Tôn giáo, hiểu một cách phổ quát và giản dị là niềm tin tuyệt đối và sự thờ phụng chân thành một Đấng Thượng Đế, một vị chúa tể có quyền năng sáng tạo nhiệm mật, ban thưởng và trừng phạt để cứu rỗi con người, đưa con người sống đúng theo chánh đạo mà Ngài đã rao giảng.
Tôn giáo nào cũng gồm hai phần: phần hình nhi thượng và phần hình nhi hạ.
- Phần Hình Nhi Thượng nói đến cái Đạo huyền vi, tức cái nguyên lý sinh thành và vận hành của vũ trụ vạn vật được hình dung là cái chân lý tuyệt đối, cái ý chí tối thượng của Thượng Đế.
Ai nhìn ra, cảm nhận được và tuân thủ tuyệt đối cái ý chí tối thượng của Ngài, đi đúng con đường Ngài đã vạch thì được cứu rỗi, giải thoát, nghĩa là không bị cái Nghiệp chi phối, được Ngài ban cấp cho hồng ân, thánh sủng, và kiếp sống mai sau sẽ được an lạc, hạnh phúc nơi cõi Ngài; ngược lại là bị lao đao, chìm nổi, đày ải trong những buộc ràng của thế tục, tức là bị buộc ràng chi phối bởi cái Nghiệp càng lúc càng nặng nề của dạng tồn tại mình.
Cái lý vận hành, cái ý chí tối thượng của Thượng Đế đã an bài tất cả, luôn luôn đi sát với tại thế, bao trùm suốt mặt hoạt sinh của cá thể và chủng loại, chăn dắt vạn hữu để cuối cùng đưa vạn hữu về với Đạo, với Thượng Đế.
- Phần Hình Nhi Hạ bao gồm một hệ thống giáo lý, giáo quy, tín điều, giới răn, giới cấm, nhằm mục đích giáo dục con người biết hướng dẫn hành động của mình đúng theo thánh ý của Thượng Đế để khỏi gây ra tội lỗi, cùng một số nghi thức thờ phượng để chứng thực đức tin và cái hướng vọng mong cầu được giải thoát, cứu rỗi.
Phần hình nhi hạ nơi các tôn giáo có thể khác biệt nhau nhưng tựu trung quan niệm giải thoát, cứu rỗi hoàn toàn giống nhau dù có khác nhau về cách diễn giảng. Con người có tương ứng, hội nhập vào cái lý vận hành huyền nhiệm, nghĩa là có thực sự phối hợp với đấng tối cao, thì mới thực sự sống cái sống đích thực, thường tại, an vui, khác với cái “sống trong chết”, nghĩa là cái sống tạm bợ, vô thường, dẫy đầy bất trắc, đau thương, của tại thế cơ năng, qua từng hình thái hiện hữu.
Giải thoát, cứu rỗi còn có nghĩa là được Thượng Đế đưa về nước Đức Chúa Trời, hoặc được hóa sinh vào một kiếp sống mai hậu tốt đẹp, chứ không bị đày vào địa ngục, hoặc bị đầu thai (sau khi chết) vào một kiếp sống bi đát mai hậu, để chịu quả báo do từ những tội lỗi mình đã gây ra trong kiếp sống trước.
Nơi tôn giáo nào cũng có hai dòng tin đạo:
- Một bên là giới trí thức tin vào biện chứng giải thoát nơi tôn giáo mình, cố tìm nơi Đạo một khai mở trí tuệ và tâm linh, để hiểu Đạo mà tự giác, giác tha, tìm ra con đường giải thoát, con đường cứu khổ, cứu nạn cho nhân sinh, để ứng dụng Đạo vào Đời, để tổ chức nhân sinh thoát khỏi đọa đày, đau khổ.
- Một. bên là giới bình dân, không tin Đạo theo ngả lý trí, tâm linh mà hoàn toàn tâm nguyện dâng hiến, phó thác mình cho Thượng Đế (hay Chúa, Phật...) qua những nghi thức thường nhật, hình dung sự cứu rỗi, giải thoát là ân huệ, hồng ân của Thượng Đế ban phát cho, khi triệt để tin tưởng, trung thành và thờ phượng Ngài chí cẩn, chí thành.
Một đằng tin Đạo theo ngả lý trí, tâm linh, ưa biện bác, tìm tòi, nghiên cứu, tìm hiểu cái vũ trụ quan và nhân sinh quan hoàn hảo ẩn tàng nơi Đạo; một đằng tin Đạo thuần bằng đức tin bất khả minh giải, luận bàn. Tin Đạo theo ngả lý trí thì khó lòng đạt được Đạo, vì đã lý luận là mặc nhiên xem Đạo là đối tượng để nghiên cứu ở ngoài mình, và rơi vào tình trạng “phân ly chủ- khách” như đã nói.
Đạo là huyền nhiệm, bao trùm tất cả, ánh sáng của lý trí luận lý khó lòng soi thấu được, vì Đạo không thị hiện rõ ràng, không theo những qui luật cố định tự thân, không có sinh, trụ, di diệt, nghĩa là không có diễn tiến, biến hóa, mà chỉ có chuyển dịch, chuyển vị theo từng bước đi của tại thế.
Dùng lý trí để minh chứng Đạo, từ đấy đạt được sống Đạo, cố tìm một hướng đi dứt khoát cho cuộc sống, bao giờ cũng rơi vào trạng thái băn khoăn, ray rứt, khắc khoải, bồn chồn, vì thấy Đạo không giải quyết được cuộc tồn sinh nhầy nhụa, muôn vàn muôn vẻ dị tạp, để rồi từ đây đày đọa nhân sinh trong muôn ngàn ngõ ngách của lý trí, bao giờ cũng đòi hỏi tường minh, trong lúc cái hướng vọng Thượng Đế nơi mình không được đáp ứng trọn vẹn, không được soi sáng bởi lý lẽ phân minh. Những dằn vặt, quằn quại tâm linh của bao nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ, nhà nghệ sĩ nói chung, kể cả một số nhà khoa học giàu lòng nhân bản trước nay, là bằng cớ.
Càng đọc họ, càng sống cái tâm thức của họ, ta càng cảm thông nỗi lo lắng, hoang mang của họ đối với nhân sinh, mong muốn tìm ra một con đường giải thoát hoàn mỹ, mà Đạo lại như là một thứ Định mệnh khắc nghiệt, loại trừ hoặc làm tê liệt hết mọi khả năng của ý chí tự do của con người, không giải thích và không giải quyết được gì thân phận con người, trong dòng đời bi thảm.
Vì thế, càng tin Đạo, càng tìm hiểu về Đạo, càng có tinh thần tôn giáo cao, càng tin Phật, Chúa, con người lại càng rẫy rụa bất an, càng thắc mắc, hoang mang, ngơ ngẩn.
Kẻ tin Đạo thuần bằng đức tin, dễ đi đến tình trạng mê tín, cuồng tín, thiếu hẳn những triển khai tâm linh, để vượt thoát tại thế nơi mình, mà vươn đến giải thoát, cứu rỗi, cho mình và cho kẻ khác. Tin Đạo hoàn toàn bằng đức tin là xem Thượng Đế như là định mệnh, cuộc sống mỗi người là một tiền định do Thượng Đế, không thể nào cải biến, đổi thay, ý chí con người bất lực, chỉ trông cậy tuyệt đối nơi Ngài, hết lòng thờ phượng Ngài, mới mong được Ngài thương yêu, cứu rỗi, bằng cách thế nào đó mà con người không biết được, không biết rõ thời điểm Ngài ban cho phước lộc, hồng ân.
Tin Đạo thuần bằng đức tin nhiều khi lại xa Đạo, không tương ứng với Đạo, và trở thành vong thân vào tôn giáo, nô lệ mù quáng vào Thượng Đế, từ đó dễ bị kích động thành lực lượng bạo tàn, kỳ thị mọi tôn giáo khác, mọi tín ngưỡng khác.
