“Đạo và Đời”, đây là cặp phạm trù khó khăn, liên quan mật thiết với cặp phạm trù “Bản chất - Hiện tượng”, “Tâm - Vật”... không chỉ là vấn đề của tri thức, mà ảnh hưởng thiết thực đến cuộc sống thường nhật của con người và xã hội. Cặp phạm trù này gắn bó chặt chẽ với cuộc sống và được mỗi người - dù bất kỳ ai - luôn luôn nhắc đến. Đấy cũng là cặp phạm trù vừa bao gồm nhiều cặp phạm trù khác như “Hữu-Vô”, “Thiện-Ác”, “Quân tử - Tiểu nhơn”... vừa lý giải hết mọi sự nếu ta thực sự quán thông, liễu giải được nó.
“Đạo- Đời” hầu như không thể định nghĩa. Mọi định nghĩa đều bất túc và bất ổn, vì càng gây thêm phiền toái, rắc rối, hàm hỗn. Ta có thể cảm nhận mà khó lòng biện giải, thuyết minh. Chỉ cảm nhận thì có thể phần nào ứng dụng cho ta, khó lòng thể hiện cho người.
Nơi đây, thuận theo những cảm nhận và hiểu biết thô sơ của người viết, thử xin trình bày theo quan điểm thường nghiệm và theo những thể nghiệm của mình.
ĐỜI LÀ GÌ?
Chúng ta thường hỏi và không trả lời được. Ta thường nghe nói “yêu đời, chán đời, hận đời, thù đời, chửi đời, vui thú với đời...” nhưng hỏi ra thì nguyên nhân chỉ là những sự việc đã xảy ra hoặc đem đến cho người đó niềm vui, điều tốt, cái lợi nào đó, hoặc gây ra buồn đau, trắc trở, bất hạnh. “Sinh ra đời, vào đời, thôi thế là đi đời, chém cha cuộc đời...”, biết bao lời nói về đời nhưng thật sự chưa có một định nghĩa, một nhận thức đầy đủ thế nào là đời. Người ta quan niệm đời là món nợ, “nợ đời”, không rõ đã vay từ lúc nào, vay ra sao, vay của ai và vay bao nhiêu, mà mỗi người chỉ có trả và trả không bao giờ hết:
- Dầu sao bình đã vỡ rồi
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong! (Kiều)
- Chém cha là cái nợ đời
Nợ nguyên thủy, nợ từ trời nợ đi (N.T. - Nợ)
- Trăm năm một chuyến đò tình
Ba sinh hương lửa nợ mình nợ ta (Huy Phong - Món nợ ba sinh)
Biết bao lời thơ, lời văn, cách nói nhắc đến đời, miêu tả cuộc đời, phần lớn cay cú, buồn đau, ta thán, nhưng cái nhận thức về đời mỗi người mỗi khác, vì đời người này hầu như khác với đời người kia, dù đôi lúc vẫn có những trường hợp, cảnh ngộ giống nhau. Hầu như chẳng một ai thỏa mãn, bằng lòng với cuộc đời mình nếu không là thái độ tự an ủi. “Ăn đời, ở đời, phấn đấu với đời, xây dựng cho đời, làm đẹp cuộc đời...”, bao nhiêu lo lắng, bao nhiều nghĩa vụ đối với đời. “Đời là bể khổ”, nhận thức xuất phát từ Diệu đế thứ nhất của nhà Phật từ xưa đã thành chân lý. Tuy nhiên, lâu nay chỉ có nhận thức về tính chất cuộc đời chứ chưa có nhận thức về bản chất, về ý nghĩa cuộc đời.
Trước khi đi đến một cái “hiểu” tương đối rõ ràng về cuộc đời, thiết tưởng nên miêu tả cuộc đời trong cái nhìn chung chung mà mọi người đều chấp thuận, vì là những sự kiện có thật đã xảy ra trong “cuộc đời” mỗi người từ xa xưa đến nay.
Mỗi người chúng ta bồn chồn lo lắng, tận tụy cần cù làm việc này, việc nọ, trù tính chước nọ, chước kia, phấn đấu cách này cách nọ, trước tiên để lo nuôi sống bản thân mình: cái ăn, cái mặc, cái ở, cái đi đứng, cái nghỉ ngơi, cái tiêu khiển, làm tình...
Chúng ta lo liệu trăm bề, lao tâm khổ trí làm sao cho những nhu cầu đó ngày càng được đầy đủ, thỏa mãn, dồi dào, càng được tiện nghi, sung sướng.
Chúng ta còn lo lắng làm sao cho không thua sút người ta, bằng người, hơn người, không bị ai qua mặt, chê bai, ghét ghen, giận hờn, không để bị ai coi thường, hạ nhục.
Chúng ta cố sao tranh thủ được mọi người thương yêu, quí mến, đề cao, trọng vọng... Chúng ta mong ước được giàu sang, phú quí, chức trọng quyền cao, tiếng tốt, tài năng, phẩm giá trội vượt hơn người...
Chúng ta còn phải lo đề phòng tai nạn, rủi ro, bất trắc, thất nghiệp, bịnh hoạn, già nua; tránh né, đối phó, đương đầu với kẻ xấu, người gian cướp giựt của ta, làm hại thân ta, bôi xấu phẩm chất ta.
