Nhân Loại Mới

b. những yếu tố đưa vào kỷ nguyên mới.

Từ “kỷ nguyên” được dùng trong tập này không được hiểu theo quan điểm phân kỳ như trên. Nó không cơ sở trên những sự kiện thuần lịch sử, không căn cứ trên những di chỉ tìm thấy cüng như không dựa trên những trạng thái sinh hoạt hay thể chế xã hội để định ra tiêu mốc phân kỳ kỷ nguyên. Nó thoát ra ngoài những tiêu chuẩn trên và vì thế, quan điểm của người viết có thể sẽ vấp phải rất nhiều chống đối, rất nhiều cái nhìn không thông cảm. 

 

Những điều được trình bày trong tác phẩm này là những khái niệm do từ cảm nhận hơn là kiến thức, do từ thao thức băn khoăn hơn là tư duy logic. Nói như thế, không có nghĩa là những điều được viết ra chỉ là những tưởng tượng do cái não bộ bịnh hoạn hay do một nhu cầu giải hoặc cho riêng mình. Trong nhật ký (Carnets), Saint Exupéry có viết “Cái gì sẽ được tạo ra, cái gì sẽ sinh ra sẽ hợp luận lý, chớ không phải cái gì hợp luận lý sẽ xảy ra” (2). Xin mượn dòng này để mở phơi hội thoại với độc giả, hy vọng rằng những cảm nhận ban đầu chỉ là những khơi mào, để điều được nói ra từ những hội thoại đó “sẽ tiến lần đến chỗ giống với cái thật sự có, chớ không còn nằm trong ngôn ngữ nói ra nữa” (2). 

 

Từ “kỷ nguyên” được dùng nơi đây phát xuất từ những sự kiện được cảm nhận như sau đây: 

 

1. Chỗ cư trú của con người: 

 

Chỗ cư trú của con người, hay nói chung của loài người trước nay, là mặt địa cầu nhăn nhó, khổ đau này. Từ lúc xuất hiện đến nay, dầu qua bao nhiêu trạng thái sinh hoạt, qua bao nhiêu đổi thay của điều kiện cư trú, từ hang động đến lều, nhà, biệt thự, cao ốc..., từ lẩn lút trong rừng sâu đến quần cư thành bộ lạc, thị tộc đến quốc gia, dân tộc..., con người vẫn lẩn quẩn trên quả địa cầu bé tí trong vũ trụ bao la. Môi trường sinh sống vẫn chỉ có chừng ấy, cái quả đất với diện tích 510 triệu cây số vuông. Bầu không khí con người thở, mây từ cao rơi xuống vẫn không ra ngoài sức hút của quả đất. Đến khi con người tạo được máy bay thì cũng chỉ mới lẩn quẩn trong vòng khí quyển địa cầu, Hấp lực trái đất thu hút mọi thứ đến với nó, trong vòng khả năng của nó và thu hút luôn cuộc sống con người quẩn quanh bầu bạn cùng nó, ghim vào nó, tạo cho con người và cả xã hội loài người một thứ lực quán tính trì kéo con người và xã hội vào nó, mỗi lúc một mạnh hơn, trong một thứ “vòng tròn lẩn quẩn”, dầu có qua bao nhiêu trạng thái, bao nhiêu mô thức tổ chức cuộc sống con người. 

 

Em như con hạc đầu đình 

Muốn bay không nhắc nổi mình mà bay 

(Dân ca Việt Nam) 

 

Từ bao đời, địa cầu là quê hương, nơi chôn nhau cắt rún của loài người, một quê hương đau khổ, biển dâu ngập tràn. Con người trầm luân qua muôn vàn số kiếp, nghĩa là trải qua bao nhiêu trạng thái sống, bao nhiêu hình thái xã hội. 

 

Xin đừng vội bảo sao đang đề cập đến một vấn đề khoa học lại đưa ra những tình cảm, triết lý vu vơ. Vâng, thì có vu vơ thật đấy nhưng những cái vu vơ đó đưa về hai điều quan yếu sau đây về quả địa cầu vừa âu yếm nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt cho ta. 

 

* Quả địa cầu, địa bàn cư trú và sinh hoạt của loài người trước nay, bây giờ không còn đủ chứa loài người sinh sản quá đông; gia tài của mẹ không đủ nuôi đàn con lúc nhúc nên bầy con có đứa phải ra đi. Dưỡng chất trần gian có hạn, anh em không còn nỡ giết nhau để tranh giành cái sống nên phải thiên di. Có lẽ các nhà bác học đã đoán được ngày nào than đá sẽ cạn, dầu hỏa sẽ hết, bao nhiêu quặng kim sẽ không còn đủ cung cấp cho nhu cầu phát triển của loài người hỗn độn không có chỗ chen chân. Và đã đến thời điểm mà sức hút địa cầu không còn có thể cầm chưn con người như bệ thờ không cầm nổi chưn con hạc. Trí tuệ con người đã thật sự vượt ra khỏi nó để nhìn đến những “quả cầu” nhỏ, lớn xa xa. 

 

Bây giờ, con người đã vượt ra ngoài vòng khí quyển, đã đặt chân lên mặt nguyệt cầu, nơi chốn cư ngụ hằng cửu của Chị Hằng, ngấp nghé tìm cách tư tình, ve vãn sao Hoả, sao Kim, sao Thổ, và còn nhiều, nhiều nữa, ngày mai vô tận. 

 

Đã đến lúc con người từ cõi đất ra đi vì không gian không chỉ còn là không gian thẳng một chiều, không gian diện tích hai chiều, không gian thể tích ba chiều và cả không gian giờ khắc bốn chiều (thêm thời gian). Nó không còn thỏa mãn hết cuộc sống con người khiến con người phải tìm đến một không gian ngoài không gian thường nghiệm lâu nay. 

 

Và thời gian cũng vậy. Thời gian luôn luôn từ quá khứ qua hiện tại đến tương lai không còn là thời gian như lâu nay, mà là thứ thời gian hàm số của vận tốc ánh sáng, của những ba động năng lượng; ngày tháng, năm, thế kỷ, khắc, canh, giờ, phút, giây... không còn là đơn vị chuẩn mà tất cả đều tính theo vận tốc. Vận tốc làm chuẩn bây giờ là ánh sáng 300.000km/giây, hoặc vận tốc của các hạt nguyên tử chỉ có thể nhìn và đo bằng những máy móc điện tử tinh vi. Do đó, những đơn vị đo lường về trọng lượng, dung tích, về hình thể, khối lượng hẳn cũng phải thay đổi theo. 

 

Không gian mở rộng khiến thời gian co rút hay ngược lại. Hai bên, trong thời đại mới hầu như trái chiều, tỷ lệ nghịch với nhau. Người ta có thể quay về dĩ vãng để thấy thời gian quá dài mà không gian quá hẹp; người ta có thể bay vút vào tương lai để thấy thời gian quá ngắn — mà không gian lại quá rộng. 

