Nhân Loại Mới

đạo là gì?

Đạo trước nay có thể hiểu theo ba cách: 

 

1. Thông thường Đạo được ghép chung với Đức hay Lý: Đạo đức, Đạo lý

 

Đạo đức, Đạo lý thường được hiểu là những giáo lý, qui điều chuẩn mực nhằm hướng dẫn con người biết hạn chế lòng dục và biết điều hướng nó để bớt gây ba đào, tan nát cho mình và cho người khác. Con người qui chiếu vào đấy để biết tu thân, xử thế, điều hòa được mọi tương giao, quan hệ giữa mình với toàn thể, tạo lập được thế quân bình giữa nhau để cái nghiệp của mình giảm bớt, để bớt gây thêm nghiệp ác cho mình và cho cuộc sống chung giữa nhau, nghĩa là cho xã hội. Hệ thống những giáo lý, qui điều, chuẩn mực đó là bảng thang giá trị để ta cơ sở vào đó mà xét đoán, qui định mọi hành vi của ta và của kẻ khác trong cuộc đời. 

 

Đó là những tiêu chuẩn do từ những yêu cầu và kinh nghiệm của cuộc sống tại thế và bắt nguồn từ những khái niệm tiên thiên, trừu tượng, phổ quát: chân, thiện, mỹ, công bằng, bác ái, tự do, hòa bình, nhân phẩm... để con người trong cuộc sống xã hội thiết dựng nên những qui ước chung nhằm điều hòa mọi tương giao giữa người và người hầu đảm bảo trật tự, an ninh xã hội. Và vì là những tạo tác của tại thế nên chúng cũng nằm trong yếu tính của tại thế, nghĩa là thay đổi từng lúc, từng nơi, đúng sai, tốt xấu tùy hoàn cảnh, tùy giai đoạn. Hệ thống đó tạo nên những nền đức lý, luân lý mà chúng ta ai cũng biết rõ. 

 

Hiểu Đạo theo nghĩa này thì nghiệp của con người được giới hạn trong quãng thời gian hiện hữu tại thế, nghĩa là từ lúc sinh ra đến lúc chết. Giải thoát được nghiệp trong ý nghĩa Đạo là Đạo đức, Đức lý, không mấy khó khăn, vì chỉ cần biết thích ứng với những qui điều đạo đức hiện hữu, biết phù hợp với qui ước xã hội đương thời là có thể sống thoải mái, yên vui, bằng an phần nào. Nhưng cũng không phải dễ dàng vì Đạo không chỉ giới hạn trong phạm vi Đạo đức. 

 

Giải nghiệp chỉ bằng cách tuân thủ các qui điều đạo đức thể hiện bằng luật pháp vào tổ chức nhân sinh, nhiều khi biến con người thành thụ động, thành nạn nhân xã hội, khó lòng đưa xã hội tiến lên. Các nhà cách mạng, dù về mặt nào, bằng bạo lực hay bằng ngôn ngữ, là những kẻ tự thân ý thức, hoặc được đun đẩy bởi lẽ Đạo (hiểu trên một bình diện khác), để chống lại các qui điều đạo đức khắt khe, cố định, chống lại luật pháp xã hội, hoặc những quan điểm bảo thủ, giáo điều, để đưa xã hội tiến sang những dạng hiện hữu khác hơn. Những kẻ đó không nhằm giải cái nghiệp riêng của họ mà nhằm giải cái nghiệp của tập thể, tập đoàn, và cái nghiệp chung của chủng loại. Nghiệp riêng của họ do hành động cách mạng hoặc cải cách của họ có thể đậm thêm màu bi thảm, nhưng chính do đó mà cái nghiệp chung được thị hiện để sớm tiến đến thời điểm hóa giải cái nghiệp chung của chủng loại, tức cái cộng nghiệp, đúng theo vận hành lịch sử ứng vào cho từng chủng loại trong dòng đi của lẽ Đạo hằng cửu.

 

2. Đạo, trên ý nghĩa cao hơn, là  con đường giải thoát, cứu rỗi; giải thoát, cứu rỗi cuộc sống, cuộc đời khỏi đau khổ, tội lỗi.

 

Đối với cá nhân, giải thoát là tạo được trạng thái sống bằng an, tự tại, không để bị vướng víu vào mọi hệ lụy của thế gian. Đối với từng tập đoàn, giải thoát có nghĩa là giải phóng khỏi một trạng thái hay chế độ xã hội, một trạng thái sống bị đọa đày, áp bức, bóc lột, để đạt được cảnh sống hòa bình, an lạc, ấm no, hạnh phúc. Đối với chủng loại, giải thoát có nghĩa là thoát vượt được những chi phối của dạng tồn tại đương thời để tiến đến một dạng tồn tại khác cao hơn.

 

Đạo, như đã nói, phần nào là những biện pháp, những cách thế để con người và chủng loại nương theo, ứng dụng, điều hướng mọi suy tư, hành động, để hóa giải cái nghiệp của mình, biến cõi tại thế không còn bi đát, trầm luân. Hiểu theo ý nghĩa này, Đạo không còn là những qui điều do con người trong xã hội qui ước nên mà là một lực tác động hướng đến dòng sinh hóa của chủng loại, ứng vào từng giai đoạn lịch sử thế này, thế nọ. 

