Nữ yêu râu xanh

từ mỹ tử trinh thám ( nhị )

Sau bữa trưa tôi chợp mắt một lát, giờ đã là hai giờ chiều. Tôi lại mở nhật ký và bắt đầu viết.

Ai đã giết Murakoshi? Là sự tiếp nối của vụ án Kida, không cần bàn cãi, chỉ có thể là do cùng một hung thủ thực hiện. Nói cách khác, Murakoshi cũng do chính tay chồng tôi, Omagahara Yoshitaka, sát hại. Động cơ đã quá rõ ràng: trả thù tình địch. Thêm vào đó, Murakoshi còn là đồng phạm trong âm mưu giết người trước đó, ông ấy biết Murakoshi đã bị điều tra viên theo đuôi, nếu không trừ khử thì sớm muộn cũng hỏng chuyện. Để bảo vệ bí mật, chỉ còn cách giết người diệt khẩu. Murakoshi từng nói "Tôi có thể bị giết", đó là vì anh ta đã có linh tính về chuyện này.

Chiếc lông chim trắng từng được gửi cho Kida hai lần cũng được cắm trên thi thể Murakoshi. Tôi nghĩ điều này nhằm tạo ra hiện trường giả về một vụ án của hội kín. Nhưng hơn thế, nó giống như một món đạo cụ thường thấy trong các màn ảo thuật. Chồng tôi là một bậc thầy ảo thuật, ông ấy cần những món phụ kiện như vậy. Thủ đoạn giết người theo phong cách ảo thuật sân khấu này rất phù hợp với tính cách thích phô trương của ông ấy.

Khác với vụ án Kida, lần này chúng ta đã biết hung thủ trước và đưa ra kết luận. Bây giờ chỉ cần phân tích xem ông ấy đã hoạch định việc đó như thế nào.

Trong vụ Murakoshi, ông ấy cũng tạo ra cho mình một bằng chứng ngoại phạm không tì vết để chứng minh mình không thể là hung thủ. Tối ngày 13 tháng 12, tại chung cư Jinnan, ngay sau khi buổi biểu diễn violin của Sekiguchi Juzaburo kết thúc và tiếng báo giờ 9 giờ vừa dứt, tiếng súng vang lên. Hàng xóm của Murakoshi nghe thấy tiếng động đã lập tức chạy ra xem và phát hiện Murakoshi bị bắn chết bằng súng lục. Trong khi đó, chồng tôi, tôi và Takehiko đều đang ở phòng khách tại nhà nghe đài, cũng nghe thấy chính buổi diễn đó và tiếng báo giờ 9 giờ. Chung cư của Murakoshi ở gần ga Shibuya, còn dinh thự của chúng tôi nằm ở phố Takatree, quận Minato. Một người không thể cùng lúc xuất hiện ở hai nơi, đó là điều tuyệt đối không thể. Vụ án Kida mang tính bất khả thi về khoảng cách, còn vụ Murakoshi mang tính bất khả thi về thời gian. Thoạt nhìn, bằng chứng ngoại phạm này quá sức xác đáng. Nhưng hung thủ đã dựa vào thủ pháp ảo thuật tinh vi của mình để biến điều không thể thành có thể. Nếu trong vụ Kida, hung thủ đã biến khoảng cách bất khả thi thành khả thi, thì ở vụ Murakoshi, ông ấy chắc chắn cũng làm được điều tương tự với thời gian.

Vậy rốt cuộc ông ấy đã dùng thủ pháp ảo thuật gì để biến "điều không thể" thành hiện thực?

Não bộ của tôi nhạy bén một cách bệnh hoạn, trong đầu tôi bất giác hiện lên chiếc hộp nhỏ có bao da – máy ghi âm. Khi máy ghi âm mới bắt đầu phổ biến, chúng tôi đã mua chiếc máy ghi âm cầm tay loại nhỏ do Mỹ sản xuất này. Lúc đó chỉ hào hứng được một thời gian rồi sớm chán, sau đó nó luôn được đặt trên giá sách trong thư phòng của chồng tôi, đại khái đã hai năm nay không ai đụng tới.

Tôi vẫn có một trực giác, dù trình tự thời gian trước sau còn chưa rõ lắm, nhưng máy ghi âm đã tạo ra nghi vấn trong đầu tôi, nên tôi phải xác minh ngay lập tức. Tôi lặng lẽ rời giường, đi sang thư phòng của chồng ở ngay sát vách. Giữa phòng ngủ và thư phòng có một bức tường rất dày, dù tôi có gây ra chút tiếng động cũng không lo chồng ở bên phòng ngủ nghe thấy. Tôi bật đèn thư phòng, kéo cánh cửa tủ sách và thấy chiếc máy ghi âm cầm tay vẫn nằm ở vị trí cũ.

Tôi ghé sát mắt nhìn kỹ vị trí đặt máy. Trên giá sách vốn có một lớp bụi mỏng, chiếc máy ghi âm cũng đã nằm đó gần hai năm. Tôi phát hiện vị trí hiện tại của máy không hoàn toàn khớp với khoảng trống không có bụi trên giá. Nói cách khác, dường như có ai đó đã động vào máy ghi âm và sau đó không đặt lại hoàn toàn đúng vị trí cũ. Độ lệch khoảng hai centimet, đây là bằng chứng cho thấy gần đây có người đã lấy máy xuống. Hơn nữa, bao da của máy ghi âm cũng rất sạch sẽ, không có chút bụi nào. Mở bao da ra, bên trong trông cũng giống như vừa mới được sử dụng gần đây.

Sau khi xác thực những điều này, tôi tắt đèn, lại lặng lẽ quay về giường nằm. Nhờ sự thôi thúc của trực giác, não bộ tôi càng hoạt động linh hoạt hơn.

Chồng tôi đã lợi dụng chiếc máy ghi âm như thế nào? Đương nhiên vẫn là dựa vào trí tuệ của ông ấy. Để tôi thử tìm tòi bí mật ẩn chứa trong đó xem sao.