 

Bên cạnh đó là thứ thời gian tâm linh, một thứ hiện tại miên viễn trong một thực tại không bao giờ hoàn tất. Đấy là thời gian của lẽ Đạo, một thứ thời thể gùn ghè bên dòng đổi thay của thời sử. Tất cả đang tiến lần đến thay đổi, tạo nên những hành trang mới thích hợp cho một viễn hành lập nghiệp nơi xa, ra ngoài bàn tay bao bọc của mẹ địa cầu. 

 

* Do những điều kiện đưa con người rời khỏi mặt đất, quả địa cầu còn lại của chúng ta bước vào thời đại cuối kỷ nguyên. Nhu cầu đáp ứng những yêu cầu của tân kỷ nguyên sẽ là điều kiện đưa nhân loại vào một thế quân bình, ổn định. 

 

Đứa con lìa quê hương ra đi không phải vì gia đình lục đục; đứa con ra đi để làm một sứ mạng của gia đình nên gia đình phải tích lũy vốn liếng đủ mọi mặt để làm hành trang cho nó. Vốn liếng một dân tộc, một quốc gia không đủ. Nhu cầu kết hợp mọi khả năng vật chất và tinh thần để nới rộng chỗ cư trú cho loài người không thể đáp ứng nếu nhân loại còn kéo dài chia rẽ, hận thù. Biết đâu chẳng có những cuộc xâm lăng từ bên ngoài. 

 

Tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay không chỉ để tạo nên vật chất mà còn tạo tác nên tinh thần, nghĩa là tạo điều kiện để tư tưởng con người - tư tưởng mỗi người và tập thể - mở rộng, mang lấy những kích thước mới. Phạm trù cá nhân, dân tộc, quốc gia dần dần không còn thích ứng. Tri thức, tư tưởng, tình cảm không còn có thể nép mình trong những khuôn khổ lâu nay. Những ý đồ thống trị, độc tài, tranh giành chiếm đoạt về kinh tế, chánh trị, vũ lực... không còn tồn tại vì cả nhân loại khước từ, không vì lý do nhân đạo mà vì cuộc sống đòi hỏi mở rộng biên cương. 

 

Tư tưởng con người không còn lẩn quẩn trong phạm vi thế giới (monde) mà chắp cánh bay vào vũ trụ (univers). Mọi ý thức bó tròn trong một khuôn khổ: dân tộc, quốc gia, chủng tộc, lý tưởng, chủ nghĩa, tôn giáo... đều đi ngược tiến bộ và tiến hoá, Chỉ còn một tư tưởng duy nhất: toàn nhân loại hội nhập thành một nhất thể. Nói theo P. Teilhard de Chardin: “Tiến hoá là lộ trình tiến lên tâm thức; chính do con đường duy nhất hướng đến siêu tư duy, nghĩa là hướng đến trạng thái siêu nhân hoá, mà tư tưởng con người có thể vượt ra ngoài những cực hiện tại” (3). 

 

Tâm thức chúng ta ngày nay không giới hạn ở phạm vi địa cầu này mà bay vào vũ trụ. Trước mắt ta “một địa bàn mới cho tâm linh mở rộng” (4). Tư tưởng ngày nay, nếu muốn phục vụ nhân loại và thích nghi với dòng tiến hoá, phải là thứ tư tưởng liên hành tinh. P. T. De Chardin đã nói với chúng ta qua cái nhìn viễn tượng: “Cái địa bàn tâm linh mở rộng đó tìm thấy trong cái tổng thể nội tại tự thân của thế giới - trong sự việc con người chung xây một ý chí của địa cầu” (5), nghĩa là cái tâm thức đó phải được tập trung; phải là một thứ tâm thức thống hợp. 

 

Do từ đó, vấn đề của nhân loại hiện nay, trước kỷ nguyên mới, là vấn đề hội nhập, kết hợp mọi cá thể, mà không loại trừ cá biệt. Nhân loại trở thành một khối, một đơn vị chẳng khác một gia đình đoàn kết, nhất trí; tuy phần vụ và cảm nghĩ có khác nhau. 

 

Tóm lại, chỗ cư trú của con người - của nhân loại - ngày nay không giới hạn ở quả địa cầu nữa. Đây là yếu tính đầu tiên đưa nhân loại vào thời kỳ cuối kỷ nguyên để mở ra kỷ nguyên mới. 

 

2. Năng lượng chỉ đạo tiến hóa

 

Nơi đây không bàn đến khoa học về năng lượng mà chỉ điểm qua diễn trình sử dụng năng lượng của loài người để thấy rõ rằng vấn đề năng lượng hiện nay là một trong những yếu tính mở ra kỷ nguyên mới. 

 

Như trong phần trước đã nói, trong thời đại săn bắn và hái lượm, con người sử dụng thuần năng lượng hữu cơ của thể xác mình. Tuy có dùng đá ném thú vật, dùng cây chích cá hoặc ăn trái cây, thịt thú vào người để chúng biến thành năng lượng nuôi sống mình, nhưng năng lượng được sử dụng và tiêu dùng chủ yếu là năng lượng của bắp thịt. Tiến sang thời kỳ nông nghiệp, do sự phát triển của trí tuệ, hoặc do lao động tiến dần lên mức độ cao hơn, con người biết sử dụng những năng lượng bên ngoài con người để tiết giảm năng lượng thể chất của mình. Việc chế tạo ra những dụng cụ mới, việc trồng cây thực phẩm để tạo ra lương thực, việc sử dụng thú vật làm việc thay người là bằng cớ chứng minh mức độ tiến bộ của loài người. Từ năng lượng thuần thể chất, con người tiến đến kết hợp năng lượng của mình với năng lượng trong thiên nhiên. Từ đó, nhiều bước tiến mới, con người tìm ra nhiều cách để khai thác và sử dụng năng lượng thiên nhiên nhiều hơn như năng lượng của đất, của gió, của nước. 

 

Dần dần, do phát triển của khoa học, kỹ thuật, con người bước vào thời đại kỹ nghệ; con người càng lúc càng bớt sức lao động thể chất để máy móc làm thay người, con người càng phát triển khả năng làm chủ mọi nguồn năng lượng bên ngoài. Không những thế, con người còn chế tạo ra những máy móc chuyển đổi năng lượng từ thể này sang thể khác, và khai thác nhiều hơn những nguồn năng lượng bất biến (gió, nước, ánh sáng...) để sử dụng và dự trữ lâu dài. 

 

Sự khám phá và khai thác năng lượng định mức độ tiến bộ về mặt trí tuệ thì sự sử dụng và tiêu thụ năng lượng lại cho thấy rõ mức độ tiến bộ trong cuộc sống, tức mức độ văn minh của con người. 

