A. KHÁI NIỆM VỀ KỶ NGUYÊN
NHỮNG PHÂN KỲ KỶ NGUYÊN TRƯỚC NAY:
Những câu hỏi đầu tiên nêu ra: kỷ nguyên là gì? Độ dài một kỷ nguyên là bao lâu? Nó bắt đầu từ lúc nào và chấm dứt vào lúc nào. Căn cứ vào đâu để định ra những tiêu mốc đó? Sự phân định kỷ nguyên do tưởng tượng hay căn cứ trên nhüng qui luật tiến hóa nào? Dựa vào đâu để biết ta đang ở vào thời kỳ đầu hay giữa hay cuối kỷ nguyên?
Thật sự không có những giải đáp thỏa đáng cho những câu hỏi trên. Chưa có một lý thuyết hay sách vở nào nói rõ dứt khoát về những điều đó. Từ “Kỷ nguyên” lâu nay được dùng lẫn lộn với các từ “Nguyên đại” hoặc “Thời kỳ” và đôi lúc với từ “Giai đoạn” trong nhiều lãnh vực.
a/ VỀ MẶT LỊCH SỬ:
Căn cứ trên quá trình phát triển của xã hội nhân loại, người ta phân chia lịch sử thành nhiều kỷ nguyên hay thời đại, thời kỳ, giai đoạn. Chẳng hạn, các sử gia Mác- xít đã phân kỳ lịch sử trên sự thay đổi phương thức sản xuất, trên các hình thái kinh tế xã hội trên thế giới cũng như trong từng nước tương ứng với phương thức sản xuất trong từng thời kỳ. Tiêu mốc của sự phân chia đó là đấu tranh giai cấp vì theo quan điểm kinh tế chánh trị học của chủ nghĩa Mác thì đấu tranh giai cấp là động lực làm biến đổi xã hội và phản ảnh lịch sử của sự thay đổi phương thức sản xuất. Theo họ thì lịch sử loài người từ trước tới nay đã phát triển qua bốn kỷ nguyên, hay bốn thời kỳ:
1. Thời kỳ Cổ Đại với ba hình thái xã hội: Cộng sản nguyên thủy, công xã thị tộc và chiếm hữu nô lệ.
- Thời kỳ Cộng sản nguyên thủy tương ứng với tổ chức sinh hoạt của bầy người nguyên thủy từ một triệu đến một vạn năm trước công nguyên tùy mức độ tiến nhanh hay chậm ở mỗi địa phương.
- Thời kỳ Công xã thị tộc từ 10.000 năm đến 1.000 năm trước công nguyên, căn cứ trên các hình thái Nhà nước ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc.
- Thời kỳ chiếm hữu nô lệ bắt đầu từ lúc đồ đồng chuyển sang đồ sắt khiến sản xuất phát triển tạo ra nhiều hàng hóa và hình thức trao đổi hàng hoá phát sinh thương nghiệp, đưa đến phân công giữa nông nghiệp và thương nghiệp (thương nhân tách rời sản xuất để lo dịch vụ), từ đó hình thành tư hữu và xã hội thành giai cấp, nhà nước xuất hiện. Chế độ chiếm hữu nô lệ thành hình ở phương Tây, kéo dài 800 năm đến 1000 năm trước công nguyên và tồn tại đến năm 476 sau công nguyên cùng với sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã.
Kỷ nguyên (hay thời đại, thời kỳ) với ba hình thái xã hội trên còn được gọi chung là thời tiền sử hay thời kỳ lịch sử chưa thành văn, bắt đầu từ lúc loài người xuất hiện (cách đây trên một triệu năm) cho đến năm 476 sau công nguyên. Tại Việt Nam, thời cổ đại hay thời đại nguyên thủy được xem là quá khứ không xa lắm, khoảng 5000 năm (1)
2. Thời Trung Đại tương ứng với phương thức sản xuất phong kiến, bắt đầu từ năm 476 đến năm 1640 sau công nguyên thì chấm dứt với sự kiện lịch sử: cuộc Cách mạng Tư sản ở Anh quốc. Thời Trung Đại như thế là dài 1164 năm.
