Trái Tim Mách Bảo

Kể từ khi cháu ra đi, bà không còn đọc báo nữa vì cháu chẳng còn ở đây để mua mà cũng không có ai mang đến cho bà. Lúc đầu bà nhớ chúng thật, nhưng rồi dần dần bà cũng thấy nguôi ngoai. Bà nhớ cha của Isaac Bashevis Singer từng nói rằng trong tất cả các thói quen của con người hiện đại, đọc nhật báo là điều tệ hại nhất. Cứ mỗi sáng, khi tinh thần của chúng ta dễ tiếp thu nhất thì lại bị bao nhiêu điều xấu xa đã xảy ra trên thế giới vào ngày hôm trước dồn dập đổ vào. Vào thời của ông ấy, người ta có thể cứu vãn chính mình bằng cách phớt lờ báo chí, nhưng ngày nay như thế là chưa đủ, chúng ta còn có tivi và radio. Hễ mở chúng lên trong giây lát là hàng loạt điều xấu xa nhảy bổ vào và làm ta bực hết cả mình.

Sáng nay việc này đã xảy ra đấy. Bà mở tin tức khu vực trong lúc mặc đồ và nghe rằng những đoàn người tị nạn đã được cho phép vượt qua biên giới. Họ đã mỏi mòn chờ đợi ở đó suốt bốn ngày và chẳng được đi tiếp mà cũng không thể quay trở lại. Họ cõng theo người già, người đau ốm và có nhiều phụ nữ với trẻ con. Phát thanh viên nói rằng nhóm đầu tiên đã đến được trại của Hội Chữ Thập Đỏ và những người tị nạn đang được chăm sóc ở đó. Cuộc chiến này làm bà đau đớn ghê gớm, nó ở quá gần đây và thật thiếu văn minh. Mỗi khi chiến tranh nổ ra, bà lại cảm thấy như có một chiếc gai chọc thủng trái tim mình. Bà biết đó là một hình ảnh sáo rỗng, nhưng chỉ có nó mới lột tả hết cảm giác của bà cháu ạ. Sau một năm thì nỗi đau của bà đã nhường chỗ cho sự căm phẫn, bà không thể tin được rằng chẳng ai có thể can thiệp và chặn đứng cuộc tàn sát này. Nhưng rồi bà phải chấp nhận một điều rằng: Cái đất nước đó chẳng có giếng dầu nào, chỉ toàn là núi đá cằn khô thôi. Và đến khi lòng căm phẫn đã chuyển sang thịnh nộ thì cơn thịnh nộ ấy cứ mãi gặm nhấm bà như một con mọt gỗ vô cùng bướng bỉnh.

Thật ngớ ngẩn khi người như bà ở từng tuổi này vẫn còn bị rúng động bởi chiến tranh. Rốt cuộc thì hết cuộc chiến này đến cuộc chiến kia vẫn đang nổ ra trên thế giới mỗi ngày, thế thì sau tám mươi năm bà phải quen với nó, như thể nó là một vết chai sần chứ. Bà vẫn còn nhớ những người tị nạn và các đoàn quân – dù là kẻ thắng trận hay bại trận – đều đi qua những đám cỏ lau cao vút trên cao nguyên Carso: đầu tiên là các đoàn tàu bộ binh từ cuộc Chiến tranh Thế giới lần I với những trận bom nổ tung cả vùng cao nguyên; rồi sau đó là những đoàn người còn sống sót sau các chiến dịch của Hy Lạp và Nga, tiếp theo là bọn tàn sát khát máu Nazi và Phát xít; và giờ đây, những tiếng súng lại nổ dọc theo biên giới và những đoàn người vô tội đang đi khỏi chốn sát sinh ở vịnh Balkan.

Một vài năm trước bà đi từ Trieste đến Venice bằng tàu hỏa và ngồi cùng toa với một bà đồng – đó là một phụ nữ trẻ hơn bà chút ít, đội mũ bê-rê. Tất nhiên là bà không biết đó là một bà đồng cho đến khi tập hợp những thông tin nghe ngóng từ cuộc trò chuyện của bà ta với một phụ nữ ngồi kế bên.

“Chị biết không,” bà ta nói khi tàu đi qua cao nguyên Carso, “nếu đi bộ qua những vùng này, tôi có thể nghe thấy tiếng gọi của những người đã chết ở đây, cứ bước được hai bước là đã nghe inh tai rồi. Họ la hét rất khủng khiếp, những người chết càng trẻ thì gào thét càng to.” Sau đó bà ta giải thích rằng hành động vũ lực sẽ làm thay đổi không gian ở một nơi nào đó mãi mãi: không khí ở đó đặc quánh và mục ruỗng đi, chính điều này sẽ kích thích cho những hành động tàn bạo tiếp theo. Nói tóm lại là nếu máu đã chảy ra ở đâu đó thì sẽ còn nhiều máu đổ tràn lên, càng về sau lại càng nhiều thêm nữa. Rồi bà đồng kết luận: “Trái đất như một gã ma cà rồng vậy, một khi đã nếm thử máu thì gã muốn uống thêm, gã muốn máu tươi và không bao giờ thỏa mãn.”

Trong suốt nhiều năm bà đã tự hỏi liệu nơi chúng ta ở có bị vướng lời nguyền ấy hay không; đến giờ bà vẫn còn băn khoăn nhưng chưa tìm được câu trả lời. Cháu còn nhớ tất cả những lần bà cháu mình cùng leo lên núi Monrupino không? Khi gió Bắc nổi lên, hai chúng ta ở đó hàng giờ để ngắm toàn bộ khung cảnh như thể đang nhìn xuống từ máy bay. Hai bà cháu có thể nhìn hàng dặm xa từ mọi hướng và rồi thi xem ai có thể xác định được những ngọn núi của dãy Dolomites và chỉ ra đỉnh Grado da Venezia trước. Giờ đây bà không thể leo lên đó được nữa nên chỉ nhắm mắt để hồi tưởng lại khung cảnh ấy.

Nhờ vào sự kỳ diệu của trí nhớ mà mọi thứ hiển hiện ra trước mắt và xung quanh bà, như thể lại được đứng trên ngọn núi ấy vậy. Không có gì mất đi, cả tiếng gió và mùi hương của mùa bà chọn để nhớ lại. Bà đứng đó rồi nhìn xuống những cột đá vôi bị xói mòn theo thời gian, rồi đến vết đất cằn cỗi nơi những chiếc xe tăng đã từng diễn tập và mũi đất Istria mờ ảo nửa nổi nửa chìm dưới lòng biển xanh. Bà nhìn bao quát hết tất cả mọi thứ xung quanh và tự hỏi mình đến cả nghìn lần: liệu có điểm gì sai trong bức tranh hài hòa này không? Nếu có thì nó ở đâu?

