nhân loại. Nhưng nếu một số quốc gia tiền tiến như Nga, Mỹ, Nhật Bản và một số quốc gia Châu Âu, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, do sự hợp lý hoá của tổ chức xã hội, có thể “ung dung” đón chào thế kỷ mới; thì bộ mặt thế giới, cuộc sống nhân loại nói chung cũng chẳng đổi khác gì so với trước nay ngoài một số kiến thức, hiểu biết mới hơn, rộng hơn về vũ trụ, về một số phát minh kỹ thuật tối tân, về một số sáng chế khí cụ và vật dụng mới cho cuộc sống cơ năng.
Còn bao nhiêu hiện tượng và bệnh thái xã hội khác nữa của nhân loại như nạn nhân mãn, hiện tượng di cư tìm đất sống, hiện tượng đổ dồn về thành thị để hưởng thụ văn minh... mà người viết chúng tôi không đủ tài liệu để có thể nói đến rõ ràng.
Trạng thái văn minh, tiến bộ của thế giới hiện nay vẫn chưa chữa lành được những căn bệnh muôn đời: đói nghèo, bịnh tật, bóc lột, áp bức, kỳ thị (về màu da, về chúng tộc, về tôn giáo, về trình độ văn minh...) bởi uy quyền và bạo lực của kẻ mạnh, không bảo đảm được tự do, bình đẳng thực sự giữa người và người, giữa dân tộc, quốc gia với nhau. Tất cả do từ lòng dục tư hữu, chiếm hữu phát sinh từ cuộc sống cơ năng theo cái “Tất định qui luật”.
Con người càng lúc càng bị đe dọa mất giá trước những kỹ thuật tân kỳ, trước nhu cầu hợp lý hoá của tổ chức xã hội. Nền văn minh của tiêu thụ, của khí cụ tại một số quốc gia tiên tiến về kỹ thuật đã làm phá sản mọi giá trị tinh thần khiến phần sống tâm linh của con người không còn được coi trọng.
Nếu một số ít dân tộc có điều kiện để bước vào thế kỷ thứ XXI thì hai phần ba nhân loại vẫn còn triền miên trong tình trạng bán khai, luôn luôn quay quắt trong cái sống thường nhật thường hằng bất ổn. Sự mất giá của tình người, ngay tại các quốc gia tiên tiến, sự mất giá của tư tưởng khiến cuộc sống không còn ý nghĩa nữa. Cái “triết lý của sự CÓ” (philosophie de l’Avoir) chi phối suốt diễn trình sinh hoá của nhân loại từ khởi thủy đến nay đã thay đổi bộ mặt thế giới qua nhiều dạng thức hiện hữu, xét về mặt cơ năng, có nhiều tiến bộ nhưng về mặt tâm linh vẫn chưa có gì thật sự sáng giá.
Tuy nhiên, như đã nói, sự phát triển cùng cực của cơ năng đó đang chuẩn bị cho một hội nhập lớn lao của toàn thể nhân loại không do từ lòng tốt của riêng ai mà do diễn tiến tiến hoá tất yếu của dòng vận hành của lë Đạo trong cái Tất định như nhiên do từ hai qui luật cơ bản: phát triển của lượng cô động vào phẩm và tiến trình từ chủ thể và đối tượng rõ mặt sang trạng thái hay của biệt nghiệp tan hoá vào cộng nghiệp (xem phần Il).
Đó là “trò chơi” của Thượng Đế, của lẽ Đạo, một trò chơi lớn nói theo Héraclite mà có người bảo là “trò chơi của Héraclite” (le grand jeu d’Héraclite) và mỗi hạn kỳ của “trò chơi” đó là một Đại niên kỷ theo Héraclite tức là một kỷ nguyên sinh hoá của chủng loại người đã được đề cập trong phần trước.
Vị Thượng Đế quá quắt, nghịch ngợm hơn con trẻ đã tự dìm mình đi qua từng chủng loại để hồi phục lại mình, bắt nhân gian triền miên trong khổ nạn. Nói theo một nhà thơ Việt Nam:
Trẻ Tạo hoá đành hanh quá ngán
Chết đuối người trên cạn mà chơi
(Ôn Như Hầu - Cung oán ngâm khúc)
để con người tìm ra được ý nghĩa cuộc đời, cuộc sống, cứu cánh của nhân sinh qua quá trình Tư hữu chiếm hữu để tiến đến trạng thái sống “Hữu phi hữu”, Hữu- Vô là Một.