3. Thời Cận Đại tương ứng với phương thức Tư bản chủ nghĩa, bắt đầu từ cuộc Cách mạng Tư sản ở Anh năm 1640 và kết thúc vào năm 1917 do sự kiện lịch sử: Cách mạng Tháng 10 Nga. Thời Cận Đại như thế kéo dài 277 năm.
4. Thời Hiện Đại tương ứng với phương thức sản xuất Xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ Cách mạng vô sản Nga 1917 mãi đến nay.
Trên đây là phân kỳ lịch sử nhân loại theo quan điểm Mác-xít. Ở đây không bàn đến việc đúng sai của sự phân chia lịch sử đó. Các sử gia phương Tây cũng đã phân chia lịch sử loài người theo từng thời đại: thời kỳ Antiquité, Moyen Age, Moderne, Contemporain nhưng không căn cứ trên phương thức sản xuất.
b/ VỀ MẶT NHÂN CHỦNG HỌC, ĐỊA CHẤT HỌC, KHẢO CỔ HỌC:
Dựa trên những công trình khảo cổ, trên các lý thuyết tiến hóa và bằng những phương pháp khoa học, cơ sở trên sự cấu tạo của các chất đất lắng (sédimentation), trên hiện tượng phản xạ (radioactivité) của uranium, hélium và carbone 14 (carbone đồng vị), người ta chia lịch sử vạn vật và lịch sử loài người thành kỷ nguyên hay nguyên đại cùng hạn kỳ của mỗi nguyên đại đó. Mỗi nguyên đại lại gồm nhiều thời kỳ. Ta có thể tóm tắt như sau:
* Về tiến trình xuất hiện và tiến hóa của trái đất và vạn vật. Người ta chia năm kỷ nguyên:
1- Kỷ nguyên Tiền hàn vũ hệ (ère antécambrienne) từ 2 đến 8 tỷ năm với sự xuất hiện những nham thạch không vật hóa thạch (fossile); sự sống xuất hiện dưới dạng đơn bào ở nước biển, những nguyên sinh động vật, những hải miên (éponge).
2- Kỷ nguyên Thứ nhất (Đệ nhất kỳ địa tầng: ère primaire) từ 300 đến 360 triệu năm gồm 5 thời kỳ:
- Cambrien (60 triệu năm),
- Allurien (100 triệu năm),
- Devonien (50 triệu năm),
- Carbonifère (60 đến 80 triệu năm),
- Permien (50 triệu năm),
lần lượt xuất hiện những động vật không xương sống: loại nhuyễn thể (ốc, sò...), những loại cá và cây đầu tiên: rừng, cá, bò sát, sâu bọ...
3- Kỷ nguyên Thứ hai (Đệ nhị kỳ địa tầng: ère secondaire) từ 300 đến 360 triệu năm với sự xuất hiện các loài khủng long, các loài chim có răng, các loài có vú đầu tiên cùng với sự diệt vong hai loài trước và sự phát triển của loài chim và loài có vú.
4- Kỷ nguyên Thứ ba (Đệ tam kỳ địa tầng: ère tertiaire), 60 triệu năm gồm thời kỳ Paléogène (40 triệu năm), Néogène (20 triệu năm) với sự xuất hiện các loài có vú.
5- Kỷ nguyên Thứ tư (Đệ tứ kỳ địa tầng: ère quaternaire) độ 1 triệu năm gồm thời kỳ Pléistocène (950.000 năm), Holocène (6 đến 10.000 năm) với sự xuất hiện loài người đầu tiên rồi người hiện nay.
* Về sự xuất hiện và phát triển của loài người, diễn trình gồm 5 kỷ nguyên hay niên đại:
1- Kỷ nguyên Plyocène (Tiền tâm thế) từ cuối Đệ tam kỷ nguyên đến 700.000 năm, loài người chưa xuất hiện.