Bà yêu vùng đất này vô cùng, và có lẽ chính tình yêu này đã ngăn bà đi tìm đáp án cho câu hỏi ấy; duy nhất một điều bà chắc chắn là những đặc điểm của cảnh vật xung quanh rõ ràng có ảnh hưởng đến tính cách của mọi người sống ở đó. Nếu bà thường xuyên cộc cằn, khó chịu và cháu cũng như thế là bởi vì chúng ta sống ở Carso, vì những làn gió quất của nó, vì những màu sắc của nó và cả vì sự xói lở của nó nữa. Nếu được sinh ra trên những ngọn đồi Umbrian thì có lẽ chúng ta đã là những con người rất đỗi dịu dàng và tính khí cũng không quá đỗi nghiêm trọng như thế này.

Dù sao đi nữa thì hôm nay lời nguyền kia có vẻ đã linh nghiệm rồi, bởi vì sáng nay bà đã nhìn thấy con chim hét chết giữa những miếng vải vụn khi đi vào phòng bếp. Hai ngày qua trông nó không khỏe lắm, nó ăn rất ít và thường ngủ gật gù sau khi no. Hẳn nó đã chết từ trước bình minh vì khi bà cầm nó trên tay, cái đầu của nó đu đưa qua lại như thể có một chiếc lò xo bị gãy bên trong cơ thể. Nó nhẹ bẫng, mong manh và lạnh cóng. Bà vuốt ve nó một lúc rồi quấn lại bằng một mảnh vải để cho nó ấm áp được phần nào. Tuyết đang rơi thật nhanh và dày đặc bên ngoài, bà phải nhốt Buck ở trong phòng và bước ra vườn. Bà chẳng còn đủ sức lực để đào đất bằng xẻng nên chọn một khoảng đất mềm nhất giữa các luống hoa rồi dùng chân moi thành một lỗ nhỏ, sau đó đặt con chim vào và lấp đất lại. Trước khi trở vào nhà, bà lặp lại lời cầu nguyện cháu luôn đọc khi hai bà cháu mình cùng chôn những con chim nhỏ trước đây: “Lạy Chúa, mong Ngài hãy nhận lấy sinh linh nhỏ bé này như đã từng nhận tất cả những sinh linh khác.”

Cháu còn nhớ chúng ta đã cố gắng cứu sống và chăm sóc bao nhiêu con chim như thế lúc cháu còn bé không? Cứ sau mỗi ngày gió bão, hai bà cháu lại tìm thấy một con chim bị thương, từ se sẻ, sẻ đồng, sẻ ngô cho đến chim mỏ chéo. Chúng ta đã cố gắng hết sức để chữa lành cho chúng nhưng mọi nỗ lực hầu như đều vô vọng và chúng ra đi chỉ trong ngày một, ngày hai mà không hề báo trước. Mỗi ngày như thế đều là một thảm họa đối với cháu, cho dù là nó đã xảy ra không biết bao nhiêu lần rồi. Sau khi chôn, cháu lấy tay quẹt nước mắt, nước mũi rồi nhốt mình trong phòng “để giải quyết nỗi đau buồn”.

Một ngày nọ cháu hỏi bà làm thế nào để tìm ra mẹ cháu vì thiên đàng quá rộng lớn và rất dễ bị lạc. Bà nói rằng thiên đàng như một khách sạn lớn, mỗi người ở đó đều có một phòng riêng. Sau khi mất đi, tất cả mọi người thương yêu nhau trên trái đất sẽ tìm thấy người thân của mình trong căn phòng đó và rồi sống cùng nhau mãi mãi. Cách giải thích này đã trấn an cháu được một thời gian, nhưng sau khi con cá vàng thứ tư hay thứ năm của cháu chết đi, cháu lại hỏi về vấn đề này lần nữa: “Điều gì sẽ xảy ra khi không còn chỗ cho tất cả mọi người?” “Nếu không còn đủ chỗ,” bà trả lời, “cháu phải nhắm mắt và lặp đi lặp lại câu ‘Phòng ơi rộng ra’ trong vòng một phút. Bỗng nhiên căn phòng sẽ mở rộng ra ngay.”

Tất cả những hình ảnh trẻ con ấy vẫn còn được lưu giữ trong ký ức của cháu chứ, hay là cái vỏ bọc của cháu đã xua đuổi chúng đi hết rồi? Bà đã lãng quên chuyện này mãi cho tới hôm nay, bà chỉ chợt nhớ ra khi chôn con chim hét. Phòng ơi mở ra, ôi kỳ diệu biết bao! Chắc chắn căn phòng của cháu đã đông đúc như một khán đài bóng đá, nơi ấy có mẹ cháu, những con chuột hamster, se sẻ, và cả cá vàng. Bà cũng sẽ đến đó sớm thôi, cháu có muốn bà ở chung trong phòng của cháu hay bà phải thuê một phòng gần đó? Liệu bà có thể mời người yêu đầu tiên của bà vào, liệu bà có thể giới thiệu ông ngoại của cháu không?

Bà đã nghĩ gì và tưởng tượng gì vào buổi tối tháng Chín ấy khi bước xuống tàu ở Porretta? Hoàn toàn không có gì. Hương dẻ hòa trong không khí và việc đầu tiên bà phải lo là đi tìm khách sạn mà mình đã đặt phòng. Lúc đó bà vẫn còn ngây thơ lắm, bà không hề biết số phận của mình vẫn còn hoạt động không ngừng, bà chỉ có một niềm tin mạnh mẽ rằng mọi chuyện có xảy ra hay không là tùy thuộc vào việc điều khiển ý chí của chính mình. Thế nhưng ý chí của bà đã tan biến hết vào khoảnh khắc bước ra khỏi ga tàu, bà chẳng muốn thứ gì, hay đúng hơn là chỉ có một điều: ra đi trong thanh thản.