Kẻ tin Đạo thuần túy bằng đức tin, thật ra không hẳn tin vào Thượng Đế mà nhiều khi chỉ tin vào Giáo hội, tin vào lễ nghi rườm rà, tin vào các giáo sĩ, và chỉ mong cầu được Ơn trên phù hộ, độ trì, ban cấp cho mình mọi thứ mình mong muốn, để cầu bình an cho mình, cho gia đình mình, hoặc để được thoát ra khỏi một cảnh ngộ ngặt nghèo.
Ta đã thấy giới tăng lữ, bất cứ ở tôn giáo nào, cũng bày đặt ra vô số kinh kệ, vô số nghi lễ, để buộc tín đồ không được xao lãng bổn phận đến với Thượng Đế, với Chúa, với Phật, thực ra là để đến với Giáo hội. Người ta đã vô tình áp dụng lời của Pascal: “Hãy quỳ xuống và cầu nguyện, đức tin sẽ đến sau” (33).
Nhưng dù tin Đạo theo ngã nào - Lý trí hay Đức tin - hoặc chẳng tin Đạo, chẳng theo một tôn giáo nào cả, thì Đạo vẫn có đấy, vẫn bao trùm ta, tác động vào ta và ta đã có lúc “sống Đạo” mà không hề hay biết. Cả hai dòng tin Đạo như trên không kết hợp thành một thể thống nhất cái “Tôi tồn sinh” (le Moi existentiel) với cái “Tôi tín ngưỡng” (le Moi religieux). Cuộc sống tại thế, tự nội tâm mỗi người, luôn luôn là trường tranh chấp giữa hai “cái Tôi” đó.
Vì không kết hợp được hai “cái Tôi” đó trong một thể hài hòa, nên tôn giáo - mặc dù lúc nào cũng nói đến lẽ Đạo, cũng nói đến Thượng Đế - chỉ còn là một số tín lý, tín điều, cứng ngắc, mờ mịt, khô khan, khó hiểu, cùng vô số lễ nghi rườm rà, chẳng giải quyết được gì, mà chỉ đem lại rẫy rụa, bất an, xao xuyến, cho cái “Tôi tín ngưỡng” đối diện với cái “Tôi tồn sinh”, trước cuộc sống lúc nào cũng dẫy đầy âu lo, thảng thốt, hoặc Tôn giáo chỉ còn là liều thuốc an thần, một nguồn an ủi, một tựa nương tạm bợ, cho cái “Tôi tồn sinh”, trước những bất lực, thất vọng, đau thương của mình trong cuộc đời.
Đối với những nhà duy lý, những triết gia duy vật, những kẻ chỉ duy thực nghiệm, thực dụng, thì tôn giáo chẳng ích gì cho đời sống, mà còn trở thành vô bổ, nguy hại, làm cản trở tiến bộ, tiến hóa. Đối với họ, tôn giáo chỉ đưa đến chủ bại, đầu hàng, cầu an, trước mọi nghiệt ngã của hiện tượng khách quan. Tôn giáo là chỗ trú ngụ cho những đầu óc không tưởng, những kẻ bạc nhược, hư hèn, lẩn trốn thực tại, hoặc không đủ khả năng đương đầu. Tôn giáo là thứ tư tưởng thần linh còn sót lại, hoặc cô đọng lại, của thời kỳ con người còn mông muội, chưa khám phá ra được những qui luật khách quan của thiên nhiên và xã hội. Và cũng theo cái nhìn của các triết gia, chánh trị gia này, tôn giáo đã trở thành công cụ thống trị, và là phương tiện bóc lột sức lao động cùng của cải của lớp người nhẹ dạ, dốt nát, bởi Giáo hội và các chánh quyền phản động.
Phủ nhận, phi bác Tôn giáo hay Đạo, không có gì khó hiểu. Nhưng dù phủ nhận hay phi bác, thì Đạo vẫn có đấy, không vì thế mà bất lực, mất hiệu năng.
Qua tính cách trái ngược nhau giữa hai dòng tin Đạo nói trên, và qua những phi bác tôn giáo, ta thấy “Đạo và Đời”, “Tôn giáo và Thế tục” như là cặp phạm trù đối kháng hoặc chẳng quan hệ nhau. Do đâu tôn giáo bị công kích và mất giá trước cái nhìn của một số triết gia, khoa học gia? Lược qua lịch sử phát triển của các tôn giáo, ta thấy giữa các tôn giáo có quá nhiều khác biệt, đố kỵ, tranh chấp nhau về quan điểm và quyền lợi.
Quan niệm “Hữu thần - Vô thần”, “Thượng Đế hữu ngã - vô ngã”, “Xuất thế - Nhập thế, tịch nhiên bất động, tự sinh tự hóa”, cái yếu tố tiên thiên tạo nên vũ trụ vạn vật là một đấng vô hình, hay là một yếu tố vật chất (nguyên tử, năng lượng, vật chất, nước, lửa, khí...) ? Tất cả những điều trên là đề tài tranh luận giữa các nhà thần học, triết học, khoa học và truyền giáo.
Ki-Tô-giáo là hữu thần. Phật giáo là vô thần. Thượng Đế nơi Ki-Tô-giáo là đấng vô hình thường hằng tự hữu, có trước vạn vật, ở ngoài vạn vật, sáng tạo nên vạn vật. Đấng Phạm Thiên trong Bà-la-môn-giáo cũng tương tự. Trái lại, Phật giáo, theo một số người cho rằng vạn pháp vô thường, vạn hữu - dù vô tình hay hữu tình - đều vô ngã, không có cái gọi là tự ngã hay thực thể, bởi vì hiện hữu là dòng diễn biến miên viễn tùy thuộc vào một tràng nhân duyên, nghĩa là hiện hữu tùy thuộc điều kiện, nên không có tính trường tồn, tự tại.
Có một thế giới vô hình ngoài cõi tại thế, hay chỉ có cõi tại thế, không có cõi vô hình nào? Người theo Công giáo và Tin lành khăng khăng cho rằng chỉ có Đạo của Chúa Giê-Su mới cứu rỗi được con người, sự cứu rỗi là do ơn Thiên triệu, chứ không do khả năng con người, dù con người tài ba thánh thiện đến mấy. Người theo Phật giáo lại quả quyết chỉ có Đạo Phật mới giải thoát được con người, giải thoát cuộc đời thoát bể trầm luân, vì Đạo của Phật là Đạo do con người, cho con người và của con người, con người do công phu tu chứng mà giác ngộ lẽ Đạo, tự giải thoát lấy mình để từ đó giải thoát nhân sinh chứ không do một đấng Thượng Đế nào cả.
Về mặt thế tục, tôn giáo nào cũng có một cơ cấu tổ chức, tức là Giáo hội. Đi vào tổ chức tức là đi vào cơ năng và tính cơ năng đã làm phương hại tinh thần quá nhiều. Không cần nhắc lại những trang sử đau buồn do Giáo hội nhân danh tôn giáo đã đày đọa con người, cùng tạo loạn cho nhân loại đến nay vẫn còn. Những chia rẽ, kỳ thị, tranh chấp tôn giáo, đưa đến kết quả là tôn giáo chẳng cứu rỗi, giải thoát được đời, mà còn khiến đời thêm chia rẽ, băng hoại thê thảm. Do đâu có tình trạng đó?
Gác qua bên những sai lầm, lệch lạc của các nhà truyền giáo, và số người lợi dụng tôn giáo để mưu đồ quyền lợi tại thế, ta có thể nhìn ra những nguyên nhân căn bản đã gây nên sự chia rẽ và mất giá của tôn giáo.
Trước tiên, do từ quan niệm về nguồn gốc của tôn giáo. Trước nay, hầu như mọi người đều đồng ý rằng tôn giáo ra đời và phát triển do từ hai nguồn gốc: nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.