Trên đây là một số phạm trù mâu thuẫn cặp đôi tiêu biểu về mặt ý thức và thực tiễn của đời sống. Còn một số phạm trù mâu thuẫn khác không được nói đến vì hầu như cũng từ những cặp phạm trù này mà ra, hầu như là những “hệ luận” của những cặp phạm trù này mà các phần sau có thể nhắc qua một cách sơ lược.
Chính do từ những cặp phạm trù mâu thuẫn này mà nẩy sinh tất cả mọi bệnh thái, mọi biểu hiện trong đời sống cá nhân, quốc gia, xã hội, chẳng hạn như: Hiện tượng xã hội hóa mà thiếu xã hội tính, vong thân không được bù trừ, hiện tượng số đông và con người đoàn lũ, những mặc cảm tự tôn, tự ti, mất giá, hiện tượng chán sống, bung phá và nổi loạn, tình trạng căng thẳng của phát triển...
Những bệnh thái đó chỉ được giải quyết khi các phạm trù mâu thuẫn trên được giải quyết. Nhưng con người cùng lịch sử của nó không thể giải quyết được ngay mà mỗi bước tiến chỉ là mỗi bước giải trừ dần dà để tính cách mâu thuẫn bớt phần nặng nề, gay cấn, cho đến lúc lịch sử hoàn toàn chấm dứt, nghĩa là lịch sử sang trang, mở ra một chu kỳ sinh hóa mới cho con người, và nhân loại sẽ từ cái tư tưởng hướng về Tồn thể đó đưa con người và chủng loại người bước sang một dạng tồn tại mới cao hơn hiện nay.
Các phạm trù mâu thuẫn cặp đôi và các trạng thái chung kể trên cho ta thấy nhân loại hiện nay đang trong vòng sai biệt lớn lao về mọi phương diện. Cõi tại thế đầy dẫy đau thương. Từ thế kỷ 19, nhân loại hầu như hoàn toàn đổi khác so với trước. Sự phát triển thần tốc của khoa học kỹ thuật và sự gia tăng nhân số quá nhanh trên mặt địa cầu là hai yếu tố chủ yếu làm phát sinh mọi bi đát, kinh hoàng. Nền văn minh tiến dần đến chỗ hoàn toàn máy móc, cuộc sống do từ đó tiến đến hoàn toàn cơ năng.
Cùng với phát triển kỹ thuật cơ giới, kỹ thuật tâm giới, hay cơ tâm, cũng tiến những bước dài, lồng lộn cướp giựt con người về phía mình. Cùng trong vận chuyển cơ năng, nền văn minh từ mấy nghìn năm tách chia thành hai giới tuyến: cơ giới và cơ tâm.
Mỗi người, mỗi dân tộc, không còn chọn lựa, bác bỏ, mà tự thân thấy cần phải từ chối cả hai, nhưng trên thực tế lại hành động trái với chủ tâm mình. Phải chọn một trong hai khuôn mặt của Janus. Không phải chọn mà hầu như bị ném vào, bị cưỡng bức, bị cuốn hút, bị nhào lộn, quay cuồng trong đó. Con người được xem như là đồ vật, hàng hóa, công cụ, phương tiện; quan hệ giữa người và người chỉ còn là quan hệ vật thể. Giả hình, man trá, lừa bịp, ngụy tín, hương nguyện, độc ác... hầu như tăng mà không giảm từ cá nhân chuyển sang tập thể, dân tộc, quốc gia.
Chúng ta có thể tìm thấy những điều đó qua những chủ trương, chính sách cùng thủ đoạn của các Nhà nước, các Chánh phủ, các cơ quan tình báo của nhiều quốc gia. “Chúng ta không thể tồn tại trong một giây nào mà không tự lừa bịp mình” (58).
Đấy là kết quả, thực trạng của nền văn minh duy lý, cơ năng, nền văn minh mà Oswald Spengler gọi là Văn minh Faustienne (Civilisation Faustienne). Nền văn minh đó, theo nhiều người, đang dẫy chết và cáo chung do từ cuộc đụng đầu của hai hệ thống cơ năng. Và nó cáo chung thì loài người cũng hủy diệt. Không còn một hy vọng nào.