Chúng ta hàng ngày phải tiếp xúc với đủ mọi hạng người, ganh đua, tranh đấu, hợp tác, đoàn kết, nương tựa nhau trong công ăn việc làm, trong hoạn nạn tai ương, trong mưu cầu sinh lợi... để rồi nào thương, nào yêu, nào giận, nào hờn, nào ghét ghen, đố kỵ, nào quí trọng, thân sơ, nào vui buồn, thù hận, nào cô đơn, thảng thốt, xấu hổ, kiêu ngạo, tin tưởng, nghi ngờ; nào ta tự cao, tự đại, tự mãn, tự hào, tự ti, tự kỷ; nào khổ đau, thất tình, thất chí, thất nghiệp, thất thân; nào niềm thương, nỗi nhớ, điều phiền, ưu tư khắc khoải, rẫy rụa, bất an...
Chúng ta còn phải lo học hành, trau dồi kiến thức, khả năng, kinh nghiệm, học hỏi cách xử thế, giao du.
Chúng ta còn bao nhiêu trách nhiệm nuôi cha, nuôi mẹ, nuôi vợ, nuôi chồng, nuôi con, nuôi cháu, tương trợ bạn bè, giúp đỡ kẻ này người nọ...
Chúng ta còn phải chu toàn bao nhiêu bổn phận, trách nhiệm: đóng thuế, nghĩa vụ công dân, bảo vệ gia đình, tổ quốc, dòng họ, quê hương, đồng bào... Nào việc nước, việc dân, giúp ích cho đời, hy sinh cho người, đấu tranh cách mạng, hiến đời cho lý tưởng, vào tù ra khám, bị bắt bị đày...; xử sự đúng lễ nghi, tuân thủ mọi điều răn, giới cấm; trách nhiệm với quá khứ, với tương lai, bổn phận với Trời, với Đất, với Chúa, với Phật, với Thượng Đế, với lịch sử...
Tất cả những cái đó và còn bao nhiêu nữa không thể nào kể hết, cấu tạo nên cuộc đời, cuộc sống. Mỗi việc như thế, dù là ý nghĩ, tình cảm, hành động, thái độ, cử chỉ, ngôn ngữ..., dù do ta hay do bên ngoài đến với ta, dù ta tự nguyện hay bị cưỡng bức, dù đem lại điều hay, cái lợi, vui mừng, hạnh phúc, thành công, tiếng tốt hay gây cho ta bất trắc, hoạn nạn, rủi ro, đau buồn, thất bại, nhục nhã...; dù gì thì gì, dù ra sao thì ra, mỗi sự việc như thế đều là một biểu hiện của ta trong cuộc đời, một thể hiện của cuộc đời đến với ta trong từng phút giây hiện hữu.
Cuộc đời như thế là một chuỗi kết tập tất cả những thể hiện của nó và của ta trong khoảng thời gian ta sống trên mặt đất này, trong môi trường thiên nhiên và xã hội. Cuộc đời là một trạng thái luôn luôn thay đổi, không thể định danh, định tính, định hình, định nghĩa một cách dứt khoát, thể hiện qua từng dạng hiện hữu nối tiếp nhau của mỗi người, của mỗi hiện thể trong quá trình tại thế. Hiểu như thế, cuộc đời của mỗi người - nếu muốn nói thế - chính là lịch sử của người đó vậy.
Cuộc đời và cuộc sống khác nhau chăng? Mỗi sự việc ta gây ra hay đón nhận từ bên ngoài - như đã nói - là một cách thể hiện của cuộc đời đối với ta. “Sống” là từng cách thể hiện cuộc đời. Cuộc đời và cuộc sống, ta thường xem hai từ này đồng nghĩa, thực sự có đôi chút khác nhau.
Từ “sống” ghép chung với từ “sự” hay “cuộc” trở thành danh từ. “Sự sống”, một danh từ chỉ sinh hoạt hữu cơ đối lập với “sự chết”. “Cuộc sống” được hiểu là “cuộc đời” theo ý nghĩa thông thường. Tách riêng ra thì “sống” là động từ chỉ hoạt động của hiện hữu, của hiện thể.
“Cõi đời”, “cõi sống” tức cõi thế gian hay môi trường sinh hoạt của hiện thể.
“Ra đời” tức là sinh ra, góp mặt hiện diện với mọi hiện thể khác, với mọi người.
“Vào đời” tức là đến thời điểm đủ mức độ trưởng thành về sức khỏe và tri thức để tự mình lo cuộc sống của mình, tự mình trách nhiệm về cuộc sống của mình.
“Lìa đời, qua đời, từ giã cuộc đời” tức là chết, nghĩa là từ biệt cõi sống, giã từ trạng thái hữu cơ để về lại với vô cơ.