- Về mặt nhận thức, con người từ thuở hồng hoang, không đủ kiến thức lý giải mọi hiện tượng của tự nhiên, nên nghĩ rằng có những sức mạnh vô hình, huyền bí làm phát sinh những hiện tượng đó. Có một thế giới siêu nhiên điều khiển thế giới tự nhiên này và chi phối đời sống con người. Đấy là thế giới của thần linh, và vì khiếp sợ trước quyền lực của thần linh con người phải sùng bái, thờ phượng để được che chở, bình yên. Sự sợ hãi và niềm tin tưởng, cùng sự cầu khấn thần linh, đã cấu tạo nên tinh thần tôn giáo. Tôn giáo như thế xuất hiện do sự bất lực của nhận thức con người. Tôn giáo được xem là sự phản ảnh mù quáng, hoang đường hiện thực khách quan. F. Engels đã bảo: “Tôn giáo nào cüng là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người những sức mạnh ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ” (34).
- Cũng theo lý thuyết Mác-Lênin, tôn giáo có thêm nguồn gốc xã hội để hình thành và phát triển. Bất lực trước những khổ đau, đày đọa, áp bức, bất công của xã hội, con người gởi mình vào Đấng Thượng Đế, mong được an ủi, cứu vớt, hoặc chấp nhận cuộc sống hẩm hiu, như là do ý chí Thượng Đế đặt định cho mình, để mong được hưởng một cuộc sống hạnh phúc mai sau ở thế giới bên kia. Giai cấp thống trị lợi dụng tôn giáo để ru ngủ quần chúng, ngăn chặn mọi ý chí và hành động đấu tranh, để duy trì và bành trướng quyền lực, và bóc lột nhân dân.
Những sai lầm của các giáo hội, những lạm dụng tôn giáo của hàng tăng lữ, những tội ác do một số giáo hội gây ra, bằng cách cộng tác hoặc dựa vào thế lực các nhà cầm quyền phản động, qua lịch sử và những luận giải mơ hồ, huyền bí có tính cách ma mị, mê tín, phần nào đã giúp cho các luận điểm phi bác tôn giáo nói trên đứng vững.
Nhiều luận cứ đã bác bỏ quan điểm này nhưng lại rơi vào nhị-nguyên-luận, đưa đến tách biệt đời sống tinh thần và đời sống vật chất, không kết hợp được “cái Tôi tồn sinh” và “cái Tôi tín ngưỡng”, nên không đủ lý lẽ để chống đối lại. Thực ra, những bất lực, run sợ của con người trước thiên nhiên và xã hội, không là nguồn gốc làm phát sinh tôn giáo, mà chỉ là điều kiện và động lực hướng con người đến tôn giáo thôi, nó cũng đánh giá mức độ trưởng thành của con người về mặt sống tâm linh.
Tôn giáo hay tín ngưỡng là một khuynh hướng bản nhiên, một vận động tự thân nơi con người, thể hiện ý chí giải thoát khỏi mọi buộc ràng của tại thế. Nếu vì do bất lực trước thiên nhiên mà có thì trong thời đại khoa học, hẳn nhiên tôn giáo không còn lý do và không đủ sức mạnh tồn tại; và hẳn nhiên các nhà khoa học đều nhất loạt tẩy chay tôn giáo. Lịch sử đã chứng minh ngược lại: một số nhà khoa học lừng danh càng khám phá ra vũ trụ bao nhiêu càng thấy gần gũi với tôn giáo nhiều hơn, dù rằng quan điểm tôn giáo của họ có khác với quan điểm của một số giáo hội.
Càng đi sâu vào những huyền nhiệm bí mật của vũ trụ mênh mông, tinh thần tín ngưỡng tôn giáo càng thêm mãnh liệt, và trong các xã hội nặng óc khoa học kỹ thuật, tổ chức xã hội tinh vi theo tinh thần khoa học, thì tôn giáo vẫn phát triển, con người vẫn cảm thấy tín ngưỡng là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu, vừa làm thanh sạch hóa lòng người vừa là nguồn vui giúp quên đi phiền toái, đắng cay, hoặc giải tỏa phần nào những nặng nhọc của cuộc vật lộn mưu sinh.
Con người luôn luôn hướng về tuyệt đối, lý trí luận lý luôn luôn băn khoăn về cái nguyên nhân đầu tiên và cuối cùng của vũ trụ, vạn vật. Không một ai không thắc mắc về nhân sinh, không một ai không muốn cuộc đời mình có một ý nghĩa cao quí. Khoa học phát triển kiến giải được nhiều thứ, nhưng vũ trụ vẫn còn hàng hàng lớp lớp bí mật, cuộc sống con người vẫn hàng hàng lớp lớp kín nhiệm. Khoa học đem lại tiện nghi, mở rộng nhận thức, nhưng khoa học đồng thời cũng gây bao nhiêu hãi hùng, cũng đặt ra cho con người bao vấn đề nan giải. Sống không thể không có niềm tin, từ tin cậy đến tin tưởng, từ tin tưởng đến tín ngưỡng, từ tín ngưỡng đến đức tin... Bao lâu con người còn những thắc mắc siêu hình về vũ trụ, vạn vật, về cứu cánh cuộc đời, về ý nghĩa cuộc sống, về nhu cầu giải hoặc những sự kiện xảy ra trong cuộc đời... thì con người vẫn còn hướng về tôn giáo, không hẳn để phong phú hóa tri thức, mà là để tìm bằng an cho tâm hồn, tìm một hướng đi cho hành động, tìm một lẽ sống, dù không rõ ràng, cho cuộc đời. Ngay cả những triết gia như Jean Paul Sartre không tin gì vào Thượng Đế cũng không đặt hết niềm tin vào khoa học, cảm nhận hết cái “phi lý, bi đát” của tồn sinh, phát hiện ra rằng “con người chỉ là một hữu thể thừa thãi, một đam mê vô ích”, luôn luôn xiển dương cái ý chí tự do của con người đến cùng độ, thế mà lắm lúc cũng thấy rằng đức tin - dù ngụy tín - vẫn cần thiết cho cuộc sống con người.
Bảo rằng tôn giáo bắt nguồn từ sự bất lực của nhận thức con người thì đến nay nhận thức của con người đã thật sự hoàn hảo, đã đạt đến mức độ “viên giác”, viên mãn, giải đáp hết mọi vấn đề về vũ trụ và nhân sinh chưa? Sự run sợ trước những sức mạnh của tự nhiên nơi con người cổ sơ là một trạng thái tâm lý từng lúc đối diện với hiện thực khách quan. Chính cái “run sợ” đó đã khiến tri thức con người mở mang, phát triển. Cuộc sống của con người, sự tiến bộ của lịch sử, xét ra không do từ chuỗi dài liên tiếp chiến thắng từng cái “SỢ” như thế sao?
Từ “SỢ” đến “LO”, từ “LO” đến nghĩ cách giải quyết, vượt thoát cái “LO” đó, để tìm một bình an cho tâm hồn, một an bình cho cuộc sống; cái thôi thúc đó không chỉ đưa con người đến tôn giáo mà còn là điều kiện để khoa học phát triển. Ngày nay, tinh thần khoa học lên cao, con người không còn run sợ trước một số sự kiện thiên nhiên, như sấm sét, bão lụt..., thì con người lại run sợ, hãi hùng trước bao thứ khác.
Sự run sợ ngày nay, không đưa đến một niềm tin dễ dãi, hời hợt, huyền hoặc như trước, thì lại dẫn con người vào những thắc mắc siêu hình, rộng lớn hơn. Tôn giáo, khởi đi từ niềm tin dễ đãi lúc ban sơ, dần dần phát triển theo một đức tin có tính cách biện chứng, cho dù khó lòng giải thích tường minh. Tôn giáo rời bỏ dần tính hoang đường, huyễn hoặc, tính mê tín - nếu muốn nói thế - để đi vào biện chứng, mà mục đích là cứu rỗi, giải thoát nhân sinh bằng lẽ Đạo.
Người cổ sơ chưa ý thức về một bản thể uyên nguyên, tuyệt đối của vạn hữu, như chúng ta ngày nay, nên những thắc mắc siêu hình của họ giới hạn nơi sự tưởng tượng gần gũi, cho rằng mỗi hiện tượng thiên nhiên phát sinh do một vị thần. Tôn giáo của họ - nếu muốn nói thế - là một thứ tôn giáo đa thần. Đấy là giai đoạn tư tưởng thần linh của loài người. Tư tưởng thần linh này không bao giờ tắt nơi con người, vì là một khuynh hướng bẩm sinh, được thể hiện qua vô vàn hình thức, tùy theo từng giai đoạn biến thiên của lịch sử...