 

Ở thời đại nông nghiệp, các nguồn năng lượng do con người sản xuất chỉ có thể nuôi sống 1 tỷ người trên mặt địa cầu, ngày nay, thời đại kỹ nghệ có thể bảo đảm cuộc sống cho 5, 6 lần hơn (6). Tại những xã hội nông nghiệp đã tiến triển, sự tiêu thụ năng lượng ước chừng 10.000 đến 15.000 calories hoặc dưới hơn cho một người một ngày, phần lớn dùng vào thực phẩm và sưởi đốt; trong những xã hội kỹ nghệ ngày nay, năng lượng vật lý tiêu thụ cho mỗi người một năm là 20 mégawatt/giờ, nghĩa là mỗi người mỗi ngày sử dụng gần 50 ngàn calories. Tại Hoa Kỳ con số đó được tăng lên đến 62 mégawatt/giờ mỗi năm cho mỗi người không chỉ dùng vào nhu cầu thường nhật (lương thực, sưởi đốt, ánh sáng, xê dịch...) mà còn dùng vào sản xuất. (7).  

 

Ngày nay, ngoài những năng lượng thiên nhiên và một số năng lượng do con người tạo ra thường dùng như cơ năng, hóa năng, điện năng, con người còn tìm ra và sử dụng nhiều nguồn năng lượng mới: ánh sáng mặt trời; năng lượng nguyên tử... Tiến trình tìm tòi và khai thác năng lượng còn dài. 

 

Điều cần để ý là trong diễn trình tiến hóa, con người càng ngày càng ít sử dụng năng lượng thể chất, tức năng lượng bắp thịt hay năng lượng sinh vật lý của mình. Lao động mà không tốn sức lao động là một trong những điều kiện của văn minh. 

 

Một điều quan trọng hơn nữa cần để ý là con người càng tiết giảm sức lao động chân tay chừng nào thì sức lao động trí óc càng phải gia tăng thêm. Năng lượng bắp thịt không được dùng thì năng lượng trí tuệ càng được sử dụng triệt để. Lúc bấy giờ, suy tư và sáng tạo giữ vai trò then chốt quyết định cuộc tiến hóa của loài người. Vào giai đoạn đó - mà giai đoạn này đang sắp mở ra - thì năng lượng chỉ đạo tiến hóa không còn sở cậy nơi năng lượng vật chất của con người nữa mà hoàn toàn dựa vào năng lượng trí tuệ. 

 

Luợc qua quá trình khám phá, khai thác và sử dụng năng lượng, đứng về mặt năng lượng, ta có thể quả quyết rằng lịch sử nhân loại từ khi con người xuất hiện đến nay là quá trình đấu tranh tiết giảm và giải trừ năng lượng vật chất nơi mình do phát triển của trí tuệ. Kể từ hậu bán thế kỷ 20, với khoa Tự Động Điều Khiển Học (Cybernétique) và Kỹ Thuật Vi Điện Tử (Microélectronique) sản xuất ra những bộ nhớ và người máy thì nhân loại lại đang trên đà giải trừ dần dần năng lượng trí tuệ - hay trí năng - như các máy móc điện tử chẳng hạn. 

 

Và như thế, lịch sử nhân loại tiến sang một giai đoạn khác nữa, trong đó trí năng không còn được sử dụng để nhân loại bước sang kỷ nguyên năng lượng thuần tâm linh hay tâm năng (énergie psychique hay métapsychique) và dạng tồn tại của con người lúc bấy giờ sẽ ra sao, chúng ta thử hình dung xem. Quá trình sử dụng một loại năng lượng cơ bản, chủ yếu phục vụ cuộc sống con người, trong một diễn trình lịch sử nào đó, cũng là yếu tố góp phần quyết định dạng tồn tại của con người, và quá trình lịch sử đó được xem là một kỷ nguyên xét về mặt năng lượng. 

 

Hiện nay, nhân loại đang bắt đầu sử dụng năng lượng trí tuệ thay cho năng lượng thể chất để chỉ đạo cuộc tiến hóa. Sự thay đổi vai trò chỉ đạo từ thể năng sang trí năng đó là yếu tố thứ hai sửa soạn cho con người bước vào kỷ nguyên mới. 

 

3. Tâm linh thống hợp: 

 

Sự thay đổi vai trò chỉ đạo tiến hóa mai hậu của nhân loại bằng năng lượng tinh thần thay cho năng lượng vật chất đặt ra cho nhân sinh nhiều vấn đề. 

 

Tạm gác qua bên những quan niệm tôn giáo và siêu hình về nguồn gốc vũ trụ và con người, ta giả thiết đồng ý với quan điểm Mác-xít cho rằng vũ trụ, con người, cũng như xã hội loài người, hình thành và phát triển do từ yếu tố vật chất, với những qui luật vận động và phát triển của nó; giả thiết ta chấp nhận quan điểm cho rằng ý thức hay tinh thần con người là sản phẩm của vật chất kết tinh ở mức độ cao và do vật chất quyết định, và chính sức lao động đã quyết định tiến trình tiến hóa của con người từ “vượn người” thành người, và quyết định các hình thái xã hội người từ nguyên thủy đến nay; giả thiết ta chấp nhận toàn bộ quan điểm Mác-xít về cả hai mặt Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử thì với kỷ nguyên mới, lý thuyết Mác đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình (dù xã hội lúc bấy giờ không là xã hội Cộng sản như Mác dự tưởng), và vật chất không còn là yếu tố tiên quyết chỉ đạo cuộc tiến hóa của con người và của xã hội loài người nữa, vì với kỷ nguyên mới, vai trò quyết định là năng lượng trí tuệ. 

 

Từ trước đến nay, trong tất cả mọi dạng năng lượng trong vũ trụ, con người đã sử dụng năng lượng trí tuệ của chính mình để tìm tòi, khám phá, phát minh và sáng tạo. Điều này, trước nay đã có, nhưng đã đến thời kỳ năng lượng trí tuệ thoát hẳn mọi chi phối của điều kiện vật chất để chi phối lại vật chất. Trong kỹ nghệ chẳng hạn, con người không còn cần sử dụng đến sức lao động của thể xác; thể xác sẽ chỉ còn có giá trị như một lâu đài cổ để ta chiêm ngưỡng một kỳ công kiến trúc đã qua, hoặc là một pho tượng đang được nắn gọt theo cái nhìn thẩm mỹ của con người, nghĩa là người ta chỉ còn làm đẹp cái thể chất mà không còn sử dụng thể chất vào lao động sản xuất, sáng tạo. Ở kỷ nguyên mới, trí năng thay cho thể năng quyết định sự tiến hóa bằng tác động biến đổi vật chất bên ngoài và bên trong con người. 

 

Sức lao động của con người không còn là yếu tố của sản xuất. Những xã hội tiên tiến về kỹ nghệ bước sang thời đại tự động hóa, vấn đề nhân công không còn cần thiết nữa. Nạn thất nghiệp, nghĩa là không có chỗ làm, trở thành một căn bệnh nan giải. Nền văn minh tiến đến hai trạng thái về mặt kinh tế: rỗi rãi và tiêu thụ. “Nơi đâu khoa học xâm nhập vào toàn bộ nền sản xuất - qua trung gian của kỹ thuật, của tổ chức hay của việc giá trị hóa phẩm chất hàng hóa - và trở thành yếu tố cơ bản của sự phát triển thì đường biểu diễn sự phát triển của sản xuất tất yếu tách rời đường biểu diễn của tổng số sức lao động được dùng hoặc bằng chính sức người hoặc bằng sức người được biến đổi thành năng lượng vật chất” (8). Như thế, sản xuất không phụ thuộc vào sức lao động của công nhân. 