Chiều tối hôm đó, chồng tôi về nhà vào khoảng 5 giờ. Ông ấy đi tắm, ăn tối cùng chúng tôi, rồi khoảng 7 giờ thì vào thư phòng đọc sách. Lúc 7 giờ rưỡi, tôi mang trà hồng vào cho ông ấy theo lệ thường. Kể từ đó cho đến lúc buổi biểu diễn violin của Sekiguchi bắt đầu lúc 8 giờ 40 phút, tức là gần một tiếng rưỡi, chồng tôi chỉ ở một mình. Trong khoảng thời gian này, tôi ở phòng mình phía cuối tòa nhà kiểu Tây để viết nhật ký và đọc sách.

Sau khi hoàn tất công việc phục vụ bữa tối, những người giúp việc đều đã về phòng riêng ở khu nhà kiểu Nhật, hiếm khi có ai sang phía tòa nhà kiểu Tây này. Việc đưa trà hay trái cây buổi tối cho chồng đều do tôi làm. Tối hôm đó, rất nhiều người trong nhà không có mặt. Vì có việc quan trọng cần đến nhà anh trai tôi ở Setagaya, nên bà vú nuôi Tomi và cậu bé gác cổng Itsuki đã đi xe đến đó. Như vậy, anh tài xế cũng không có nhà. Lúc họ quay về đã quá 9 giờ rưỡi tối.

Quản gia già Ichiyanagi đã về nhà riêng từ chiều tối. Cô hầu gái thân cận Kiku thì có mẹ bị bệnh nên cũng về nhà ở Kasugai, và đã xin phép không ở lại trực đêm đó. Những người còn lại trong nhà chỉ có Takehiko, một hầu gái riêng khác, hai người giúp việc vặt, một đầu bếp và ông lão trông vườn. Vợ của tài xế cũng ở nhà, nhưng bà ấy sống riêng ở căn nhà phía sau gara cùng chồng. Trong khoảng thời gian đó, ở tòa nhà kiểu Tây chỉ có mỗi Takehiko, và có vẻ anh ta cũng đang đọc sách trong phòng mình.

Trong hoàn cảnh này, suốt hơn một tiếng đồng hồ từ 7 giờ rưỡi đến 8 giờ 40 phút, không ai có thể chứng minh chồng tôi có luôn ở trong thư phòng hay không. Đương nhiên, nếu ra khỏi thư phòng rồi đi qua hành lang để thoát ra bằng cổng chính mà không bị ai thấy là rất khó. Như vậy Takehiko có thể phát hiện ra, hơn nữa khi cậu bé gác cổng vắng mặt thì ông lão trông vườn phải chịu trách nhiệm trông coi cổng chính. Nếu chồng tôi đi ra lối đó, ông ấy cũng sẽ bị phát hiện.

Tuy nhiên, không đi cổng chính thì vẫn có cách thoát ra từ sân vườn. Ông ấy đã chuẩn bị sẵn để đưa con rối vào thư phòng từ trước, sau đó từ cửa sổ thư phòng nhảy ra vườn. Trong vườn có rất nhiều thảm cỏ, ngay cả những chỗ không có cỏ thì nhờ mấy ngày nắng liên tục nên cũng không lo để lại dấu chân. Trên bức tường bao quanh vườn có một lối thoát hiểm bí mật. Cánh cửa này gần như không bao giờ mở, phía trên có một ổ khóa rất lớn, nhưng nếu là chồng tôi thì lúc nào ông ấy cũng có thể mở được.

Đại khái là ông ấy lại hóa trang một lần nữa. Theo tính cách của chồng tôi, bộ áo khoác xám và chiếc mũ dạ trong vụ Kida có lẽ lại một lần nữa được sử dụng, cùng với bộ râu giả và kính. Ông ấy kẹp chiếc máy ghi âm nhỏ dưới nách, ra bằng cửa ngách, bắt một chiếc taxi ở phố gần đó và đi tới căn hộ của Murakoshi ở Shibuya. Khoảng cách giữa quận Minato và Shibuya không xa như người ta tưởng, có thể nói là ngay sát vách. Từ phố Takatree ở Aoyama đến chung cư Jinnan đối diện ga Shibuya chỉ cách nhau mười mấy con phố hẹp, đi taxi chỉ mất năm sáu phút. Ngay cả khi tính cả thời gian gọi xe thì mười hai, mười ba phút cũng là quá đủ.

Trước đó, chồng tôi chắc chắn đã ép Murakoshi thông qua gã họa sĩ kia để kiếm một khẩu súng lục. Tôi không biết lúc đó chồng tôi giải thích mục đích lấy súng như thế nào, nhưng tôi tin Murakoshi tuyệt đối không ngờ rằng mình có thể bị giết bởi chính khẩu súng mà mình mang về. Đột nhiên, tôi cảm thấy như bị quất một lạt roi sắt vào người, tỉnh táo nhận ra thủ đoạn tàn khốc vô tình của chồng. Tôi đờ đẫn nhìn bóng hình cứng như đá của chồng, vừa kinh ngạc, vừa kính sợ, lại vừa như bị mê hoặc.

Chồng tôi đương nhiên sẽ không đi bằng cổng chính của chung cư Jinnan. Ông ấy lẻn vào vườn qua kẽ hở của hàng rào tre phía sau chung cư, rồi nhảy qua cửa sổ vào phòng Murakoshi. Như đã nói ở trước, tôi từng đến phòng Murakoshi ở Jinnan một lần. Căn phòng kiểu Tây cổ điển đó là vị trí tối ưu để đột nhập. Phòng nằm ở cực đông của toàn bộ kiến trúc, phía nam là hành lang, phía đông và phía bắc hướng ra sân sau. Bốn phía sân sau hoang vắng không quá lớn được bao quanh bằng hàng rào tre, tre đã mục nát nhiều chỗ nên rất dễ ra vào. Phía ngoài hàng rào là một con phố ngang tĩnh mịch, đối diện phố là bức tường dài của một dinh thự khác.