Từ siêu hình huyền hoặc đến siêu hình hợp lý, từ siêu hình hợp lý đến siêu hình khoa học, từ siêu hình khoa học đến siêu hình tâm linh, từ siêu hình tâm linh đến siêu hình siêu tâm linh (?)... trí tuệ con người mãi mãi bơi lội trong cái siêu hình đó. Thiếu cái tính siêu hình đó, trí tuệ con người chắc chắn mất hết động lực phát triển, và cuộc sống, cuộc đời, hẳn nhiên cũng khó tìm ra một ý nghĩa, một hướng vọng để làm đẹp nó. Ngày nay, người ta chẳng đã tiến đến những hệ thống “siêu lý thuyết”, những “siêu thuyết” (métathéorie) đấy sao? Tôn giáo có thể nào cũng được xem là một loại “siêu thuyết” được chăng?
Nếu vì bất lực trước xã hội mà con người đi tìm chỗ nương tựa, trú thân nơi tôn giáo, thì hẳn các nhà giàu không còn tin Đạo, và các nhà tư sản làm cách mạng hẳn phải chống tôn giáo đến triệt để. Thực ra, họ chỉ chống lại quyền lực phong kiến của giáo hội phản động chống lại nhân dân mà thôi. Không người này thì người nọ, không lớp này thì lớp nọ, không một ai không quằn quại, run sợ trước sức ép của xã hội đối với mình, dù là xã hội nào từ cổ chí kim.
Những nhà tư bản kếch xù, những anh hùng, liệt sĩ tự đắc, huênh hoang một thời, về thành công, chiến thắng của mình, liệu đã mấy ai - nếu thành thật với chính mình - bằng lòng với xã hội mình sống, với xã hội mình đã “tạo” ra chăng?
Xã hội càng lúc càng trở thành một quyền lực bạo tàn đày đọa cuộc sống con người, tạo nên những “thiết yếu lịch sử” mới mẻ, mà mọi phản ứng của con người khó lòng nêu rõ nguyên nhân cùng đối tượng đấu tranh. Cái hiện sinh nhầy nhụa, bi đát, phi lý, hàm hỗn, hoặc lặng lờ, u trệ, mà bao triết gia, nhà văn mô tả không phải phát sinh do từ xã hội sao?
Sự run sợ của con người trước xã hội càng lúc càng gia tăng, dù xã hội đã trải qua bao trạng thái, bao chế độ mà ta gọi là tiến bộ, văn minh. Càng xã-hội-hóa, con người càng bị chia năm, xẻ bảy, manh mún ra bấy nhiêu, càng bị đè nặng, bị bóc lột bấy nhiêu, không chỉ về sức lao động như trước kia mà còn cả về tâm hồn, về trí tuệ.
Dần dần con người chỉ còn ràng buộc nhau về trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ, chỉ còn nghĩ sao chu toàn những thứ đó mà quên đi tình người, không phải vì thiếu con tim, mà vì sự “hợp lý hóa” của tổ chức xã hội, sự “tiện nghi hóa” điều kiện cuộc sống. Trong những xã hội tiên tiến về kỹ thuật, tình cảm giữa chủ nhân và công nhân, giữa thầy và trò, giữa con cái và cha mẹ, giữa đồng loại với nhau, ngay cả giữa vợ và chồng, càng lúc càng trở nên hời hợt, không còn tính cách chân thành gắn bó, thiếu hết tính cách “chịu khó” cho nhau. Cha mẹ lúc tuổi già được - hay bị - con cái gởi vào nhà dưỡng lão, không cần chăm sóc, vì đã có những cơ quan y tế, xã hội của Nhà nước hoặc tư nhân lo liệu, con cái chỉ cần đóng một số tiền nào đó rồi thì rảnh tay. Trách nhiệm, bổn phận đối với cha mẹ biến thành trách nhiệm đối với xã hội, chứ không còn trực tiếp giữa người với người. Lòng nhân đạo, đã trở thành trách nhiệm xã hội, không còn xuất phát từ tình thương thật sự. Hợp lý và tiện nghi nhưng con người trở nên cô đơn.
Triết lý hiện sinh đã nêu rõ những cô đơn, thảng thốt đó về thân phận con người trong xã hội. Sự tiến bộ, nền văn minh như thế là còn thiếu, hoặc không cần để ý đến cái chất sống tình cảm giữa người và người. Tại sao? Khó lòng phân tích, khó tìm lý do phản đối.
Thân phận con người vẫn bi đát, cuộc sống con người vẫn buồn tẻ, nhạt nhẽo, dù nhiều thú vui, nhiều tổ chức giải trí, du hí. Đấy là những thắc mắc đầy tính cách siêu hình về xã hội, về tiến bộ, về văn minh. Tôn giáo nói đến những điều đó mặc dù chẳng có biện pháp nào giải quyết, ngoài việc kêu gào lương tri.
Ngày trước, trong những xã hội cổ sơ và phong kiến, cuộc sống bị điều-kiện-hóa quá nặng nề bởi lễ nghi, tập tục, bổn phận và trách nhiệm trực tiếp giữa người với người, nhưng tình thương yêu vẫn sâu sắc, dù có phải vì thế mà cuộc sống bị ngưng trệ, tê liệt, ngột ngạt vì sức nặng của lễ giáo. Ngày nay, mọi buộc ràng khe khắt đó được giải tỏa, nhưng cuộc sống lại bị điều-kiện-hóa nặng nề bởi tiện nghi của đời sống, và bởi sự hợp lý hóa của tổ chức xã hội, khiến cuộc sống tâm linh, tình cảm trở nên nhạt nhẽo, cô đơn.
Thời hồng hoang, con người bị mất tự do, bị cản trở tự do bởi thiên nhiên; càng sống thành xã hội, tự do con người lại bị hạn chế bởi chính con người, bởi chính xã hội. Nhất là trong những xã hội nhân danh số đông, con người lại càng run sợ, bất an hơn, trước sức ép của xã hội, trong vòng vây ma nghiệt của xã hội, dưới gọng kềm của xã hội. Bảo rằng các giai cấp thống trị lợi dụng tôn giáo ru ngủ quần chúng, để duy trì và bành trướng quyền lợi của họ, thì ngày nay thiếu gì giai cấp thống trị lợi dụng chiêu bài chống tôn giáo để mê hoặc, lôi cuốn quần chúng phục vụ mộng đồ thống trị của họ, để họ vững chãi quyền uy mà bóc lột nhân dân.
Những run sợ của con người trước áp lực xã hội - run sợ đưa đến căm hờn, căm hờn đưa đến đấu tranh - đã làm nảy sinh cách mạng để biến đổi lịch sử, cải tạo xã hội. Như thế, nếu sự bất lực trước áp lực xã hội có đưa một số người đến chỗ tựa nương nơi tôn giáo, thì đồng thời cũng là điều kiện tạo nên ý chí và sức mạnh đấu tranh nơi một số người khác. Ta có nên bảo rằng sự bất lực và những run sợ trước xã hội là nguồn gốc của cách mạng không? Sự bất lực đó đưa con người tìm đến tôn giáo chứ không làm phát sinh tôn giáo.
Đến nay, mặc dù tôn giáo qua những sai lầm của giáo hội, của số người hành đạo, không giải quyết được gì cuộc sống thế gian, nhưng vẫn tồn tại, vẫn phát triển, và hầu như càng lúc càng phổ cập thêm, và con người càng thấy gần với tôn giáo hơn, ngay cả với lớp người chẳng hề bị bạc đãi. Tuy rằng, ở nhiều nơi, đức tin nơi một số người không còn nhiệt thành như trước, và một số lễ nghi tôn giáo biến thành cơ hội rong chơi (những ngày lễ tôn giáo chẳng hạn) nhưng niềm tin tôn giáo vẫn tiềm tàng nơi tâm thức con người. Bao nhiêu kiệt tác xưa nay - thơ văn, nghệ thuật - chẳng đã nói lên những rẫy rụa bất an của con người trong guồng máy khắt khe của xã hội, để đưa đến những thắc mắc, băn khoăn về thân phận con người, về ý nghĩa cuộc sống, về Thượng Đế và định mệnh ra sao? Cứ xem những tác phẩm nổi tiếng của Aimatop, của Dumbatzê - những nhà văn Cộng sản đương thời - đã nói lên những hãi hùng, thảng thốt của con người - dù học thức hay không - đối diện với xã hội Liên Sô, trên bảy mươi năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, để cuối cùng vẫn thao thức về định mệnh, về ý nghĩa cuộc sống, ta đủ rõ chưa một xã hội nào thực sự tốt đẹp và không vì những bất lực đó mà phát sinh ra những tôn giáo nào mới.
