Ngày 16 tháng 12 (đoạn đầu lược bỏ): Tối nay, Kogoro Akechi đã đại giá quang lâm. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp vị thám tử tư danh tiếng lẫy lừng này. Ngoại hình của ông đúng như những gì người ta vẫn đồn đại. Mái tóc xoăn bồng bềnh hơi hoa râm. Dù nói thế nào thì đây cũng là một người đàn ông đẹp mã với tinh lực cực kỳ sung mãn. Chồng tôi, Takehiko và tôi đều có mặt, nhưng người nói chuyện chủ yếu là chồng tôi và Akechi, tôi và Takehiko hoàn toàn chỉ đóng vai người nghe.
Chúng tôi được biết từ chỗ Akechi rằng bạn của Murakoshi, vị họa sĩ quái gở đó, đã chết đuối tại hạ lưu sông Sumida gần cầu Senju vào đêm trước khi Murakoshi bị giết.
Tối hôm đó, Akechi đã trao đổi tỉ mỉ với chúng tôi về hai việc. Một là, ông ấy đã giải mã âm mưu dàn dựng căn phòng kín tại hiện trường vụ án Murakoshi mà không tốn chút công sức nào. Các tình tiết được diễn giải rất lớp lang và có cả sơ đồ minh họa. Xem ra không phải là ông ấy đang cố tình tỏ ra bí hiểm. Thậm chí có vẻ như ông ấy nói vẫn chưa thực sự thỏa thuê.
Việc thứ hai là ông ấy kể rất chi tiết về căn gác lửng kỳ lạ của người bạn họa sĩ tên San-ki. Trong căn phòng đó bày rất nhiều tủ kệ cũ nát, trên tủ đặt một cái mô hình người vốn dùng trong ngành may mặc vừa bẩn vừa cũ. Cái mô hình này đã thu hút sự chú ý của ông ấy. Ông ấy chỉ nhìn thấy phần đầu gắn liền với ngực, hai cánh tay và hai cái chân, không thấy phần eo và bụng đâu. Hơn nữa ở phần trên của chân và phần dưới của ngực có rất nhiều lỗ nhỏ. Akechi đã phân tích tỉ mỉ khả năng ngực và chân từng được kết nối với nhau bằng sợi dây mảnh hoặc dây đồng.
Đến đó là hết, ông ấy không đề cập thêm tình tiết nào khác của vụ án, cũng không yêu cầu chúng tôi cung cấp manh mối gì. Vậy thì, ý đồ của ông ấy khi kể chi tiết hai việc này với chúng tôi là gì? Một người có thể dễ dàng giải được bí ẩn phòng kín như Akechi thì không đời nào lại không biết những tình tiết quan trọng hơn thế, chẳng qua là ông ấy cố ý không nói, để lại những phần còn lại cho chúng tôi tự suy ngẫm mà thôi.
Quả thực là một nhân vật vừa đáng ghét vừa đáng sợ.
Ông ấy nhìn chồng tôi mỉm cười một cách kỳ lạ, và chồng tôi cũng đáp lại bằng một nụ cười đầy vẻ giễu cợt. Điều này nghĩa là sao? Chẳng lẽ chồng tôi cũng biết điều gì đó giống như Akechi? Cuộc đối thoại giữa hai người họ phải chăng là "tâm chiếu bất tuyên" (ngầm hiểu ý nhau mà không cần nói ra)? Những chuyện mà tôi không biết đó rốt cuộc là gì?
Ngày 17 tháng 12: Đêm qua sau khi lên giường, chồng tôi không nói một lời nào. Khoảng thời gian từ lúc Akechi về cho đến lúc đi ngủ, chúng tôi có trao đổi vài câu xã giao, nhưng không hiểu sao ông ấy đột nhiên trở nên cáu kỉnh. Dường như lời tôi nói đã khiến ông ấy không vui, nhưng tôi không tài nào nghĩ ra mình đã mạo phạm câu nào. Đây là lần đầu tiên tôi thấy gương mặt chồng mình u ám đến thế. Đêm đó, chúng tôi không hề có sự mặn nồng như mọi khi. Sau khi lên giường vẫn rất tẻ nhạt. Cả tôi và chồng đều lười mở miệng. Chỉ cảm thấy một nỗi u uất và bất an đang xâm chiếm, nói là u uất không bằng nói là sự sợ hãi. Bóng tối của nỗi sợ hãi đang từng bước một lan rộng.