2- Kỷ nguyên Pléistocène inférieur (Thượng hồng tích kỳ) từ 700.000 năm đến 500.000 năm, loài người dạng Australépithèque.
3- Kỷ nguyên Pléistocène moyen (Trung hồng tích kỳ) từ 300.000 năm đến 150.000 năm với loài người dạng Pithécanthrope néandertalien.
4- Kỷ nguyên Pléistocène supérieur (Hạ hồng tích kỳ) từ 150.000 năm đến 10.000 năm với sự xuất hiện loài người Homo sapien fossilis.
5- Kỷ nguyên Holocène (Hiện đại) từ 10.000 năm đến nay với con người Homo sapien.
c/ VỀ MẶT CHẾ TÁC DỤNG CỤ (HAY KỸ NGHỆ):
Người ta cũng chia ra nhiều nguyên đại hay thời kỳ. Chẳng hạn vào thời kỳ tiền sử (thời đệ tứ kỷ nguyên), người ta chia ra:
1. Thời kỳ đồ đá cũ hay đồ đá đẽo (Paléolithique) kéo dài hàng triệu năm tương ứng xấp xỉ với kỷ nguyên Pléistocène của các nhà địa chất học. Con người lúc bây giờ sống đồng thời với giống mammouth và tê giác trong thời đại băng hà.
Thời đại đồ đá cũ còn được phân chia ra sơ kỳ, trung kỳ, hậu kỳ đồ đá cũ. Dụng cụ lao động lúc bấy giờ là những hòn đá cuội được ghè đẽo, có một cạnh sắc hay mũi nhọn tạo nên nền văn hóa đá cuội hay kỹ nghệ đá đẽo. Công cụ này mỗi lúc một tiến bộ trải qua nhiều giai đoạn: giai đoạn Challáenne, Lévaloisienne, Moustérienne, Aurignasienne, Solutréenne và cuối cùng là giai đoạn Madalénienne, rồi dụng cụ bằng xương thay dần dụng cụ bằng đá.
2. Thời kỳ đồ đá giữa (Mésolithique) vào giữa cuối kỷ nguyên Pléistocène và bắt đầu kỷ nguyên Holocène, cách ta ngày nay trên dưới 10.000 năm, lúc thời đại băng hà chấm dứt, khí hậu trở nên ấm áp, động vật và thực vật đông đúc hơn. Nước do băng hà tan ra khiến con người không ở trong hang động mà ra ngoài làm lều ven các ao hồ, mở đầu cho canh nông và chăn nuôi.
Thời đại đá giữa bắt đầu cùng với sự xuất hiện và truyền bá cung tên, kết thúc với việc phát minh ra đồ gốm. Công cụ đá thông dụng của thời kỳ này là những đồ đá nhỏ dùng làm mũi tên, dùng tháp vào cán gỗ và xương dùng làm nhiều dụng cụ khác.
3. Thời đại đồ đá mới hay đồ đá mài (Néolithique) xuất hiện vào khoảng từ 6.000 đến 5.000 năm trước công nguyên, trong những điều kiện khí hậu, động vật và thực vật thuận tiện và phong phú hơn trước.
Nhân loại vào thời kỳ này phát triển chăn nuôi (ngoài ngựa, tuần lộc, chó, nay nuôi thêm bò, dê, cừu, heo...) và trồng trọt (trồng gai, lúa mì, lúa mạch...), cày ruộng bằng cuốc, gặt bằng hái, lưỡi bằng đá (silex), biết làm bánh mì, phó-mát, biết dệt lưới bằng dây thừng và làm đồ gốm.
4. Thời đại đồ đồng (Age du bronze) vào khoảng từ 4.000 năm đến 2.000 năm trước công nguyên. Kỹ thuật chế tạo đồ đá dần dần chuyển sang kỹ thuật luyện kim, rìu đá được thay bằng rìu đồng (hợp kim đồng và thiếc), nhiều thứ vũ khí và dụng cụ bằng đồng: dao găm, liềm, cưa, nồi chảo, nhẫn vàng…
Chữ viết bắt đầu hình thành vào thời kỳ này, trước ở phương Đông rồi lan tràn sang phương Tây.