Bà gặp ông ngoại của cháu ngay buổi tối đầu tiên, ông ấy cùng một người khác đã ăn tối ở khách sạn của bà. Ngoài một cụ già nữa thì hai người là những vị khách duy nhất ở đó và đang bàn luận sôi sục về chính trị. Âm điệu giọng nói của ông cháu làm bà khó chịu ngay lập tức. Một vài lần trong suốt bữa ăn bà nhìn chằm chằm vào ông ấy như chúng ta vẫn hay làm khi ai đó làm mình phát cáu, chính vì vậy mà cháu có thể tưởng tượng bà ngạc nhiên đến mức nào khi phát hiện ra ông ấy chính là bác sĩ ở khu nghỉ dưỡng vào ngày hôm sau! Ông ấy hỏi về tình trạng sức khỏe của bà trong mười phút, và khi bà cởi áo, một việc thật đáng xấu hổ đã xảy ra: Bà bắt đầu toát mồ hôi như thể mình đang cố hết sức để làm việc gì đó. Khi đo tim của bà, ông ấy nói, “Lạy Chúa tôi, cô đang sợ đến chết đi được!” và rồi bật cười khanh khách với cái giọng đáng ghét vô cùng tận. Ông ấy làm bà phát tăng huyết áp khi cột thủy ngân của máy đo tăng vọt lên cực đỉnh. “Cô có bị chứng tăng huyết áp không?” ông ấy hỏi thế. Bà phát điên với chính mình, bà cố gắng trấn an bản thân rằng chẳng có gì phải sợ cả, ông ấy chỉ là một bác sĩ đang làm công việc của mình thôi, thật không bình thường và cũng chẳng xứng đáng để mình kích động như thế. Nhưng cho dù đã lẩm nhẩm trong đầu những lý lẽ này không biết bao nhiêu lần, bà vẫn không thể lấy lại bình tĩnh. Khi bà rời khỏi phòng khám, ông ấy đưa cho bà một tờ giấy ghi rõ việc điều trị và rồi bắt tay bà. “Nghỉ ngơi và thả lỏng nhé,” ông ấy nói. “Nếu không thì nước nóng cũng chẳng giúp ích được gì cho cô đâu.”

Tối hôm đó ông ấy đến và ngồi ở bàn của bà sau khi ăn. Đến ngày hôm sau thì cả hai đã đi dạo khắp thành phố và nói chuyện cùng nhau. Sự kích động dữ dội đã làm bà khó chịu phát điên ở giây phút ban đầu giờ đây trở nên đầy mê hoặc. Mọi điều ông ấy nói đều mãnh liệt, nồng nàn; thật không thể nào gần ông ấy mà lại không được sưởi ấm bởi những câu chuyện đầy đam mê, và cả bởi hơi ấm của cơ thể ông ấy nữa.

Trước đây bà đọc trong một tờ báo có nói rằng theo các lý thuyết mới nhất thì tình yêu không phải xuất phát từ con tim mà từ lỗ mũi. Khi hai người gặp nhau và thích nhau, họ sẽ bắt đầu gửi đi những hooc-mon nhỏ xíu bà không nhớ rõ tên, sau đó chúng sẽ chui vào lỗ mũi và đi lên bộ não rồi giải phóng những cơn khát khao mãnh liệt từ những nếp nhăn bí mật. Nói tóm lại, bài báo kết luận rằng cảm giác là vô giá trị còn mùi hương vô hình mới là quan trọng. Thật ngớ ngẩn vô cùng! Ai đã từng trải nghiệm tình yêu chân chính – một tình yêu không thể cưỡng lại và chẳng thể diễn tả hết bằng lời – đều biết rằng những khẳng định như thế chẳng qua chỉ là một cố gắng vụng về để hạ thấp vai trò của trái tim. Tất nhiên là mùi của người ta yêu có thể hết sức lý thú; nhưng sự thú vị ấy chỉ đến sau những cuốn hút ban đầu vốn không phải chỉ từ mùi mà có.

Khi ở bên cạnh Ernesto vào những ngày đó, lần đầu tiên trong đời bà có cảm giác cơ thể mình không có giới hạn nào. Bà cảm thấy có một luồng sáng tinh tế phát ra xung quanh, cứ như là cơ thể của mình đang rộng mở và rung động nhịp nhàng trong mỗi bước chân. Cháu có biết cây cối hoạt động như thế nào nếu ta không tưới nước trong nhiều ngày không? Lá của chúng sẽ héo úa và thay vì vươn lên đón ánh sáng, chúng sẽ cụp xuống như những chiếc tai thỏ ủ rũ vậy. Ừ, cuộc sống của bà trong những năm tháng trước đó cũng giống một cái cây không được tưới nước, những giọt sương đêm chỉ đủ để bà sống sót. Bà đang chết khát, và dù còn chút sức mạnh để đứng trên đôi chân nhưng tất cả chỉ có vậy mà thôi. Nếu ta tưới nước cho cái cây ấy một lần, nó sẽ bắt đầu sống lại, những chiếc lá sẽ bắt đầu vươn lên. Đó cũng chính là những gì đã xảy ra với bà trong tuần đầu tiên. Buổi sáng vào ngày thứ sáu kể từ khi đến đó, bà nhìn vào gương và nhận ra mình là một phụ nữ khác hẳn. Da dẻ thật mịn màng, đôi mắt sáng long lanh, bà còn khe khẽ hát khi thay đồ nữa chứ - bà đã chẳng làm điều này kể từ lúc bé rồi đấy.

Quan sát câu chuyện từ bên ngoài, có lẽ cháu nghĩ rằng hẳn phải có nghi ngờ, khó chịu và cả sự giày vò đằng sau tất cả niềm vui sướng này chứ. Rốt cuộc thì bà đã là một phụ nữ có chồng, làm sao bà có thể chấp nhận sự có mặt của một người đàn ông khác vô tư như vậy được? Nhưng thực sự là chẳng hề có nghi ngờ, e sợ nào; không phải bởi vì bà cũng phần nào là một người tự do, phóng khoáng, mà đó là vì mọi thứ bà đang trải qua chỉ đơn thuần là những xúc cảm tự nhiên. Bà như một con cún con tìm thấy chiếc chuồng ấm áp của mình sau mấy ngày lang thang trên những con đường mùa đông lạnh buốt: cu cậu chẳng hề thắc mắc mà chỉ nằm xuống và tận hưởng hơi ấm xung quanh. Bên cạnh đó, bà có nhận thức rất kém về sự quyến rũ nữ tính của bản thân nên bà không bao giờ tưởng tượng một người đàn ông có thể cảm nhận được điều đó từ bà.

Vào ngày Chủ nhật đầu tiên khi bà đang trên đường đi lễ, Ernesto ngừng xe bên cạnh bà rồi thò đầu ra khỏi cửa, hỏi, “Cô đang đi đâu đấy?” và khi bà trả lời, ông ấy liền mở cửa ra và nói, “Tin tôi đi, Chúa sẽ yêu cô hơn nếu cô đi dạo trong rừng thay vì đến nhà thờ.” Sau những đoạn đường quanh co khúc khuỷu, hai ông bà cũng đến được đầu một lối đi nhỏ bị che khuất bởi những cây dẻ. Vì không mang đúng loại giày để đi đường gồ ghề nên cứ mỗi hai bước là bà lại vấp chân. Lúc Ernesto nắm tay bà, điều này có vẻ như một hành động tự nhiên nhất quả đất. Cả hai im lặng đi dọc theo con đường. Hương mùa thu thoảng qua trong gió, mặt đất ẩm ướt đẫm sương, lá cây đã ngả màu vàng rực và những tia nắng xuyên qua tán lá, ánh lên những màu sắc huyền ảo, nhẹ nhàng. Cuối cùng thì cả hai đi đến một khoảng rừng trống với một cây dẻ khổng lồ đứng sừng sững ngay ở giữa. Bà nhớ đến cây sồi của mình nên đến gần cây dẻ, đầu tiên bà vuốt ve nó rồi tựa má vào thân cây. Đúng lúc đó, Ernesto đã cúi mặt sát bên bà. Đó là lần đầu tiên ánh mắt của cả hai đã gần nhau đến vậy.