Những sự kiện trên cho thấy tôn giáo, mặc dù là sản phẩm của con người, nhưng nguồn gốc phát sinh không do từ bất lực của con người trước thiên nhiên và trước xã hội. Vì, như đã nói, con người từ khởi thủy đến nay, lúc nào cũng có ba mối âu lo, thắc mắc chính.
- Khoa học, kỹ thuật chú trọng giải quyết nỗi âu lo và thắc mắc thứ nhất, tức tìm cách duy trì và phong phú hóa sự tồn tại và phát triển của cuộc sống cấu trúc hiện thể, chứ khó lòng giải quyết hai thắc mắc sau, tức vấn đề ý nghĩa cuộc sống, vấn đề định mệnh và vấn đề tình yêu, vì rằng khoa học, nếu giải quyết hai vấn đề sau thì chỉ đưa đến kết quả là “hợp lý hóa, điều kiện hóa”, để giản lược đến mức tối đa, nếu không muốn nói là làm cho mất biến luôn, và như thế cuộc sống người hoàn toàn vô nghĩa.
- Hai vấn đề sau này - định mệnh và tình yêu - thuộc phạm vi của các ngành khoa học khác, trong đó tôn giáo giữ một phần vụ quan trọng. Không nên vì những lầm lẫn của giáo hội, của hàng tăng lữ, mà lên án tôn giáo. Cũng không phải vì quan điểm của riêng ta mà phủ nhận, bài bác một yếu tố của cuộc sống.
Tôn giáo hay tín ngưỡng là hướng vọng của con người về tuyệt đối, nó biểu hiện cái “siêu việt tính” của con người, của cái “Tôi tín ngưỡng” bên cạnh cái “Tôi tồn sinh” nơi mỗi người. Và đấy là một trong những khuynh hướng bản nhiên của con người.
Hiểu tôn giáo ở phần hình nhi thượng, ta nói rằng nguồn gốc phát sinh tôn giáo chính là Đạo. Tôn giáo là sản phẩm của con người để nói lên cái Đạo, dù cách diễn giảng khác nhau giữa tôn giáo này với tôn giáo nọ. Quan niệm nguồn gốc phát sinh tôn giáo là do sự bất lực của con người trước thiên nhiên và xã hội là đã tước đoạt của tôn giáo cái uyên nguyên tính thể của nó, biến nó thành một thứ phù phiếm vô ích.
Hiểu tôn giáo bắt nguồn từ Đạo - mà thực sự tôn giáo là một cách thế phản ảnh lẽ Đạo, một loại ngôn ngữ của Đạo - thì tôn giáo, từ căn để chính là Đạo, vốn chẳng có nguồn gốc, chẳng phát sinh do một nguyên nhân ngoại tại nào, mà do nơi yêu cầu tự thân của con người đối diện với cuộc sống để hướng về Đạo.
Đạo không có nguồn gốc cũng chẳng có tận cùng, Đạo vô thỉ vô chung. Tại vì con người vốn hữu hạn, cuộc sống tại thế vốn hữu hạn, nên ta khó lòng hiểu được cái vô hạn. Đạo bao trùm tất cả, ta như con cá nằm trong đại đương nào biết biển rộng bao nhiêu. Tôn giáo do Đạo mà có, từ Đạo mà ra, nói về Đạo.
Đạo miên viễn, hằng có, khắp mọi nơi, cùng mọi lúc, bao trùm tất cả, dù con người sống hay chết, già hay trẻ, đau khổ hay hạnh phúc. Đạo là độc nhất vì chỉ có một Đạo và chỉ một mà thôi. Đạo là duy nhất vì chỉ có Đạo, không có gì ngoài Đạo, chung nhất và phổ quát vì chung cho tất cả và bao giờ cũng thế.
Quan niệm tôn giáo phát sinh từ một nguyên nhân tục đế thì tôn giáo chỉ còn là một triết lý như bao nhiêu triết lý khác chứ không còn là tôn giáo đích thực. Nhưng bảo tôn giáo phát sinh từ Đạo thì quan điểm này giúp gì cho nhân sinh? Xin được nói ở chương sau.
Một quan điểm tiếp theo khiến ta nghĩ rằng tôn giáo là vô ích, Đạo là vô bổ; cả hai chỉ là trò chơi của lý trí bệnh hoạn, của đầu óc nhiều hoang tưởng, hoặc là công cụ trong tay giai cấp cầm quyền để bóc lột nhân dân. Đấy là quan điểm cho rằng chỉ có thế giới vật chất hữu hình là thực tại, ngoài ra không có một thế giới nào khác.
Không có thế giới do trí óc con người tưởng tượng, biểu hiện, kiến trúc nên; cũng không có một thế giới siêu nhiên nào, không có một thế giới nào phát sinh do một sức mạnh vô hình như Thượng Đế, Thần linh; không có một thế giới bên kia, một “Au de-là”, một Thiên Đàng hay Niết Bàn nào cả. Tất cả những cái đó đều là ảo giác, hoang đường, huyễn hoặc. Chỉ có thế giới vật chất là hiện thực, là thực tại, tồn tại độc lập với ý thức con người và do con người phản ảnh. Mọi hiện tượng, mọi sự vật trong vũ trụ chỉ là những dạng khác nhau của vật chất, chuyển động theo những qui luật khách quan chi phối chúng. Những qui luật đó là những mối quan hệ bất biến, liên tục, tương dung giữa các hiện tượng (35).
Lý thuyết Mác-xít quan niệm có ba qui luật cơ bản gắn bó, bổ sung cho nhau: “qui luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập nói lên nguồn gốc và động lực của sự phát triển; qui luật chuyển hóa từ lượng sang phẩm và ngược lại nói lên cách thức và trạng thái của sự phát triển; qui luật phủ định nói lên xu hướng tiến bộ của sự phát triển”.
Ở đây không tìm hiểu những qui luật đó đúng hay sai khi áp dụng vào thế giới tự nhiên và xã hội. Ta thấy ngay rằng quan niệm này đối nghịch với quan điểm duy tâm, nhưng cũng không ra ngoài Đạo, và thực sự cũng không phủ nhận Đạo, khi ta chuyển đổi cách hiểu lâu nay.
Khi cho rằng yếu tố nguyên khởi làm phát sinh vũ trụ hiện tượng là vật chất, mà vật chất chỉ có trong vật thể chứ không tồn tại độc lập một mình, nghĩa là không thực tại đối với giác quan ta, thì vật chất đã không thuộc thế giới hữu hình rôi. Vật chất như thế chỉ là một khái niệm, và tất. cả mọi lý thuyết xây dựng từ một khái niệm tiên thiên tự nó đã mang tính chất siêu hình rồi.
Mác bảo bản thân vật chất hàm chứa những mặt đối lập đấu tranh nhau, và do sự giải quyết mối mâu thuẫn nội tại đó mà có vận động phát triển và tiến bộ không ngừng, thì có khác gì với cách giải thích của Hégel cho rằng “Lý niệm tuyệt đối (hay thần thể) tự tách ra đối lập với mình để soi rọi lại chính mình, do tác động phản quang hồi chiếu đó mà lý niệm tuyệt đối đi vào lịch trình hiện tượng hóa”. Quan niệm đó phần nào cũng tương đồng với quan niệm của Đức Khổng. Theo Ngài, cái nguyên sơ là Thái Cực; Thái Cực chứa sẵn hai phần Âm Dương tác động qua lại mà sinh sinh hóa hóa.