 

Phương thức sản xuất tư bản luôn luôn đòi hỏi cải tiến kỹ thuật và phương pháp điều hành, quản trị thích ứng với những cải cách đó. Nhìn vào nền kinh tế khối tư bản, dù tổ chức tinh vi và nhiều biện pháp ngăn ngừa xung đột để khỏi gây nên chiến tranh đế quốc tranh giành thị trường, nhưng sự cạnh tranh kỹ thuật càng lúc càng cao, càng gây cấn, tạo nên bao tranh chấp về mậu dịch giữa các nước với nhau. Người viết không có những thống kê về tình hình phát triển kinh tế thế giới cùng những tài liệu nói về sự phát triển kinh tế tại các quốc gia tư bản, nhưng có điều có thể xác quyết là sự cạnh tranh thị trường giữa các nước kỹ nghệ hóa càng lúc càng thêm rắc rối, một khi chế độ cộng sản còn khống chế một vùng khá lớn địa cầu và nhu cầu đấu tranh chánh trị, quân sự giữa hai khối chưa được xóa bỏ, một khi chưa tiến đến phân vùng, kết hợp khối và phân công kỹ thuật, và nhất là khi quá chú trọng đến quan điểm “hợp lý hóa” (rationalisation) trong vấn đề nhân sinh. 

 

Sức phát triển của kỹ thuật đào thải lao động tạo nên bao vấn đề rắc rối cho xã hội. Nạn thất nghiệp mỗi lúc một thêm gia tăng - thất nghiệp dài hạn hay ngắn hạn -, nhân công đang có việc làm có thể bất ngờ thất nghiệp vì tình trạng phá sản của các cơ sở không đủ khả năng bắt kịp sức phát triển của kỹ thuật: hàng hóa bị lỗi thời hay thị trường bị thu hẹp, bị chiếm đoạt. Do sự cạnh tranh về vũ khí và nhu cầu phát triển khoa học không gian, tài nguyên quốc gia phải gánh những tổn phí lớn lao vô kể. Một vệ tinh, một phi thuyền cùng bao nhiêu công trình thí nghiệm đòi hỏi những khối lượng tài chánh kếch xù vượt hẳn ngân sách quốc gia dành cho các mặt khác. Thuế má do đó sẽ tăng, giá sinh hoạt càng lúc càng cao, các nhu cầu về nhà ở, chữa bệnh, học vấn của người dân càng lúc càng thêm đắt đỏ. An ninh xã hội cũng theo đó mà giảm dần. 

 

Không như trước đây, mỗi phát minh kỹ thuật có thể tạo công ăn việc làm mới dài hạn cho nhiều người, ngày nay, phát minh kỹ thuật lại hạn chế công ăn việc làm vì sự tế vi của cấu trúc kỹ thuật và sự liên tục ra đời những kỹ thuật mới. Ngày trước, một cá nhân hay một tập hợp nhỏ có thể xây dựng một cơ sở sản xuất hay dịch vụ, ngày nay không dễ dàng như thế vì vốn liếng đầu tư phải thực lớn và trình độ kỹ thuật phải thật cao. Các nghề thủ công dần dần mai một, những cơ xưởng kỹ nghệ nhỏ, dịch vụ nhỏ cũng dần dà ít đi vì không thể cạnh tranh với các tổ chức lớn với điều kiện kỹ thuật tối tân. 

 

Nghiệp vụ sản xuất dần dà thu hẹp với sự sa thải công nhân ngày càng nhiều để chuyển sang dịch vụ, nhưng nghiệp vụ này cũng chỉ cần đến một số nhân công vừa đủ. Bộ máy nhà nước nay mai đây cũng sẽ giảm dần nhân viên công chức vì kỹ thuật xâm nhập vào hành chánh, quản trị, cả chánh trị và giáo dục. Chẳng hạn, ngân hàng sẽ không cần dùng đến nhân viên đếm bạc... 

 

Tình trạng cha mẹ không nuôi nổi con cái hoặc con cái không nuôi nổi cha mẹ hoặc cả chồng và vợ không thể nuôi lẫn nhau (nếu cả hai không cùng có công ăn việc làm hoặc không hạn chế mức chi tiêu đến tối thiểu) không còn là vấn đề khó hiểu. Cuộc sống của tuyệt đại đa số người dân luôn luôn bấp bênh, lay lắt, phập phồng, lo sợ thất nghiệp, thiếu thốn, để mãi mãi trông chờ nơi những an sinh xã hội của nhà nước. 

 

Con người rảnh rỗi thái quá, dĩ nhiên sẽ gây ra bao nhiêu hậu quả tai hại cho xã hội về mọi mặt. Rảnh rỗi mà vẫn phải tiêu thụ. Hàng hóa sản xuất dồi dào lại luôn luôn thay đổi hình thức, phẩm chất càng lôi cuốn, cưỡng bức con người tiêu thụ nhiều hơn trong lúc lợi tức mỗi người không bắt kịp, vì tính cách luôn luôn thay đổi của mặt hàng, do sự phát triển của kỹ thuật. 

 

Trạng thái ly dị rõ ràng giữa mặt sống xã hội và tâm linh với mặt sống kinh tế đưa đến khủng hoảng xã hội và cá nhân. Sự sung mãn là yếu tố tiến bộ về mặt này lại là yếu tố thoái hóa về mặt kia. “Một nếp sống nghèo nàn giữa lòng một tình trạng sung mãn tột độ” (9). Tiện nghi của cuộc sống thì quá nhiều nhưng điều kiện thụ hưởng những tiện nghi đó lại quá ít. Cuộc sống do đó thường xuyên bất ổn. Quốc gia sẽ không đủ điều kiện cung ứng công ăn việc làm cho người dân cũng như khó lòng bảo đảm an sinh xã hội. Ngoại trừ một thiểu số, còn đại đa số người dân hoặc thất nghiệp - dài hạn hay ngắn hạn - hoặc nếu tìm được công ăn việc làm thì cũng chỉ với một lợi tức tối thiểu, khó lòng hưởng được mọi tiện nghi mà kỹ thuật đem lại, vì lẽ Nhà Nước và cả người dân không đủ phương tiện tài chánh. 