Phòng của Murakoshi còn một điều kiện thuận lợi cho việc đột nhập nữa: ba phía Bắc, Đông, Nam như vừa nói, còn phía Tây của phòng ngăn cách bằng một bức tường dày là phòng của một gia đình khác. Cửa phòng hàng xóm không đối diện với hành lang phía nam, mà nằm ở một đoạn rẽ hình móc câu hướng ra hành lang phía tây. Cửa phòng Murakoshi nằm biệt lập, đứng ở cửa phòng anh ta không thể nhìn trực tiếp sang cửa phòng hàng xóm. Không chỉ vậy, bức tường dày ngăn cách giữa phòng Murakoshi và hàng xóm còn kéo dài về phía bắc, choán hết một nửa phòng Murakoshi. Phần kéo dài đó giống như một kho chứa đồ. Những gì có thể nhìn thấy từ cửa sổ phía bắc phòng Murakoshi chỉ toàn là tường gạch. Vì vậy, lẻn qua hàng rào tre rồi chui vào từ cửa sổ phía bắc phòng Murakoshi thì không lo có ai phát hiện.

Đầu tháng Chạp, Murakoshi đã chuyển từ căn hộ cũ ở Chiyoda về đây. Việc chuyển vào căn phòng thuận lợi cho việc đột nhập như thế này tuyệt nhiên không phải ngẫu nhiên, đó là kết quả từ sự hoạch định của hung thủ xảo quyệt. Nói cách khác, Murakoshi đã bị dắt mũi, theo mệnh lệnh của chồng tôi mà dọn vào căn phòng thuận tiện nhất cho việc hành sự giết người này. Ôi! Đây quả là một sự chuẩn bị tội ác vô cùng tỉ mỉ.

Hung thủ khẽ gõ vào cửa sổ phía bắc, người đồng phạm trong vụ giết người đầu tiên không thể từ chối cuộc viếng thăm đột ngột bất thường này. Murakoshi mở cửa sổ, ông ấy nhảy vào trong. Sau đó, một màn kịch khó tin bắt đầu diễn ra. Theo suy luận của tôi, diễn biến như vậy là hợp tình hợp lý.

Trong phòng Murakoshi có đài radio. Đột nhiên, vị khách đến đặt chiếc máy ghi âm kẹp dưới nách xuống cạnh đó, nhấn nút ghi âm. Ông ấy nối dây ghi âm vào loa của đài radio, chứ không nối vào phần thu sóng ngắn. Sau đó, chỉ việc đợi đến giờ nghe buổi diễn violin của Sekiguchi Juzaburo trên sóng phát thanh. Lúc này, ông ấy đại khái nói với một Murakoshi đang hoang mang rằng:

"Tôi đến đây là để kịp nghe buổi ra mắt của Sekiguchi trên đài. Chúng ta hãy cùng nghe buổi độc tấu của nghệ sĩ danh tiếng này, và không chỉ nghe, tôi còn muốn ghi âm lại nữa. Nối dây máy ghi âm thế này thì các cuộc đối thoại của chúng ta hay bất kỳ tiếng động mạnh nào khác cũng không bị ghi vào băng, chỉ ghi được âm thanh từ đài phát thanh mà thôi.

Cậu có lẽ không hiểu, nếu ghi âm ở nhà tôi cũng được, tại sao phải chạy sang đây ghi? Thực ra là bắt buộc phải làm thế này. Nguyên nhân vì sao lát nữa cậu sẽ rõ ngay."

Chồng tôi chắc chắn là dùng giọng điệu và phong thái này, đó là sở thích của ông ấy, tôi quá rõ điều đó.

Trước khi nghe đài, chồng tôi chắc chắn đã lấy được khẩu súng mà Murakoshi nhờ họa sĩ kia kiếm về. Đêm đó, máy ghi âm và súng lục là những đạo cụ không thể thiếu.

Hai người tĩnh lặng nghe hết buổi diễn violin của Sekiguchi. Murakoshi có lẽ ít nhiều đã nhận ra ý đồ của chồng tôi, anh ta đã phải nhẫn nhịn nỗi sợ hãi đó thế nào tôi không rõ. Có lẽ như chuột thấy mèo, sợ đến mức toàn thân run rẩy chăng. Chồng tôi có một loại uy lực khác thường như vậy. Murakoshi dù không thể khẳng định ông ấy có sát cơ, nhưng không hiểu sao lại sợ đến phát khiếp. Anh ta chắc hẳn đã toát mồ hôi lạnh trong sự bán tín bán nghi, chịu đựng sự giày vò của nỗi sợ hãi. Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, anh ta vẫn khó lòng tin nổi chuyện sắp xảy ra, nên rốt cuộc đã không hạ quyết tâm tìm sự cứu giúp.

Buổi diễn kết thúc, ngay khoảnh khắc sau tiếng báo giờ 9 giờ, chồng tôi rút súng bắn gục Murakoshi. Đối phương còn chưa kịp thốt lên tiếng kêu phẫn nộ nào đã mất mạng. Vậy thì, chồng tôi đã nạp đạn vào lúc nào? Có lẽ ngay lúc Murakoshi đưa súng cho, ông ấy đã nạp đạn ngay trước mặt nạn nhân, hoặc cũng có thể là lén lút nạp đạn sau lưng Murakoshi. Bất kể là trường hợp nào, tóm lại lúc nổ súng trong đó đã có đạn.

Sau khi Murakoshi ngã xuống, ông ấy lau sạch dấu vân tay của mình trên súng, ấn dấu vân tay của Murakoshi lên rồi đặt khẩu súng cạnh thi thể. Ông ấy quấn sợi dây đồng đã chuẩn bị sẵn vào móc khóa kim loại của cửa sổ, đầu kia luồn qua chỗ sứt trên mặt kính để đưa ra ngoài, rồi khẽ đẩy cửa sổ lên. Xong các bước chuẩn bị này, ông ấy quay lại tháo dây nối của máy ghi âm cầm tay ra khỏi đài radio, kẹp máy ghi âm vào nách, nhảy ra ngoài cửa sổ. Sau khi đóng chặt lớp kính dưới từ phía ngoài, chỉ cần hơi dùng lực kéo sợi dây đồng đưa ra ngoài là đầu quấn ở móc khóa sẽ tuột ra. Toàn bộ các hoạt động này chỉ mất khoảng hai đến ba phút.