 

Như thế, Đạo không do con người tạo ra mà Đạo ở ngoài con người, độc lập với ý chí con người, nhưng lại thị hiện qua mọi hoạt động của con người và chủng loại trong cuộc sinh tồn. Hiểu Đạo theo nghĩa này, nghiệp của con người không giới hạn nơi khoảng thời gian sinh ra và chết đi, mà nghiệp của từng người gắn liền vào nghiệp của dòng họ, của tập đoàn (tập nghiệp) cùng nghiệp của chủng loại. Như thế, nghiệp được tích lũy từ quá khứ, rồi chất chứa trong tạng thức của ta, để đến bây giờ - kiếp sống hiện tại - trở thành động lực chi phối cuộc sống, và khi ta chết đi rồi cái nghiệp của cá thể vẫn còn tồn tại và tác động đến các hiện thể khác qua sự tiếp nối của dòng họ, qua các hình thức quả báo, đầu thai. Nghiệp của cá thể, hiểu Đạo theo nghĩa này, vừa là lịch sử của cá thể, vừa là tác động được hình thành, tích lũy từ quá khứ lịch sử của dòng họ, của tập đoàn, của dân tộc tiềm tại nội sinh nơi cá thể, để rồi được tiếp tục nơi những cá thể về sau. 

 

Hiểu Đạo là con đường giải thoát, cứu rỗi, nghiệp của cá thể, của tập đoàn và chủng loại gắn bó với nhau, tác động qua lại, mà kết quả cuối cùng là giải thoát cả chủng loại khỏi cái nghiệp của mình trong dạng tồn tại đương thời, để chuyển sang một dạng tồn tại mới, với một cộng nghiệp mới. Do tác động của Đạo, hiểu là con đường giải thoát, nên giải nghiệp nhiều khi buộc phải chống lại những qui điều đạo đức và pháp lý hiện thời; do sức tác động đó mà xã hội thay đổi dạng hiện hữu. Nghiệp của cá thể trong dòng vận hành của Đạo (hiểu là con đường giải thoát) không còn nằm trong ý chí con người mà biến thành lực tác động âm thầm, tất yếu, ta gọi là nghiệp lực. 

 

Do nghiệp lực, con người nhiều khi phải có những hành vi gây đau khổ, bất trắc cho chính mình, tự nguyện chấp nhận những tang thương, đổ vỡ vào mình, vì bị đun đẩy bởi cái nghiệp của tập đoàn và nghiệp của chủng loại, mượn qua nghiệp riêng của kẻ đó, mà thị hiện con đường giải thoát chủng loại. Cũng do nghiệp lực - sức mạnh tác động vô hình của nghiệp - mà ta thường có quan niệm “nghiệp dĩ” tức định mệnh, số kiếp hay số phần, đồng thời cũng do đó mà có nhiều quan niệm giải thoát khác nhau.

 

Tựu trung, ta có thể kể ra một số quan niệm phổ biến lâu nay về giải thoát: 

 

a. Giải thoát do một tha lực, thần lực, do ơn Thiên triệu, do Thánh sủng của Thượng Đế: 

 

Giải thoát nghiệp lực theo quan niệm này hoàn toàn dựa vào Đức tin. Con người cũng như vạn vật do Thượng Đế dựng lên, do Thượng Đế an bài, cuộc sống được sắp đặt rồi. Tất cả nằm trong chương trình của Thượng Đế. Con người phải vui vẻ tuân thủ chương trình đó. Tất cả những gì ta gây ra, tất cả những gì đến với ta, dù thế nào cũng đều do ý muốn Thượng Đế. Ý chí con người không thể giải thoát con người khỏi mọi tai ương, bất trắc nếu không có thần lực của Thượng Đế chỉ đạo. Thượng Đế hướng dẫn con người đến giải thoát qua Thánh linh mà Ngài ban cấp cho. 

 

Tuyệt đối tin tưởng vào Thượng Đế, dâng hiến hết mình cho Ngài, giao phó hoàn toàn cho Chúa, cúng dường hết cho Phật, mới khỏi thấy khốn đốn vì những buộc ràng của tại thế, mới được cái “bình an trong Chúa”, mới tạo được “hoan hỷ địa” ngay giữa cuộc sống trầm luân, để đến ngày cuối cùng được Thượng Đế chọn lựa, cứu rỗi vào nước Thiên Đàng. 

 

Chỉ có Thượng Đế mới giải thoát, cứu rỗi được con người; con người không thể tự mình giải thoát mình được, dù cho cố gắng sống thánh thiện hoặc tài ba đến mấy. Cảnh đời chỉ là trường diễn xuất thánh ý của Thượng Đế. Mọi hoạt động của cõi thế chỉ là “trò chơi” của Thượng Đế để thử thách đức tin của con người đối với Ngài. Ki-Tô Giáo khẳng định con người và chủng loại người, từ lúc xuất hiện do sáng tạo của Đức Chúa Trời đã phải mang lấy một cái nghiệp dĩ gọi là Tội Tổ Tông, và suốt cuộc đời phải trả cái Tội đó, nhưng chẳng bao giờ trả hết được, do đó không thể tự mình giải thoát được mình mà phải trông cậy vào ơn cứu rỗi của Thượng Đế qua đức tin tuyệt đối của mình vào Ngài. 