Mác chỉ thay đổi quan điểm của Hégel chút ít và đề quyết vật chất không là ý thức, không do ý thức con người mà có, trái lại vật chất lúc tiến đến mức độ tổ chức tinh vi quyết định nên ý thức. Lý thuyết Mác đối lập với chủ trương của phái duy tâm chủ quan, chủ trương rằng vũ trụ hiện tượng là phần biểu hiện của ý thức con người, chứ không khác với quan niệm về Đạo (xin xem sau).
Vũ trụ bên ngoài ý thức con người là có thật, không do con người cấu tạo nên - loài người xuất hiện sau các giới loại mà - chỉ khác ở chỗ, theo người duy vật thì vật chất là một hiện thực khách quan trước khi được nhìn nhận bởi ý thức, trong lúc theo phái duy tâm chủ quan thì vật chất chỉ là một khái niệm trừu tượng do ý thức con người biểu hiện. Vậy, hiểu vật chất là khái niệm - mà thật sự nó là thế vì giác quan ta có phát hiện được nó đâu - thì vật chất chỉ là một danh xưng của khái niệm đó, chẳng khác bao danh xưng khác cũng nói về cái khái niệm tiên thiên do từ đó phát sinh thế giới hữu hình.
Tiếp theo, khi bảo thế giới tồn tại, phát triển và biến hóa theo những qui luật khách quan chi phối nó, những qui luật đó là “những mối quan hệ bất biến giữa các sự vật, giữa các hiện tượng”, giữa các “pháp” nói theo nhà Phật, thì do đâu có những mối quan hệ đó? Những mối quan hệ đó có là thuộc tính của vật chất không?
Vật chất, từ khởi nguyên, chỉ là một, và là một khái niệm, vì vật chất không bao giờ xuất hiện như là “vật chất chính nó”, nên có thể nói nó chỉ là cái “thể” không thôi, vậy mối quan hệ đó cho dù là thuộc tính của vật chất thì cũng không xuất hiện như là một qui luật trong cõi hiện tượng. Vật chất chỉ xuất hiện trong và qua vật thể (chose), nên những mối quan hệ qua lại chỉ xảy ra khi từng loại vật thể xuất hiện, nghĩa là khi vật chất “hóa thân” thành vô vàn vật thể. Vậy chỉ có quan hệ khi có “hiện thể trong toàn thể”, hiện thể với, hiện thể cùng bao hiện thể khác. Mối quan hệ chỉ xảy ra do tác động qua lại của các vật thể hay sự vật, giữa các hiện thể với nhau, chứ không giữa các vật chất.
Hiện thể là gì? Hiện thể là sự hiện diện trong thể thái của nó, qua một dạng cấu trúc nào đó, cho chính nó và cho mọi hiện thể khác. Từ Pháp ngữ Étant có nghĩa là có đấy, có “hữu tại thế”, có trong một thế giới; từ này dùng chỉ chung mọi sự vật, sự việc, mọi vật thể, dù hữu hình hay vô hình, tương đương với từ “Pháp” trong kinh điển nhà Phật, trước khi được dùng để chỉ riêng về con người. Mối quan hệ do tác động qua lại chỉ có khi có sự tiếp xúc, cận lập nhau giữa các vật thể.
Vì hiện thể trong toàn thể, nên lúc nào cũng có tiếp xúc, cận lập, do đó lúc nào cũng có quan hệ tương tác giữa các sự vật, để từ đó phát sinh hiện tượng, phát sinh những “pháp” khác nhau. Mối quan hệ cận lập giữa các vật thể như vậy là tự nhiên có cùng lúc với sự xuất hiện của vật thể. Dĩ nhiên, mối cận lập đó, mối quan hệ đó, không là vật thể, không là vật chất, theo nghĩa vật chất tồn tại độc lập theo dạng hữu hình đối với ý thức con người.
Vũ trụ hiện tượng không là biểu hiện của ý thức con người, điều này đến nay ai cũng công nhận. Không có một thế giới thần linh hay thế giới siêu nhiên nào ngoài vũ trụ hữu hình này, điều này cũng đúng nốt. Nhưng có một thế giới siêu hình, hay đúng hơn có một “năng lực siêu hình”, cấu tạo nên thế giới hữu hình này, và chỉ đạo cuộc sinh hóa của thế giới, của vạn hữu nói chung.
Cái lực siêu hình đó là Đạo. Cái lực siêu hình đó chỉ thể hiện và chỉ được nhận thấy nơi dòng diễn biến sinh hóa của vạn hữu. Tôn giáo không tạo ra năng lực siêu hình đó; tôn giáo chỉ làm công việc dẫn dắt chúng ta hướng vọng về lẽ siêu hình đó, để tự giải thoát ta và giúp giải thoát chủng loại khỏi đau khổ và tội lỗi, nghĩa là giúp ta tạo lập một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, thoát khỏi mọi bất trắc, truân chuyên, trong hiện tại và trong những ngày tới, đồng thời đưa nhân loại đến một bến bờ an lạc, đẹp vui, không gây khổ lụy cho nhau, và mãi mãi tiến bộ trong dòng sinh hóa bất tận của mình.
Tóm lại, quan niệm vật chất là cái tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người là một phát biểu đối nghịch với quan niệm duy tâm chủ quan. Nó có giá trị về mặt lịch sử tư tưởng; về mặt nhận thức, nó không có cái gì mới lạ mà chỉ nêu lên một danh xưng, một cách nói khác về mặt nhận thức đã có. Cái gọi là “vật chất” cùng mối cận lập, quan hệ giữa các vật thể, đều nằm trong Đạo, hiểu theo nghĩa Đạo là cái nguyên lý vận hành. Vật chất như thế cũng như Đạo đều là siêu hình. Siêu hình có khác với vô hình. Vô hình đối lập với hữu hình: một bên không nhận thức được bằng giác quan, khí cụ, và một bên nhận thức được bằng giác quan, khí cụ. Siêu hình không chỉ là vô hình mà còn thể nhập vào tự thân cái hữu hình, để qua cái hữu hình mà thể hiện, và để thăng hoa cái hữu hình.
Chính vì không quan niệm vật chất là một khái niệm siêu hình, nên người theo lý thuyết Mác cũng như người chống đối lý thuyết đó xung đột nhau trầm trọng. Marx và Engels, theo người viết nghĩ, chỉ đối lập vật chất với ý thức, nhằm đả phá cái quan niệm công nhận một vị Thượng Đế vô hình sáng tạo và an bài tất cả; hoặc xem thế giới khách quan chỉ là biểu hiện của ý thức theo phái duy tâm chủ quan, nhằm mục đích đặt lại giá trị và khả năng của con người với chính mình và với thiên nhiên, để cải tạo chính mình và biến đổi thế giới. Người Cộng Sản bài bác tôn giáo vì chỉ cơ sở trên những lầm lạc và đổ vỡ của xã hội do các giáo hội gây ra và vì mục đích chính trị của họ.
Tuy nhiên, cũng do từ đó mà phát sinh cặp phạm trù đối kháng “Hữu thần - Vô thần”.
Hiểu một cách thông thường nhất, “hữu thần” có nghĩa là công nhận có một đấng Thượng Đế vô hình, vô ảnh, sáng tạo nên vũ trụ vạn vật và điều khiển theo ý muốn của mình, công nhận có một thế giới thần linh, một thế giới siêu nhiên ở ngoài thế giới hữu hình này, chi phối và định đoạt thế giới hữu hình này. Đấng Thượng Đế cũng như cái thế giới thần linh đó an bài, sắp đặt hết mọi sự, mọi việc, con người chỉ có tuân thủ, khuất phục cái định mệnh do Thượng Đế, thần linh sắp đặt, và hết lòng thành kính tin tưởng vào Thượng Đế, thần linh, mới mong được giải thoát, cứu rỗi, khỏi kiếp phù sinh lận đận.