Cuộc sống là thể hiện của cuộc đời trong cõi tại thế cho từng hiện thể hay cho từng chủng loại. “Sống” là từng dạng thức của Đời trong từng sát na hiện hữu. “Đời” mỗi người là dòng lịch sử của người đó. “Cuộc đời”, hiểu trên mặt cá thể là cõi hiện hữu, cõi tại thế của hiện thể (con người, súc vật, cây cỏ, đất đá...) qua muôn dạng diễn biến, từ lúc tựu thành cho đến lúc tan biến, nghĩa là từ lúc sinh ra cho đến lúc chết giữa đồng loại và giữa bao nhiêu giới loại khác. “Sống” là dạng hiện hữu đương tại; “Đời” là dòng sống luôn chuyển động, đổi thay qua quá trình thời gian từ lúc tựu thành cho đến lúc chết trong dạng tồn tại của mình.
Đời phát sinh do trường tương tác của vạn pháp do cái lý “Trùng trùng duyên khởi” theo Phật giáo. Đời chính là trường tương tác đó. Đấy là cuộc đời chung chi phối cuộc sống của từng chủng loại, từng hiện thể. Và mỗi hiện thể, mỗi chủng loại do sự tương tác đó mà tác động lại cuộc đời chung trong cuộc sống của mình để tạo nên cuộc đời riêng của mình. Do đó, dù chủng loại hay cá thể nào không sinh ra hoặc đã chết đi thì cuộc đời chung vẫn có đấy, miên viễn trong cõi sắc giới.
Tuy nhiên, dù một cá thể có chết đi, không còn sống nữa, không còn hiện diện trong cuộc đời chung, nhưng vẫn có thể góp phần tác động cuộc đời chung do những công trình (tốt hay xấu) của cá thể đó còn lưu lại nơi những cá thể kế tiếp.
Tục ngữ Việt Nam bảo “Trâu chết để da, người ta chết để tiếng”. Câu này không chỉ là lời khuyên đạo đức mà còn có nghĩa là mỗi hiện thể lúc đã chết vẫn còn lưu lại một cái gì đó cho cuộc đời. Trâu chết để lại da cho con người dùng; người ta chết đi còn lưu lại một cái “tiếng” về sau, nghĩa là lúc sống phải tạo nên một công trình, một sự nghiệp nào đó để tác động vào cuộc đời, góp phần xây dựng cuộc đời thế nào cho tốt đẹp cho mai sau, cho những người kế tiếp.
Mục đích của Đời là Sống, nghĩa là tồn tại, phát triển và tiếp nối, mỗi ngày một phong phú, đầy đủ hơn. Đấy là qui luật tự nhiên của bất kỳ hiện thể nào, khác nhau chăng là ở cách thế sống. Mục đích “sống” là đi tìm hạnh phúc cho mình, nghĩa là tạo lập mọi điều kiện thuận tiện, dễ dàng, sung mãn, thỏa mãn mọi nhu cầu và sở thích của mình, tạo cho cuộc sống của mình có một “ý nghĩa” nào đó. Cái hạnh phúc đó có thể gần gũi, bình thường trong từng dạng hiện hữu ngắn ngủi hoặc dài lâu trường đại suốt cuộc đời mình. Cái hạnh phúc dài lâu, trường đại đó tạo nên “lý tưởng” cuộc sống. Ý nghĩa cuộc đời mỗi người thể hiện nơi lý tưởng đó, do mỗi người tự vạch ra cho mình làm phương hướng dẫn đạo mọi hoạt động của mình trong cõi hoạt sinh.
Mỗi người - dù không nói ra - đều băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống, đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống của mình, ý nghĩa hạn hẹp, gần gũi hay ý nghĩa cao cả, lâu dài. Do từ ý nghĩa, lý tưởng đó mà mỗi người đề ra phương pháp, qui hoạch, sắp xếp, tìm kiếm mọi cách thế, phương tiện, điều kiện thuận lợi, thích hợp với khả năng, sở thích mình, và với mọi điều kiện bao quanh, để thực hiện được con đường mình đã nhắm.
Nhưng rồi, vào cuối cuộc đời, mỗi người đều cảm thấy cái ý nghĩa cuộc sống mình; cái ý nghĩa mà mình đã vạch ra, cái ý nghĩa cuộc đời mình đã sống, lại chỉ là “vô nghĩa”, lại chỉ là “chưa có ý nghĩa gì”, hoặc là chưa đầy đủ, chưa trọn vẹn, chưa thật sự có ý nghĩa. Từ đó cảm thấy cuộc đời mình, cuộc đời nói chung, hầu như chẳng có một ý nghĩa nào thật sự, đích thực cả.
Đấy là tâm trạng chung của lớp tuổi về già hoặc của những ai sau bao thất bại, gẫy đổ, buồn đau, bi lụy, đâm ra chán chường cuộc sống, thấy đời chỉ là ảo hóa, phù du, lẩn quẩn trong một tiết điệu hao mòn, tê tái: sinh ra, lớn lên, làm việc, đấu tranh, học hành, cưới vợ, gả chồng, sinh con đẻ cái, hoạt động mưu sinh hay dấn mình cho lý tưởng, vui phút chốc, buồn triền miên, thành công ngắn ngủi, thất bại não nề, sướng khổ, buồn đau liên tục..., rồi bệnh hoạn, già nua và... chết chóc; từ đời ông cố, ông tổ, ông cha, đến đời con, đời cháu, chắt, chít...; đời của ai rồi cũng chỉ thế, nào có ý nghĩa, ý vi, sinh thú gì đâu. Từ đó, nảy sinh cái đạo tu tiên, xuất thế, tiêu dao, phóng dật, nhàn tản, vô vi.