“Lịch sử của nền văn minh đó tiến nhanh đến giờ tự diệt. Nó sẽ bị gặm nhấm và cấu xé từ bên trong chẳng khác gì bất kỳ công trình đồ sộ nào của bất cứ nền văn minh nào khác. Bao giờ sự việc xảy ra và vào lúc nào? Chúng ta không rõ.
Đối diện với cái định mệnh tàn khốc như trường hợp chúng ta hiện nay, chỉ duy nhất một định kiến tôi cần cho thái độ sống đúng đắn, xứng đáng nhất đối với chúng ta, điều đã được ghi nhận dưới cái tên “sự chọn lựa của Achille” là: thà sống ngắn ngủi, sinh động và huy hoàng hơn là hiện hữu kéo dài nhưng rỗng không, vô vị. Hiểm họa đã quá khẩn trương đối với từng cá nhân, từng giai cấp, từng chủng tộc; tự lừa phỉnh bằng một ảo tưởng nào đó chỉ là việc bi thảm đáng thương. Thời đại không cho phép ai làm ngưng dòng lịch sử đó. Một bạc nhược quay lùi lại sau, cũng như một khôn ngoan, thận trọng chối từ, tránh né, đều bị khước từ. Hy vọng là hèn nhát.
Chúng ta sinh ra trong thời đại này và can đảm theo đuổi con đường đã vạch cho đến cái giờ khắc cuối cùng, nghiệt ngã. Không một đổi thay nào cả. Bổn phận chúng ta là phải tự ghim mình vào cái vị thế bất khả kháng, bất khả hy vọng, bất khả viện cầu. Hãy kiên trì, kiên trì theo gương người lính La Mã mà hài cốt được tìm thấy trước cửa thành Pompéi, và suốt cả thời gian hỏa sơn Vésuve phun lửa, anh ta đã ngã chết ngay tại đồn canh vì người ta đã quên đến dựng anh ta dậy. Như thế mới là cao cả, như thế mới là vinh quang. Một cái chết huy hoàng, danh dự, đấy là điều mà không một kẻ nào lường gạt được con người” (59).
Quả là một thái độ kiêu hùng khắc kỷ.
Có những thất bại rất kiêu hùng, nhưng thất bại vốn không hàm chứa kiêu hùng, và không ai, ít ra tự khởi đầu, lại đi tìm kiêu hùng trong thất bại.
Hiện tại hàm chứa tương lai, nhưng hiện tại nhiều khi không hẳn là khởi đầu cho tương lai, vì rất nhiều khi tương lai chỉ là một hiện tại (bi đát) kéo dài.
Hy vọng không là hèn nhát. Hy vọng không là trốn chạy. Hy vọng không là đợi chờ. Hy vọng không là ước mơ. Hy vọng là “niềm tuyệt vọng được thắng vượt” (60). Hy vọng là khuynh hướng trong hiện tại, vượt thoát hiện tại, dự phóng tương lai, và hiện thực hóa tương lai trong hiện tại.
Quan điểm của O. Spengler là suy luận trên tại thế, trên hiện thể, chưa đặt trên tính thể, tồn thể.
Tất cả những phạm trù và trạng thái kể trên đều là hệ quả tất yếu của lịch sử sinh hóa của chủng loại. Dù nhanh hay chậm, dù phát triển hay ngưng đọng, dù quân bình hay bất quân bình, dù tiến bộ mặt này, thụt lùi mặt kia, lịch sử nhân loại trước nay chung qui chỉ là lịch sử của chinh phục và bành trướng quyền lực tư hữu và chiếm hữu, hoặc đã có điều kiện thực hiện hay chỉ còn là ý đồ, hoặc phải ở trong thế chống đối. Hình thức đổi thay muôn vẻ nhưng nội dung không ra ngoài căn bản đó.
Đối chiếu cái đã qua và cái bây giờ cùng cái sắp xảy ra, ai cũng thấy những tiến bộ chung của nhân loại, tiến bộ nơi đây có nghĩa là sự hơn kém nhau giữa những dạng thức hiện hữu. Nhưng mỗi hình thái tiến bộ trong hiện hữu làm phát sinh những đe dọa mới cho con người và cho cuộc sống của nó. Những đe dọa đó cũng thay đổi hình thức thể hiện mỗi lúc một rộng lớn hơn, qui mô hơn, đến nỗi dần dà chúng ta không tìm ra nguyên nhân và cũng không tìm ra thủ phạm gây nên đe dọa, vì mọi nguyên nhân hệ tại nhau chằng chịt và mọi thủ phạm không còn lộ liễu, rõ mặt.