Ngày hôm sau bà không muốn gặp ông ấy nữa. Tình bạn đã chuyển sang một thứ gì khác rồi, và bà cần thời gian để suy nghĩ. Bà không còn là một cô gái trẻ nữa mà đã là một phụ nữ có chồng với bao nhiêu trách nhiệm kèm theo, ông ấy cũng đã có vợ và một đứa con trai. Bà đã nhìn thấy trước cả cuộc đời mình cho đến tận lúc già yếu, và những thứ bấy lâu nay mình không trông đợi bỗng dưng xuất hiện ngay trước mắt – điều này làm bà lo sợ. Bà không biết phải cư xử như thế nào. Lúc đầu, những gì mới mẻ đều thật đáng sợ và ta phải vượt qua nỗi lo âu ấy thì mới có thể hành động tiếp. Vì vậy mà bà nghĩ rằng: Việc này thật ngu xuẩn, nó khác hẳn với những gì trước đây, mình phải quên hết mọi thứ và xóa sạch tất cả những gì đã xảy ra trong mấy ngày qua. Nhưng liền sau đó bà thầm nhủ rằng rũ bỏ mọi chuyện chính là hành động xuẩn ngốc nhất, bởi vì lần đầu tiên kể từ khi còn là một cô bé, bà cảm thấy mình đang sống lại, mọi thứ đều rung động rộn ràng xung quanh và ngay bên trong bà, thật chẳng thể nào từ bỏ được. Nhưng rồi một cách thật tự nhiên, bà có một nỗi nghi ngờ mà tất cả phụ nữ đều có (hay ít nhất từng có): rằng ông ấy chỉ đang chơi một trò chơi, ông ấy chỉ muốn chút ít hưng phấn chứ chẳng là gì hết. Tất cả những suy nghĩ này xoay như chong chóng trong đầu bà khi đang ngồi một mình trong căn phòng xám xịt ở khách sạn.

Bà không thể nào chợp mắt cho đến tận bốn giờ sáng bởi vì quá hào hứng. Ấy vậy mà sáng hôm sau bà không hề mệt mỏi, bà lại còn hát khi mặc đồ nữa chứ; chỉ trong một vài giờ mà niềm khao khát sống mãnh liệt đã được sinh ra trong bà. Vào ngày thứ mười bà gửi cho Augusto một tấm bưu thiếp: Không khí thật tuyệt vời, thức ăn thì bình thường thôi. Hãy hy vọng cho những điều tốt đẹp nhất, bà viết, ký tên và gửi kèm theo một nụ hôn đầy yêu thương. Đêm hôm trước bà đã ở cùng với Ernesto.

Khi nghĩ về đêm hôm đó, bỗng dưng bà nhận ra rằng có rất nhiều cánh cửa sổ nhỏ xíu tồn tại ở giữa cơ thể và tinh thần. Nếu chúng được mở ra, những dòng cảm xúc sẽ được tự do ra vào, nhưng nếu chúng đóng lại thì những cảm xúc kia sẽ không được di chuyển nữa. Chỉ có tình yêu mới có thể cùng lúc mở toang toàn bộ những cánh cửa ấy như một cơn gió mạnh.

Hai ông bà không rời nhau nửa bước trong tuần lễ cuối cùng bà ở Porretta, cả hai đi bộ thật xa và nói chuyện cho đến khi khô cổ. Trò chuyện với Ernesto so với Augusto thật khác biệt làm sao! Ernesto có tất cả niềm say mê và lòng nhiệt thành, ông ấy có thể thảo luận về những vấn đề hóc búa nhất với một sự đơn giản tuyệt đối. Hai ông bà thường nói về Chúa, về những khả năng có thể tồn tại bên ngoài thế giới thực này. Ông ấy từng tham chiến trong đội quân Kháng chiến nên đã hơn một lần đối diện với cái chết. Ý niệm về một quyền lực siêu nhiên nào đó đã xảy ra với ông ấy trong những phút giây đó, không phải bởi vì ông ấy sợ hãi mà là ý thức của ông ấy dường như được rộng mở và lớn lên. “Anh không thể đi lễ được,” ông ấy nói với bà. “Anh sẽ không bao giờ bước chân vào nhà thờ và sẽ không bao giờ có thể tin vào giáo lý cũng như các câu chuyện được sáng tác bởi người khác.” Ông bà lắng nghe nhau, suy nghĩ những điều giống nhau, cách nói cũng y hệt nhau, có vẻ như hai chúng ta đã biết nhau từ nhiều năm trước chứ chẳng phải chỉ mới hai tuần.

Ông bà chỉ còn lại một ít thời gian, những đêm cuối cùng cả hai hầu như không ngủ và chỉ chợp mắt đôi chút để có thể lấy lại sức khỏe. Ernesto bị lôi cuốn bởi ý nghĩ về duyên tiền định. Ông ấy nói rằng “Trong cuộc đời của mỗi người đàn ông chỉ có một phụ nữ duy nhất mà anh ta có thể tìm được sự kết hợp hoàn hảo nhất, và trong cuộc đời của mỗi phụ nữ cũng chỉ có một người đàn ông duy nhất, mà với người ấy, cô ta mới có thể trở thành toàn vẹn nhất.” Nhưng có rất ít, vô cùng ít những cặp đôi được tìm thấy nhau. Tất cả những người còn lại bị bắt buộc phải sống trong tình trạng bất mãn lâu dài và khao khát khôn nguôi. “Có bao nhiêu cuộc gặp gỡ như chúng ta cơ chứ?” ông ấy hỏi trong căn phòng tối. “Một trong mười nghìn, một trong một triệu, hay một trong mười triệu người?” Một trong mười triệu, đúng là thế đấy. Tất cả những cặp đôi khác là kết quả của sự thỏa thuận, sức hút bề ngoài chớp nhoáng, sự hấp dẫn của cơ thể, sự đồng nhất về tính cách, hay các tục lệ xã hội. Sau một hồi đắn đo, ông ấy lặp lại rằng: “Chúng ta quá may mắn, phải không em? Ai biết được đằng sau tất cả những chuyện này là gì? Ai biết được cơ chứ?”