Cuộc sống, cuộc đời “có thực” đấy chứ nhưng rốt cuộc lại là ảo ảnh, phù du:
Cuộc đời như tự có
Cuộc đời như tự không...
(N.T. - Nếu em là mai)
Đời đáng chán hay không đáng chán?
Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm.
(Tản Đà)
Mặc đời tự có hay không
Trần gian đo đếm trải lòng theo mây
Nước trăng như chuyến đò đầy
Chở theo cơn gió heo may về nguồn.
(Huy Phong)
Mỗi người cảm thấy chưa sống hết với đời, chưa hưởng trọn cuộc đời, ước mong sống thêm để tận hưởng, hoặc để tạo thêm một ý nghĩa khác cho đời mình. Những kẻ bình thường nếu không tự an ủi, tự hào về cuộc sống đã qua, lúc đối chiếu với kẻ khác, lại cảm thấy đời mình trống rỗng, nhạt nhẽo, nhầy nhụa, chẳng có ý nghĩa gì cao quí, đích thực. Những kẻ làm nên những công trình, sự nghiệp qui mô, giúp ích mọi người, tên tuổi lưu truyền hậu thế, nếu không đủ khả năng tự tại nhận một cái chết bình an, cũng cảm thấy đời mình vô nghĩa, không có một giá trị đích thực nào. Tất cả những ngậm ngùi, cay đắng, ray rứt, buồn đau, dày vò đó kết thành “nỗi buồn hiện hữu”, “nỗi buồn tại thế”, đưa dẫn đến những thao thức, băn khoăn về ý nghĩa cuộc đời, về giá trị cuộc sống và hướng vọng đến một cảnh sống toàn thiện, toàn hảo, toàn chân qua hình ảnh Nước Thiên Đàng hay Non Nước Chúng Hương.
Đây là tâm thức “Hoài Hương Hằng Thể” (la nostalgie de l’être) lãng đãng, phất phơ theo từng bước chân con người trong cuộc sống, nhất là lúc càng tiến đến điểm cuối của cuộc đời. Sự phủ nhận thành quả - xấu hay tốt - của đời mình, sự phủ nhận giá trị và ý nghĩa - do thật lòng hay do khiêm tốn - mà mình đã đem lại cho đời mình, cho thấy cuộc đời không có một ý nghĩa phổ quát, chung nhất nào cả, mà chỉ do từng người hoạch định cho mình mà thôi. Thời đại đổi thay, lòng người đổi khác, thời gian qua đi xóa nhòa tất cả. Cái còn lại nơi tâm tư mỗi người là “nỗi buồn tại thế” của chúng sinh lãng đãng, xa gần, quanh quẩn.
Cuộc đời là “giấc mộng”, ai cũng nuôi một “giấc mộng” đó vì nó là hướng vọng của cuộc đời, là lẽ sống, là hướng lực, là ý nghĩa làm nền cho mọi hoạt động của mình. Cái cố gắng thực hiện giấc mộng đó, nghĩa là làm sao cho đời mình có ý nghĩa, biểu hiện ý chí tự do của con người, và đây là một khuynh hướng bản nhiên, một yêu cầu tự thân của hiện thể. Cái cố gắng đó là một đóng góp của mỗi người cho cuộc sống chung thị hiện. Ý nghĩa cuộc đời chung hay ý nghĩa chung của cuộc đời nằm ngay trong cái “vô nghĩa” của cuộc đời mỗi cá thể. Và cái “ý nghĩa” cuộc đời mỗi người chỉ tìm thấy nơi “ý nghĩa chung của cuộc đời chung” đó.
Cuộc đời chung chính là cuộc đời của từng chủng loại, nói rộng ra là cuộc đời của cả vũ trụ, vạn vật mà trong từng hạn kỳ ngắn ngủi của mỗi người, thu hẹp lại trong cuộc sống của từng tập thể, tập đoàn: gia đình, dòng họ, quốc gia, dân tộc... Cuộc đời chung đó có một ý nghĩa. Cái ý nghĩa của cuộc đời chung đó, hay cái ý nghĩa chung của cuộc đời, chính là “ý nghĩa của hiện hữu”, “ý nghĩa của tại thế”.
Những câu hỏi “Sống là gì, tại sao sống, sống để làm gì, sống như thế nào, phải sống ra sao...” chung qui dẫn về mối tư lự về “ý nghĩa của hiện hữu”, “ý nghĩa tại thế” mà lâu nay, mọi người, mọi ngành cố gắng tìm tòi, phát hiện, nhưng vẫn chưa có giải đáp nào thỏa đáng. Vậy, ý nghĩa chung của cuộc đời là gì? Muốn biết được phần nào, ta chỉ có thể cầu cứu đến lẽ Đạo.