Chồng tôi đại khái đã đeo găng tay ngay từ đầu, và ngay cả khi cùng nghe đài với Murakoshi ông ấy cũng không tháo ra. Khi Murakoshi cảm thấy kỳ lạ và khó hiểu, ông ấy có thể đã đưa ra những lời giải thích khiến nạn nhân thêm phần sợ hãi. Hoặc cũng có thể chỉ là cười hì hì mà không đưa ra bất kỳ lời giải thích nào.

Nghĩ kỹ lại, khi đóng cửa sổ từ bên ngoài thì đáng lẽ phải có một cái bục kê chân mới hợp lý. Ở đó vừa vặn có một cái thùng táo bị sương gió bào mòn, dùng nó làm bục kê chân để ra vào cửa sổ hay luồn dây đồng đều rất thuận tiện. Ông ấy nhìn chuẩn xác lúc hai móc khóa trên cửa đã khớp lại, rút sợi dây đồng ra, rồi lẻn ra từ chỗ hàng rào tre bị hỏng, nhanh chóng ra đường lớn bắt taxi trở về nhà.

Âm mưu phòng kín tuy bị Akechi giải mã dễ dàng, nhưng nhìn chung không dễ gì thấy được sơ hở, mọi người có lẽ sẽ tin rằng Murakoshi tự sát. Cũng giống như cái bẫy tạo ra mô hình người, hung thủ ở đây cũng đã vắt óc suy tính, tin rằng vạn nhất không có sai sót. Việc Akechi dễ dàng đột phá nghi điểm mà hung thủ cho là khó giải nhất mục đích là để khiến hung thủ không kịp trở tay. Phòng kín và những lỗ kim trên mô hình người là những bí mật cuối cùng và lớn nhất trong vụ án này. Những bí mật cuối cùng này lại bị danh thám tra rõ trước tiên, đây là một đòn giáng kinh hoàng ngoài dự liệu đối với hung thủ.

Vì chồng tôi đã hẹn cùng tôi nghe đài lúc 8 giờ 40 phút, nên khi từ chung cư Murakoshi trở về, ông ấy nhất định phải xuất hiện ở phòng khách trước thời điểm này. Nếu là tình huống thông thường thì đây là điều tuyệt đối không thể. Từ lúc nghe xong báo giờ 9 giờ, nổ súng giết Murakoshi cho đến khi về tới nhà, nhanh nhất cũng cần mười lăm phút, ông ấy về tới nhà đã là 9 giờ 15 phút rồi. Tẩy trang cũng cần hai ba phút, ngoài ra còn một việc bắt buộc phải làm, đó là phải dành ra một khoảng trống thời gian trước khi buổi phát sóng bắt đầu, việc này cũng tốn sáu bảy phút. Vì vậy, khi chồng tôi xuất hiện ở phòng khách và chúng tôi thấy ông ấy, đáng lẽ phải là 9 giờ 25 phút.

Nghĩa là, thời điểm thực tế buổi diễn violin của Sekiguchi bắt đầu tại nhà chúng tôi là 9 giờ 25 phút, nhưng lúc chúng tôi thấy thì lại là 8 giờ 40 phút. Ở giữa có một khoảng cách bốn mươi lăm phút. Để xóa bỏ khoảng cách này, phải biến buổi phát sóng nghe được ở chung cư Murakoshi lúc 8 giờ 40 phút thành buổi phát sóng lúc 8 giờ 40 phút tại nhà chúng tôi, mà thực tế buổi phát sóng lúc 9 giờ 25 phút kia đã bị can thiệp.

Hung thủ đã khắc phục sự chênh lệch thời gian này như thế nào? Việc can thiệp vào đài radio là không khó. Ở nhà chúng tôi chỉ thỉnh thoảng mới nghe đài, điều này tạo điều kiện rất thuận lợi cho hung thủ. Bình thường, các hầu gái đôi khi nghe chiếc đài đặt ở phòng trà khu nhà kiểu Nhật, nhưng đúng ngày xảy ra sự việc, chiếc đài ở phòng trà đột nhiên bị hỏng, từ trưa đã không còn nghe được tiếng gì. Cho đến tận sáng hôm sau lúc mang ra tiệm sửa chữa đài radio, nó vẫn tịt ngóm.

Chiếc đài trong tòa nhà kiểu Tây đã hơn một tuần không ai nghe, lần nghe buổi diễn violin của Sekiguchi này là ngoại lệ. Trước đó không có ai nghe đài cả, điểm này có thể khẳng định. Tôi không thích nghe đài lắm, Takehiko cũng không bao giờ đụng đến chiếc đài ở phòng khách, vì vậy không lo việc nghe đài sẽ làm lộ thời gian.

Sau khi chồng tôi từ chung cư Murakoshi trở về, ông ấy lại nhảy qua cửa sổ vào thư phòng. Trước khi tẩy trang, ông ấy lẻn vào phòng khách tối om, đặt chiếc máy ghi âm đã ghi sẵn buổi diễn vào phía sau chiếc đài radio đặt trên tủ trang trí. Trên tủ trang trí có rất nhiều chỗ có thể giấu chiếc máy ghi âm cầm tay này. Chiếc tủ trang trí này là một loại tủ bệ đặt đài radio kiểu Âu, trên có các kệ, cửa nhỏ, ngăn kéo, toàn bộ tủ được chạm khắc hoa văn thủ công tinh xảo. Ngăn đặt đài radio rộng khoảng hai xích năm thốn (khoảng 75cm). Đài radio đặt trên kệ ở giữa, ông ấy có thể giấu máy ghi âm ở phía sau nó. Phía sau những cuốn album ảnh lớn đặt cạnh kệ cũng có thể giấu được.

Sau khi giấu máy ghi âm vào đó, hung thủ đã làm gì tiếp theo? Tôi đứng ở lập trường của hung thủ để phân tích.