5. Thời kỳ đồ sắt (Age du fer) xuất hiện vào khoảng 1.000 năm trước công nguyên lúc con người biết rèn sắt để chế tạo dụng cụ và vũ khí, mặc dầu sắt đã được biết và sử dụng trước đây cả 3.000 năm tuy rất hiếm với tên gọi “đá trời”.
Sự biết dùng sắt đưa nhân loại vào những bước tiến rất quan trọng và nhanh chóng về các mặt giao thông, vận tải, chiến tranh, sản xuất và thương mãi.
d/ VỀ MẶT PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT, SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG, HÌNH THÁI QUẦN CƯ VÀ KHÔNG GIAN SỐNG:
Căn cứ vào quá trình lao động của con người để sản xuất ra của cải vật chất và việc sử dụng năng lượng trong tác động sản xuất đó, tạo hình thái quần cư và không gian sống, người ta có thể chia lịch sử loài người từ thời tiền sử đến nay thành 3 kỷ nguyên hay 3 giai đoạn chánh. Thật ra, cũng nên thêm kỷ nguyên thứ 4 là kỷ nguyên mới đang thành hình.
1. Kỷ nguyên hái nhặt và săn bắn:
Kỷ nguyên này bắt đầu từ lúc con người xuất hiện cho đến năm 7.000 trước công nguyên, suốt thời đại đồ đá đẽo và đồ đá mài.
Con người sống hoàn toàn bằng hái nhặt cây trái trên rừng và săn bắn thú vật, cá tôm. Sự quần cư của loài người dưới dạng thức cá thể có thể lẻ tẻ hoặc hợp thành bầy nhỏ - người Mác-xít gọi là bầy người nguyên thủy - sống giữa trời và các hang động.
Không gian sống của họ ngoài các hang động là những đường mòn, đường truông trong rừng hoặc dọc theo sông, ven lạch: không gian chiều dài (espace linéaire).
Năng lượng được dùng hoàn toàn là năng lượng hữu cơ của bắp thịt nghĩa là của thể chất (énergie animée, énergie physiologique, énergie musculaire).
2. Kỷ nguyên nông nghiệp:
Kỷ nguyên này bắt đầu từ thời kỳ đồ đá mài vào khoảng 7.000 năm hay 5.000 năm trước công nguyên và kéo dài mãi đến ngày nay mặc dầu phải nhường bước cho kỷ nguyên kỹ nghệ vào thế kỷ 18 sau công nguyên.
Săn bắn và hái nhặt chuyển dần sang canh tác và chăn nuôi. Trạng thái quần cư lúc bấy giờ là bộ tộc, thị tộc, tiến đến dân tộc, quốc gia, định cư thành từng làng quây quần quanh vựa lúa, đền thờ hoặc đình làng rồi tiến sang cơ sở hành chánh, thị trấn, thành phố, thủ đô làm trung tâm.
Không gian sống bây giờ là không gian có định hướng phát xuất từ trung tâm quần cư, một không gian diện tích (espace surface) hai chiều, tiến sang không gian thể tích (espace volume) ba chiều. Nguồn năng lượng bây giờ, ngoài thể chất ra còn thêm nguồn năng lượng sinh vật (énergie biotique) do con người khai thác từ cây cỏ và súc vật, cùng năng lượng vô cơ hay năng lượng vật lý (énergie inanimée, énergie physique) do sự khai thác các nguồn năng lượng thiên nhiên: nước và gió, qua các dụng cụ máy xay nước, máy xay gió, thuyền buồm...
3. Kỷ nguyên kỹ nghệ:
Kỷ nguyên này bắt đầu từ năm 1.760 tại Anh quốc kéo dài mãi đến nay và đã có cơ được thay bằng cuộc Cách mạng hậu kỹ nghệ từ hậu bán thế kỷ 20.