 

Dần dần, mọi nhân quyền, dân quyền... chỉ còn trên lý thuyết, thực tế con người không có điều kiện hưởng thụ. Luật pháp nhà nước có thể chặt chẽ, nghiêm khắc hơn nhưng tình trạng sa đọa của xã hội chỉ có tăng chứ không giảm. Nền dân chủ càng lúc càng yếu đi, càng lỏng lẻo nếu không muốn nói là không còn thực chất, vì người dân càng lúc càng trở thành một kẻ “đóng góp” vì bổn phận, nghĩa vụ quá nhiều mà tự do thực sự lại chỉ còn trên lý thuyết. Tại vì kỹ thuật đem lại thực dụng cho đời sống nói chung nhưng quên mất thực tế của con người, Mọi phát minh kỹ thuật, mọi chế tác dụng cụ thỏa mãn được tiện nghi về mặt thực tiễn thì lại tạo ra nhiều rắc rối, phức tạp về mặt tâm linh, tình cảm. Tính chất hợp lý hay sự “hợp lý hóa” của khoa học, kỹ thuật thuần túy có tính cách cơ năng không thể giải quyết được toàn bộ nhu cầu, sở thích và khuynh hướng của con người vốn là một hữu thể phức tạp. Sự “hợp lý hóa” nói chung về mặt khoa học, kỹ thuật là sự chọn lựa sắp xếp mọi dữ kiện, điều kiện nhằm đạt được mục đích đã định. Đấy là hệ quả của qui luật nhân quả nghiêm nhặt có tính cách tất định và cưỡng bức. 

 

Cuộc sống con người không phải lúc nào cũng nhằm đến một mục đích thực dụng rõ rệt. Từ khởi thủy đến nay, nhìn chung, con người chỉ có ba băn khoăn, lo lắng chính: 

 

- Trước tiên là đời sống thường nhật đòi hỏi mọi tiện nghi để thỏa mãn yếu tính tồn tại và phát triển của cấu trúc hiện thể; 

 

 - Tiếp theo là nỗi thắc mắc về ý nghĩa cuộc sống, tức là những băn khoăn, tra vấn về nguồn gốc, về cứu cánh nhân sinh thể hiện qua những tư lự về số kiếp, về định mệnh;

 

- Và sau hết là sự thèm muốn, xao xuyến và lo nghĩ về tình yêu.  

 

Khoa hoc thực nghiệm và kỹ thuật tập trung giải quyết nỗi lo lắng đầu tiên chứ khó lòng giải quyết hai vấn đề còn lại. Nhưng khoa học kỹ thuật càng ngày càng nghĩ rằng sự “hợp lý hóa” trong mọi tổ chức sắp xếp nhân sinh sẽ giải quyết được tất cả, do đó gây biết bao ngột ngạt cho cuộc sống con người mà hầu như con người không hay biết. Nhà khoa học - nhất là nhà kỹ thuật - khi phát minh chế tác hầu như chỉ để ý đến đối tượng của ngành mình (sáng tạo, phát minh) mà không để ý đến sự việc con người có khả năng và điều kiện thụ hưởng những kết quả của mình. Các nhà kỹ thuật chỉ nghĩ đến cái “tự dụng” của kỹ thuật mà ít để ý đến cái “tha dụng” của nó nơi con người, nơi xã hội. Do đó, rất nhiều phát minh, chế tác đã tạo nên chênh lệch xã hội trong hưởng thụ mỗi ngày một gia tăng, và “bình đẳng xã hội” chỉ còn trên lý thuyết, trên thực tế nó là một “bất bình đẳng” ẩn mặt. 

 

Và tự do, do đấy chỉ là tự do có điều kiện, nghĩa là có phương tiện. Không có phương tiện - nói rõ ràng là không có tiền - thì không thể hưởng được tự do, chẳng khác bắt một kẻ nhốt vào nhà giam để họ nhìn ngắm tự do của kẻ khác bên ngoài. Chủ trương “cây gậy và củ cà rốt” cũng như hình ảnh “củ cà rốt treo trước đầu con lừa” có thể nói lên điều đó một cách cụ thể. Muốn hưởng tự do, bình đẳng thì phải có điều kiện, không phải điều kiện của trí tuệ mà điều kiện tài chánh, điều kiện phương tiện. Mà muốn có điều kiện đó thì phải có việc làm. Việc làm càng lúc càng hiếm, lợi tức càng lúc càng kém so với vật giá bên ngoài càng lúc càng cao, đấy là một trong những vấn đề thường xuyên xảy ra trong nền kinh tế tư bản về mặt xã hội. Dĩ nhiên, không cần để ý đến tình trạng đó trong các xã hội cộng sản vì nơi đây, tự do, bình đẳng, phồn vinh… tất cả đều chỉ là bánh vẽ.

 

Một số người lạc quan cho rằng khoa học kỹ thuật càng phát triển và càng xâm nhập, điều khiển mọi ngành hoạt động khác, sẽ đưa xã hội thoát ly cảnh sống khốn cùng, lạc hậu, đạt đến trạng thái sung mãn, thỏa mãn hết mọi yêu cầu của con người, thể hiện được hết mọi giá trị mà con người luôn luôn đòi hỏi. Nhưng một số khác lại bi quan cho rằng cái vọng tưởng của khoa học kỹ thuật giải phóng con người khỏi mọi buộc ràng của đời sống, rốt cuộc lại chỉ câu thúc và nô lệ hóa con người nhiều hơn; một nền độc tài của kỹ thuật, một uy quyền chuyên chế của kỹ thuật khó lòng tháo gỡ như uy quyền phong kiến của các giáo hội trước đây. 

 

Ở đây, không bàn đến những vấn đề này vì sẽ rất dài dòng. Chỉ cần biết rằng, mọi việc làm, mọi hành động, mọi ý nghĩ, mọi thái độ, mọi tạo tác của con người trong cõi sắc giới này, bao giờ cũng tự thân mang chứa cặp anh em song sinh “Thiện-ác - Đúng-sai...”; bởi vậy, không nên trụ mình riêng ở một mặt nào, một lãnh vực nào, mà phải có cái nhìn bao quát, thống quan, mới hy vọng tránh cho nhân sinh bao nhiêu nhầy nhụa. 

 

Nền văn minh tự động, do các lẽ trên, sẽ có thể “giết chết” con người, giết chết lẽ sống con người đồng thời với nền văn hóa, văn minh. Nhân loại lại rơi vào vòng lẩn quẩn hay đành phải ngưng tiến bộ, hoặc tệ hơn phải giật lùi trở về cuộc sống thô sơ, hoặc bi đát hơn nữa, phải tìm cách hủy diệt lẫn nhau, và như thế là “tận thế” thật sự. 

 

Trong sách “Tiến hóa vå con người”, Georges Oliver đã nêu ra một đôi tiên đoán của một số nhà khoa học về thuyết tiến hóa. J. Huxley viết: “Trong suốt thời tiền tiến hóa dài dằng dặc, mỗi đổi thay trọng yếu đòi hỏi cả 100.000 năm; ngay sau cuối thời đại băng hà, chỉ cần khoảng thời gian 1 ngàn năm; trong suốt phần lớn thời gian có sử, thời gian cần thiết cho mỗi đổi thay là một thế kỷ, trong lúc hiện nay chỉ cần khoảng 10 năm hay gần như thế” (10). 