 

Quan điểm giải thoát này đưa đến “Định mệnh thuyết siêu hình”, cơ sở cho chủ trương tôn giáo nhất thần, quan niệm vũ trụ phát sinh từ một thực thể nhất nguyên hữu ngã. Bên Đông phương, quan điểm giải thoát này cũng khá phổ biến do quan niệm một đấng sáng tạo quyền năng đã tạo nên vạn hữu và chỉ đạo vạn hữu. 

 

Khổng giáo cho rằng mọi sự, mọi việc trong cõi đời đều đã được sắp đặt trước, đến nỗi cái ăn, cái uống hàng ngày cũng đã được tiền định (Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định) nói theo một số nhà nho, và muốn được giải thoát phải sống sao cho hợp với Đạo Trời, thuận hảo với Thiên mệnh. 

 

Đạo Phật, qua thuyết “quả báo” và “sinh tử luân hồi”, quan niệm mỗi hiện thể mang sẵn một cái nghiệp, không chỉ do hành động của mình trong cuộc sống hiện nay, mà còn do từ những hậu quả trong kiếp sống trước, nên không thể thoát ra khỏi cái nghiệp dĩ của mình, và muốn giải thoát được phải phát huy cái Tâm chân như nơi mình, để không tạo nên những quả báo cho kiếp sống sau. Tuy không minh thị một đấng Thượng Đế sáng tạo vũ trụ và không công nhận phép lạ cùng thánh sủng của Thượng Đế, nhưng cái Thể chân như, cũng như cái Tâm chân như nơi mỗi hiện thể, thật ra cũng không mấy khác với đấng Thượng Đế như trong nhiều tôn giáo hữu thần khác. 

 

Quan niệm giải thoát này được các tôn giáo truyền bá và được đa số quần chúng tin theo. Thượng Đế được quan niệm là một đấng quyền năng nhân hình nhân ảnh vừa ban phước lộc, vừa trừng phạt những ai hành động tuân thủ ý Ngài hay nghịch lại ý chí của Ngài. 

 

b.Giải thoát bằng cái Tâm

 

Thực sự chữ Tâm trước nay chưa có một định nghĩa rõ ràng nên được hiểu theo nhiều cách: 

 

- Trước tiên, Tâm được quan niệm là phần sống tinh thần của con người đối nghịch với phần sống vật chất.

 

 Cái phần tinh thần này gọi là Tâm linh, đồng nghĩa với linh hồn, tức cái linh thể, cái “tính Thượng Đế”, tức phần của Thượng Đế nhập vào con người để hướng dẫn con người trở về với Thượng Đế. Cái Tâm vốn tinh anh, thuần khiết nhưng bị ô nhiễm bởi vật chất, tức tấm hình hài thân xác với tất cả những dục vọng thấp hèn phát sinh từ nó. Con người cũng như vạn hữu là một kết hợp tinh thần và vật chất. Giải thoát không có nghĩa loại bỏ, hủy diệt phần vật chất mà là làm sao cắt đứt được những buộc ràng của tính vật chất nơi mình, không để những đòi hỏi, cám dỗ của vật chất trói buộc, chi phối mình. 

 

Tâm linh mới là thực tại, trường cửu, cái phần tinh túy, cao đẹp và vi diệu; phần vật chất chỉ là hư huyễn, giả tạm. “Tấm hình hài không có, có không” (Cao Bá Quát). Cái sống vật chất là cái sống ô trọc, thấp hèn, ghìm con người vào tội lỗi, đau khổ, buộc con người phải luôn luôn đấu tranh tạo khổ cho mình và kẻ khác. Cắt bỏ được những hệ lụy của cuộc sống vật chất, chuyên chú sống phần tâm linh cho phong phú thì là đạt được cảnh sống nhàn tản yên vui, tự tại, dứt bỏ được phiền não, khổ đau, như thế là được giải thoát: 

 

Cái thân ngoại vật là tiên trên đời 

(Cung oán ngâm khúc) 

 

Tẩy trừ hết mọi phiền trược do vật chất gây ra thì cái Tâm hiển lộ và cảnh giới lý tưởng thể hiện ra ngay.  

 

Cơ-Đốc giáo khuyên răn con người nên “giấu của cải trên trời, đừng giấu của cải dưới đất”. Phật giáo khuyên con người nên “diệt dục”, tức là nên chăm chú phát huy cái tâm của mình, cái phần sống tinh thần cho trong sáng, vi diệu, cho tròn đầy, viên mãn thì con người không còn thấy đau khổ, thong dong chấp nhận cuộc đời một cách vui vẻ, ung dung, gặp cảnh ngộ nào cũng bình an, tự tại và như thế là giải được nghiệp, chuyển nghiệp thành phi nghiệp. Quan niệm giải thoát này không khác gì mấy với quan niệm giải thoát nói trên, vì theo ý nghĩ thông thường thì sống với cái Tâm trong sạch, thuần khiết là được Trời Phật phù hộ, độ trì, hợp với thiên lý lưu hành, nên sẽ không gặp hoạn nạn, tai ương, nghĩa là được cái “tha lực nhiệm màu” che chở, cứu rỗi. 