Vào ngày bà ra đi, khi đứng đợi tàu trong nhà ga nhỏ xíu, ông ấy ôm chầm lấy bà và thì thầm vào tai, “Chúng ta đã gặp nhau trong tiền kiếp nào em nhỉ?” “Nhiều, nhiều lắm,” bà trả lời và bắt đầu khóc. Giấu kín trong xách tay của bà là địa chỉ của ông ấy ở Ferrara.

Thật vô ích để miêu tả bà đã cảm thấy như thế nào trong hành trình trở về nhà dài dằng dặc. Tâm trạng của bà rối bời bời với những dòng suy nghĩ đối lập nhau. Trong thời gian ở trên tàu, bà biết rõ ràng mình cần phải thay đổi cho nên bà liên tục đi vào phòng vệ sinh để kiểm tra sắc mặt của mình. Ánh sáng trong đôi mắt và nụ cười trên đôi môi cần phải biến mất. Chỉ có đôi má hồng là được phép ở lại, nó chính là bằng chứng rằng không khí trong lành đã có tác dụng tốt đối với bà. Cả cha bà và Augusto đều nhận ra sự cải thiện thật phi thường này. “Cha biết là nước nóng có thể mang lại điều kỳ diệu mà,” cha bà lặp lại dễ đến lần thứ một trăm, trong khi đó bà hầu như không thể tin được là Augusto đã tấn công bà tới tấp với những hành động rất ga lăng.

Khi biết yêu lần đầu, cháu sẽ thấy tình yêu mang đến cho ta muôn sắc, muôn màu và bao nhiêu điều thú vị. Lúc chưa yêu, trái tim ta vẫn còn tự do rong chơi và ánh mắt chỉ thuộc về một mình mình thì chẳng có người đàn ông nào ta cảm thấy hấp dẫn lại dành cho ta một phút; nhưng đúng giây phút một người nào đó đánh cắp trái tim ta, và ta không hề quan tâm đến bất kỳ ai khác thì bỗng dưng tất cả bọn họ quay trở lại theo đuổi, tán tỉnh và nói những lời hết sức ngọt ngào. Đó là vì những cánh cửa sổ bà đã nói trên đây, khi chúng được mở ra, cơ thể ta sẽ chiếu ánh sáng rực rỡ lên tinh thần, và tinh thần cũng làm ngược lại cho cơ thể, chúng soi rọi lẫn nhau qua một chuỗi các tấm gương. Chỉ trong một thời gian ngắn, một vầng hào quang rực rỡ sẽ bao phủ xung quanh ta, chính ánh hào quang ấy quyến rũ đàn ông như mật ngọt thu hút những con gấu vậy. Augusto cũng không ngoại lệ. Và có lẽ là lạ đối với cháu nhưng bà không thấy khó khăn khi tỏ ra tử tế với ông ấy. Tất nhiên là nếu Augusto sống gần gũi hơn một chút với thế giới thực tại, và nếu ông ấy khôn ngoan hơn thì chắc chắn không cần mất nhiều thời gian để đoán biết điều gì đã xảy ra. Lần đầu tiên kể từ khi lấy chồng, bà cảm thấy thật biết ơn những con côn trùng ghê tởm của ông ấy.

Bà có nghĩ về Ernesto không? Tất nhiên, thật sự đó là điều duy nhất bà làm. Nhưng nghĩ không phải là từ chính xác. Nó còn hơn cả suy nghĩ nữa kìa, bà tồn tại là vì ông ấy, ông ấy tồn tại trong bà, cả hai chúng ta là một thực thể có cùng mọi suy nghĩ và hành động. Lúc chia tay, ông bà đồng ý với nhau rằng bà sẽ là người viết thư đầu tiên; trước khi ông ấy có thể hồi âm, bà phải tìm một người bạn – một phụ nữ tin cẩn để nhận thư giúp bà. Bà gửi cho ông ấy lá thư đầu tiên vào ngày lễ Toàn Thánh. Khoảng thời gian sau đó quả thật là tồi tệ nhất trong suốt thời gian ông bà quen nhau. Ngay cả tình yêu vĩ đại, hoàn hảo nhất cũng không loại trừ được những mối nghi ngờ khi người yêu của mình ở tận nơi xa. Vào những buổi sáng khi trời vẫn còn tờ mờ, bà mở mắt trừng trừng và nằm yên bất động bên cạnh Augusto. Đó là khoảnh khắc duy nhất mà bà không giấu đi cảm giác của mình. Bà suy tư về ba tuần lễ vừa qua. Bà tự hỏi nếu Ernesto chỉ là một gã Sở Khanh thì sao, có phải cuộc sống ở spa nghỉ dưỡng trở nên nhàm chán cho nên ông ấy tìm chút thú vui bằng cách tán tỉnh người phụ nữ đầu tiên ông ấy gặp chăng? Mỗi một ngày trôi qua mà không có tin tức gì từ ông ấy, nỗi nghi ngờ kia đã chuyển hóa thành một điều chắc chắn. Thế rồi bà tự nhủ: Được rồi, cho dù tất cả chỉ là vậy, cho dù mình đã hành động như một cô bé ngây thơ khờ khạo thì đó không phải là một trải nghiệm tiêu cực và cũng không hoàn toàn vô ích. Nếu không là chính mình thì bà sẽ già yếu và chết đi mà chưa bao giờ biết được cảm giác của một người phụ nữ là thế nào. Cháu thấy đấy, bà đang cố gắng tạo ra một tấm màn bảo vệ và ra sức bào chữa cho mình.

Cả Augusto và cha bà đều nhận ra niềm vui của bà đã biến mất. Bà nhanh chóng rơi vào cơn thịnh nộ mà chẳng vì lý do gì; nếu một trong hai người bước vào phòng là bà bỏ đi ngay kèm theo những lời cáu gắt, bà chỉ cần được một mình. Bà liên tục nghĩ về những tuần lễ đã trải qua cùng Ernesto và điên cuồng xem xét lại từng giây, từng phút một. Bà cố gắng tìm ra một chi tiết hay bằng chứng nào đó để có thể đưa ra quyết định dứt khoát. Cuộc tra tấn tinh thần này kéo dài trong bao lâu? Một tháng rưỡi hay gần hai tháng gì đó. Rốt cuộc thì vào tuần lễ trước Giáng Sinh, lá thư của ông ấy đã đến nhà bạn bà, tất cả có năm trang chi chít chữ.