Về việc xem xét vấn đề, tôi không phải là người không biết dùng lý lẽ, chỉ là trực giác của tôi luôn đến trước lý lẽ, hay gọi là dự cảm cũng được. Tôi đem những điều mình cảm nhận được trước tiên ra để phân tích cụ thể dần dần, và kết quả thường là ứng nghiệm với dự đoán của mình. Đến nay vẫn chưa có tiền lệ nào cho thấy dự cảm của tôi mâu thuẫn hay phi lý cả. Vì vậy tôi rất tin vào linh tính của bản thân.
Đây là lần đầu tiên chồng tôi tỏ ra kinh hồn bạt vía như vậy. Linh tính dị thường này của tôi chắc chắn không sai, tôi nhất định phải phân tích nguyên nhân của nó. Thế nhưng kết quả phân tích thật khiến người ta sởn tóc gáy. Từ rất lâu trước đây tôi đã có một dự cảm nào đó, nhưng đến hôm nay vẫn chưa tiết lộ là bởi vì tôi vẫn luôn tự lừa dối chính mình.
Bí mật của tôi càng không muốn cho ai biết thì lại càng muốn trút bầu tâm sự, vì thế tôi mới hình thành thói quen viết nhật ký. Và nhất định phải dùng loại nhật ký có khóa. Việc giấu kín bí mật vĩnh viễn trong lòng là một nỗi khổ tâm lớn. Thuyết tâm lý học phân tâm cho rằng đó là nguồn cơn của bệnh tật. Bí mật càng sâu thì nỗi đau càng lớn. Tòa giải tội của Đạo Hồi (ý chỉ nơi sám hối) chắc chắn được phát minh ra để xoa dịu nỗi đau, nó vô tình phù hợp với nguyên lý của tâm lý học phân tâm. Thế nhưng, dù đối diện với vị tu sĩ thần thánh đến đâu, tôi cũng không thể thú nhận bí mật của mình. Vì vậy, tôi quyết định trút bỏ toàn bộ bí mật vào cuốn nhật ký có khóa này để giảm bớt nỗi phiền muộn. Nhật ký viết đầy rồi sẽ đem đốt sạch. Đến nay tôi đã viết hết bảy cuốn, tất cả đã thành tro bụi, và cuốn thứ tám này chẳng bao lâu nữa cũng sẽ bị thiêu hủy.
Chồng tôi đã đi từ sáng sớm, những người giúp việc đều im lặng, không ai làm phiền tôi. Tôi đem những vấn đề mình đã suy nghĩ suốt cả đêm qua tái hiện từng cái một vào nhật ký.
Đêm qua, khi tôi nằm trên giường mở trừng mắt suy tư, con quái vật ẩn náu sâu thẳm trong lòng tôi bỗng chốc nhảy ra trước mắt. Dù bị dọa cho kinh khiếp nhưng tôi vẫn không thể rời mắt khỏi nó. Nếu không phẫu tích triệt để những nghi ngại mờ ám kia thì nỗi bất an trong tâm hồn sẽ vĩnh viễn không biến mất. Tôi phải túm chặt lấy con quái vật đó, đặt nó dưới ánh sáng mạnh để mổ xẻ. Nếu viết ra toàn bộ quá trình và kết quả của cuộc phẫu tích này thì sẽ rất dài, chắc phải tốn vài chục trang nhật ký.
Ngay từ đầu sự việc, chúng tôi đã thấy cảnh tượng chiếc khăn tay màu trắng rơi ra ngoài cửa sổ. Cảnh tượng này từ lâu đã trở thành một hình ảnh thường xuyên hiện lên trong trí não tôi. Nhưng nếu phân tích hàm nghĩa của chiếc khăn tay này thì thật đáng sợ. Tôi thừa hiểu bí mật bên trong nhưng vẫn giả vờ như không biết gì, đó chẳng qua là tự lừa mình dối người mà thôi. Bây giờ tôi không thể không nói ra sự thật trong lòng nữa.