 

Giải thoát theo chữ Tâm hiểu theo nghĩa này, đưa đến thái độ khắc kỷ, khổ hạnh trong cuộc sống hoặc đưa đến thái độ sống “xuất thế”, nghĩa là từ chối lăn lộn vào cuộc đời hay thoát vượt mọi hệ lụy, buộc ràng của cuộc sống cạnh tranh xã hội. Quan điểm giải thoát này tạo cho ta đức tính bình tĩnh, chịu đựng, bao dung, phóng hoạt. Giữ cái Tâm thanh tĩnh, không để bị xung động bởi ngoại cảnh, thế là được giải thoát và tìm thấy “niết bàn” ngay trong cuộc sống. 

 

- Chữ Tâm hiểu theo nghĩa thông thường là “tấm lòng” tức là phần sống cảm tính của con người. 

 

Cái sống cảm tính này đặt nặng trên cái “Tính thiện” vốn có nơi con người. “Cảm tính” cũng bị ô nhiễm bởi vật chất, nên phải loại bỏ những tình cảm do động cơ vật chất gây nên, mà chuyên chú phát triển những tình cảm cao đẹp như lòng yêu thương, lòng ưa chuộng và mong cầu mọi thứ tốt đẹp cho mọi người. Làm điều thiện chứ không làm điều ác, không ác tâm, tà ý, không mong lợi cho mình mà gây thiệt hại, buồn phiền cho kẻ khác. 

 

Cái “Tính thiện” đó thể hiện nơi cái từ tâm, nơi lòng bác ái, nơi bốn cái “vô lượng tâm” của nhà Phật: “Từ, Bi, Hỷ, Xả”, nơi cái “Đức nhân” của Khổng giáo, cái “Kiêm ái” của Mặc giáo. Trong mọi trường hợp, trong mọi cảnh ngộ, lúc nào ta cũng trải rộng lòng yêu thương, “yêu người như yêu mình”, “đừng làm cho kẻ khác những gì mình không muốn kẻ khác làm cho mình”. 

 

Dĩ nhiên, yêu thương cũng là nguyên nhân gây ra đau khổ và tội lỗi, nhưng yêu thương phát xuất từ “Tính Thiện”, từ cái “Tâm từ bi”, từ cái “Đức bác ái”, từ cái “Đức nhân” thì có gánh chịu đau khổ vẫn thấy hoan hỷ, bình an. Sống với cái Tâm thánh thiện, ta phải chối bỏ, diệt trừ mọi thứ tình cảm tiêu cực phát xuất từ lòng dục của tính vật chất nơi mình. Loại trừ mọi ham muốn, mọi tà gian, mọi “tham, sân, si” là ta giữ được cái Tâm thanh tĩnh, thuần khiết, ta sẽ không bị vô minh chi phối, ta vượt qua được những yêu cầu của cuộc sống vật chất, để lúc nào cũng thấy thånh thơi, an lạc, không còn thấy đau khổ và không gây ra tội lỗi. 

 

Thiện căn ở tại lòng ta 

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài. 

(Đoạn trường tân thanh) 

 

Quan điểm giải thoát này nặng về mặt đạo đức đưa đến những khẩu hiệu “Dĩ đức báo oán” và “Tứ hải giai huynh đệ”. 

 

- Chữ Tâm hiểu theo nghĩa rộng hơn là cái “Tâm bát nhã”, cái “Đại trí huệ bờ kia” (Bát nhã ba la mật đa) của nhà Phật. 

 

Chữ Tâm hiểu theo nghĩa này không là linh hồn, tâm hồn, không là “cõi lòng” hay cái “Tính thiện”, cái “Đức nhân” thông thường nữa. Nó không nằm trong phạm vi Đức lý hoặc Triết lý mà thuộc phạm trù Đạo học. Tâm, theo nghĩa này, không thuộc phạm trù cảm tính hay lý tính thuần túy mà được hiểu là cái “Biết siêu việt”, cái “Viên giác”, cái “Thức siêu việt” cao độ, cái “Siêu thức”, cái “A lại gia thức”, cái “Supra-conscience”, tạm gọi như thế. 

 

Với cái Tâm bát nhã, ta nhìn ra được cái lẽ “Diệu hữu - Chân không” của vạn pháp, của vũ trụ và nhân sinh để nhìn ra cái Thể chung cùng, cái “Nhất thể”, cái “Bản lai đồng” của vũ trụ vạn vật, ta và vũ trụ cùng một thể, cùng một bản chất, cùng một nguồn gốc và cùng một hướng tìm về, đi đến. Với cái Tâm bát nhã, ta sống trong trạng thái “như như chẳng động”, không trụ trong một sắc tướng nào, vô sở cầu, vô sở đắc, tìm ra được “bồ đề ngay giữa lòng phiền não”. Cái Tâm bát nhã đó đồng nghĩa với cái “Tâm hư, Tâm không” hay cái “Tánh không”, cái “Tâm chân như” trong từ ngữ nhà Phật. Cái “Tâm bát nhā” này, hiểu theo Kinh Thánh Ki-Tô giáo là cái trí tuệ của Thượng Đế, cái “Biết của cây sự sống”, cái trí tuệ của “người lớn hơn Salomon”. Giải thoát bằng cái Tâm bát nhã là giải nghiệp, chuyển nghiệp thành phi nghiệp, có nghĩa là thoát được vòng nhân quả do mọi tương tác giữa ta và vạn hữu, và giữa vạn hữu với ta. 