Nhìn chung, ta có thể rút ra hai nhận xét dưới đây:
1. Lịch sử tại thế của loài người chung qui chỉ là lịch sử của tư hữu và chiếm hữu, để thỏa mãn thiết yếu, nhu cầu và sở thích, và để tạo thêm thiết yếu, nhu cầu và sở thích.
Đấy là một thứ “Tất định Qui luật” chi phối dòng hiện hữu của con người và chủng loại. Thiết yếu, nhu cầu và sở thích tiến diễn không ngừng, luôn luôn đổi mới làm cho óc tư hữu và chiếm hữu càng phát triển, mỗi ngày một tinh tế, và yêu cầu tư hữu, chiếm hữu càng ngày càng cấp bách hơn.
Do tư hữu, chiếm hữu, tội ác giữa người và người mỗi lúc một gia tăng và được bưng bít, che giấu dưới nhiều nhân danh, chiêu bài tốt đẹp: phát triển, tiến bộ, văn minh, nhân đạo... Bóc lột, áp bức, bất công..., nói chung những đoạn trường của con người luôn luôn đổi dời bình diện. Cuộc sống trở thành hàm hỗn, đọa đày, khổ cực.
Hiện hữu là xấu, là tội lỗi, là đau khổ. Mọi lý thuyết tôn giáo, khoa học, chánh trị, kinh tế, mọi phát minh, sáng chế, tổ chức... tất cả, suy cho cùng, dù dụng ý hay không dụng ý, cũng chỉ để biện minh, phục vụ và sử dụng vào tư hữu và chiếm hữu, nhân danh lẽ phải, tiến bộ, văn minh, hoặc chỉ là nguồn an ủi, chỗ tựa nương cho tinh thần sau những bất lực, tuyệt vọng.
“Sống là tranh đấu”, nhưng tranh đấu là để tư hữu và chiếm hữu. “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”, nhưng đấu tranh là để giành phần tư hữu cho mình. Tư hữu và chiếm hữu là động lực tạo nên đấu tranh và là đầu mối gây nên khổ lụy cho cuộc sống. Con người đã phải dẫy dụa, chết chóc vì tư hữu, chiếm hữu, chết nhục nhã, đọa đày vì thất bại trong chiếm hữu, hay chết vinh quang, hào hùng(!) nhờ chiếm hüu thành công.
Sử quan thần học cho rằng “Lịch sử là tấn kịch diễn xuất Thánh ý của Thiên Chúa và mỗi biến cố là một bài học dạy cho loài người từ trên trời” (61). Tấn kịch đó là tấn kịch “tư hữu, chiếm hữu” và bài học đó là bài học đau khổ do từ tư hữu, chiếm hữu phát sinh.
Sử quan khoa học cho rằng lịch sử diễn biến theo những qui luật bất di dịch, tiến theo đường thẳng, tiến theo chu kỳ, hay diễn tiến theo một yếu tố tích cực: lao động sản xuất, kinh tế, chánh trị... Những qui luật đó chung qui do óc tư hữu, chiếm hữu, do sự vận dụng trí tuệ vào mục đích tư hữu, chiếm hữu mà phát sinh.
Ngoại trừ các sử gia thần học và Mác dự trù rõ rệt cái lúc lịch sử chấm dứt, hay là giờ tận thế, để sau đó chỉ duy là Thiên đường hay Địa ngục, hoặc cái chế độ Cộng sản phát triển được quan niệm là cảnh giới đại đồng, còn mọi sử quan khác hầu như chưa xác định cái ngày cuối cùng của nhân loại vào lúc nào và như thế nào, nếu không là cái nhìn bi quan về sự hủy diệt loài người do chính loài người.
Hiện hữu do và trong tư hữu, chiếm hữu là triền miên trong đọa đày, bi đát, đau khổ và tội lỗi. Những cái ta gọi là hạnh phúc, nhìn chung chỉ là những bóng hình mờ nhạt thoáng qua, những lúc tạm dừng trên con đường chiếm hữu, sau một thành công hạn hẹp, hoặc là một thái độ khắc kỷ một cách can đảm, thản nhiên, do thất bại trong chiếm hữu, hoặc do không bị lệ thuộc vào tư hữu, chiếm hữu.