Lúc đó, tôi và chồng đang ở tầng hai biệt thự Atami dùng ống nhòm quan sát vách đá Uomi-zaki. Khi tôi thấy có người dưới gốc cây tùng, tôi đã nói với chồng đang đứng cạnh bên. Thế là chồng tôi cầm một chiếc ống nhòm khác để xem. Ông ấy có một thói quen, hễ dùng ống nhòm là nhất định phải lấy khăn tay lau ống kính. Lúc đó ông ấy lấy khăn ra lau theo lệ, ngay khoảnh khắc sau, chiếc khăn tuột khỏi tay, bay ra ngoài cửa sổ. Vì vậy, khi chúng tôi điều chỉnh lại ống nhòm để xem, Kida vừa vặn đang rơi từ trên vách đá xuống.
Có thật là vì chồng tôi bất cẩn nên chiếc khăn mới rơi không? Nếu là cố ý thì sự việc sẽ như thế nào? Tôi nghĩ ông ấy đã cố ý. Ý nghĩ này đã nảy mầm trong lòng tôi từ lâu, nhưng tôi không dám nghiêm túc nghĩ tiếp. Bởi vì tôi thấy sợ hãi, run rẩy, hễ nghĩ đến chuyện này là con quái vật đáng sợ kia lại hiện ra trước mắt.
Bây giờ, nếu chúng ta giả định chồng tôi cố ý để chiếc khăn rơi xuống, sẽ dẫn đến một kết luận kinh khủng: chồng tôi chính là hung thủ giết người. Và chiếc khăn trắng bay ra ngoài cửa sổ chỉ có thể được nhận định là tín hiệu phát cho một kẻ nào đó ở bên ngoài. Ngoài điều này ra không còn khả năng nào khác. Vậy tín hiệu đó phát cho ai? Đó là phát cho kẻ đang nấp ở vách đá Uomi-zaki đối diện, kẻ cũng đang dùng ống nhòm chăm chú nhìn về phía biệt thự. Đương nhiên, kẻ đó chắc chắn không phải Kida, mà là một người khác. Kẻ đó nấp trong bụi cây rậm rạp nên ống nhòm phía bên này không thể thấy được.
Tại sao nói tín hiệu không phải phát cho Kida? Bởi vì người đứng trên vách đá lúc đó vốn không phải bản thân Kida. Chúng tôi dùng ống nhòm chỉ thấy có người rơi xuống, mãi cho đến khi phát hiện thi thể Kida, chúng tôi cũng không hề biết rằng người đứng trên vách đá lúc đó không phải anh ta. Dù có sự hỗ trợ của ống nhòm nhưng vẫn nhìn không rõ, bộ vest sọc đẹp đẽ đó khi phản chiếu vào ống nhòm chỉ là một màu xám xịt.
Qua cuộc trò chuyện với Akechi tối qua mới khiến tôi sực tỉnh và hiểu ra: người rơi xuống vách đá mà chúng tôi chứng kiến không phải chính thân Kida. Khi thám tử đối diện với nghi phạm, họ chỉ nói ra một phần sự thật để kích động tâm lý sợ hãi của đối tượng, khiến đối tượng không kịp trở tay và trong lúc hoảng loạn sẽ làm ra những việc ngu xuẩn ngoài dự tính. Họ chỉ chờ đợi khoảnh khắc đó đến mà thôi.
Tối qua Akechi đã vận dụng chính thủ đoạn này. Đó là một phương pháp thẩm vấn tâm lý. Ý tứ của ông ta rõ ràng là nói: Chẳng phải bí ẩn phòng kín đã bị chúng tôi giải mã dễ dàng thế sao, lại còn bí mật về cái mô hình người kia nữa... cho nên tất cả những chuyện khác chúng tôi đều đã biết rõ cả rồi.