 

Thoát vòng nhân quả không có nghĩa từ bỏ thế giới này, hoặc diệt trừ nhân quả, mà là không ràng buộc, chi phối bởi nhân quả. Mà thoát vòng nhân quả là thoát được vòng “Thập nhị nhân duyên”, thoát được vòng “sinh tử luân hồi”. Vì thế, Phật giáo, hay Đạo học Đông phương nói chung, hướng ta đến cái nhìn “bất nhị”, cái nhìn “không phân biệt”, không còn phân ly “chủ thể - khách thể”, cái nhìn “tề thiên địa, đồng nhân ngã”, không còn “chấp” bất cứ thứ gì: chấp ngã, chấp tướng, chấp pháp. Trong Kinh Thánh Ki-Tô giáo (Tân ước) nói đến thời điểm cái Tâm bát nhã hiển lộ là lúc Thượng Đế tái lâm khiến “người mù được thấy, kẻ thấy sẽ mù”, nghĩa là lúc đó mọi sự, mọi việc sẽ được nhận diện, giải thích tường minh, không còn trong vòng thị phi, khúc mắc, sai biệt, tức là đạt được cái tri thức toàn diện, viên mãn, tròn đầy; đạt được cái chân lý tối thượng làm nền tảng cho mọi sinh thành, diễn biến vận hành của vũ trụ, nhân sinh, tóm lại đạt được cái Sự Sáng của Thượng Đế. 

 

Giải thoát bằng cái Tâm bát nhã là cách giải thoát toàn bích nhất, nhưng vô cùng khó khăn, vì không chỉ do công phu tu chứng để sống với cuộc đời trong từng giai đoạn, trong từng hoàn cảnh, mà phải hiểu được lẽ Đạo và sống theo lẽ Đạo. Cái Tâm bát nhã, ứng vào hiện hữu nhân sinh không phải để an phận thủ thường, giao phó hết cho Phật, Chúa, Đất Trời, cũng không phải chỉ “thương người, không gây tai họa cho người” mà còn là hành động để cải tạo cuộc đời. Vì thế mà Chúa Giê-Su chịu tuẫn nạn trên cây Thập tự, Phật Thích Ca rời bỏ Niết Bàn để sống cùng cõi thế. Hành động theo cái Tâm bát nhã nhiều khi phải nghịch lý, nghịch hành nhằm đưa cuộc đời diễn biến thuận hành cùng lẽ Đạo huyền vi để giải thoát cả chủng loại. Điều này quả thật khó khăn. 

 

Nhìn chung, tất cå các quan điểm giải thoát trên đều có phần tích cực, đặc biệt là giải thoát bằng cái Tâm bát nhã, nhưng tựu trung chỉ có tác dụng giải được cái nghiệp riêng của từng người chứ không giải thoát được cái nghiệp chung của chủng loại. 

 

Ngoại trừ giải thoát bằng cái Tâm bát nhã, mọi cách giải thoát khác còn nằm trong vòng đối đãi nhị nguyên, còn phân biệt “Tâm-Vật, Linh hồn - Thể xác, ...” hoặc “Lý trí - Tình cảm”, “Tâm linh - Cơ năng”. 

 

Dĩ nhiên, cũng có một số người đạt đến mức độ giải thoát bằng các cách trên (những thiền sư, những vị thánh, một số nhà đạo đức, nghệ sĩ, khoa học, chánh trị, cách mạng...) nhưng nhìn ra số người này quá ít và tác dụng đối với đời, đối với chủng loại còn giới hạn. Những Thích Ca, Giê-Su, Lão Tử, Trang Tử... cùng một số Bồ Tát, Thiền Sư, một số Triết gia, Nghệ sĩ... đạt được cái Tâm bát nhã, thấu hiểu lẽ Đạo, và mơ màng nói rõ lẽ Đạo cho nhân sinh, qua các cách lập ngôn u mật, nhưng tại sao chẳng giải thoát được cuộc nhân sinh đày đọa, nhầy nhụa, luôn luôn bị vô minh vây phủ? Đấy là do cái huyền nhiệm của lẽ Đạo. Đạo bao giờ cũng có đấy nhưng chỉ thị hiện qua từng bước đi của lịch sử sinh hóa của từng chủng loại. 

 

Tuy nhiên, nhìn vào lịch sử, ta cũng khó lòng nhận ra lẽ Đạo, vì con đường của Đạo không hiện bày rõ rệt, tường minh mà lúc nào cũng chỉ thấp thoáng, ẩn giấu, vô hình. Do đó, mà con người mãi mãi băn khoăn đi tìm một tri thức luận hoàn hảo, nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra được, dù đã có nhiều hệ thống tri thức luận rồi. 