 

Do từ đó, nhiều nhà tiến hóa kết luận “có thể tiên đoán một giai đoạn ngưng đọng của dòng tiến hóa sẽ xảy ra trong một thời gian rất gần chúng ta. Von Foerster dự đoán vào năm 2030; Cailleux cho vào khoảng năm 2000 đến năm 2200; với F. Meyer thì vào khoảng năm 2050” (11). Trong phần chú thích thêm, G. Olivier chép như sau: “Trong những lời tiên tri của Thánh Malachie, thời đại chúng ta chấm dứt vào 4 đời Giáo Hoàng, từ Giáo Hoàng Paul VI; và theo Brun du Pontet nhắc lại lời tiên tri cho rằng thời gian tận thế vào tháng 6 năm 1996” (12). Đấy là những dự đoán về mặt khoa học và tôn giáo, chắc không đủ điều kiện thuyết phục. 

 

Giờ tận thế, theo Thánh kinh Ki-Tô giáo là giờ “Muôn vật đổi mới”, không có nghĩa nhân loại và trái đất hoàn toàn tiêu hủy mà là bước vào một kỷ nguyên mới mà hiện hữu của con người - có thể cả mọi giới loại khác - khác hẳn với hiện nay, và mối mâu thuẫn giữa con người kỹ thuật với con người tâm linh, cùng các nỗi lo sợ về nhân mãn và thiếu hụt lương thực, sẽ được giải quyết theo một cách thế nào đó.

 

Nhìn vào hiện tình thế giới, ta thấy ngay hai trạng thái sống đối nghịch: 

 

- Phần thế giới tiến triển về khoa học, kỹ thuật, đang phát triển trí năng thay cho thể năng, tạo nên một nền văn minh lượng dồi dào với những sản phẩm càng lúc càng bé (micro-produits), với những người máy làm việc thay con người, tỉ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng và cuộc sống quay cuồng theo vận tốc cơ năng.  

 

- Trong lúc đó, phần thế giới theo chủ nghĩa xã hội, tổ chức xã hội theo khuôn mẫu lý thuyết Mác, đang tận dụng thể năng để đẩy nền khoa học kỹ thuật lên cao độ một cách gấp rút, nếu thành công và tiến kịp đối phương thì lại rơi vào tình trạng của phe đối phương mà thôi, nhưng trên thực tế, với cơ cấu tổ chức theo phương pháp luận Mác-xít, phần thế giới này chỉ đưa xã hội và con người giật lùi về cuộc sống chậm tiến, lạc hậu và nạn thất nghiệp lại càng khủng khiếp, thất nghiệp hiểu theo nghĩa là không nghề nghiệp bảo đảm mà chỉ có một việc làm với lợi tức chết đói, sức lao động của con người không thể bảo đảm cho con người cuộc sống ở mức độ sơ đẳng nhất. 

 

Một bên con người sống mệt mỏi, lây lất như cây cỏ bám trên một vùng đất sỏi, luôn luôn ẩn ức, nổi loạn bung phá; một bên con người bơ phờ, buồn thảm, ngưng đọng trong một trạng thái không còn sinh khí. Hai trạng thái đó đưa con người và nhân loại về đâu?....

 

Liệu nhân loại có tận thế không? Tận thế bằng cách hủy diệt hay bằng cách thế nào ? Tận thế có nghĩa là đổi thay trạng thái sống hiện nay, đổi hướng nền văn minh hiện nay cho phù hợp với tiến trình của năng lượng từ thể năng sang trí năng được chăng? Trí năng dần dần thay thế thể năng nơi con người đưa đến hậu quả là không thể ai cũng cùng một khả năng trí tuệ đáp ứng được mọi yêu cầu của cuộc tiến hóa. Do đó, chỉ một số rất ít hội đủ cái năng lực trí tuệ siêu đẳng đó thôi. Số người đó, ngày nay, người ta đã tiên đoán và gọi họ là những “Technocrates”. Đấy là lớp người riêng biệt trong mọi ngành hoạt động của xã hội: kinh tế, chánh trị, quân sự, khoa học, y tế, giáo dục... nhưng điều kiện tiên quyết là họ phải có trình độ khoa học kỹ thuật cao. Xã hội, theo đà hiện nay, thiết yếu sẽ tiến đến tình trạng đặt căn bản trên sự tính toán chi ly, cẩn thận, chính xác, một “xã hội hạch toán” nếu muốn nói thế. “Do hoạt động hoàn thiện mình như một trí năng khoa-kỹ, trí tuệ con người bắt buộc tất yếu biến xã hội thành xã hội hạch toán, tự tổ chức trong và bởi con toán. Nó chuyển xã hội do nó ngự trị sang xã hội cơ sở vào sự tính toán.” (13). 

 

Và khi nhu cầu đặt chân lên những hành tinh khác, số người chuyên biệt đó không thể là từng cá nhân riêng lẻ hoặc từng kết tập nhỏ nhoi tại mỗi nơi, mỗi nước, mà chất xám thế giới phải tập trung nhau lại. Quyền lực tại mỗi nước cũng như trên thế giới tất yếu nằm trong tay số người siêu đẳng đó, vì chính họ quyết định chiều hướng và khả năng tiến hóa của con người. Còn đại đa số nhân loại còn lại sẽ sống trong một tình trạng sung mãn về vật chất - giả thiết như thế - sẽ làm gì lúc bấy giờ? Họ rảnh rỗi, nhàn nhã quá đỗi sẽ tìm mọi thứ giải trí, mọi hoạt động về các mặt văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch chăng? Ta chưa thể nào rõ được. 

 

Nếu quả, tiến bộ khoa học kỹ thuật lúc đạt đến mức độ tự động hóa, sản xuất của cải dư thừa, con người chẳng phải làm việc gì nhiều, mà tiêu thụ bao nhiêu tùy theo sở thích, thì quả thật xã hội tiến đến một chế độ thực chất đẹp đẽ muôn lần hơn chế độ Cộng sản mà Mác dự liệu, vì Cộng sản mà không tập thể hóa, quốc doanh hóa tài sản. 

 

Lúc đó, con người sẽ từ bỏ giai đoạn thiết yếu nhảy vọt sang giai đoạn của tự do mà tự sáng tạo lấy mình, nhưng đại đa số nhân loại có yên phận phó thác cuộc sống mình cho thiểu số chuyên gia đó và sẽ lệ thuộc họ một cách triệt để? Những giá trị và yêu cầu mà con người lâu nay hằng đòi hỏi: độc lập, tự do, cơm áo, công bình, yêu thương... đến lúc đó còn cần thiết hay sẽ biến cải như thế nào? Và giá trị làm người nơi tự thân mỗi người và đối chiếu với xã hội sẽ ra sao? Ta chưa thể tiên đoán được. Điều ta có thể chắc chắn là lịch sử tiến hóa - nếu không rủi ro vì lý do ngoại tại nào - nhất định phát triển đúng theo dòng đi đó. Điều này đến nay không còn là dự đoán mà là sự việc tất yếu.