Cái “Tất định Qui luật” sinh hóa của chủng loại trong vòng tư hữu, chiếm hữu đã biến trần gian thành nơi đọa lạc, một cõi ta bà, vô thường, giả hoặc, một vũ trụ gẫy đổ (monde cassé) trong lúc cái Thiên đường, hay Niết bàn, hay cảnh giới đại đồng của chúng loại, chỉ là dự tưởng, hay tưởng tượng, do cái nhận thức kinh hoàng về hiện hữu tạo ra, nên con người trở thành một thứ “Đam mê vô ích”, và hiện sinh con người luôn luôn bị treo lơ lửng, luôn luôn trong tình trạng được “triển hạn” (en perpétuel sursis) cho đến khi con người chết (con người ở đây là mỗi người), vì sự chết là chấm dứt quá trình “hư vô hóa” hữu thể.
Tình trạng đó được Sartre miêu tả như sau: “Tôi chỉ hiện hữu khi tôi sẽ không hiện hữu nữa” (62). Triết lý của Sartre có thể được xem là miêu tả đầy đủ tính chất “hư vô”, hư ảo, hư phù của hiện hữu theo cái “Tất định Qui luật” chỉ đạo dòng sinh hóa của nhân loại trước nay.
Lịch sử như thế tiến về đâu, đến bao giờ chấm dứt và có ý nghĩa nào không, chưa ai trả lời dứt khoát. Người ta dự đoán sự tiến bộ của con người và chủng loại về từng phương diện, nhưng ý nghĩa lịch sử như thế nào thì quả chưa ai xác quyết, nên đã có người bảo: “Lịch sử tự tạo mà không tự thức”.
2. Một điều dễ thấy là trên diễn trình sinh hóa theo cái “Tất định Qui luật” đun đẩy bởi tư hữu, chiếm hữu, dần dà con người phải gánh chịu áp bức, bất công, nô lệ, đau khổ mỗi lúc một nhiều hơn. Con người càng lúc càng tha hóa hơn, càng vong thân triệt để hơn. Mọi tiện nghi văn minh cùng những bảo đảm cho con người về sinh mạng, về đời sống có nhiều thêm, nhưng hầu như không cân xứng với những điêu tàn, đổ nát, quằn quại mà lịch sử trút đổ vào con người.
Thảm họa càng nhiều, nhưng kẻ gây thảm họa càng lúc càng ít đi, càng ẩn mặt, giấu tên, càng phai mờ, tan loãng. Trước kia, có thể chỉ là một tên cường hào, một địa chủ bất lương, một vị vua độc tài, một chủ nhân gian ác, rồi tiến đến một gia đình, một dòng họ, một tập đoàn, một giai cấp độc tài, bóc lột, thống trị, dần dần tiến tới một tổ chức, một Nhà nước, một cơ cấu, một đảng phái, bây giờ là một chế độ, một chủ nghĩa, một trào lưu độc chiếm làm vong thân con người suốt mặt.
Biện pháp và hình thức áp bức, bóc lột tế nhị hơn, tinh vi hơn, luôn luôn đi đôi, hoặc được nhân danh bởi những mỹ từ, những chiêu bài tốt đẹp: nhân đạo, tự do, giải phóng, tiến bộ... để dễ dàng hành xử quyền lực độc tài và sức mạnh chinh phục, chiếm hữu.
Con người, trước kia bị nô lệ, áp bức bởi một chủ thể rõ mặt, nay hầu như không còn thấy kẻ thống trị, áp bức mình là ai nữa. Cá nhân, tập đoàn, giai cấp, rồi chế độ; và bây giờ là trạng thái. Con người không còn nô lệ bởi một tên chủ nô, một tập đoàn thống trị, một chánh quyền độc tài nữa, mà bị rơi vào một trạng thái nô lệ, chẳng hạn nô lệ một ý thức hệ, nô lệ một trào lưu khoa học, kỹ thuật. Nô lệ cho một chủ nghĩa, nô lệ cho máy móc... đấy là những dạng thức nô lệ cấu tạo nên trạng thái nô lệ.