 

Do đó, mà nhà Phật mới nói đến cái “sắc sắc không không”, cái “Chân không - Diệu hữu” và Lão Tử bảo “Đạo khả đạo phi thường Đạo” và “Đạo thường vô vi nhi vô bất vi” và Khổng Tử bảo “Vô khả vô bất khả” để đến phải “dư dục vô ngôn”. Điều này, người viết cố gắng minh giải ở phần sau. Các vị Thánh trên, đặc biệt là Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử, Giê-Su... và gần đây nhất Martin Heidegger thấy rõ con đường diễn tiến của lẽ Đạo và biện chứng giải thoát của nhân sinh như thế nào nhưng không thể nói ra minh thị vì lịch sử sinh hóa chưa đạt đến thời điểm để tất cả cùng nhìn ra lẽ Đạo. Thời điểm là giờ “xét đoán cuối cùng” trong Kinh Thánh Ki-Tô-giáo.

 

 c. Giải thoát bằng đấu tranh: 

 

Giải thoát bằng đấu tranh không dựa vào thần lực, vào cái Tâm mà dựa vào hành động thực tiễn để thay đổi số kiếp mình. Giải thoát theo cách này có nghĩa là giải phóng hơn là giải thoát, cứu rỗi. 

 

Về mặt cá thể, giải phóng có nghĩa là đấu tranh thoát vượt được trạng thái hiện hữu, nghèo nàn, thiếu thốn, tù túng, ngột ngạt, bị đọa đày, tỏa chiết, để vươn đến một cảnh sống đầy đủ, tiện nghi, sung túc, hạnh phúc hơn; một trạng thái không còn bị áp bức, vong thân, nô lệ bởi mọi thiếu thốn, gò bó của cuộc sống thường nhật, hay bởi một quyền lực nào như tôn giáo, chánh trị, hay bởi uy quyền của chủ nhân, bất công xã hội. 

 

Về mặt tập thể, giải thoát bằng đấu tranh là hành động giải phóng cả tập thể (gia đình, đất nước, dân tộc) khỏi trạng thái bị áp bức, bóc lột, bị chà đạp, bị nô lệ bởi những thế lực bạo tàn, bất nhân... 

 

Giải thoát bằng lối này hoàn toàn trông cậy vào sức người hoặc bằng phấn đấu của bản thân để cải thiện cuộc sống về mặt cá thể hoặc bằng tổ chức lực lượng hủy diệt kẻ áp bức hay chế độ áp bức. 

 

Lối giải thoát bằng đấu tranh giải phóng tập thể xuất phát từ ý thức nhân đạo hay từ quyền lợi để thay thế điều kiện sống, thay đổi dạng thái hiện hữu đương thời của tập thể. Lối giải thoát này đưa đến những hành động anh hùng và những cuộc đảo chánh, những cuộc cách mạng, hay êm dịu hơn bằng những cải cách, sáng tạo, phát minh, giúp xã hội diễn tiến qua từng trạng thái sinh hoạt, từng chế độ xã hội khác nhau. Lối giải thoát này góp phần giúp lịch sử chủng loại tiến mau và cộng nghiệp sớm được thị hiện, tuy nhiên, không hẳn bao giờ cũng vậy mà nhiều khi lại có tác dụng phản ngược. Lối giải thoát này, nhất là khi phải sử dụng bạo lực, đòi hỏi rất nhiều xương máu, rất nhiều hy sinh và gây ra chiến tranh nhỏ hay lớn giữa tập đoàn này với tập đoàn nọ, giữa quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc nọ. Lịch sử từng dân tộc cũng như lịch sử thế giới từ trước đến nay không thiếu những lối giải thoát theo lối này. 

 

3. “Đạo”, trên ý nghĩa và phạm vi cao rộng hơn nữa, không chỉ là con đường giải thoát con người và chủng loại người mà còn chung cho mọi giới, mọi loài, nghĩa là chung cho cả vũ trụ vạn vật. 

 

Vũ trụ bao gồm tất cả những gì hiện hữu - hữu hình và vô hình - đối với giác quan và lý trí, cảm thức của ta, thể hiện qua từng dạng tồn tại. Tùy theo dạng tồn tại mà ta phân biệt từng chủng loại, giới loại. Đối với những sự vật do ta chế tác, sáng tạo, cũng như những sự vật, sự việc vô hình, dạng tồn tại của chúng trước tiên do hình hài ta tạo tác ra (cái bàn, ngôi nhà, máy móc...) hoặc do danh xưng ta gán cho chúng (triết học, lịch sử, thi ca,...). Sự vật nào cũng như giới loại nào trong dạng tồn tại của mình cũng có một cuộc sống của nó trong cuộc đời chung của vạn hữu. 