Cuộc đời, hiểu trên mặt chủng loại, là cõi tại thế, cõi hoạt sinh của chủng loại trong một dạng tồn tại nhất định nào đó, giữa bao nhiêu giới loại khác. Đấy là cuộc đời chung bao trùm cuộc đời của tất cả chúng sinh cùng chủng loại. Cuộc đời chung đó có một ý nghĩa, một cứu cánh mà ta không nhìn ra.
Chúng ta thử nghĩ bao nhiêu cây cối trước mặt ta đây, trên quả đất này, trong dạng thực vật hiện nay, từ đâu đến, trước đấy ra sao, và sau này thế nào, đi về đâu, tự thân chúng nghĩ gì, cảm gì? Hỏi như thế là ta đã hỏi về ý nghĩa sự sống của chúng, về lịch sử sinh hóa của chúng. Rồi bao nhiêu tác động bên ngoài, bao nhiêu “phép thần thông biến hóa” của con người đối với chúng có ý nghĩa gì? Chúng có đấy cho ta hay cho chúng? Ta khó lòng trả lời thay cho chúng, vì chúng và ta không cùng một dạng tồn tại nên không thể biết nhau được. Cả đất đá, súc vật khác cũng thế.
Rồi đến con người. Con người, xưa nay vẫn cùng một dạng, dù có khác nhau một số điểm qua quá trình biến đổi theo thời gian. Con người đó, trước khi là “vượn người”, trước khi là Australépithèque, thì thuộc dạng nào, cuộc sống ra sao, và bây giờ liệu sẽ mãi mãi thế này, hay sẽ biến đổi ra sao, trong bao lâu, và như thế để làm gì ? Đấy là những câu hỏi thuộc suy tư triết học, mà khoa học có thể trả lời phần nào, trên một số mặt nào đấy, nhưng ý nghĩa sự sống là thế nào thì chưa giải đáp được.
Ý nghĩa cuộc sống, cuộc đời, của cá thể hay chủng loại, không thể giải đáp bằng thường nghiệm, bằng khoa học mà bằng triết học, hay đúng hơn, bằng lẽ Đạo (xin nói ở phần sau). Đời hay cuộc đời, cuộc sống, của một chủng loại dài ngắn bao nhiêu tùy thuộc vào khả năng của chủng loại sớm hay muộn thay đổi được dạng tồn tại của mình. Cuộc đời mỗi chủng loại chính là lịch sử sinh hóa của chủng loại đó.
Trong mỗi dạng tồn tại, chủng loại cũng như cá thể bị đun đẩy bởi yêu cầu thỏa mãn những thiết yếu do từ yếu tính của dạng tồn tại. Những thiết yếu đó, khởi đầu là bản nhiên, gọi là bản năng - bản năng sinh tồn - do từ tự thân của dạng tồn tại, dần dần được kết tập trong cuộc sinh hóa với những thiết yếu mới do cuộc sống trong môi trường hiện hữu giữa đồng loại và các giới loại khác tạo nên. Những thiết yếu loại hai này tạo nên những nhu cầu và sở thích (besoins et plaisirs) nơi cá thể và đòi hỏi phải được thỏa mãn theo thúc ép của thời đại và thời trang.
Sự đòi hỏi phải thỏa mãn thiết yếu, nhu cầu và sở thích, tạo nên lòng dục nơi con người. Thỏa mãn thiết yếu, nhu cầu và sở thích là cứu cánh của mọi hiện thể, nhằm duy trì và phát triển dạng tồn tại của chủng loại mình. Hạnh phúc hay đau khổ, trong ý nghĩa gần gũi nhất, do từ sự thỏa mãn được hay không được, đủ hay không đủ, mọi đòi hỏi trên.
Để thỏa mãn thiết yếu, nhu cầu và sở thích, con người phải hoạt động, phải đem năng lực mình ra tranh đấu vượt thoát, chinh phục, cải biến bản thân và điều kiện bên ngoài, để thích nghi, hài hòa với chúng, hoặc bắt chúng tuân phục, thuận hảo với ý mình, nghĩa là con người phải giải quyết mọi va chạm, xung đột, mọi mâu thuẫn giữa mình với cái toàn thể bao quanh (môi trường thiên nhiên và xã hội) bằng cách thế nào đó.
Mỗi cách thế như thế tạo nơi con người một khả năng nào đó để cải tiến cuộc sống, thoát ra mọi cảnh ngộ bế tắc, đồng thời góp phần đưa dạng hiện hữu của mình và của chủng loại chuyển biến qua từng dạng hiện hữu thấp hay cao, xấu hay tốt, lạc hậu hay tiến bộ so với trước. Mỗi một hoạt động như thế là một cách thế đấu tranh trong cuộc đời. Cuộc đấu tranh miên viễn không ngừng, lúc êm å, nhẹ nhàng, vui tươi, thuận lợi, lúc gay cấn, khó khăn, dẫy đầy bất trắc. Cuộc đời là một dòng liên tục vì không dừng lại ở một trạng thái bất di.