Kỹ nghệ - do từ những phát minh khoa học về các lãnh vực: toán học, vật lý học, hóa học, sinh học, y học...- đã thay thế canh nông, biến thành phương thức sản xuất trổi vượt nhất thế giới. Tuy nhiên, chỉ ở một số quốc gia tiến bộ được hưởng dụng những thành quả của kỹ nghệ, còn gần 2/3 thế giới còn lại vẫn nằm trong trạng thái nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm phương thức sản xuất chính, một nền nông nghiệp chưa mấy được cơ giới hóa.
Trạng thái quần cư lúc bấy giờ là quốc gia, dân tộc tiến lần đến khối, vùng, tập trung ở những trung tâm kỹ nghệ, thương mãi.
Không gian sống bấy giờ không chỉ còn là mặt đất bằng lục địa mà bao gồm cả vùng trời, vùng biển, không giới hạn riêng ở một nước mà lan rộng đến toàn cầu. Năng lượng được sử dụng là năng lượng cơ giới gồm máy móc sản xuất và những máy móc chuyển hóa năng lượng (convertisseur d’énergie).
4. Kỷ nguyên hậu kỹ nghệ, tự động hóa và liên hành tinh:
Kỷ nguyên này chưa thật sự bắt đầu nhưng mọi điều kiện chuẩn bị hầu như đã khá đầy đủ kể từ sau đệ nhị thế chiến.
Cùng với sự ra đời của khoa học điện tử, sự phát triển của khoa học không gian, cùng với sự sử dụng máy móc tự động, những “người máy”, và sự sử dụng năng lượng nguyên tử cùng những năng lượng ngoài trái đất (ánh sáng mặt trời, năng lượng từ các hành tinh khác...), nhân loại bước vào kỷ nguyên tự động hóa và kỷ nguyên liên hành tinh trong một thời gian không xa.
Trạng thái quần cư không còn giới hạn nơi từng quốc gia, dân tộc, mà tiến sang quốc tế, rồi liên châu, liên lục địa (xin hiểu về mặt tương quan hợp tác, truyền thông...).
Không gian sống không còn giới hạn ở từng trung tâm, từng thành phố mà tiến sang vô số trung tâm (đa trung tâm: multicentre) và toàn thể địa cầu cùng bắt đầu tiếp xúc với các hành tinh trong vũ trụ qua các vệ tinh, phi thuyền không gian, con tàu vũ trụ. Không gian không còn ba chiều mà mở rộng kích thước, không gian với “n” chiều: không gian, thời gian, vật chất, năng lượng...
Năng lượng hữu cơ hay sinh lý (năng lượng bắp thịt) không còn sử dụng nữa và ngoài những năng lượng sinh vật và cơ giới, nguồn năng lượng được khai thác mạnh mẽ là năng lượng trí tuệ (énergie intellectuelle) của con người. Xét về mặt năng lượng, nhân loại đang sắp sửa thoát ly hoàn toàn năng lượng thể chất, trong tác động lao động sản xuất lâu nay, để tiến dần sang giai đoạn giải thoát cả năng lượng trí tuệ - hay trí năng - do sự phát minh các bộ nhớ, nhờ vào khoa tự động điều khiển học và máy móc điện tử.
e/ VỀ MẶT TƯ TƯỞNG:
Thật sự chưa có sự phân chia tư tưởng thành kỷ nguyên hay thời đại. Tuy nhiên, dựa theo “luật tam trạng” (Loi des trois états) của Auguste Comte, ta có thể theo ông chia tư tưởng loài người từ khởi thủy đến nay thành 3 kỷ nguyên, hay thời kỳ, giai đoạn; và hiện nay - theo người viết - đang phải hình thành một kỷ nguyên tư tưởng mới, để có thể giải quyết toàn bộ các vấn đề của địa cầu, hầu đáp ứng với kỷ nguyên tự động hóa và liên hành tinh.