Bỗng nhiên bà vui vẻ trở lại. Mùa đông trôi qua và mùa xuân cũng thế, bà viết những lá thư rồi chờ đợi trả lời. Tâm trí bà chỉ có hình bóng của Ernesto nên khái niệm về thời gian cũng thay đổi, tất cả suy nghĩ của bà chỉ tập trung về một tương lai mơ hồ, một khoảnh khắc nào đó khi mình có thể được gặp lại ông ấy.

Lá thư đầu tiên của ông ấy làm bà xúc động đến nỗi mọi nghi ngờ bấy lâu nay bỗng dưng tan biến hết. Tình yêu của cả hai là một tình yêu vĩ đại, một tình yêu tột cùng, và cũng như những cuộc tình tuyệt vời khác, nó vượt qua những trải nghiệm thông thường. Có lẽ cháu thấy lạ khi sự xa xôi cách trở không làm cho cả hai đau khổ, nhưng quả thật rằng nếu nói không đau khổ thì cũng không đúng. Cả bà và Ernesto đều phải chịu đựng sự xa cách không mong muốn này, nhưng hòa lẫn vào đó là những cảm xúc khác, nỗi đau chỉ còn là thứ yếu khi niềm háo hức mong chờ thời điểm gặp lại nhau to lớn hơn gấp bội. Cả hai đều đã lập gia đình nên đều hiểu rằng mình không thể kỳ vọng khác hơn. Nếu chuyện này xảy ra ở những thế hệ sau này thì có lẽ bà chẳng phải đợi lâu hơn một tháng để nói lời chia tay Augusto, và Ernesto cũng làm như vậy với vợ của ông ấy, rồi cả hai ông bà sẽ đến ở cùng nhau dưới một mái nhà vào mùa lễ Giáng Sinh. Như vậy có tốt hơn chăng? Bà không biết nữa. Bà cảm thấy rất khó khăn để dứt bỏ quan niệm rằng những mối quan hệ dễ dãi sẽ làm tầm thường hóa tình yêu và biến những cảm xúc khát khao cuồng nhiệt trở thành những mê đắm phù du.

Có người yêu và tìm cách gặp gỡ người ấy không phải là đơn giản trong thời đó. Dĩ nhiên là dễ dàng hơn đối với Ernesto vì ông ấy là một bác sĩ nên có thể viện dẫn nhiều lý do như hội thảo, họp hành hay những vấn đề cấp bách. Còn bà chỉ là một nội trợ nên rõ ràng là không thể. Bà phải nghĩ đến một nhiệm vụ nào đó có thể cho phép mình đi khỏi nhà vài giờ hay thậm chí vài ngày mà không gợi lên chút nghi ngờ nào cả. Và ngay trước lễ Phục Sinh, bà đã tham gia một câu lạc bộ của những người yêu thích ngôn ngữ La Tinh không chuyên. Họ tổ chức những cuộc họp mỗi tuần và thường xuyên thực hiện những chuyến tham quan văn hóa. Biết bà có niềm đam mê đối với những ngôn ngữ cổ nên Augusto không mảy may nghi ngờ hay phàn nàn chi cả, ông ấy cảm thấy vui khi bà trở lại với những gì mình đã từng yêu thích.

Mùa hè năm ấy đã đến trong chớp mắt. Cuối tháng Sáu, Ernesto rời Ferrara để đi đến spa nghỉ dưỡng như mọi năm còn bà đi du lịch ở vùng biển cùng cha và Augusto. Những tháng sau đó bà thành công trong việc thuyết phục Augusto rằng mình chưa bao giờ thôi mong ước có một đứa con. Sáng sớm ngày 31 tháng Tám, vẫn mặc cùng chiếc váy và mang cùng chiếc va li như năm trước, bà ngồi lên xe và ông ấy chở bà ra ga tàu để đi đến Porretta. Bà hào hứng đến nỗi không thể ngồi yên trong suốt chuyến đi, bà nhìn những cảnh vật mà năm rồi đã thấy qua khung cửa, thế nhưng mọi thứ có vẻ đã thay đổi cả rồi.

Bà ở lại spa trong ba tuần, và trong ba tuần ấy, bà đã sống trọn vẹn hơn cả quãng đời còn lại của mình. Một ngày nọ, khi Ernesto phải làm việc, bà đi dạo trong công viên và nhớ rằng mình đã nghĩ thật tuyệt vời biết bao nếu được chết vào chính khoảnh khắc này. Có vẻ thật lạ lùng, nhưng niềm hạnh phúc vô biên hay nỗi đau khổ tột cùng đều mang theo những niềm khát khao đầy mâu thuẫn. Bà có cảm giác bấy lâu nay mình chỉ lang thang vô định trên những con đường gồ ghề xuyên qua những khu rừng hết năm này sang năm khác; bà chỉ bước chân qua những bụi cây nhỏ để tiếp tục hành trình và không hề chú ý đến những thứ xung quanh ngoài việc đi thẳng trên con đường trước mắt; bà chẳng biết mình đi đến đâu – có thể là một vách đá, một đèo cao, một thành phố lớn hay cũng có thể là một sa mạc; rồi bỗng dưng những khu rừng không còn nữa, bà đã leo lên cao tự lúc nào không biết, và đột nhiên bà nhận ra mình đang đứng trên một đỉnh núi chót vót. Mặt trời chỉ vừa ló dạng, trước mặt bà là những dãy núi nhấp nhô phủ ánh sương mờ kéo dài cho đến chân trời. Tất cả chìm trong một màu xanh huyền ảo, một cơn gió nhẹ thổi qua đỉnh núi, từ đỉnh núi đến đầu bà, và từ đầu bà đến tận những suy nghĩ bên trong. Thỉnh thoảng một âm thanh nào đó vọng lên, một tiếng chó sủa, và rồi một tiếng chuông nhà thờ. Mọi thứ vừa nhẹ bẫng lại vừa dữ dội đến lạ lùng. Từ trong ra ngoài cơ thể bà, mọi thứ đều trở nên quang đãng, không còn những đỉnh núi lờ mờ, không còn gì che ánh sáng, bà không hề muốn leo xuống và trở lại khu rừng ấy nữa; bà muốn hòa mình vào lớp sương xanh biếc kia và ở đó mãi mãi, để lại cuộc sống sau lưng và leo lên tới đỉnh cao nhất. Bà giữ suy nghĩ ấy trong đầu cho đến khi gặp lại Ernesto vào buổi tối hôm ấy. Suốt buổi ăn tối, bà không đủ can đảm để kể cho ông ấy nghe và e rằng ông ấy sẽ cười phá lên cho mà xem. Mãi đến tận khuya, khi ông ấy vào phòng và ôm chầm lấy bà, bà đặt đôi môi sát bên tai ông ấy và thì thầm khe khẽ. Bà định nói rằng “Em muốn chết,” nhưng cháu có biết bà đã nói gì không? “Em muốn một đứa con.”