Chồng tôi quá rành về phòng khách, ông ấy không cần bật đèn, chỉ cần sờ soạng trong vòng một, hai phút là hoàn tất các bước chuẩn bị. Khi nghe đài, nếu bật công tắc đài radio mà lại muốn nghe âm thanh phát ra từ máy ghi âm phía sau thì phải nối thêm một đường dây cách điện. Nhưng việc lắp đặt thực sự như vậy vừa mất thời gian, lúc tháo ra cũng rất phiền phức, nên ông ấy chẳng cần làm công việc tốn sức vô ích đó. Khi buổi diễn violin của Sekiguchi bắt đầu, chỉ cần chồng tôi đích thân đi vặn công tắc là mọi chuyện đơn giản hơn nhiều. Lúc đó ánh đèn trong phòng khách rất tối, rất hợp để thưởng thức âm nhạc nên không lộ chút bất tự nhiên nào, trong ánh sáng mờ ảo, chồng tôi quay lưng về phía chúng tôi để che khuất chiếc đài, thò tay ra phía sau đài bật công tắc máy ghi âm. Thế là, buổi diễn violin của Sekiguchi đã ghi vào băng bắt đầu vang lên, nghe hoàn toàn giống như đang phát ra từ đài radio. Độ rõ nét và âm chất có lẽ hơi kém một chút, nhưng may mắn là chúng tôi đều không quá nhạy cảm về âm nhạc.

Để bộ thu sóng của đài radio không bị quá tối, nhằm qua mặt mắt người và không để lộ sơ hở, ông ấy có lẽ đã vặn núm điều chỉnh tần số đến một dải băng tần không thu được sóng nào, như vậy dù có bật công tắc đài radio cũng đảm bảo không vấn đề gì. Đèn hiển thị điện áp của bộ thu cũng sẽ hiện lên một chút ánh sáng yếu, và "mắt thần" chỉ thị mức độ điều chỉnh cũng sẽ sáng. Theo lý mà nói đài đang bật thì không thể không có chút tiếng động nào, nhưng chúng tôi đều ngồi cách xa đài nên không nghe thấy các tạp âm khác. Bất kể núm điều chỉnh vặn ở vị trí nào, chỉ cần nghe thấy tiếng diễn tấu là chẳng ai nảy sinh nghi ngờ cả. Huống hồ lúc nghe đài ai nấy đều nhắm nghiền mắt, uể oải tựa vào ghế bành, còn tâm trí đâu mà chú ý xem chiếc đài trông như thế nào.

Chúng tôi nghe hai mươi phút diễn tấu, sau đó nghe thấy tiếng báo giờ 9 giờ. Mọi người đều không muốn nghe tiếp các chương trình sau đó, chồng tôi đứng dậy tắt đài radio, đồng thời cũng tắt luôn máy ghi âm. Khi mọi người đã về phòng riêng, chồng tôi lại quay lại phòng khách tối tăm, mang chiếc máy ghi âm đặt ở tủ trang trí trả về vị trí cũ trên giá sách trong thư phòng.

Ai mà ngờ được, hung thủ xuất sắc như vậy lại để lại một lỗ hổng ở đây. Ông ấy đã sơ suất trước tình huống có lớp bụi mỏng trên kệ sách. Vị trí cũ đặt máy ghi âm không có bụi, trong khi bốn góc xung quanh lại có bụi bám, hung thủ mò mẫm trong bóng tối, chỉ đặt máy ghi âm về vị trí đại khái, không lưu ý xem nó có khớp hoàn toàn với khoảng trống không bụi cũ hay không. Vị trí đặt máy hiện tại lệch so với vị trí cũ khoảng hai centimet, chính điều này đã khơi dậy sự nghi ngờ trong tôi. Nếu không có sai lệch này, tôi cũng sẽ không thể tung đôi cánh tưởng tượng của mình ra được.

Ông ấy đã dùng máy ghi âm để khắc phục vấn đề về buổi phát thanh, nhưng còn phải làm cho thời gian nghe đài trùng khớp với thời gian tổng thể. Trong nhà chúng tôi có rất nhiều đồng hồ, nếu thời gian trên đồng hồ không khớp với thời gian phát từ máy ghi âm thì toàn bộ âm mưu sẽ đổ bể. Hung thủ đã xử lý cái khó trong cái khó này như thế nào, để tôi tiếp tục đứng ở vị trí của ông ấy mà phân tích.

Tôi đã suy nghĩ rất lâu. Thời gian chính xác chồng tôi nghe buổi diễn trong phòng Murakoshi là từ 8 giờ 40 phút đến 9 giờ. Nghe xong ông ấy lập tức ra ngoài bằng cửa sổ, quay về thư phòng ở nhà, giả định khoảng thời gian này là mười lăm phút. Đi taxi cũng chỉ mất năm sáu phút, cộng cả thời gian chờ xe và lên xuống xe thì cũng chỉ đến thế thôi. Việc giấu máy ghi âm ở phòng khách, tẩy trang, rồi thản nhiên quay lại thư phòng khoảng ba đến năm phút trước giờ phát sóng, nếu đoạn này mất mười phút thì lúc bật máy ghi âm sớm nhất cũng phải là khoảng 9 giờ 25 phút. Hai mươi phút phát sóng kết thúc đã là 9 giờ 45 phút rồi.

Thời gian phát sóng violin thực tế là 8 giờ 40 phút đến 9 giờ, để làm cho thời gian phát băng từ 9 giờ 25 phút đến 9 giờ 45 phút trùng khớp với thời gian phát sóng thực, bắt buộc phải chỉnh chậm tất cả đồng hồ trong nhà đi bốn mươi lăm phút thì mới đạt được mục đích này. Muốn hoàn thành hành động này một cách thần không biết quỷ không hay là cực kỳ khó khăn, thậm chí có thể nói là bất khả thi. Thế nhưng, người như chồng tôi có thể biến điều mà người thường cho là không thể thành hiện thực.