Đau khổ, bất công mà con người phải chịu đựng cũng không còn rõ mặt như trước kia, như bị hành hạ thân xác, bị ghim vào cảnh nghèo đói, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu hết mọi phương tiện, điều kiện sinh hoạt. Ngày nay, mọi điều kiện được coi như tốt lành ở nhiều nước đều có sẵn đấy nhưng thụ hưởng được chúng lại là vấn đề khó khăn. Đau khổ, do từ đó cũng nhạt mờ, tan loãng, bàng bạc, mông lung. Áp bức không nguyên nhân, đau khổ không chứng cớ, tội lỗi không tìm ra thủ phạm, đấy là trạng thái tâm thần của con người và của chung xã hội ngày nay. Từ đó, đối tượng đấu tranh của con người và của quần chúng trở nên mờ nhạt, bạn thù lẫn lộn, và nguyên nhân đấu tranh cũng hàm hỗn, không thể rõ ràng, minh thị, nên mục tiêu xây dựng cũng khó lòng rõ rệt. Do đó mà chế độ thống trị vững vàng và trạng thái nô lệ vẫn triền miên.
Cách mạng vì thế thiếu nhiều điều kiện để trưởng thành. Phương pháp, thủ đoạn áp bức càng lúc càng tinh vi, do từ tính chất cơ năng của cuộc sống bị điều kiện hóa bởi kỹ thuật và bởi tính cách hợp lý hóa, và do từ áp dụng kỹ thuật cơ giới vào tâm linh. Sự đối kháng của quần chúng bị áp bức cũng như sự nổi loạn của con người khó lòng tập trung vào nhứng đối tượng và mục tiêu cụ thể, mà thường dàn trải rời rạc, mông lung, và bung phá thành vô số hình thức làm sa đọa xã hội, nhưng khó lòng làm suy suyển lực lượng áp bức.
Một số phong trào bồng bột nổi dậy, những bộc phát nhất thời trở thành những “cuồng loạn bất lực” (la rage impuissante) như Karl Bednorik đã viết. Những cuộc nổi loạn do từ cái trạng thái chán sống, từ cái cảm thức thấy cuộc sống vô nghĩa, không hương vị, không sắc màu nào tươi sáng, mà bàng bạc, bơ thờ, vô vị, lờ đờ, uể oải, không thể nào phân tích, không thể nào nhận diện tường minh.
Diễn biến của dạng thức độc tài, nô lệ, áp bức, từ chủ thể rõ mặt sang trạng thái, là diễn trình tất yếu của dòng sinh hóa của nhân loại, theo cái “Tất định Qui luật” tư hữu và chiếm hữu. Vi thế, đối tượng tranh đấu và mục tiêu xây dựng của cách mạng khó lòng nhận rõ; lãnh đạo cách mạng cũng như quần chúng cách mạng khó lòng qui tụ thành lực lượng hùng hậu, mà cũng khó lòng nhận ra được đối thủ cùng chánh nghĩa đấu tranh của mình, bởi lẽ khó lòng phân định sai quấy của đối phương cũng như lẽ phải của mình một cách rõ rệt. Đã đến giai đoạn mà chính phái và tà giáo, lẽ phải và sai quấy, thiện và ác khó lòng phân định rõ rệt thành hai giới tuyến phân minh. Nhưng không phải bản thân của lực lượng độc tài, của cơ chế áp bức không gặp đổ vỡ tự thân.
Tiến sang giai đoạn trạng thái, có thể nói không một chánh quyền, nhà nước, không một tập đoàn cầm quyền nào có thể giải quyết được hết mọi sự việc xảy ra. Dần dà, họ trở nên bất lực trước một tình trạng hỗn mang của thực tại và nơi chính họ, để rồi cùng ngẩn ngơ như quần chúng. Và cứ thế, đất nước, dân tộc, cả nhân loại nằm trong một tình trạng rối ren, phức tạp, khó lòng gỡ rối, vì gỡ được sự việc này thì hậu quả lại tạo ra những biến chứng mới, cho dù có đôi cải cách hay ho nào đó, hoặc tạo được một số công trình lớn lao về mặt khoa học kỹ thuật vì rằng chính sự phát triển thần tốc của khoa học kỹ thuật đã đưa con người và nhân loại vào trạng thái đó.