Khi Akechi nhắc đến mô hình người, tôi đã không kìm lòng được mà kết nối nó với sự việc chiếc khăn tay. Tại sao mô hình người trong phòng họa sĩ lại không có phần bụng và eo? Bởi vì dù túi da có lớn đến đâu cũng không thể chứa được cả một cái mô hình nguyên vẹn, phần thân trên và chân nối liền nhau dù có cắt làm đôi cũng vẫn không nhét vừa. Mà cái túi da đó chính là cái mà cô phục vụ quán trà nhìn thấy người đàn ông mặc áo khoác xám xách theo. Bên trong đó chứa chính là cái mô hình người kia. Tổng hợp tất cả những điểm nghi vấn chỉ có thể đưa ra kết luận như vậy. Giống như trò chơi xếp hình vậy, ghép chúng lại với nhau là thấy khớp hoàn toàn.
Akechi đã kể đầy ẩn ý về việc ở phía dưới ngực và phía trên đôi chân của mô hình có một vòng những lỗ nhỏ. Có thể dùng dây đồng bện làm đôi để khâu chúng lại với nhau cho khớp lỗ. Thế là đoạn dây đồng giữa phần ngực và phần chân sẽ được xếp lại như một cái rèm trúc. Bằng cách này, nó hoàn toàn có thể thay thế cho cả một cái mô hình hoàn chỉnh. Sau đó, mặc bộ vest giống hệt Kida cho mô hình, quấn quanh cổ nó một sợi dây mảnh rất chắc chắn giống như dây câu cá, chiều dài sợi dây nhất định phải dài hơn khoảng cách từ vách đá xuống mặt biển.
Người đàn ông mặc áo khoác xám mà cô phục vụ thấy đã tháo rời mô hình cho vào túi da lớn, mang lên vách đá. Sau đó anh ta giấu nó trong bụi cây mà đứng từ cửa sổ tầng hai biệt thự không nhìn thấy được, rồi lắp ráp lại thành một hình nộm giống hệt Kida, sau đó buộc sợi dây ở cổ vào cây tùng. Đến đây, mô hình trở thành một con rối cần người thao tác đứng trên vách đá. Người thao tác rối vẫn nấp trong bụi cây, anh ta dùng sợi dây đó để điều khiển con rối hoạt động. Người mà chúng tôi thấy qua ống nhòm đứng trên vách đá thực tế là con rối người đó.
Lúc đó, chồng tôi cũng cầm lấy ống nhòm. Và chiếc khăn tay rơi ra ngoài cửa sổ thực chất là mật hiệu. Người đàn ông nấp trên vách đá lúc này cũng đang nhìn về phía bên này. Khi thấy chiếc khăn rơi xuống, anh ta lập tức cho con rối rơi xuống vách đá. Thế là cảnh tượng đó lọt vào ống nhòm của cả hai chúng tôi.
Tại sao phải dùng khăn tay làm mật hiệu? Điều này đã quá rõ ràng. Nếu không có hai người bên này nhìn qua thì bên kia sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Ý nghĩa hiển nhiên là: "Ống nhòm đang nhìn về phía anh rồi đấy". Một kế hoạch thật tinh vi làm sao! Dù có vài giây điên cuồng đó nhưng mọi kế hoạch đều đã được thực thi trôi chảy. Ôi! Cái thủ đoạn làm rơi khăn tay một cách thản nhiên đó! Thật đáng sợ, một mưu đồ đáng sợ biết bao.
Chỉ riêng việc thực hiện một màn biểu diễn đã tốn bao tâm huyết. Và tại sao phải tốn công sức như thế để bắt người khác phải thấy cảnh con rối rơi xuống? Đó là để tẩy trắng cho bản thân, từ đó tạo ra một bằng chứng ngoại phạm không thể chối cãi. Lúc đó người dùng ống nhòm quan sát mỏm Uomi-zaki chỉ có tôi và chồng tôi, còn Takehiko cũng có mặt và anh ta nói mắt thường cũng thấy một vật nhỏ như hạt đậu rơi từ trên cao xuống. Như vậy là có ba nhân chứng. Hơn nữa ba người này còn là những người đầu tiên phát hiện ra vụ án. Chính vì chúng tôi báo án nên cảnh sát mới phát hiện thi thể Kida. Nhưng hung thủ thực sự vừa là nhân chứng đứng từ xa, vừa là người phát hiện ra sự việc. Còn có sự sắp đặt nào tinh vi hơn thế không?