 

Dòng diễn biến của từng sự vật, cũng như của từng giới loại, qua quá trình thời gian, là lịch sử của nó thể hiện cái nghiệp của nó. Nghiệp giới loại này không giống nghiệp giới loại kia, và phương thức cùng con đường giải thoát của mỗi giới loại tùy thuộc vào hoạt động tự thân của giới loại trong tác động của môi trường. Giải thoát trên phạm vi giới loại không có nghĩa là giải phóng, vượt thoát đau khổ, tội lỗi mà thăng hoa dạng tồn tại, từ bỏ dạng tồn tại cũ để bước sang dạng tồn tại mới cao hơn. 

 

Đạo, trên ý nghĩa này, vừa là căn nguyên phát sinh vạn hữu vừa là cái lý vận hành chung của vạn hữu, cái tổng nguyên lý, cái lý tối thượng, mà không một hiện thể nào, không một giới loại nào, không bị chi phối, chỉ đạo bởi nó. Đấy là cái lẽ “dịch biến”, cái qui luật tiến hóa tất nhiên và tất yếu của vũ trụ, ứng vào dòng lịch sử sinh hóa của từng chủng loại qua từng chu kỳ. 

 

Nguyên lý này là nguyên lý chung, mọi nguyên lý khác, mọi định luật, qui luật trong cõi hiện tượng, trong cõi nhân sinh, dù khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội đều nằm trong đó. Nguyên lý này là duy nhất, độc nhất, miên viễn, thường hằng, chuyển dịch mà không biến đổi, vượt ra ngoài khả năng tri thức của con người, vượt ra ngoài mọi kiểm chứng, thí nghiệm. 

 

Ta lãnh hội hay nhận thức nguyên lý chung đó bằng chiêm nghiệm, thể nghiệm, bằng cảm nhận trực quan, chứ không bằng lý trí suy luận, nên khó lòng giảng giải tường minh. Nó cặp kè và chỉ đạo dòng lịch sử sinh hóa của chủng loại, nên qua mỗi chặng đường lịch sử thuận chiều theo nó, ta càng thấy sát gần với nó hơn, cho đến lúc chung cục, lịch sử và dòng vận hành đó hội nhập vào nhau, và mỗi lần như thế là chủng loại hoàn thành một kỷ nguyên để đổi mới dạng tồn tại của mình. 

 

Nguyên lý đó là cái chân lý tuyệt đối chỉ thị hiện qua quá trình lịch sử từng chủng loại, nên không phải ngẫu nhiên mà các nhà tư tưởng, các triết gia, ngay cả các nhà khoa học, đều cho rằng mỗi bước tiến của nhân loại là mỗi bước tiến của con người đến gần với chân lý tuyệt đối. 

 

Đạo hiểu theo nghĩa này là con đường tiến hóa từ thấp lên cao của từng chủng loại, đưa chúng loại từ sinh tử sang tử sinh, từ sinh hóa sang hóa sinh, từ sai biệt sang không sai biệt, từ nhị nguyên sang nhất nguyên, từ đối cực sang bất nhị. 

 

Nếu hiểu là bổn căn thì đấy là yếu tố uyên nguyên làm phát sinh vạn vật - kể cả những công trình sáng tạo, chế tác của từng chủng loại - mà ta quen gọi qua các danh xưng: Thượng Đế, Thái Cực, Chân Như, cái Vô, cái Hữu nguyên khởi, cái Nhất thể ban đầu, l’Être fondamental, một cái nguyên khởi nào đó như lửa, khí, nước, monade, vật chất, nguyên tử, năng lực.... tóm lại là một cái MỘT dù ta dẫn giải, quan niệm ra sao. Đấy là cái Thực hữu uyên nguyên, nhà Phật gọi là cái THỂ chung cùng của vạn hữu, và tất cả vạn vật đều cùng một cái Thể đó mà sinh ra, do đó Đông phương quan niệm “Vạn vật đồng nhất Thể”. 

 

Nếu hiểu đấy là cái Lý vận hành thì đấy là cái lẽ biến dịch, con đường chuyển dịch của cái Thể đó, là con đường tiến hóa, con đường tư tưởng, cái Logos, cái Devenir-Être. 

 

Hiểu là bổn căn thì Đạo là cái “đơn nhất”, “đơn thuần”; hiểu là nguyên lý vận hành thì Đạo là “con đường”, là cái chuyển dịch đồng nhiên, như nhiên. Trong cái Đạo hiểu vừa là Bản thể vừa là nguyên lý vận hành, chuyển dịch, mỗi chủng loại, mỗi cá thể trong từng chủng loại, là một “tự tính lịch sử”, có nghĩa là tự thân vận động trong dạng tồn tại mình, qua quá trình thời gian, để trở về hội nhập trong lẽ Đạo. Dòng biến dịch của mỗi chủng loại, mỗi cá thể trong chủng loại, trong quá trình thời gian, là lịch sử của chủng loại đó, của cá thể đó. 

 

Lịch sử từng cá thể, từng tập đoàn trong chủng loại, có thể tác dụng làm trì trệ, ngưng đọng, hoặc hối thúc, đẩy đưa lịch sử tiến nhanh trên con đường hội nhập vào cái Thể ban sơ, chung cùng, cái “bản lai đồng”, tức Đạo, bằng cách thay đổi dạng tồn tại của chủng loại, từ thấp lên cao, qua từng chu kỳ biến dịch, mà trong tập này gọi là “Kỷ nguyên sinh hóa”. 