1. Giai đoạn tư tưởng thần linh (état théologique):
Giai đoạn này bắt đầu từ khi con người xuất hiện trên địa cầu và chấm dứt vào một lúc không rõ rệt, có thể vào lúc hình thành các tôn giáo lớn mở đầu cho trạng thái tư tưởng siêu hình.
Trong giai đoạn tư tưởng thần linh (hay thần quyền), theo Auguste Comte, “tri thức con người thiết yếu nhằm vào việc nhận thức ra bản chất sự vật, tìm những nguyên nhân đầu tiên và cuối cùng của tất cả mọi vật xảy ra; tóm lại, trí óc hướng đến những tri thức tuyệt đối, quan niệm mọi hiện tượng xảy ra là do tác động trực tiếp và liên tục của những yếu tố siêu nhiên, mà sự can thiệp vô hình và độc đoán giải thích những bất thường của vũ trụ” (Cours de Philosophie positive, 1ère leçon). Đấy là giai đoạn của huyền thoại, thần thoại; con người quan niệm rằng ngoài thế giới hữu hình còn có một thế giới vô hình - nơi cư ngụ của thần linh - can thiệp và chi phối thế giới hữu hình theo ý muốn của các thần.
2. Giai đoạn tư tưởng siêu hình (état métaphysique):
Giai đoạn này không rõ bắt đầu từ lúc nào, có lẽ vào lúc xuất hiện những tôn giáo lớn, khi quan niệm “đa thần” tiến sang quan niệm “nhất thần”, với một vị Thượng Đế hữu ngã, hay một khái niệm tiên thiên tự sinh tự hóa, sáng tạo nên muôn vật. Auguste Comte cho rằng thời gian thịnh hành nhất của dòng tư tưởng siêu hình là vào thế kỷ 12 hoặc thế kỷ 16 đến thế kỷ 19.
Trạng thái tư tưởng siêu hình là trạng thái mà con người tư tưởng không cơ sở trên những năng lực siêu nhiên ở ngoài vũ trụ và con người, mà y cứ trên những khái niệm trừu tượng được nhìn nhận là thực hữu bởi lý trí suy luận, chuyển hóa và biểu hiện ra mặt hiện tượng, cấu tạo nên mọi sự mọi vật, hiện hữu nơi sự vật, biến thành bản thể, bản chất của chúng, và mỗi giải thích một hiện tượng nào đều phải cơ sở trên cái bản thể tương ứng của nó. Đây là thời kỳ mà các triết gia duy vật gọi là tư tưởng duy tâm hoặc chủ quan hoặc khách quan.
Tất cả các quan điểm siêu hình đều cho rằng thế giới hữu hình chỉ là phần biểu hiện ra mặt hiện tượng của một thực thể uyên nguyên gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau, tùy theo từng trường phái triết học: Đạo tự nhiên, Tâm Chân như, Logos, Thế giới ý niệm, Lý niệm tuyệt đối, lửa, nước, khí, Thượng Đế, hữu thể ban sơ, nền tảng... Trên cơ sở này, ta có thể nói “vật chất” là yếu tố uyên nguyên cấu tạo nên vũ trụ vạn vật theo những qui luật vận động, phát triển tự thân của vật chất và giữa vật chất với nhau, cũng là quan niệm thuộc tư tưởng siêu hình lối duy tâm khách quan vì vật chất như thế cũng chỉ là một khái niệm tiên thiên thuần túy.
3. Giai đoạn tư tưởng thực nghiệm hay khoa học (état positif):
Giai đoạn này bắt đầu từ thế kỷ 18 cùng với sự phát triển của khoa học. Trạng thái tư tưởng thực nghiệm hay khoa học này từ chối việc tìm hiểu những khái niệm trừu tượng, không đi tìm những nguyên nhân đầu tiên và cuối cùng của vũ trụ vạn vật, để chỉ chuyên chú phát hiện ra những mối quan hệ bất biến giữa các sự vật, nghĩa là những qui luật tác động giữa các sự vật với nhau, và mỗi giải thích đều cơ sở trên những qui luật đó.