Thứ vớt được dưới biển lên không phải hình nộm, mà là Kida thực sự. Chẳng cần phải bàn cãi. Trước khi chúng tôi chứng kiến màn rơi giả kia, Kida đã bị ai đó đẩy xuống từ chính vách đá đó rồi. Sau đó màn kịch con rối rơi vách đá mới diễn ra. Đến đây, quá trình giết người đã hoàn tất một cách thần không biết quỷ không hay. Và khi chúng tôi rời khỏi cửa sổ tầng hai biệt thự, người đàn ông mặc áo khoác xám đã dùng sợi dây buộc ở cổ mô hình để kéo nó từ dưới vách đá lên, tháo rời rồi nhét lại vào túi da lớn, âm thầm lẻn đi mất.
Phân tích đến đây, những chi tiết nhỏ nhặt cũng dần trở nên rõ ràng. Khi người đàn ông đó xách túi da quay lại ga Atami thì quán trà đã đóng cửa. Quán thường đóng cửa tầm 5 giờ, tối hôm đó mở đến tận 5 giờ hơn 20 phút. Mà người xách túi da thì về muộn hơn thế nên cô phục vụ chắc chắn không thể thấy anh ta quay lại.
Vậy thì, người đàn ông mặc áo khoác xám mà anh thanh niên nông thôn tên Ikeda nhìn thấy là ai? Chẳng phải người đó đã cùng Kida đi về phía vách đá sao? Suy nghĩ một chút sẽ thấy có một sự sơ hở rất lớn ở đây. Anh thanh niên quê mùa không có đồng hồ, vì vậy anh ta không biết thời gian chính xác lúc hai người đó đi qua. Mà các điều tra viên cũng không lưu ý điểm này, họ nhầm tưởng hai người đàn ông cùng mặc áo khoác xám là một người. Người mà anh thanh niên thấy không xách túi da, nếu giải thích rằng lúc đó túi da đã được đặt ở chỗ khác thì cũng rất logic. Tuy nhiên, thực tế người mặc áo khoác, đội mũ, đeo kính, để ria mép mà cô phục vụ thấy và người mà anh thanh niên thấy vốn không phải cùng một người, mà là hai người hoàn toàn khác nhau sử dụng cùng một kiểu trang phục và hóa trang. Nếu không coi là hai người thì sẽ không hợp lý. Vậy người mà anh thanh niên thấy là ai? Đó chính là hung thủ thực sự – Omagahara Yoshitaka, tức chồng tôi.
Chỉ duy nhất ngày hôm đó, chồng tôi tự lái xe đến sân golf. Lúc quay về, ông ấy đỗ xe trong rừng cây cách mỏm Uomi-zaki một đoạn khá xa, đi gặp Kida theo hẹn ước từ trước và cùng đi dạo trên vách đá. Trong đống quần áo thay đồ của chồng tôi có áo khoác xám và mũ dạ, ông ấy mang những thứ đó theo xe để thay là hoàn toàn khả thi. Bộ râu và kính chắc chắn cũng đã được chuẩn bị sẵn.
Kida yêu tôi nhưng cũng rất tôn kính chồng tôi, chuyện này đối với anh ta chẳng có gì mâu thuẫn. Anh ta coi chồng tôi là một nhân vật vĩ đại vượt lên trên tất cả. Cho nên chỉ cần chồng tôi bảo gì anh ta cũng nghe theo. Nếu chồng tôi hẹn gặp ở mỏm Uomi-zaki vào chiều tối, anh ta nhất định sẽ đến đúng hẹn. Giả sử chồng tôi bảo anh ta đừng nói chuyện hẹn gặp này cho ai biết, anh ta sẽ không hé răng ngay cả với tôi. Thế là, chồng tôi vừa trò chuyện vừa dẫn anh ta đến dưới gốc cây tùng, rồi trong lúc nói cười đã chớp thời cơ đẩy anh ta xuống vách đá. Sau đó ông ấy quay lại chỗ đậu xe, thản nhiên lái xe trở về biệt thự.