Có thể các sự kiện xảy ra lúc này lúc nọ tái diễn giống nhau, nhưng trạng thái hiện hữu không giống nhau; trạng thái sau khác trạng thái trước về tính chất, về mức độ, về hình thức và nội dung, dù các sự kiện của cả hai trạng thái không khác nhau gì mấy. Nỗi buồn hỏng thi, niềm đau thất tình, cơn lo thiếu gạo, nỗi đau bệnh hoạn, niềm vui được mùa, thất bại trong chiến tranh, thành công về khoa học..., tất cả tuy có lập đi lập lại những sự kiện giống nhau nhưng trạng thái con người có khác trong những điều kiện của môi trường có khác với trước ít hay nhiều.
Nhìn chung, cuộc sống của con người, của tập đoàn, vẫn loay hoay trong một vòng tròn lẩn quẩn vì miên man phải đấu tranh thỏa mãn những thiết yếu, nhu cầu và sở thích, mỗi lúc một nhiều thêm, mỗi lúc một đa diện và phức tạp hơn. Cuộc đời là trường tương tác liên miên bất tận giữa vạn pháp, luôn luôn tác động vào con người và cuộc sống của nó, ngược lại mỗi người cũng luôn luôn tác động vào môi trường hiện hữu nên cuộc sống, cuộc đời biến diễn thiên hình vạn trạng, không ngừng nghỉ.
Do sự tương tác thường trực đó nên cuộc sống con người không mấy khi được bình lặng, yên ổn lâu dài. Vui thỏa, bằng an hay hạnh phúc chỉ là những phút giây thoáng qua, ngắn ngủi, do tự an ủi mình, hoặc do đối chiếu với kẻ khác kém hơn, hoặc với ngày qua thiếu hụt, khổ đau. Mỗi trạng thái văn minh, tiến bộ lại làm phát sinh bao nhiêu thiết yếu, nhu cầu và sở thích mới, nên lại phải đấu tranh trong những điều kiện mới. Nhu cầu tiếp diễn không ngừng nên đấu tranh phải liên miên, bất tận. Một tự hạn chế nào đó để không bị thiết yếu, nhu cầu và sở thích lôi kéo, cám dỗ, có thể đem lại trạng thái bình an, tự tại, do thái độ “tri túc”, nhưng rồi cũng mong manh, giai đoạn; vả cứ như thế thì xã hội cùng chủng loại không có điều kiện và khả năng tiến lên.
Sống là tranh đấu, nên đời là trường cạnh tranh sinh tồn miên viễn, luôn luôn thay đổi, qua từng trạng thái phù du, bất định, tạm bợ, vô thường. Vì tính cách vô thường đó mà đời là bể khổ, đời là giấc mộng, đời là một phiêu lưu vào hiểm họa, đời là một cuộc “liều”, cuộc liều sinh tử. Cuộc đời của kẻ nào cũng là gãy đổ, tang thương, cùng thất bại liên tục; nói theo Karl Jaspers: “Thất bại chỉ có với tồn sinh” (Il n’y a d’échec que pour l’existence).
Vì tính cách vô thường đó nên một triết gia hiện sinh đã gọi con người là “một đam mê vô ích”. Con người luôn luôn bơi lội trong đấu tranh, trong nghèo nàn, thiếu thốn, trong khổ cực, lo âu, thảng thốt, cô đơn, phiền muộn.
Thân phận con người là như thế. Do đâu con người đau khổ? Do đâu cuộc sống vô thường? Ta có thể trả lời bằng mọi cách thông thường lâu nay: do lòng dục, do ta không biết giữ cái tâm trong sáng, do Thượng Đế an bài, do cái tội tổ tông, do xã hội áp bức, bất công, do trường tương tác miên viễn giữa vạn pháp, qua thiên biến vạn hóa của vạn hữu...
Mọi trả lời không giải đáp trọn vẹn thắc mắc của chúng ta. Không truy tầm ra nguyên nhân đầu tiên gây ra đau khổ cho con người và cuộc sống của nó, thì chúng ta vẫn mãi mãi lẩn quẩn trong cuộc sống nhầy nhụa, và bao nền triết học, chủ nghĩa thay nhau ra đời cũng chỉ để đày đọa con người thêm thôi.
Tìm ra được nguyên nhân đầu tiên gây đau khổ cho con người, đã buộc con người chìm nổi trong vô thường, bất trắc, ta mới xác nhận được ý nghĩa cuộc đời, và mới giải thích được dòng diễn biến sinh hóa của vạn hữu, từ đó điều chỉnh được tư tưởng, hành động của ta cũng như biết tổ chức xã hội thế nào để cuộc sống mỗi người và của toàn thể có sinh thú, có ý nghĩa, hướng về một cứu cảnh tốt đẹp.
Tìm ra được nguyên nhân đầu tiên gây ra đau khổ, ta mới hiểu được cái huyền nhiệm của lẽ Đạo, huyền nhiệm không là cái gì bí mật, bất khả tri, mà là “cái không thể hiểu được rõ, không thể nói ra một cách minh thị, tỏ tường”.
Lão Tử đã nói hộ chúng ta điều đó. Thánh nhân xưa đã cảm nghiệm sâu sắc lẽ Đạo huyền nhiệm, đã cho ta thấy rõ không phải cái bất lực mà là cái “bất túc” của tri thức, của ngôn ngữ chúng ta gây ra vấn nạn đó.