Không thể kỳ vọng vào những cuộc cách mạng như trước nay. Ngoại trừ tại một số nước còn trong vòng ngự trị của dạng thức tư hữu phong kiến và dạng thức chiếm hữu thuộc địa, cách mạng mới có thể bùng ra vì đối tượng áp bức rõ mặt: một bạo chúa, một lãnh tụ độc tài, một tập đoàn phản dân hại nước, còn thì tại mỗi nơi chỉ có thể có chiến tranh do dạng thức chiếm hữu thị trường phát động (xem phần sau: một quan điểm về lịch sử); tại các nước tiên tiến phát triển hiện nay, khó lòng trông đợi cách mạng, vì như đã nói, cách mạng không tìm đâu ra chính nghĩa và mục tiêu đấu tranh, và quần chúng cũng không muốn có những cuộc cách mạng bạo lực như trước đây nữa. Tại những quốc gia đó, chỉ có những cải cách, sắp xếp mới, hoặc những cuộc cách mạng về kỹ thuật, về văn hóa, nhưng một khi đã tiến tới tình trạng trạng thái thì cách mạng kỹ thuật, văn hóa cũng khó lòng đạt được thành công như mong muốn, vì cách mạng kỹ thuật với những thành công mới cũng chỉ làm cho trạng thái đó thêm nặng nề và cách mạng văn hóa cũng khó lòng giải tỏa trạng thái đó một khi còn lẩn quẩn trong vòng chi phối của cơ năng.
Nhìn chung, mọi phương diện sống của con người và của nhân loại đang tiến đến tình trạng trạng thái để từ đó nhân loại (và mỗi chủng loại) mới có thể thay đổi được dạng tồn tại của mình. Điều này cho thấy mọi quan điểm của các sử gia lâu nay chưa giải thích trọn vẹn được diễn tiến của nhân loại và nhân sinh, vì mới chú ý đến cái Tất định Qui luật mà chưa để ý đến cái Tất định Như nhiên chi phối suốt mặt dòng hiện sinh của vạn hữu và của riêng nhân loại. Đấy là thực trạng của nền văn minh hiện nay, nền văn minh này đang trên đường tự hủy hay đang trên đường thay chiều, đổi hướng. Một điều cần nhắc là cũng khó lòng trông đợi một trợ giúp, một “cứu rỗi” nào đến từ bên ngoài, vì nền văn minh ngày nay đã phổ cập khắp địa cầu chứ không còn có thể thay đổi địa bàn từ vùng này sang vùng khác như trước đây.
Để thấy rõ hơn điều này, ta hãy nhìn lại lịch sử. Tại sao chế độ Phong kiến kéo dài cå hàng ngàn năm mới chuyển sang chế độ Tư sản, chế độ này chỉ vài thế kỷ đã chuyển sang chế độ Tư bản đế quốc, để từ đó sản sinh phản đề là chế độ Cộng sản? Ta nhận thấy có một thứ bậc hay mức độ vong thân, nô lệ của con người: chế độ Phong kiến là độc tài của cá nhân hay dòng họ; chế độ Dân chủ tư sản là độc tài của một đảng phái, giai cấp; chế độ Tư bản và Cộng sản là hình thức độc tài của trạng thái: trạng thái cơ năng cùng độ, hoặc cơ giới, hoặc cơ tâm. Bước diễn tiến càng lúc càng hối hả do độ gia tốc của thời gian lịch sử. Lịch sử gia tốc do cái trí khôn cơ xảo của con người. Nói theo Phật giáo thì trong chế độ phong kiến và tư sản, cái cộng nghiệp chưa chi phối toàn thể nhân loại hay cái cộng nghiệp đang chuyển vào từng biệt nghiệp (cá nhân, dân tộc, từng tập đoàn nhân loại) vì tất cả chưa cùng chung một số kiếp, một thân phận như nhau.
- Tiến sang giai đoạn “trạng thái” thì toàn thể đều bị vong thân dù kẻ thống trị, cầm quyền hay kẻ bị trị, quần chúng nói chung. Cái biệt nghiệp dần dần tan hóa vào trong cái cộng nghiệp, để từ đó giải thoát biệt nghiệp gắn liền với giải thoát cộng nghiệp. Cộng nghiệp là trạng thái, biệt nghiệp là từng dạng thức thể hiện cái trạng thái đó nơi từng cá thể, nơi từng vùng, từng miền (Xem phần sau).