Từ lúc chồng tôi về đến biệt thự cho đến khi đứng trước cửa sổ tầng hai nhìn ống nhòm, có một khoảng cách thời gian chừng bốn mươi phút. Vì vậy vụ án mạng thực sự phải diễn ra vào khoảng năm mươi phút trước mốc 5 giờ 10 phút, nghĩa là khoảng 4 giờ 20 phút chiều. Thời gian anh thanh niên nông thôn thấy hai người đi qua chắc chắn phải sớm hơn mốc này vài phút. Cả anh thanh niên và các điều tra viên đều nhầm lẫn về thời gian, bỏ qua khoảng cách năm mươi phút này. Do khái niệm về chiếc áo khoác xám và mũ dạ in quá đậm trong đầu nên họ đã sơ suất về độ lệch thời gian.
Bằng cách này, chồng tôi đã trở thành một nhân chứng chứng kiến vụ án từ xa. Nếu coi một nhân chứng đứng cách xa hiện trường là kẻ sát nhân thì dường như là điều không thể. Điều này tạo nên sự bất khả thi về mặt vật lý. Đêm qua tôi thức trắng, trằn trọc trên giường suy nghĩ về những chuyện này. Khi cuối cùng đưa ra kết luận chồng mình chính là hung thủ giết người, tôi kinh hãi đến mức suýt hét lên, đồng thời càng kinh ngạc trước những suy luận của chính mình.
Người chồng nằm cạnh đang quay lưng về phía tôi, trông như đã ngủ. Có lẽ ông ấy chẳng ngủ đâu, đang phấp phỏng sợ hãi cũng nên. Có lẽ ông ấy cũng giống tôi, đang chìm trong những suy tư cực độ. Thế nhưng cơ thể ông ấy không hề cử động, nhịp thở cũng rất bình ổn. Vì vậy cuộc suy ngẫm của tôi không hề gặp trở ngại nào. Đêm càng về khuya, não bộ tôi lại càng tỉnh táo. Từng giả thuyết cứ liên tục ùa về trong tâm trí.
Nếu bình thường chồng tôi không phải là một chuyên gia về truyện trinh thám, không phải nhà tội phạm học, và nếu tôi không chịu ảnh hưởng từ ông ấy mà say mê đắm chìm trong kho sách đó, thì chắc chắn tôi sẽ không bao giờ đưa ra được những suy luận như vậy. Chồng tôi cũng sẽ không phải chịu một sự nghi ngờ đáng sợ đến thế. Thật không may là chồng tôi lại có tâm cơ để hoạch định một âm mưu phức tạp như vậy, và tôi cũng có năng lực để suy luận ra âm mưu đó.
Vậy thì động cơ của vụ trọng án này là gì? Nguyên nhân đương nhiên nằm ở phía tôi. Kida đã cướp đi người vợ yêu dấu của chồng tôi, nên ông ấy phải trả thù. Đối với tôi ông ấy vẫn như xưa, không lộ ra chút bất mãn nào, ông ấy chỉ trừng phạt tình địch của mình là Kida. Tôi từng cho rằng chồng mình là một nhân vật cao thâm mạt trắc phi thường, thế nhưng tôi không tài nào tưởng tượng được thái độ của ông ấy đối với tôi không hề thay đổi, vậy mà lại dùng ý chí thép để tiêu diệt tình địch một cách xảo quyệt. Ông ấy hóa ra lại là một con người đáng sợ như vậy, thực sự nằm ngoài dự liệu của tôi. Tôi cảm thấy thế giới nội tâm và cả cuộc đời mình bỗng chốc trở nên dị dạng. Tôi bị những cơn sóng sợ hãi tấn công bất cứ lúc nào.
Tôi kính sợ chồng mình. Tôi kính trọng ông ấy như một bậc vĩ nhân. Tình yêu của tôi dành cho ông ấy vượt lên trên tất cả. Dù trong đó có đi kèm sự bất chính là tư thông với người khác, nhưng tình yêu tôi dành cho chồng không hề thay đổi. Tình yêu nam nữ có hai loại: một là tình yêu vĩnh cửu vượt lên trên tất cả; hai là tình yêu xác thịt mang tính khoảnh khắc. Hai loại tình yêu này có sự khác biệt. Tôi cho rằng tình yêu khoảnh khắc không thể phá hủy được tình yêu vĩnh cửu.