Đạo khả đạo phi thường đạo
(Đạo Đức kinh)
Tất cả các triết thuyết, ngay cả các tôn giáo, cũng không hề nói rõ do đâu con người đau khổ, do đâu “đời là bể khổ”. Các thánh nhân như Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử, Jésus... không nói rõ hay chỉ nói bóng gió, nói chệch đi, vì lẽ “không được nói ra, không nên nói ra” để chỉ đề cập đến một cái lý mơ hồ như “tội tổ tông, nghiệp báo, lòng dục...”, và chỉ dẫn chúng ta về lẽ Đạo qua những thuật ngữ mù mờ, khó hiểu, làm điên đầu chúng ta, như “sắc không, diệu hữu chân không, lý nhất quán, vô vi,...”, Trong Đạo Đức kinh, Lão Tử có nói đến nguyên nhân đầu tiên gây đau khổ cho con người nhưng chỉ phớt qua, chúng ta không hề để ý.
Trước khi đề cập rõ ràng vấn đề này, xin đi vào chủ đề của chương này trước.
Như đã nói, thiết yếu không ngừng càng lúc càng gia tăng, thúc bách theo đà cuộc sống cá nhân và chủng loại, nên dù tranh đấu đến bao nhiêu, con người cũng như tập đoàn không bao giờ có thể thỏa mãn trọn vẹn mà còn tạo thêm đau khổ cho nhau. Những tích lũy thiết yếu trong hình thái hiện hữu trước là gánh nặng và động lực cho hình thái hiện hữu sau, và cứ thế tiếp diễn không ngừng. Tất cả những thiết yếu, nhu cầu và sở thích đó, cùng sự đòi hỏi, thôi thúc phải thỏa mãn chúng, cùng những khác biệt nơi từng cá thể, nơi chủng loại, với những tác động qua lại trong môi trường sinh hóa, tạo nên cái “Nghiệp” của cá thể và chủng loại. Nghiệp của cá thể là nghiệp riêng, biệt nghiệp; nghiệp của chủng loại là nghiệp chung, cộng nghiệp, tức cái tội Tổ Tông nơi Kinh Thánh Ki-Tô giáo.
Nghiệp, theo định nghĩa ban đầu là hành động (32). Hành động hay hoạt động đấu tranh, tức là sử dụng năng lực mình vận động để thích ứng hay vượt thoát từng trạng thái hiện hữu trong từng sát na tại thế. Hành động là nguyên nhân làm biến đổi cuộc sống, đưa dạng tồn tại diễn biến qua muôn vàn hình thái hiện hữu. Do đó, “Nghiệp” là chuỗi dài biến cố phát sinh do từ hành động của ta và do tác động của môi trường. Nghiệp, trong quá trình diễn biến đó là lịch sử cuộc sống mỗi người, mỗi chủng loại.
Nghiệp chính là cuộc sống; sống là mang lấy nghiệp, tức là phải chịu đựng, bị chi phối bởi cái Tội Tổ Tông, không hiểu do từ đâu đã định sẵn cho mình. Nghiệp là cuộc sống của ta vì hình thành ngay từ lúc ta hiện thế, do ta gây nên, ngoài cái nghiệp do bên ngoài đổ vào cho ta. Cái nghiệp bên ngoài là cái nghiệp của kẻ khác, cùng cái nghiệp của chủng loại và của cả vạn hữu, tức là những hành động và tác động của xã hội và thiên nhiên đối với ta.
“Đời” chính là trường tương tác giữa các nghiệp, là trường diễn biến của nghiệp nói chung. Bất kỳ thứ gì, đã là hiện thể (tại thế trong một dạng tồn tại nhất định) thì đều mang lấy nghiệp: lá cây, ngọn cỏ, hạt bụi, giọt sương, tia nắng, con ong, cái kiến, gió, nước, con người, trái tim, sợi tóc, quyển tập, cây bút, ngôi nhà, xưởng máy; triết lý, thi ca, nghệ thuật, khoa học... Đã có hình hài, sắc tướng hoặc có danh xưng thì là có sự sống và đã có sống là có mang lấy nghiệp.
Cái nghiệp nơi ta thể hiện qua hành động của ta: ý nghĩ, hành vi, động tác, ngôn ngữ, tâm trạng, cử chỉ, thái độ..., chịu tác động của các nghiệp riêng khác và cái nghiệp chung của chủng loại cùng với cái nghiệp của vạn hữu. Ta không rõ được cái nghiệp của ta cũng như nghiệp của kẻ khác, và càng không rõ hơn nghiệp của chủng loại và của vạn hữu.
Nghiệp tác động ta thế nào, thể hiện ra thế nào, ta không rõ hay chỉ rõ sau khi kiểm điểm lại một sự vụ gì đã xảy ra: một lầm lỡ, một bất trắc, một điều may, một niềm vui... Mà dù có biết, ta cũng khó lòng ngăn cản được nghiệp thị hiện, chẳng hạn biết “yêu” là khổ mà vẫn phải yêu, ham thích yêu nhiều, đeo đẳng việc yêu. Vì như đã nói, sự đòi hỏi thỏa mãn thiết yếu, nhu cầu và sở thích tạo nên lòng dục, và lòng dục là động cơ của hành động để từ đó gây nên nghiệp, tạo điều kiện cho nghiệp thị hiện.