Hãy bắt đầu từ các yếu tố bên ngoài. Nếu có thể nghe thấy những âm thanh báo giờ từ bên ngoài như tiếng còi tàu, tiếng chuông điện... thì việc chỉnh chậm đồng hồ trong nhà chẳng có ý nghĩa gì, nhưng bên ngoài hoàn toàn không có loại âm thanh định giờ này. Dinh thự của chúng tôi rất lớn, ngay cả tiếng loa hay tiếng chuông của những người bán hàng rong ở nhà bếp cũng không nghe thấy. Những người tiếp thị sản phẩm cũng không đến vào những khung giờ nhất định. Dù có thể lo lắng các hầu gái ra ngoài thấy đồng hồ trên phố sẽ nảy sinh nghi ngờ, nhưng sau 5 giờ chiều thì không còn ai đi ra ngoài nữa.

Nếu trong nhà có khách đến cũng sẽ nảy sinh phiền phức. Nhưng chồng tôi có thói quen không bao giờ tiếp khách nếu không hẹn trước qua điện thoại hoặc thư từ. Vào ngày hôm đó, dường như không có cuộc hẹn nào như vậy. Các nhân viên trẻ ở công ty đôi khi hay tới chơi mà không báo trước, nhưng kỳ lạ là hôm đó cũng chẳng có ai tới.

Như vậy, chỉ còn lại những thứ báo giờ trong nhà, ngoài đồng hồ ra còn có chiếc đài ở phòng trà. Hôm đó, chồng tôi ra ngoài sau bữa sáng. Trước khi đi, ông ấy lẻn tới phòng trà, làm hỏng bóng chân không hoặc một đường dây nối nào đó của chiếc đài, khiến nó hỏng đến mức người ngoại đạo không thể nào sửa được, việc này chẳng khó khăn gì.

Còn lại là đồng hồ treo tường, đồng hồ để bàn và đồng hồ đeo tay của mọi người trong nhà. Thật là trùng hợp, tối hôm đó rất nhiều người vắng nhà, bà vú nuôi Tomi và cậu bé gác cổng đi ngay trước lúc chồng tôi về một chút. Khi chồng tôi về thì họ vừa lên xe đến nhà anh trai tôi. Việc đi Setagaya đã được định từ mấy ngày trước, chồng tôi có lẽ đã cố ý lợi dụng buổi tối thuận lợi này. Quản gia già Ichiyanagi sau khi báo cáo xong mỗi ngày là về nhà riêng, Kiku vì mẹ ốm cũng về nhà ở Kasugai từ sớm. Trong dinh thự chỉ còn Takehiko, ba hầu gái, một đầu bếp, ông lão trông vườn và vợ tài xế, tổng cộng bảy người. Trong số đó người đeo đồng hồ chỉ có Takehiko.

Nói về đồng hồ để bàn trước, bên tòa nhà kiểu Tây này ở phòng khách, thư phòng, phòng ngủ và phòng của người gác cổng mỗi nơi đều có một chiếc. Cứ tám ngày lại lên dây cót một lần, trừ phòng ngủ ra thì do người gác cổng lên dây, còn phòng ngủ do tôi và chồng phụ trách. Nhưng tôi thường xuyên quên lên dây nên nhiều khi nó không chạy. Thời gian cũng rất không chính xác, nên không cần tính đến chiếc đồng hồ trong phòng ngủ cũng được. Phía khu nhà kiểu Nhật, phòng tiếp khách và phòng trà mỗi nơi có một chiếc đồng hồ để bàn, nhà bếp có một chiếc đồng hồ treo tường, đều do các hầu gái lên dây và sử dụng. Nhưng chúng cũng chạy thất thường, thời gian không mấy chính xác. Đứng từ góc độ hung thủ, ông ấy có thể đã làm thế này: Vào tối hôm trước hoặc sáng sớm ngày xảy ra sự việc, ông ấy chỉnh chậm mấy chiếc đồng hồ ở khu nhà kiểu Nhật khoảng hai mươi phút. Ví dụ: chỉnh đồng hồ nhà bếp chậm hai mươi phút, đồng hồ phòng trà chậm hai mươi lăm phút. Như vậy đến tối hôm đó, dù không cần can thiệp gì thêm thì thời gian trên đồng hồ vốn đã không chính xác rồi. Một chiếc đồng hồ đã chỉnh chậm hai mươi lăm phút, giả sử lại chạy nhanh thêm hai mươi phút nữa thì kết quả chênh lệch thời gian cuối cùng đúng bằng bốn mươi lăm phút. Các hầu gái không hay nhìn đồng hồ liên tục nên hoàn toàn có thể lừa được họ.

Cậu bé gác cổng sống bên tòa nhà kiểu Tây này có khái niệm thời gian rất tốt, nếu dùng phương pháp tương tự e là không lừa được cậu ta. Nếu chồng tôi trước khi ra ngoài sau bữa trưa chỉnh chậm đồng hồ trong phòng cậu ta khoảng mười phút, thì sẽ an toàn hơn nhiều so với việc chỉnh một lúc bốn mươi lăm phút. Chờ đến lúc ông ấy về vào chiều tối, lại vào chỉnh chậm thêm ba mươi lăm phút nữa là được. Trong khoảng thời gian tắm rửa, ăn tối, mọi người đều tất bật hỗn loạn, nên không lo có người chú ý tới. Nếu suy tính kỹ thì thấy ông ấy làm vậy rủi ro rất lớn. Vậy thì ông ấy cũng có thể chia ra hai, ba lần để chỉnh chậm đồng hồ trong vòng hai tiếng hoặc lâu hơn một chút.

Ngoài ra, còn ba chiếc đồng hồ đeo tay cần phải chỉnh chậm là của chồng tôi, của tôi và của Takehiko. Của chồng tôi thì không cần nói rồi, còn đồng hồ của tôi tôi cũng ít khi đeo, thường vứt trên bàn, nên muốn can thiệp vào đồng hồ của tôi không thành vấn đề. Vậy là chỉ còn lại chiếc đồng hồ của Takehiko, thế nhưng lạ lùng là sáng hôm đó đồng hồ của Takehiko đột nhiên ngừng chạy.