 

Ý nghĩa cuộc sống mỗi người chúng ta, và ý nghĩa cuộc sống chủng loại, chính là qua quá trình thời gian tạo nên từng không gian mới cho cuộc sống để sớm đổi thay dạng tồn tại của chủng loại, đưa đến một dạng tồn tại cao hơn, cho mãi đến ngày hội nhập trong cái Thể chung cùng của vũ trụ, tức cái Bản Lai đồng, hay cái Đạo, nói theo Ki-Tô-giáo là đến thời điểm Thượng Đế hóa. 

 

Nhưng vì cuộc sống của cá thể ngắn ngủi, giới hạn, vì nằm trong cái hữu-hạn-tính của tại thế, nên mỗi người chúng ta thường chỉ chú ý đến cái hiện hữu thường nhật, và mãi mãi băn khoăn đi tìm một ý nghĩa cho cuộc sống riêng mình, để phải gây ra bể dâu rồi quằn quại trong đau khổ, để đến lúc cuối cuộc đời lại chỉ thấy ý nghĩa mà mình tìm ra cho cuộc sống của mình lại là vô nghĩa.  

 

Trong lúc đó, chủng loại không nằm trong cái hữu-hạn-tính như thế. Sống, đối với chủng loại, không là hành trình qui tử, nên “sống” đổi với chủng loại là quá trình biến đổi dạng tồn tại; cái “chết của chủng loại là chấm dứt dạng tồn tại này để bước sang dạng tồn tại khác, ngoại trừ bị tiêu diệt hoàn toàn bởi những chủng loại khác hoặc tự mình tiêu diệt mình. Lịch sử mỗi cá thể, mỗi tập đoàn bị giới hạn bởi cái hữu-hạn-tính của nó, trong lúc lịch sử chủng loại thì miên viễn. Nhưng lịch sử chủng loại lại do chính lịch sử của cá thể và tập đoàn đun đẩy. Vì thế, không có tiến hóa của cá thể mà chỉ có tiến hóa của chủng loại. Lịch sử tiến hóa của chủng loại dài hay ngắn tùy thuộc vào ý chí tự do của cá thể, và của từng tập đoàn trong chủng loại có thuận hành cùng lẽ Đạo hay không. 

 

Qua ba ý nghĩa trên của Đạo, ta thấy ý nghĩa sau cùng bao gồm hai ý nghĩa trước; ý nghĩa thứ hai (Đạo là con đường giải thoát) minh họa cái “Dụng” của ý nghĩa thứ ba (Đạo là nguyên lý vận hành); ý nghĩa thứ nhất (Đạo đức, Đạo lý) là phần “Tướng” minh thị hóa cái “Dụng” của ý nghĩa thứ hai. Nho giáo đã diễn giảng cả ba ý nghĩa của Đạo trong ba nguyên lý căn bản, súc tích và cô đọng: 

 

Thiên mệnh chi vị Tính, 

Suất Tính chi vị Đạo,

Tu Đạo chi vị Giáo. 

 

Đạo như vậy, trong ý nghĩa cao tột của nó, phải được hiểu vừa là cái Thể ban sơ, nền tảng (mà ta thường mệnh danh qua nhiều danh xưng) vừa là con đường chuyển dịch của cái Thể ban sơ đó (mà ta cũng gọi bằng nhiều danh xưng) thể hiện qua dòng sống của chủng loại, tức lịch sử của vạn hữu nói chung, mà ta quen gọi là lịch trình hiện tượng hóa của cái Thể ban đầu, kinh qua từng chu kỳ biến dịch, để cuối cùng hội nhập vào với nó. 

 

Trong tập này, để khỏi lẫn lộn, người viết gọi là Đạo Thể để chỉ cái Thể uyên nguyên nền tảng, và Đạo để chỉ con đường chuyển dịch của cái Thể ban sơ đó vào cõi sắc giới. 

 

Đạo và Đời như thế không là hai phạm trù tách biệt, đối kháng mà gắn bó mật thiết, không bao giờ tách rời nhau. Cặp phạm trù “Bản chất - Hiện tượng” cũng chính là cặp phạm trù “Đạo-Đời”, “Bản thể - Tồn sinh”, “Thượng Đế - Vũ trụ”... 

 

Cuộc đời là tồn sinh (sinh hoạt trong một dạng tồn tại), Đạo là bản thể của Tồn sinh.

 

Đời là dòng dịch biến của vạn hữu, Đạo là ý nghĩa và động lực của sự vận hành diễn biến đó. Đời là thể hiện của Đạo thể, của Bản chất ra Hiện tượng, Đạo là ý nghĩa, tính thể và diễn biến của sự thể hiện đó. 

 

Vì để ứng dụng vào Đời, mượn Đời mà thị hiện, nên Đạo, trong phạm vi nhân sinh, thị hiện qua suốt mọi mặt hoạt động của con người: Tôn giáo, Triết học, Khoa học, Nghệ thuật, Chánh trị, Kinh tế, Lao động... Mỗi loại hoạt động của con người là một thứ ngôn ngữ của Đạo, một cách thế thị hiện của Đạo nơi cõi tại thế.