Dòng diễn biến của hiện hữu trước nay đi từ tính chất cá thể đến tập đoàn, tập thể, rồi đến trạng thái, để từ đó chấm dứt bằng cách qui kết mọi sai biệt vào hai thế đối kháng triệt để, tạo nên cái trạng thái “lưỡng nhị nguyên” tột độ, chuẩn bị một chuyển thể sang trạng thái “lưỡng bất nhị”. Hoặc cũng có thể từ tự thân xảy ra những biến chuyển nào đó để cả hai cùng hòa nhập vào trong một trạng thái chung, để từ đó cùng hóa giải cái trạng thái bế tắc chung của nhân loại.
Thực trạng thế giới và diễn biến cuộc cờ thế giới hiện nay cho ta thấy được phần nào điều đó. Giờ hội nhập lớn lao của loài người, giờ chấm dứt dòng lịch sử sinh hóa của con người và nhân loại trong vòng cơ năng của tư hữu chiếm hữu, tức là giờ qui hồi Nhất thể của chủng loại đang trên đà thực hiện, mặc dù thực tại vẫn còn dẫy đầy tối tăm.
Cơn “quặn thắt” đang bước vào cùng cực. Cái ngày “kiến quần long vô thủ” và “sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn đá nào khác mà không đổ xuống” (Ma: 24-2) đang đến gần với chúng ta. Tuy nhiên “hãy tỉnh thức” vì “các ngươi không biết ngày cũng không biết giờ” (Ma: 24-13) vì rằng “tai cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần. Những kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu. Tin lành này về Nước Đức Chúa Trời sẽ được rao ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” (Ma: 25-12,13,14).
Tin lành, tức cái thời điểm hóa sinh, cái giờ phút “muôn vật đổi mới”, cái lúc chấm dứt lịch sử sinh hóa lâu nay, để hội nhập vào Nhất thể mà bước sang dạng tồn tại mới, Đấy là lúc mà cái “Tất định Qui luật” của hiện hữu tan hóa vào trong cái “Tất định Như nhiên” của lý vận hành của vũ trụ.
Xin hãy trầm tư suy niệm lại lời Chúa trong Tân Ước: “Vì sự phạm tội phải có song khốn thay cho kẻ qua nó mà gây ra phạm tội”, “Ta đến không phải để đem hòa bình đâu mà bèn là gươm giáo,..”, “Ta đến không phải để phá mà để làm cho trọn”... cùng những dụ ngôn về “Lúa và cỏ lùng”, dụ ngôn về “Đồng ta-lăng”.*
Xin hãy trầm tư suy niệm lại lời của Phật, về cái “Đời là bể khổ”, cái “Vô lượng phương tiện lực”, cái “Tứ diệu đế”, cái “Sắc không”, cái “Tứ vô lượng tâm”, cái “Hồi đầu nhị ngạn”...*
* Xin xem “Tôi hiểu Chúa - Tôi hiểu Phật” của Nguyễn Thùy, sắp xuất bản.
Xin hãy trầm tư suy niệm lại những điều đó để thấy rõ dòng sinh hóa của con người, của nhân loại, của vạn hữu nói chung, thấy rõ cái lý vận hành của vũ trụ, vạn vật, thấy rõ nơi sẽ đến, chốn sẽ về của cuộc đời, cuộc sống không phải theo niềm tin dễ dãi của tôn giáo mà theo dòng diễn biến biện chứng của lẽ Đạo.
Hy vọng không là hèn nhát. Đã đến lúc mọi bạo hành, bạo lực, mọi quá khích, cực đoan, mọi tính toán, hành động tạo khổ cho con người và nhân loại dần dần tan biến, vì ý thức phản tỉnh của con người, bị hóa giải bởi yêu cầu hảo hợp, bị đào thải bởi lịch sử Tồn thể, bởi dòng vận hành của lẽ Đạo.
Thế giới đang trên đường thực hiện điều đó. Giờ tại thế lồng lộn điên cuồng trong thị phi, sai biệt cũng là giờ nó đang đi vào kết cuộc để chấm dứt cái chu kỳ “Tử sinh, Sinh tử đã liều” (Đoạn trường tân thanh) để bước vào thời điểm “Lai sinh, Sanh lại”. Nguyễn Du qua Đoạn trường tân thanh đã dự cảm điều đó trên hai trăm năm rồi:
Đoạn trường sổ rút tên ra
Đoạn trường thơ phải đem mà trả nhau.
(Hết phần I)