“Vô thần”, ngược lại, phủ nhận Thượng Đế, phủ nhận thần linh, phủ nhận năng lực siêu hình đã tạo dựng nên vũ trụ, phủ nhận cái định mệnh do Thượng Đế, thần linh an bài, chỉ tin tưởng vào giá trị và khả năng con người, chỉ công nhận có thế giới hiện thực mà thôi. Sự giải thoát cứu rỗi do chính ý chí con người, chứ không do một thánh sủng, một ơn thiên triệu nào cả.
Cả hai đều có phần phiến diện, chủ quan. Đấng Thượng Đế vô hình cũng như cái thế giới thần linh, thế giới siêu nhiên ở ngoài vũ trụ này, sáng tạo và sắp đặt tất cå, như nhiều tôn giáo quan niệm, thật khó tin tưởng được, lý trí luận lý khó lòng chấp nhận. Không công nhận một thế giới vô hình, một năng lực vô hình nào chi phối thế giới hiện thực này như quan niệm vô thần thì cũng chả mấy đúng.
Trong cuộc sống, mỗi người và mọi người chẳng đã sống với bao cái vô hình rồi sao? Nhân loại không là vô hình sao? Tổ quốc, dân tộc, không là vô hình sao? Giá trị con người, nhân phẩm, nhân đạo, bản chất sự vật, ý nghĩa cuộc sống... không là vô hình sao? Cho dù đấy là những “qui ước” do con người đặt định nên, để thiết lập cuộc sống chung, thì chẳng đã dùng những “qui ước về vô hình” để tổ chức cuộc nhân sinh thực tiễn hữu hình sao ?
Thường ngày, chúng ta đã sống với biết bao cái “vô hình” bàng bạc, quanh quẩn bên ta. “Vô hình” không có nghĩa là không có, vô hình mà hiện thực chỉ tại vì chúng ta không để ý đến thôi. Thực ra, nên hiểu vô hình nơi đây là siêu hình. “Siêu hình”, như đã nói, vừa vô hình vừa hiện thực, và luôn luôn thể nhập vào cái hữu hình, để qua đó mà tự thể hiện và thăng hoa cái hữu hình.
Cặp phạm trù mâu thuẫn “Hữu thần - Vô thần” thực ra được giải quyết trong lẽ Đạo. Đạo là cái siêu hình, có khắp mọi nơi, có cùng mọi lúc, giác quan không thể nhìn thấy, khí cụ không thể biết, kinh nghiệm không thể hay, nhận thức cũng khó lòng lãnh hội, trí tuệ cũng khó lòng lý giải. Vì Đạo thể nhập vào nhân sinh, vào cuộc sống, vào lịch sử sinh hóa của vạn hữu, chỉ sau từng chu kỳ biến dịch, ta mới phần nào nhận chân ra ít nhiều, còn dòng đi của nó cho dù ta cố nhận thức được một cách tổng quát cũng khó lòng đoán định được từng bước vận hành của Đạo thể hiện vào dòng đời. Kinh sách các tôn giáo đã nói đến điều đó nhưng lại mù mờ, diễn giải lệch lạc, để biến thành những giáo điều, tín điều cứng ngắc đi đến phủ nhận ý chí sáng tạo của con người. Trong lúc đó, những người gọi là “vô thần” không để ý đến những cái “hợp lý siêu hình” ở bên trên những cái “hợp lý luận lý” thường hằng.
Một nguyên nhân khác khiến tôn giáo thường bị phi bác, đây là quan niệm về Thượng Đế. Các nhà thần học và truyền giáo thường bảo rằng “Thượng Đế ở ngoài con người, hoặc Thượng Đế ở trong con người, hoặc Thượng Đế vừa ở ngoài vừa ở trong con người”. Thượng Đế theo lối nhận thức thông thường nơi một số tôn giáo được quan niệm là một đấng toàn năng, toàn trí, có vô số phép thần thông mầu nhiệm, sáng tạo nên tất cả, an bài tất cả, toàn quyền thưởng phạt, cứu rỗi hoặc đọa đày những ai hết lòng tin tưởng vào Ngài, tuân phục ý chí Ngài hay phản bội, không ăn ở đẹp lòng Ngài.
Quan niệm Thượng Đế ở ngoài ta thì biến Thượng Đế ở bên ngoài con người, con người chỉ hướng đến, vọng cầu, mà muốn được Ngài cứu rỗi thì phải từ bỏ hết mọi của cải thế gian. Điều này chẳng một ai làm được, vì trên thực tế, của cải thế gian tức đời sống tại thế này không thể chối bỏ được một khi con người còn đọng lại trong dạng tồn tại hiện thời. Do quan niệm trên, con người phải vong thân vào Thượng Đế, vào tôn giáo, nô lệ Thượng Đế, xem cuộc đời như một định mệnh khắc nghiệt do Thượng Đế đã định sẵn cho ta. Thượng Đế biến thành vị thần nghiêm mật cản ngăn hết mọi ý chí tự do của con người trong những lúc tuyệt vọng, bị rẫy ruồng, chà đạp bởi cuộc sống khổ đau.
Quan niệm Thượng Đế ở trong con người, ở cùng con người, thì làm sao nhận biết được Ngài? Vị Thượng Đế trong tôi và vị Thượng Đế nơi người khác sao khác nhau quá. Quan niệm này có tác dụng làm con người biết hồi phục, tự quy để tự phản tỉnh về mình, nhưng đã mấy ai phát hiện được vị Thượng Đế nơi mình. Có hồi phục, tự quy thì cũng chỉ nhận ra những khuyết điểm, lỗi lầm, sai trái của mình khi đối chiếu với kẻ khác, khi quy chiếu vào những tiêu chuẩn đức lý tại thế, vào những qui ước của xã hội. Thượng Đế như thế chỉ là lương tâm của con người. Nhưng lương tâm một khi được đánh thức có hằng sống động và chi phối, quyết định mãi mãi hành động của ta không sai trái không?
Hầu như trong cuộc sống bình thường ta chỉ điều hướng mọi hoạt động của ta theo luân lý, theo pháp luật, chú ý đến cái nhìn của kẻ khác, đến dư luận xã hội để khỏi bị lỗi lầm, hơn là để phục vụ vị Thượng Đế nơi ta, hơn là được dẫn dắt bởi vị Thượng Đế nơi ta. Như thế, những kẻ chống lại luân lý, luật pháp, những nhà Cách mạng vì cần thiết của Cách mạng mà phải sử dụng bạo hành, bạo lực thì có hành động trái với vị Thượng Đế nơi họ không? Vị Thượng Đế nào trong ta bảo ta không nên giết người và vị Thượng Đế nào trong ta bảo ta phải giết hàng vạn kẻ thù cướp nước? Bình thường, ta gặp kẻ xấu nhiều hơn người tốt, người ngay, như thế vị Thượng Đế nơi họ sao không dẫn dắt, chỉ đạo họ? Những người theo Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo luôn luôn bảo “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi!”, vậy vị Thượng Đế nơi họ đâu để họ mãi mãi phạm tội? Đã là Thượng Đế thì phải dìu dắt, hướng dẫn, chỉ đạo chứ sao lại để con người đắm chìm trong tội lỗi? Chúa Giê-Su, con độc sanh của Thượng Đế, chịu chết trên cây Thập tự để cứu chuộc tội lỗi thế gian thế mà thế gian nào có hết tội lỗi đâu, càng ngày càng thêm những tội lỗi mới, ngay cả những người con của Chúa cũng phạm tội kia mà! Như thế, cái chết của Chúa chẳng là vô ích sao? Và chính Thượng Đế cũng đành bất lực sao? Vậy nên hiểu Thượng Đế như thế nào?
Bảo rằng vị Thượng Đế trong ta chính là cái Tâm của ta, tức cái Đức sáng, cái Đức Nhân, cái Tính Thiện có sẵn trong mỗi con người; giữ cái Tâm được sáng, được trong lành, thì là được hạnh phúc, là thấu triệt được Đạo, không bị lôi cuốn bởi dục vọng để phải phạm tội và gây nên tội, như Kinh Phật và Kinh Thánh bảo, thì cái sức tranh đấu để chế ngự dục vọng là do từ con người chứ không do vị Thượng Đế nơi con người, trừ trường hợp hiểu cái lương tâm hay cái Tâm đó là Thượng Đế. Nhưng như đã nói, liệu ta có thể nào giữ cái Tâm đó mãi mãi trong sáng không? Cuộc sống diễn ra muôn hình muôn vẻ, cái Tâm con người luôn luôn bị vọng động, như thế Thượng Đế trong ta không là cái Tâm rồi, vì Thượng Đế mà còn bị lầm lạc, vọng động sao?