Tuy nhiên, nhìn qua hình thái cấu trúc, tâm tính cùng diễn biến đã qua của cuộc sống, của lịch sử, ta có thể đoán, dù không chính xác, diễn biến sắp tới của nghiệp từng người hay của một tập đoàn nào đó (cuộc sống sắp tới của một người, lịch sử ngày mai của một dân tộc). Do đó mà có khoa xem tướng, xem chỉ tay, bói tử vi...
Do đâu có nghiệp? Nghiệp do hành động, hành động do lòng dục, lòng dục do yêu cầu của dạng tồn tại. Dạng tồn tại là gì? Xin chưa nói nơi đây.
Ta là trò chơi của nghiệp. Hiện hữu là trong nghiệp. Cõi đời là trường “hý lộng” của nghiệp. Ta gọi là số kiếp, là định mệnh nghĩa là một an bài tiền định, tất yếu. Hầu như không có nghiệp tốt. Nghiệp thường chỉ xấu, khắt khe, tàn nhẫn vì - như đã nói - ta phải luôn hành động, đấu tranh để với bắt, thỏa mãn thiết yếu, nhu cầu và sở thích. Do lòng dục thỏa mãn những thứ đó mà nghiệp của mỗi người thường chỉ xấu, nghĩa là cuộc sống mỗi người luôn luôn phải truân chuyên, đày đọa, đau khổ. Do đó mà Phật Thích Ca luôn luôn khuyên ta phải “diệt dục” để thoát đau khổ, và Chúa Giê-Su khuyên ta phải “giấu của cải trên trời chứ không giấu của cải dưới đất”.
Vì nghiệp thường chỉ xấu, cuộc đời vốn đau khổ nên Nguyễn Du, qua tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh, đã nói lên cái trớ trêu, nghịch cảnh, nghịch lý giữa ý muốn con người với cuộc đời nói chung:
Đoạn trường là sổ thế nào
Bài ra thế ấy vịnh vào thế kia!
Thế cõi đời là vĩnh viễn đau khổ sao? Cuộc đấu tranh miên viễn của con người và chủng loại sẽ dẫn cuộc sống, cuộc đời về đâu? Ý nghĩa cuộc sống, cuộc đời ra sao? Làm sao dứt được nghiệp? Làm sao giải được nghiệp? Con người có thể đổi từ nghiệp xấu sang nghiệp tốt được không? Trả lời những câu hỏi đó, có hai cách.
Một là “chết”. Chết bằng tự hủy hay bởi duyên cớ nào khác: già nua, bệnh tật, kiệt mòn thân xác, bị tai nạn chết người hay bị kẻ khác giết, tóm lại là không còn hình hài cấu trúc nữa. Giải pháp này chẳng ổn tí nào vì không ai thích chết. Mà chết cũng là do nghiệp, ý chí ham sống cũng là do nghiệp.
Hai là “hóa giải nghiệp”, nghĩa là chuyển nghiệp thành phi nghiệp, nghĩa là thoát khỏi luật nhân quả, thoát khỏi mọi chi phối, bủa vây của nghiệp, nghiệp riêng cũng như nghiệp chung. Liệu ta có khả năng này không? Có nhưng khá khó khăn. Con người có thể giải thoát được cái nghiệp của mình bằng ý chí tự do nơi mình nếu biết sống Đạo.
Trước tiên, theo như Đạo Phật, ta phải “diệt dục”, nhưng như thế, ta có thể giải thoát được phần nào cái nghiệp riêng của mình chứ không thể giải thoát được cái nghiệp chung của chủng loại và ta vẫn bị cái nghiệp chung kia chi phối. Và nếu chỉ theo cách này thì hành động của ta có thể đem lại cho ta “niết bàn” trong từng khoảnh khắc, cái “bình an trong Chúa”, có thanh thản bình an nhưng rồi cũng sẽ mất, vì cái nghiệp chung không thể buông tha ta, vả lại, ta không thể ứng dụng vào nhân sinh xã hội.
Muốn giải thoát dược cả nghiệp riêng và nghiệp chung, ta phải sống Đạo. Ta phải cầu cứu đến Đạo vì chỉ có Đạo mới chuyển nghiệp thành phi nghiệp. Nhưng Đạo không là vị thần ban phép lạ cho ta, mà do ta có biết hảo hợp, hài hòa với Đạo hay không. Đạo không chỉ hóa giải cái nghiệp riêng của từng cá thể mà còn hóa giải cái nghiệp chung của chủng loại, để đổi thay dạng tồn tại của chủng loại. Chính do hóa giải nghiệp chung của chủng loại mà Đạo định ra ý nghĩa cuộc sống từng cá thể, và do ý nghĩa đó mà mọi đấu tranh khắc phục cái nghiệp của riêng ta lại thuận hảo với cái nghiệp chung của chủng loại.
Để hiểu được điều này, ta phải hiểu sơ qua thế nào là Đạo và sự thị hiện của Đạo trong cuộc đời của ta và của chủng loại như thế nào?