Lúc rời Porretta, bà biết mình đã có thai. Bà nghĩ Ernesto cũng đã biết điều này, mấy ngày trước đó ông ấy cứ bồn chồn, bối rối và thường hay im lặng. Nhưng phản ứng của bà lại hoàn toàn khác. Cơ thể của bà bắt đầu thay đổi sau buổi tối ở cùng ông ấy, ngực bà bỗng trở nên đầy đặn, săn chắc và làn da mịn màng hơn hẳn. Thật không thể tin cơ thể ta điều chỉnh theo tình trạng mới nhanh chóng đến vậy. Đó là lý do tại sao bà có thể nói rằng mình biết chính xác điều gì đã xảy ra, cho dù bà chưa thử thai, và thậm chí bụng mình vẫn còn phẳng lì. Bỗng nhiên bà cảm thấy thật rạng rỡ, cơ thể mình đang tự điều chỉnh và bắt đầu nảy nở, bà có thể cảm nhận được nguồn sức mạnh của nó. Bà chưa có những cảm giác ấy bao giờ.

Nhưng đến lúc chỉ còn một mình trên tàu, những suy nghĩ cặn kẽ hơn mới bắt đầu bủa vây lấy bà. Khi còn bên cạnh Ernesto, bà không hề có chút hồ nghi nào về việc mình sẽ giữ lại đứa bé: Augusto, cuộc sống ở Trieste, những cuộc đàm tiếu của mọi người – tất cả dường như đều ở xa tít tắp. Thế mà giờ đây, khi toàn bộ thế giới ấy sắp tiến đến gần mình thì bà không thể chậm trễ về bào thai này nữa, bà phải quyết định thật nhanh, và một khi nó đã được quyết định thì mọi chuyện sẽ không bao giờ thay đổi. Thật nghịch lý thay khi bà nhận ra rằng việc phá thai còn khó khăn gấp bội so với việc sinh con. Phá thai sẽ không bao giờ thoát khỏi sự nghi ngờ của Augusto. Làm sao bà có thể nhìn vào ánh mắt ông ấy mà lý giải sau bao nhiêu năm trời khăng khăng rằng mình muốn có một đứa con? Bên cạnh đó, bà không hề mong muốn phá thai chút nào, sinh linh bé bỏng đang lớn dậy trong bà không phải là một lỗi lầm, càng không phải là một thứ gì đó có thể bị loại bỏ càng sớm càng tốt. Nó lấp đầy niềm khao khát của bà, và có lẽ đó chính là niềm khao khát to lớn và mãnh liệt nhất trong cuộc đời bà.

Khi ta yêu một người đàn ông – một tình yêu mãnh liệt, toàn vẹn cả cơ thể lẫn tâm hồn – không còn gì tự nhiên bằng ước muốn được có một đứa con. Đó không phải là một khao khát mang tính lý trí hay là một lựa chọn dựa trên những tiêu chuẩn, lý lẽ thông thường. Trước khi gặp Ernesto, bà tưởng tượng rằng mình muốn có một đứa con và biết chính xác tại sao mình muốn nó cũng như những lợi ích và mất mát trong chuyện này. Nói một cách ngắn gọn thì đó là một lựa chọn đầy lý trí, bà muốn một đứa bé bởi vì đã đến một lứa tuổi nhất định và đang rất cô đơn, ngoài ra còn bởi vì bà là một phụ nữ, mà như mọi phụ nữ khác, nếu không sinh ra được điều gì thì ít nhất cũng phải sinh ra con cái chứ. Cháu thấy không? Nếu mua một chiếc xe thì bà cũng sử dụng chính xác những tiêu chuẩn như vậy đấy.

Nhưng vào cái đêm bà nói với Ernesto rằng “Em muốn một đứa con”, có điều gì đó khác hẳn hoàn toàn. Quyết định này đã đi ngược lại với tất cả những lý lẽ thông thường, hay nói một cách chính xác là những lý lẽ ấy đều phủ phục trước quyết định này. Mà thực ra nó không hẳn là một quyết định, nó là niềm khao khát hoang dại, điên cuồng sẽ sở hữu Ernesto mãi mãi. Bà muốn Ernesto tồn tại trong mình, cùng mình, bên cạnh mình suốt đời. Giờ đây có lẽ cháu cảm thấy ghê sợ khi đọc về cách cư xử của bà. Có lẽ cháu cũng tự hỏi rằng tại sao cháu chưa bao giờ phát hiện ra là bà đã che đậy một phần tính cách hèn hạ, thấp kém của mình phải không? Khi tàu đến Trieste, bà chỉ làm một điều duy nhất có thể là bước xuống tàu trong lớp vỏ của một phụ nữ yêu chồng cuồng nhiệt. Augusto bất ngờ bởi những thay đổi trong bà, nhưng thay vì lý giải tại sao, ông ấy chỉ cuốn theo chiều gió.

Sau một tháng thì việc ông ấy có con là hoàn toàn chính đáng. Vào ngày bà thông báo về kết quả thử thai, ông ấy rời văn phòng giữa buổi sáng và dành cả ngày ở bên bà để lên kế hoạch thay đổi ngôi nhà khi đứa bé chào đời. Và khi bà kề tai nói to tin vui với cha bà, ông ấy nắm chặt tay bà trong lòng bàn tay khô ráp của mình một lúc lâu và không hề cử động, còn đôi mắt thì đã đỏ hoe và ngân ngấn nước tự lúc nào. Cũng khá lâu rồi, chứng điếc tai đã khiến ông ấy bị cô lập với cuộc sống xung quanh, những cuộc đối thoại của ông ấy là một chuỗi từ ngữ bật ra từ miệng, đôi khi có những khoảng lặng đột ngột giữa những lời nói hay ông ấy lạc đề và kể những câu chuyện trong quá khứ chẳng ăn nhập gì với cuộc trò chuyện đang diễn ra. Chẳng biết tại sao nhưng bà không hề xúc động bởi những giọt nước mắt của ông ấy mà chỉ thấy một nỗi khó chịu mơ hồ. Bà còn có cảm giác những giọt nước mắt ấy chỉ là ngụy biện chứ không là gì khác. Dù sao đi nữa thì ông ấy cũng không sống được cho tới lúc nhìn thấy mặt cháu gái mình. Ông ấy ra đi thật thanh thản lúc đang ngủ khi bà đã mang thai mẹ cháu đến tháng thứ sáu. Khi nhìn ông ấy nằm trong quan tài, bà giật mình vì thấy ông ấy sao già yếu và héo hon đến vậy. Gương mặt của ông ấy vẫn như thế, thật xa cách và không mảy may xúc cảm.