Quan niệm “Thượng Đế ở ngoài và ở trong ta cùng một lúc” thì sự việc đó đem lại kết quả thế nào? Thượng Đế trong ta có phải vị Thượng Đế bên ngoài phân thân vào ta không? Người ta thường quan niệm Thượng Đế trong ta là phần nhập thể của Thượng Đế bên ngoài ta, đấy là cái Linh hồn, cái Tâm của ta. Đạo Phật quan niệm vị Thượng Đế bên ngoài ta là cái “Tâm chân như” và vị Thượng Đế trong ta là cái Tâm của mỗi người, nếu ta muốn nói thế. Nếu quan niệm Thượng Đế là đấng nhân hình nhân ảnh thì quả dễ hình dung nhưng khó lòng nhận chân. Nếu quan niệm Thượng Đế không là đấng nhân hình nhân ảnh thì Thượng Đế bên ngoài ta là cái Bản thể chung cùng của vạn hữu, và Thượng Đế trong ta là cái tự thể, tính thể, cái tự ngã, cái tính Phật, cái tính Thượng Đế nơi mỗi hiện thể. Sự giải thích này hợp lý nhưng vấn đề là phải hiểu Thượng Đế như thế nào.
Những lối nói trên không giải thích rõ được Thượng Đế. Tuy nhiên, có tác dụng phục vụ tôn giáo, vì là động lực khuyến khích con người hướng về tôn giáo. Thật ra, các lối nói đó cũng không sai lệch gì một khi hiểu Thượng Đế không như thần linh.
Nếu hiểu Thượng Đế là Đạo - hữu thể căn nguyên và là nguyên lý tối thượng, thường hằng, điều hướng mọi biến dịch của vũ trụ vạn vật - có lẽ ta nên nói rằng: “Ta ở trong Thượng Đế, ta ở trong Đạo” và tất cả đều ở trong Đạo. Thượng Đế hay Đạo là ngôi nhà, tất cả ở trong ngôi nhà đó. Ta cư lưu trong Đạo cũng như ta cư lưu trên mặt đất này. Đạo bao trùm ta, ta nằm trong Đạo. Đạo ở ngoài hay ở trong ta, đấy là cách thế mỗi người quan niệm về Đạo, chứ Đạo không là đối tượng nhập vào ta hay thoát ra khỏi ta. Ta từ chối Đạo chứ Đạo không từ chối ta. Ta tương ứng vào Đạo chứ không phải Đạo đến với ta. Nhưng Đạo thì bao giờ cũng có đấy, có khắp mọi nơi, có cùng mọi lúc. Bất cứ hoạt động nào của ta, của bất cứ hiện thể nào, của bất cứ giới loại nào cũng nằm trong Đạo. Đạo không chỉ là hữu thể căn nguyên, nền tảng, mà còn là đường đi, chẳng khác dòng sông luôn trôi về biển. Ta có thể đi tới, đi lui, chèo xuôi, chèo ngược, hoặc ngừng, hoặc tiến trên đường đi đó, trên dòng sông đó chứ không ở ngoài nó, không cản trở dòng đi của nó. Tương ứng với Đạo thì ta dễ đến nơi Đạo đưa ta đến; không tương ứng với Đạo thì là bập bềnh, trôi nổi trên đường đi mà không đến nơi ta ước mong, nơi mà Đạo sẽ dẫn ta đến. Nhưng dù thế nào, ta cũng không ra ngoài vòng của Đạo. “Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt”, ta chuyển dịch trong Đạo và Đạo chuyển dịch theo ta.
Tóm lại, ta có thể nói rằng tất cả đều nằm trong Đạo và do Đạo mà có. Nên hiểu Thượng Đế theo ý nghĩa đó để khỏi bị rơi vào tính cách “hữu thần” cũng như “vô thần” một cách dễ dãi, hời hợt, nông cạn. Cuộc sống của chúng ta, cuộc đời mỗi chủng loại, cũng như cuộc đời của vạn hữu nói chung, đều nằm trong Đạo và vận hành theo lẽ Đạo hằng cửu. Đạo và Đời không là hai phạm trù đối kháng, tách biệt. Đời tự thân tác động để thể hiện Đạo, nhưng Đời chuyển dịch trong dòng đi của Đạo. Để dễ hiểu, ta thứ lấy thí dụ sau: Đạo là thân thể con người, Đời là dòng máu luân lưu trong cơ thể. Chính máu làm cho thân thể cường tráng, hồng hào hay gầy ốm, xanh xao. Đời cũng vậy, qua Đời biết Đạo. Đời thể hiện Đạo, làm Đạo sáng ra hay tối lại, nghĩa là Đạo được hiển lộ hay ẩn giấu chứ không phải Đạo bỏ Đời, hay Đời thoát ly khỏi Đạo. Nói theo đức Khổng: “Đạo không mở rộng người mà chính người mở rộng Đạo” (36), có nghĩa là người thể hiện Đạo và Đạo thị hiện qua người, do người.
Hiểu như thế, ta mới không chia lìa “Tâm-Vật”, không phủ nhận Thượng Đế, cũng như không phủ nhận ý chí tự do của con người. Nói rộng hơn, bất kỳ hiện thể nào: cây cỏ, súc vật, hạt bụi, giọt sương, tia nắng... đến cả những thứ do con người tạo tác như cái bàn, ngôi nhà, xưởng máy... cũng là môi trường thể hiện Đạo, cũng là môi trường để Đạo thị hiện.
Nhưng tại sao ta vẫn “vô đạo”, không “sống Đạo” được? Điều này, kinh sách tôn giáo đã nói: theo Phật giáo thì do bức màn vô minh phát sinh từ ngũ uẩn, từ lòng dục nơi ta; nói theo Kinh Thánh Ki-Tô giáo thì do tội Tổ Tông, do ta “chỉ biết giấu của cải dưới đất nên bị ten sét làm hoen rỉ”. Để dễ hiểu, ta trở về với thí dụ trên: Thân thể ta (tức Đạo) bị gầy ốm, xanh xao, bệnh hoạn vì máu ta (tức Đời) xấu, mà máu xấu vì do ta đã hấp thụ những thức ăn nhiễm độc, do từ không khí ta hít vào không trong sạch... Giữ máu huyết của ta thật tốt thì thân thể ta cường tráng, khỏe mạnh; đấy là trạng thái “hạnh phúc” nhất của cơ thể, tức “sức khỏe”. Khi nào ta biết mở rộng Đạo trong cuộc sống của ta, nghĩa là “Đạo và Đời” hòa hợp thì ta mới đạt được trạng thái “sức khỏe” đó của cuộc sống riêng ta và chung cho chủng loại, nghĩa là đạt được cuộc sống bình an, hằng lạc, tươi vui.
Cặp phạm trù “Hữu thần - Vô thần”, tức hai quan điểm đối nghịch giữa hai trạng thái tư tưởng: tư tưởng siêu hình và tư tưởng thực nghiệm, sẽ không còn mâu thuẫn nhau nữa khi ta cơ sở vào lẽ Đạo để giải thích, chứng nghiệm.
Diễn giải luộm thuộm, gượng gạo như trên, dĩ nhiên không thể nào làm sáng tỏ vấn đề như ý muốn. Người viết, thực sự, chẳng thông suốt bất kỳ giáo lý tôn giáo nào (mà ai tự hào là thông suốt?) một cách sâu sắc, vả kinh sách tôn giáo mênh mông như rừng, đôi chiếc lá trong tay cho dù là “lá rừng” nhưng đâu phải là “rừng”. Ý hướng người viết chỉ mong sao giảm thiểu phần nào ngộ nhận và sai biệt để quan hệ giữa người và người bớt gay cấn, chấp tranh.