 

Liệu thiểu số chuyên gia đó có đầy đủ tinh thần nhân bản để đem lại an lạc cho con người hay trở thành một nhóm người đặc biệt “cuồng tín lý trí” tạo nên một thứ tôn giáo mới, mà “sự hợp lý hóa” biến thành một thứ đức tin cũng vô cùng nghiêm nhặt như đức tin tôn giáo thời Trung cổ. Họ tạo nên một thứ “ý thức hệ” mới một chiều chẳng khác gì ý thức hệ Cộng sản, rồi cả họ, cả ý thức hệ của họ, biến thành quyền lực tuyệt đối xem quần chúng nhân dân là tín đồ hay công cụ; những ai không phục tùng họ sẽ bị đánh giá là những kẻ ngoại đạo, phản động, không được họ ban cho một ơn phước nào hay sẵn sàng bị họ hy sinh? Không có một lực lượng nào chống đối lại họ được vì với trình độ kỹ thuật vô cùng linh diệu, họ dập tắt hết mọi cản trở trên bước đường của họ. Nếu quả thế thì nền văn minh tiến đến một trình độ siêu tuyệt, một thứ văn minh man rợ của một thời man rợ văn minh? Đã có một tác phẩm “khoa học giả tưởng” nào nói đến điều này chưa? 

 

Liệu ta có thể bi quan như thế chăng? Và liệu tuyệt đại đa số nhân loại không là chuyên gia đó sẽ sống như thế nào, sẽ ổn định cuộc sống vật chất và tâm linh như thế nào? Nhân loại sẽ loạn chăng? Một thứ “hư vô chủ nghĩa” mới chăng? Những giá trị mà thế giới Tây Phương đang tự hào - tự do, bình đẳng, nhân đạo, hạnh phúc của con người - đến lúc đó có còn chăng, có cần thiết chăng, có trở nên vô nghĩa chăng? Dĩ nhiên nhân loại phải có cách giải quyết vấn đề này để có thể tạo lập một thế quân bình đi lên, một trạng thái dịch ổn (ổn định động và chuyển dịch hóa) của địa cầu trước yêu cầu của kỷ nguyên mới. 

 

Do đó, người ta nghĩ đến một nếp sống tâm linh phần nào có khác với mọi nền đức lý trước nay, trong đó một số điều được xem là tội lỗi đối với luật pháp xã hội, đối với tôn giáo, sẽ được hợp thức hóa bởi luật pháp mới và được công khai chấp thuận bởi xã hội. Mọi nền đức lý trước nay được hình thành phát xuất từ một số khái niệm tiên thiên cơ bản (Ý chí, Thượng Đế, chân, thiện, mỹ, công bằng, bác ái, giá trị con người - những khái niệm trừu tượng) ứng dụng vào từng trạng thái hiện hữu của từng tập đoàn nhân loại, do xã hội qui ước thành những lề luật tinh thần nhằm ổn định xã hội, thế tất cũng phải thay đổi theo cách thế nào đó để thích ứng với trạng thái hiện hữu mới. 

 

Trong viễn tượng của kỷ nguyên mới, trước yêu cầu hội nhập của nhân loại, người ta hình dung một thứ tâm thức thống quan, một nền tâm linh thống hợp phù hợp với thời kỳ con người không còn bị lệ thuộc vào thiết yếu và những câu thúc của đời sống vật chất để phóng mình vào thời kỳ của tự do hoàn toàn. 

 

Với sự chuyển đổi năng lượng từ thể năng sang trí năng, con người và nhân loại đang đứng trước một bước nhảy vọt của lịch sử và lịch sử chính thức của con người mới bắt đầu vì con người rời bỏ trạng thái động vật để trở thành một “giới loại thứ tư” (quatrième règne). 

 

Cả lịch sử từ khởi thủy đến nay, con người có tranh đấu, có tiến hóa, thì xét chung, là để thoát ly cái trạng thái động vật nơi mình và tiến đến thời kỳ con người mới là “người” thật sự, với những quan năng tinh thần vượt khỏi giới hạn trí tuệ hiện nay của chúng ta. “Tất cả chúng ta đều đang tham dự một chuyển động lớn lao của con người vươn đến trạng thái siêu nhân” (14). Gọi là “siêu nhân” hay “con người ngoại đẳng”, danh từ chưa cần xác định. Ta cần để ý rằng khi trí năng thay chỗ thể năng để chỉ đạo dòng tiến hóa và khi phải bước vào kỷ nguyên liên hành tinh, khi mọi điều kiện khoa học kỹ thuật về mọi lãnh vực phổ biến khắp địa cầu phá bỏ mọi hàng rào phân chia, kỳ thị vì lý do này hay lý do nọ, làm cải biến tất cả mọi cơ cấu chánh trị, kinh tế, xã hội, văn hóa... lâu nay, thì sự xuất hiện của một nền tâm linh thống hợp, phổ quát cho toàn địa cầu tất yếu phải xảy ra để đưa nhân loại vào thế ổn định. 

 

Tâm linh thống hợp đó có nội dung ra sao, đó là điều cần phải suy nghĩ, tìm hiểu và tự mỗi người chiêm nghiệm, suy tư và hướng đến căn cứ vào những điều kiện tiến hóa hiện nay và sắp tới. P. T. de Chardin đã nói giúp cho chúng ta một đôi điều. Nhà nhân chủng học vừa là một tín đồ tôn giáo, vừa là một nghệ sĩ và là một nhà tiên tri có luận lý, đã thoát ra khỏi quan niệm nhị nguyên, nhất nguyên, đã không bị ghim vào sự phân biệt tinh thần - vật chất... cho rằng: “Năng lượng tự bản chất cũng là tâm linh và cái năng lượng cơ bản đó, kể cả năng lượng nguyên tử, tự phân ra thành hai thành phần riêng biệt: một thành phần gọi là năng lượng tiếp cận có khả năng kết hợp mọi cấu tố cùng loại và một thành phần gọi là năng lượng hướng tâm có khả năng thâu hút vào một trạng thái mỗi lúc một phức tạp hơn và tập trung hướng tới trước”(15). 

 

Cái tâm linh thống hợp đó còn cần thiết hơn nữa vì nếu không thì con người lúc đó sẽ ra sao? Và liệu có còn xã hội loài người nữa không? Vì rằng khi năng lực thể chất dùng vào sản xuất của con người được chuyển hết vào cho những người máy và các bộ óc điện tử, khi của cải sản xuất dư thừa, con người không còn lệ thuộc, nương tựa nhau trong lao động thì lao động có ích gì cho con người. Lúc đó, dầu có quần cư đầy trên mặt đất nhưng sợi dây liên kết và mọi quan hệ giữa người và người không còn là nhu cầu của đời sống. Xã hội loài người sẽ chẳng khác xã hội loài vật, sống thành bầy nhưng chẳng cần biết đến nhau vì chẳng ai còn cần thiết đến ai. Xã hội sẽ không còn hoặc chỉ có những tập hợp xã hội nhỏ theo từng cách sinh hoạt riêng biệt nào đó? Và khoa học kỹ thuật, trong mối quan hệ hữu cơ giữa hai bên, một khi không còn phải phục vụ cho nhu cầu của đời sống, sẽ tung tăng trên lộ trình đi tìm cái “biết để biết” mà ly dị với cái “biết để sống” của con người chăng? Và như vậy, cái gọi là “tính người” - con người lý trí, con người tình cảm, con người xã hội... sẽ còn chăng hoặc sẽ ra sao. Ngay cả gia đình, trong phạm vi nhỏ nhất - giữa vợ với chồng - cũng sẽ không còn nữa chăng vì sinh lý và đức lý không còn liên quan nhau hay không còn cần phải đặt ra nữa. 