Tình tiết này mãi sau tôi mới biết. Sáng hôm sau khi sự việc xảy ra, Takehiko nói đồng hồ của anh ta không hiểu sao đột nhiên đứng lại, phải mang ra tiệm sửa, lúc đó tôi mới biết đồng hồ anh ta hỏng. Có thể nói đây là sự tình cờ không? Lúc đó tôi không nghĩ ngợi gì, nhưng giờ nhìn lại, tôi nghi ngờ lúc Takehiko đi tắm, hung thủ đã làm hỏng linh kiện đồng hồ của anh ta. Nếu bảo đồng hồ của Takehiko hỏng đúng lúc này là sự trùng hợp ngẫu nhiên thì thật là quá đỗi bất thường.

Nếu đài radio ở phòng trà và đồng hồ của Takehiko đều bị làm hỏng từ trước, ba chiếc đồng hồ ở khu nhà kiểu Nhật cũng được chỉnh chậm hai mươi hoặc hai mươi lăm phút trước khi ra ngoài, và đến chiều tối lại chạy nhanh hơn, thì khi chồng tôi về vào chiều tối, những chiếc đồng hồ nhất định phải can thiệp chỉ còn lại bốn chiếc đồng hồ để bàn bên tòa nhà kiểu Tây, đồng hồ của ông ấy và đồng hồ của tôi. Chồng tôi chắc chắn từ lúc về nhà lúc 5 giờ, trong khoảng thời gian tắm rửa, ăn cơm cho đến tận 7 giờ lúc vào thư phòng, đã chỉnh chậm những chiếc đồng hồ này. Lúc ông ấy vào thư phòng là 7 giờ, nhưng đó là thời gian sau khi đã chỉnh chậm, thực tế lúc đó đã là 7 giờ 45 phút rồi. Đúng như tôi vừa nói, nếu trước khi ra ngoài đã chỉnh chậm đồng hồ mười phút, thì lúc này chỉ cần chỉnh chậm thêm ba mươi lăm phút nữa là xong. Trong khoảng thời gian tắm rửa và ăn tối, mọi người đều bận rộn nên việc thừa cơ lúc mọi người không chú ý để chỉnh chậm đồng hồ khoảng ba mươi phút có lẽ là việc cực kỳ dễ dàng.

Đến sau 7 giờ, thời gian thực tế và thời gian giả mạo đã tạo ra khoảng cách chênh lệch bốn mươi lăm phút. Thế là buổi diễn violin từ 8 giờ 40 phút đến 9 giờ mà chồng tôi đã nghe xong ở phòng Murakoshi, sau khi về nhà, ông ấy lại được "nghe" thêm một lần nữa vào đúng khung giờ đó. Một việc mà theo lý thường cho là bất khả thi đã trở thành hiện thực như vậy đấy.

Buổi phát thanh giả sau đó tại nhà chúng tôi, trên tất cả các đồng hồ đã được chỉnh chậm, đều bắt đầu từ 8 giờ 40 phút, trong khi thời gian thực tế là 9 giờ 25 phút. Sau khi kết thúc buổi phát sóng, vào một thời điểm thích hợp trong đêm đó, chồng tôi lại chỉnh nhanh bốn chiếc đồng hồ để bàn bên tòa nhà kiểu Tây, đồng hồ của tôi và đồng hồ của ông ấy thêm bốn mươi lăm phút. Như vậy, toàn bộ âm mưu đã thành công tốt đẹp.

Viết đến đây, chân tướng đại khái về vụ án Kida và Murakoshi đã sáng tỏ. Còn về vụ họa sĩ bạn của Murakoshi bị chết đuối, dường như không có âm mưu gì quá lớn trong đó. Vì sự việc xảy ra gấp gáp nên có lẽ chưa kịp tạo ra hiện trường giả tinh vi.

Vụ án họa sĩ có hai khả năng: Một là vào tối ngày 12, tức chiều tối ngày trước khi Murakoshi bị giết, Murakoshi đã nhận được sự uy hiếp và chỉ thị của chồng tôi, cùng vị họa sĩ đó đi dạo bên cầu Senju, khi đi đến phía sau các nhà máy lớn không người qua lại, anh ta đã đẩy vị họa sĩ xuống nước. Tuy nhiên, nếu khẳng định theo hướng này thì dường như hơi khiên cưỡng. Nếu chồng tôi ép Murakoshi đi giết họa sĩ thì sẽ khiến Murakoshi nảy sinh nghi ngờ rằng chính mình cũng có thể bị giết, nên làm vậy rất mạo hiểm. Từ đó suy ra, tôi cho rằng vẫn là đích thân chồng tôi đã chạy đến Senju để trừ khử vị họa sĩ đó.

Thông qua Murakoshi, chồng tôi chắc chắn đã rất hiểu tính nết của vị họa sĩ, thậm chí có lẽ đã từng gặp mặt. Chồng tôi muốn loại bỏ anh ta, chắc chắn đã tránh tai mắt mọi người để bí mật dụ anh ta ra ngoài. Cùng anh ta đi dạo bên cây cầu Senju mà anh ta yêu thích, rồi thừa cơ đẩy anh ta xuống sông, tôi nghĩ việc này không quá khó để thực hiện.

Vậy thì bằng chứng cho thấy chồng tôi có khả năng gây án vào tối ngày 12 là gì? Ở đây có một sự tình cờ kỳ lạ. Hôm đó, anh tài xế đột nhiên thấy đau bụng dữ dội không thể lái xe, nên chồng tôi đã tự lái xe đi. Bình thường chồng tôi vốn đã thích tự lái xe, đó cũng là điều ông ấy thường hay khoe khoang và tự hào. Tài xế đau bụng không lái xe được, ông ấy như thể đang mong chờ cơ hội này vậy, liền tự mình đánh xe đi luôn. Sở thích và sự hứng thú với ảo thuật của ông ấy có điểm tương đồng ở đây.