Trạng thái tư tưởng thực nghiệm hay khoa học cơ sở trên hiện thực khách quan rồi bằng quan sát và suy luận tìm ra những qui luật hình thành, chuyển hóa, phát triển của mọi sự, mọi vật từ tự nhiên đến con người và xã hội. Những qui luật này có thể kiểm chứng được bằng kinh nghiệm và bằng thí nghiệm khoa học.
Tư tưởng thực nghiệm hay khoa học bác bỏ thế giới vô hình, siêu nhiên, bác bỏ thế giới là biểu tượng của lý trí, mà đi đến kết luận thế giới là một tồn tại khách quan biến chuyển do những tác động qua lại giữa các thành phần cấu tạo theo những qui luật bất biến.
Theo Auguste Comte và các triết gia duy vật, tư tưởng thực nghiệm khoa học này là giai đoạn cuối cùng của tư tưởng con người, và loại trừ hai trạng thái tư tưởng trước vì chúng không thích hợp với điều kiện tiến hóa của vạn vật và xã hội.
Dĩ nhiên, đến nay, giai đoạn tư tưởng thực nghiệm hay khoa học không hẳn là giai đoạn tư tưởng cuối cùng của con người và hai trạng thái tư tưởng thần linh và siêu hình vẫn còn tồn tại đồng thời, nhất là nơi quần chúng nhân dân. Những gãy đổ và tàn phá do khoa học kỹ thuật gây ra cho con người, những nổi loạn chống đối trào lưu khoa học kỹ thuật, cùng những băn khoăn thao thức về thân phận con người, cho thấy tư tưởng chưa thể dừng lại ở giai đoạn tư tưởng thực nghiệm hay khoa học, mà đang đòi hỏi một trạng thái tư tưởng mới khả dĩ giải thích toàn bộ lẽ tiến hóa của vũ trụ và nhân sinh, đồng thời thiết lập một trật tự xã hội thế nào giúp con người tạo lập cuộc sống bình an, thoải mái, hạnh phúc và tiến bộ giữa nhau.
Trên đây là đại cương về sự phân kỳ kỷ nguyên (hay nguyên đại, thời đại, thời kỳ, giai đoạn) cùng hạn kỳ từng kỷ nguyên trên từng lãnh vực. Nhìn chung, ngay cả các môn Địa chất học, Khảo cổ học, Sinh vật học, Sử học, Xã hội học... đã cơ sở trên những sự kiện lịch sử rõ nét, trên những vết tích tìm thấy, được kiểm nghiệm bằng khoa học để làm tiêu mốc, sự phân kỳ trên chỉ có tánh cách xác suất, tuy hợp lý nhưng không hẳn hoàn toàn đúng đắn dứt khoát, vì mỗi kỷ nguyên đã hàm chứa những mầm mống phôi dựng kỷ nguyên sau và vẫn còn tồn tại dai dẳng trong lòng kỷ nguyên mới một thời gian.
Diễn trình sinh hóa của vũ trụ vạn vật vừa liên tục vừa trùng phức nên có sự chênh lệch về mức độ và phẩm chất của từng miền, từng vùng, từng lãnh vực. Chẳng hạn, khi ta bảo nhân loại đang bước vào kỷ nguyên liên hành tinh từ ngày vệ tinh Spoutnik của Liên Sô được phóng lên không gian hoặc từ ngày phi thuyền Apollo của Hoa Kỳ đổ bộ người lên mặt trăng thì cũng chỉ một đôi dân tộc thực hiện để chuẩn bị bước vào kỷ nguyên đó trong lúc bao dân tộc khác vẫn còn trong vòng kỷ nguyên kỹ nghệ và vô số dân tộc vẫn còn trong kỷ nguyên nông nghiệp với lối canh tác thủ công.