Tôi tự thấy tình yêu hàm súc và sâu thẳm của chồng dành cho mình sẽ không vì những gì tôi làm mà trở nên nhạt nhòa. Tôi tin tưởng sắt đá vào tình yêu bao la vượt lên vạn vật đó. Đương nhiên tôi đã giấu chồng để yêu những thanh niên kia, nhưng thâm tâm tôi luôn cho rằng dù chồng có biết tất cả đi chăng nữa thì cũng không đến mức dẫn tới cục diện không thể cứu vãn. Vì vậy, tôi chưa bao giờ để tâm đến những chuyện như thế. Chồng tôi luôn cao cao tại thượng, tôi tin chắc ông ấy sẽ không vì những rắc rối tình ái mà bước xuống khỏi bậc thềm cao sang đó để so đo chấp nhặt với tôi.
Đúng thật là tình yêu chồng dành cho tôi không hề nhạt đi. Ông ấy có lẽ không chỉ biết mỗi chuyện của Kida, mà cả chuyện của Murakoshi và Takehiko ông ấy cũng đã sớm nhận ra. Dù nắm rõ mọi chuyện trong lòng bàn tay nhưng tình yêu dành cho tôi vẫn như xưa. Từ điểm này mà xét thì niềm tin của tôi chưa sai. Thế nhưng, dù yêu tôi mãnh liệt nhưng chồng tôi lại không hề khoan dung cho những người mà tôi yêu. Ở điểm này, dự tính ban đầu của tôi đã sai lầm nghiêm trọng, một sự tính toán sai lầm không thể cứu vãn. Dù vậy, bất kể chồng tôi là chuyên gia tội phạm thế nào, sắp đặt vụ án này tinh vi ra sao, nhưng muốn một mưu đồ kinh khủng như vậy không bị ai nghi ngờ thì quả là ảo tưởng.
Người đàn ông thao tác con rối trên vách đá là ai? Đó chính là Murakoshi. Nếu không phải anh ta thì trong phòng của người bạn họa sĩ sẽ không xuất hiện cái mô hình người đầy lỗ kim như vậy.
Chồng tôi chắc chắn đã điều tra ra quan hệ giữa tôi và Murakoshi, sau đó lợi dụng điểm yếu này để đe dọa anh ta, ép anh ta phải làm đồng phạm giết người. Nếu Murakoshi kháng lệnh chồng tôi, anh ta sẽ thân bại danh liệt, hủy hoại cả cuộc đời. Chồng tôi chắc chắn cũng đã nói cho anh ta biết về quan hệ của tôi và Kida. Anh ta không còn đường lui, nên việc tham gia vào âm mưu đẩy Kida vào chỗ chết cũng là điều dễ hiểu. Lý do Murakoshi rất ngại hẹn hò với tôi sau cái chết của Kida cũng từ đó mà được chứng minh. Tôi từng hẹn gặp ba lần nhưng đều bị từ chối, thỉnh thoảng gặp mặt anh ta cũng mang bộ dạng tâm sự nặng nề. Anh ta từng lỡ lời nói "Tôi cũng có thể bị giết", và quả nhiên điều anh ta lo sợ đã trở thành hiện thực. Anh ta cũng đã bị giết hại.
Murakoshi sau khi hoàn thành nhiệm vụ thao tác hình nộm dưới sự uy hiếp của chồng tôi, đã vội vã tháo rời con rối cùng bộ vest con rối mặc, ống nhòm... nhét lại vào túi da lớn, rồi cứ thế mang theo hóa trang quay về Tokyo. Hơn nữa phần lớn là anh ta đã đến thẳng chỗ họa sĩ. Anh ta thay quần áo, tẩy trang ở đó, giao túi da và áo khoác xám cho họa sĩ xử lý, còn mình thì thản nhiên quay về căn hộ.