Tối ngày 12, tại nhà hàng Yanagibashi có một buổi tiệc chiêu đãi, lúc chồng tôi về đã quá 12 giờ đêm. Từ Yanagibashi đến cầu lớn Senju, tra bản đồ mới biết hai nơi gần nhau đến không ngờ, đi xe chỉ mất khoảng mười lăm đến hai mươi phút. Sau khi tiệc chiêu đãi kết thúc, chồng tôi vòng qua Senju để làm việc cần làm rồi mới quay về nhà, thời gian hoàn toàn dư dả. Nếu đã hẹn trước với vị họa sĩ, hoặc sớm biết tối hôm đó anh ta sẽ đi dạo quanh khu vực cầu Senju, thì chẳng cần đến một tiếng đồng hồ là có thể giải quyết xong vấn đề. Từ Senju quay về không cần vòng qua Yanagibashi nữa mà có thể đi thẳng đường Aoyama. Dù từ Yanagibashi hay từ Senju quay về dinh thự thì thời gian cần thiết cũng tương đương nhau. Nếu trừ đi khoảng chênh lệch thời gian, thì dùng ba mươi đến bốn mươi phút là có thể trừ khử được vị họa sĩ rồi.

Tôi đã quy nạp tất cả những gì não bộ mình nghĩ ra được đến đây, có lẽ vẫn còn sót một vài chi tiết nhỏ nhặt nào đó.

Cứ viết liên tục không ngừng nghỉ thế này, tôi đã thấy rất mệt mỏi rồi.

Từ sáng hôm sau cuộc viếng thăm của Akechi, tôi đã bắt đầu viết cuốn nhật ký này, dồn hết thời gian vào đây. Bây giờ đã là 9 giờ tối ngày 18, tiêu tốn tròn hai ngày trời, tôi đã viết kín một nửa cuốn nhật ký.

Suốt hai ngày qua chồng tôi đều ra ngoài làm việc, nên tôi có dư dả thời gian để viết ra chi tiết những bí mật trong lòng mình. Kể từ khi kết hôn đến giờ, đây là lần đầu tiên tôi viết một thứ dài đến thế. Có lẽ tôi đã bị "con quỷ thám tử" mê hoặc rồi, chính con quỷ đáng sợ đó đã thôi thúc tôi viết ra những suy luận này.

Những suy luận kiểu này, ngoài vợ của Omagahara là tôi ra, tôi nghĩ không ai có thể suy luận nổi. Chồng tôi tinh thông truyện trinh thám và hồ sơ tội phạm, rất am hiểu cách thức phạm tội cũng như các thủ đoạn gây án. Ông ấy đồng thời còn là một người cuồng ảo thuật. Còn tôi, vợ ông ấy, chịu ảnh hưởng từ ông ấy nên đã quá quen với những thủ pháp và kỹ xảo đó. Hơn nữa, với tư cách là vợ, tôi hiểu chồng mình hơn bất kỳ ai, hiểu tính cách và phương thức tư duy của ông ấy. Vì vậy, chỉ có tôi mới có thể thấu hiểu được một người chồng có những ý tưởng viển vông cùng những suy nghĩ kỳ quái như vậy.

Đây quả là một cái bẫy ngông cuồng, một sự lừa dối không chút kiêng dè. Những thủ đoạn cao minh này biến những điều mà mọi người thường cho là bất khả thi thành hiện thực, nhưng nó cũng giống như một trò đùa dai của trẻ con vậy; với tư cách là một doanh nhân, chồng tôi không thể thực tế hơn được nữa. Để giải tỏa, ông ấy vừa yêu thích những cuốn truyện trinh thám đầy kịch tính và hư cấu, vừa mê đắm sự hư ảo của ảo thuật. Kế hoạch âm mưu giết người lần này cũng thẩm thấu cả hai nét tính cách đó của ông ấy. Ông ấy vẫn yêu tôi như xưa, nhưng lại dùng ý chí không thể lay chuyển để giết sạch những tình địch, những người đàn ông tư thông với tôi – đó là khía cạnh thực tế trong tính cách của ông ấy. Còn việc hoạch định ra một mưu kế thượng sách biến điều không thể thành có thể lại chứa đựng một sự thôi thúc trẻ con, bộc lộ tính cách của một người yêu thích ảo thuật.

Thật kỳ lạ, không hiểu sao dù đã nhận ra âm mưu tàn khốc của chồng nhưng tôi lại không thấy sợ hãi hay căm ghét ông ấy. Ngược lại, tôi thấy kính sợ trước ý chí kiên cường như sắt thép đó. Sự trẻ con của ông ấy cũng khơi dậy trong tôi một sự đồng cảm. Những người đàn ông tôi từng yêu và hiện tại vẫn còn yêu bị ông ấy giết từng người một, vậy mà tôi lại không cảm thấy một chút phẫn nộ nào, ngay cả chính tôi cũng thấy khó tin. Có lẽ là do tôi vẫn chưa biết trên thế giới này, cái mà người ta thường gọi là tình yêu đích thực rốt cuộc là gì. Tôi từng yêu nhất thời rất nhiều người đàn ông, nhưng tình yêu tôi dành cho chồng là tình yêu thuần khiết cao thượng nhất, còn tình yêu với những thanh niên kia chẳng qua chỉ là tình yêu xác thịt mà thôi. Tính cách của tôi dường như rất kỳ diệu.

Cho đến hôm nay, tôi không có nguyện vọng kể lại tội ác của chồng cho bất kỳ ai. Cho đến chết tôi cũng sẽ làm đồng mưu với chồng, vĩnh viễn che giấu bí mật chân thực này. Đây có lẽ là một cách hành xử khó hiểu, nhưng hiện tại tôi càng yêu người chồng phạm tội giết người của mình mãnh liệt hơn, yêu ý chí sắt thép kiên định bất di bất dịch của ông ấy. Thật là một tâm lý kỳ lạ.

Dù đã viết những tình tiết này vào cuốn nhật ký có khóa, nhưng cũng không hẳn là an toàn tuyệt đối. Nếu nỗi lo lắng đó thực sự xảy ra, tôi sẽ đốt nó ngay lập tức.

Dường như vẫn còn rất nhiều điều muốn viết, nhưng thực sự tôi quá mệt rồi. Cứ vội vội vàng vàng viết, không biết từ lúc nào ngón tay đã phồng rộp lên, đau đến mức không thể viết tiếp được nữa.