 

4. Biến dạng của cơ thể: 

 

Đã từ lâu, bằng dự tưởng, người ta hình dung ra con người mà cơ thể không giống như hiện nay. Người ta nghĩ đến một thứ “người hỏa tinh”, người trong thời đại mới với tấm thân thấp lùn, chân tay ngắn ngủn, cặp mắt rất tinh, cặp tai rất thính và chiếc đầu rất lớn... hay ngược lại. 

 

Người ta giải thích sự thay đổi trên cơ sở vào lý thuyết của Lamarck. Về sự thay đổi hình dạng, Lamarck viết: “Nhu cầu tạo nên bộ phận cần thiết, và sự sử dụng làm bộ phận đó mạnh mẽ và tăng trưởng rõ rệt; sự ít sử dụng, ngược lại, sẽ làm bộ phận đó teo đi và dần dần đưa đến hủy diệt vì tính cách vô ích của nó, vô ích vì không còn công dụng để thích ứng với môi trường sinh hoạt” - Hai cái qui luật đó, gọi tắt là “nhu cầu sinh bộ phận” (la fonction crée l’organe) và “sự sử dụng hay không sử dụng” (usage - non usage) do ảnh hưởng của môi trường đã quyết định tiến trình sinh hóa của sinh vật. 

 

Thuyết tiến hóa ngày nay đi xa hơn những khám phá của Lamarck. Người ta tìm ra rất nhiều yếu tố làm biến đổi cơ thể và tâm linh của sinh vật. Ngoài ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, cùng với những qui luật tiến hóa lâu nay: thích ứng và biến chủng (adaptation et variation) cùng những dạng thức của qui luật đó: thay đổi đột ngột của các gène (Gène-mutuation), tuyển trạch (sélection), tiền thích nghi (préadaptation), tiến hóa trực đồ (ortho-genèse). Yếu tố quyết định sự thay đổi cơ thể của con người tương lai được chú trọng là sự phát triển của chiếc sọ và của hệ thần kinh não bộ, cơ quan làm tăng trưởng trí thông minh của con người. 

 

Nhìn chung, cơ sở trên những nét chính yếu, sự tiến hóa được định hướng rõ ràng qua những dòng sinh của động vật tiến đến sự tạo lập một hệ thống thần kinh mỗi lúc một phức tạp, mỗi lúc một tập trung, cho phép xuất hiện một tâm linh biểu hiện càng lúc càng tiến triển hướng đến một tâm thức hoàn hảo. Đây là một sự kiện không là một lý thuyết” (16). 

 

Não bộ và hệ thần kinh của con người đến một lúc nào đó (lúc năng lượng trí năng thay cho năng lượng thể năng và năng lượng tâm linh - tâm năng - thay cho trí năng) cũng sẽ hoạt động và tiến triển như một sinh thể vật chất hay như một cơ cấu xã hội... nghĩa là theo hướng thống hợp các trung khu khác nhau của não bộ, cũng như những kênh giao liên khác nhau của hệ thần kinh sẽ không chỉ phối hợp theo mức độ nhanh như bây giờ (dầu bây giờ, chúng đã phối hợp rất nhanh để tiếp nhận lượng thông tin lớn lao, phức tạp và phát lệnh hành động với vận tốc cực nhanh) mà sẽ thống hợp chặt chẽ hơn nữa, mãi đến nỗi hầu như hội nhập hẳn vào nhau. Cấu trúc của não bộ chắc hẳn không còn chằng chịt rối rắm như hiện nay mà sẽ rất đơn giản nhưng công hiệu vô cùng lớn lao (hình ảnh chiếc đồng hồ điện tử cho phép ta hình dung việc đó - xem phần sau: qui luật “trương nở của lượng cô đọng vào phẩm”) và hoạt động theo một vận tốc cực nhạy và chính xác. 

 

Cái chuồng trại vật chất của tâm linh có thể không còn là cơ sở quan trọng mấy và tâm linh đạt đến trình độ như “thần linh” theo một hình ảnh nào đó để mọi lượng thông tin tự phát khởi (Sở) hoặc tiếp thu (Năng) đều có thể dẫn đến mức độ “Nhất giác toàn triệt, nhất niệm toàn tri”. Dự tưởng này kể ra quá xa xôi, mơ hồ nhưng không hẳn là không hợp lý và không hẳn là không xảy đến cho con người. 

 

P. Teilhard de Chardin gọi cái tâm linh lúc bấy giờ là “Siêu tư duy” (Sur-réflexion). Với môi trường sinh hoạt mới (liên châu và liên hành tinh), với sự tiến bộ thần tốc của khoa học kỹ thuật, trong những điều kiện mới, với sự không còn sử dụng năng lượng vật chất nơi mình, với sự thành hình một tâm linh thống hợp, chính sự tăng trưởng của trí tuệ trong những điều kiện đó sẽ rất có thể làm biến đổi cơ thể con người. 

 

Có người nghĩ rằng cơ thể con người nhỏ bé lại, có người nghĩ là sẽ lớn thêm, xin dành vấn đề cho các nhà tiến hóa luận, sinh vật học, và tác giả các chuyện giả tưởng, vì là lãnh vực và thẩm quyền của họ. Người viết nghĩ rằng trong một tương lai xa, trương độ và thời gian không là những phạm trù cố định mà tùy thuộc vào sở thích của tâm linh. Điều chắc chắn mà ta tin được ngay từ bây giờ là con người sẽ thoát ly trạng thái động vật hiện nay để mở ra kỷ nguyên “con người thật sự là người”. Gaston Berger đã nói: “Lịch sử con người chưa bắt đầu” và P. Teilhard de Chardin bảo: “Chúng ta đang trong trong thời tiền sử của nhân loại” (17).

 

Theo Le Gallic, mỗi chủng loại mới được hình thành phải qua một thời gian từ 300.000 năm đến 600.000 năm. Nếu đúng như thế thì con người sẽ còn phải lâu lắm mới có thể trở thành một chủng loại mới, vì từ con người Homo-Sapien đến con người hiện nay chỉ mới có 80.000 năm thôi, Tuy nhiên, nếu kể từ con người Neanderthal đến người hiện nay thì rất có thể “con người tương lai” (homo-futurus) sẽ đến rất nhanh (18) và con người tương lai đó sẽ có một cơ thể chắc là có khác với hình hài ta hiện nay.