Tuy nhiên, Murakoshi có bằng chứng ngoại phạm vào thời điểm xảy ra vụ án. Lúc vụ Kida xảy ra, anh ta đang ở rạp kịch Kabuki và đã chạm mặt bà vú nuôi Tomi nhà chúng tôi, có nhân chứng xác đáng. Nhưng tất cả những thứ đó đều là sản phẩm của một bậc thầy tạo chứng cứ giả. Chính chồng tôi đã đích thân trù tính việc này. Đó là chứng cứ giả, tôi đoán người họa sĩ đó đã nhận lời nhờ vả của Murakoshi, mặc quần áo của anh ta để đến rạp kịch Kabuki. Và giữa hành lang đông đúc ồn ào, anh ta đã chào hỏi bà Tomi, việc này rất dễ dàng qua mắt một người thị lực kém như bà. Chồng tôi chắc chắn đã nắm rõ từ trước việc bà Tomi ngày hôm đó sẽ đi xem kịch. Sự xảo quyệt đáng sợ của chồng tôi sẽ tính toán mọi thứ vô cùng chu toàn.
Vị họa sĩ đại khái đã mang chiếc áo khoác xám, mũ dạ và túi da mà Murakoshi để lại chỗ anh ta ra chợ đồ cũ Kanda để bán cho các cửa hiệu đồ cũ. Bộ vest trong túi giống hệt bộ Kida mặc có lẽ cũng đã được bán đi tại đó. Chỉ còn lại cái mô hình người là không bán được, nên anh ta dứt khoát đặt nó lên trên tủ làm đồ trang trí. Chắc hẳn anh ta nghĩ rằng đặt nó giữa đống tượng thạch cao hư hỏng và các vật dụng khác sẽ không thu hút sự chú ý của mọi người.
Vậy tại sao không vứt cái mô hình đó đi? Nếu vứt đi, thám tử Akechi sẽ không phát hiện ra nó, và bí mật về con rối thế thân có lẽ sẽ được giữ kín mãi mãi. Nhưng việc không dỡ bỏ mà lại đặt trong nhà làm đồ trang trí, có lẽ không chỉ là sự thông minh của họa sĩ, mà phần nhiều là sự xảo quyệt của Murakoshi. Murakoshi đã đọc qua một số tiểu thuyết trinh thám. Vì vậy, đây là anh ta đang bắt chước mưu trí của tiền nhân, cho rằng phương pháp ẩn giấu tốt nhất chính là đặt nó ở nơi lộ thiên. Hơn nữa, thủ đoạn này nếu không phải là người có trí tuệ siêu việt như thám tử Akechi thì có lẽ sẽ không thể phát hiện ra.
Cái mô hình vốn dĩ sạch sẽ, chỉ sau khi từ vách đá rơi xuống nước nó mới trở nên bẩn thỉu và sứt mẻ như vậy. Cái mô hình đó chắc chắn là họa sĩ đã mua từ chợ đồ cũ Kanda. Hai cái chân là sau này bị cắt rời từ phần gốc, các lỗ kim cũng là được đâm vào sau đó, được gia công thêm một chút.
Đêm qua tôi nằm trên giường mãi không ngủ được, những gì tôi nghĩ đại khái là những tình tiết này. Tôi vừa viết vào nhật ký vừa tiến hành sắp xếp lại, những tình tiết mới nghĩ ra cũng được thêm vào. Dù vậy chắc vẫn còn nhiều sơ hở, nhưng hôm nay viết thế này thôi đã.
Trong lúc hồi tưởng về vụ án Kida, nó khiến tôi nhớ lại vụ án Murakoshi. Đặc biệt là sau khi các mối quan hệ trong vụ Kida được làm rõ và xác thực, nó càng thôi thúc tôi suy nghĩ về vụ Murakoshi.
Mãi cho đến trước lúc bình minh tôi cũng chưa chợp mắt được tẹo nào. Não bộ giống như một cỗ máy tính cứ không ngừng suy nghĩ, hết suy luận này đến suy luận khác rất hợp tình hợp lý hiện ra trước mắt. Tốc độ tư duy cũng gia tăng một cách đầy thú vị.
Sáng sớm tôi mới mê mệt ngủ được hai tiếng đồng hồ. Sau khi tiễn chồng đi, tôi lấy nhật ký ra viết mãi cho đến tận bây giờ. Vừa nghĩ vừa viết nên rất tốn thời gian, hiện giờ đã là giữa trưa rồi, tôi quyết định nghỉ ngơi một lát rồi mới viết tiếp.