Tất nhiên là bà viết cho Ernesto ngay sau khi có kết quả thử thai; sau mười ngày thì thư của ông ấy mới đến tay bà. Bà chờ vài tiếng đồng hồ mới mở lá thư vì vô cùng hồi hộp và sợ rằng có thể nó sẽ chứa đựng những điều không hay ho lắm. Mãi đến chiều muộn hôm đó bà mới quyết định đọc. Bà nhốt mình trong phòng vệ sinh khóa chặt của một quán cà phê để có chút yên tĩnh riêng tư. Lời lẽ của ông ấy rất điềm tĩnh và hợp lý: “Anh không biết liệu điều này có phải là tốt nhất hay không, nhưng nếu đó là điều em muốn thì anh rất tôn trọng quyết định của em.”

Lúc đã vượt qua mọi cản trở, bà bình thản chờ đợi phút lâm bồn. Bà có giống một con ác quỷ không? Hay bà chính là nó? Bà không biết. Trong suốt thời gian mang thai và cả những năm tháng sau này, bà không hề có cảm giác hoài nghi hay ăn năn, hối hận. Làm sao bà có thể giả vờ yêu một người đàn ông khi đang mang trong mình giọt máu của một người đàn ông khác mà mình thực sự yêu thương? Cháu thử nhìn xem, mọi thứ trong thực tế đâu hề đơn giản, chúng không bao giờ chỉ có hai màu trắng hoặc đen mà là muôn màu, muôn sắc, và tất cả chúng lại có biết bao sắc thái khác nhau. Việc đối xử dịu dàng và quý mến Augusto đối với bà không phải là một nghĩa vụ, bởi vì bà thực sự yêu ông ấy. Nhưng tình yêu này khác với tình yêu dành cho Ernesto, đó không phải là tình yêu nam nữ mà là tình yêu của một cô em gái đối với người anh trai đang mệt mỏi của mình. Nếu ông ấy là một người xấu thì mọi thứ có lẽ đã khác đi, bà sẽ chẳng bao giờ mơ ước có một đứa con và sống chung một mái nhà với ông ấy, đằng này ông ấy chỉ nhàm chán và máy móc đến khù khờ; ngoài điều đó ra ông ấy là người có bản chất rất tốt. Ông ấy vui khi có một đứa con, và bà vui lòng mang đến đứa con cho ông ấy. Tiết lộ bí mật của mình vì lý do gì chứ? Nếu bà làm vậy thì chắc chắn ba cuộc đời sẽ bất hạnh mãi mãi. Hay ít nhất đó là suy nghĩ của bà lúc ấy. Thời nay, khi ai cũng có thể tự do lựa chọn và quyết định thì việc bà làm có vẻ thật đáng sợ, nhưng vào lúc ấy, bà cảm thấy mình đang ở trong một hoàn cảnh bình thường. Bà không nói là nó xảy ra với tất cả các cặp vợ chồng, nhưng không có nghĩa là bất thường khi một phụ nữ có chồng lại có con riêng với một người đàn ông khác. Thế thì điều gì sẽ xảy ra? Cũng giống như trong trường hợp của bà vậy: chẳng có gì xảy ra cả. Đứa bé được sinh ra, lớn lên bình đẳng như các anh chị em của nó và trưởng thành mà không hề có chút mảy may nghi ngờ nào cả. Lúc bấy giờ, gia đình được xây dựng trên nền tảng vô cùng vững chắc, để phá hủy nó thì một đứa con ngoài giá thú không đủ để làm nổi.

Và mọi chuyện đã xảy ra như vậy với mẹ cháu: từ lúc ra đời, con bé là con gái của cả hai vợ chồng, bà và Augusto. Đối với bà, điều quan trọng nhất là Ilaria được sinh ra nhờ tình yêu chứ không phải là do may rủi, do tục lệ xã hội hay do buồn chán; bà nghĩ chỉ điều này thôi cũng đủ xóa bỏ tất cả những vấn đề khác. Quả là một sai lầm lớn!

Tuy nhiên, trong những năm đầu, mọi việc tiến triển rất tự nhiên và trôi chảy. Bà đã sống vì nó, bà đã – hay ít nhất tin rằng mình đã – là một người mẹ tràn ngập tình yêu thương và luôn ân cần, chu đáo với con mình. Từ mùa hè đầu tiên sau khi con bé ra đời, bà có thói quen đưa nó đi đến bãi biển Adriatic mỗi năm và hai mẹ con tận hưởng những ngày tháng ấm áp nhất ở đó. Hai mẹ con thuê một căn nhà, cứ hai hay ba tuần Augusto đến thăm và ở lại trong những ngày cuối tuần.

Cũng chính trên bãi biển đó, Ernesto đã nhìn thấy con gái mình lần đầu tiên. Tất nhiên ông ấy làm ra vẻ là một người hoàn toàn xa lạ, đôi khi ông ấy đi dạo và “tình cờ” đến gần hai mẹ con. Hay những lúc Augusto không có mặt, ông ấy ngồi dưới tán dù cách đó một quãng xa để ngắm hai mẹ con chơi đùa hàng giờ trong khi giả vờ đọc sách báo. Vào những buổi tối, ông ấy viết cho bà những lá thư dài, ghi lại những suy nghĩ trong đầu, những cảm giác dành cho hai mẹ con và những điều vừa chứng kiến. Lúc đó, vợ Ernesto cũng sinh thêm một cậu con trai khác và ông ấy phải bỏ việc ở spa nghỉ dưỡng để mở phòng khám tư ở quê hương Ferrara của mình. Ngoài những lần gặp gỡ được sắp đặt cẩn trọng như những dịp “tình cờ”, hai ông bà không còn nhìn thấy nhau trong suốt mấy năm cho tới khi Ilaria lên ba tuổi. Bà dành hết mọi sự chú ý cho con bé; mỗi sáng thức dậy, bà vui mừng khôn tả khi nghĩ rằng con bé đang có mặt trên đời, và cho dù bà muốn làm chuyện khác thì cũng chẳng thể nào tập trung được.

Không lâu trước khi chia tay ở spa nghỉ dưỡng, Ernesto và bà đã cùng nhau thỏa thuận một điều. “Mỗi buổi tối, vào đúng mười một giờ,” ông ấy nói, “cho dù anh ở đâu và làm bất cứ việc gì, anh cũng sẽ bước ra ngoài và nhìn sao Thiên Lang trên bầu trời. Em cũng làm như thế nhé, cho dù chúng mình cách xa nhau vạn dặm, cho dù chúng mình không được gặp nhau suốt cả đời và chẳng biết điều gì đang xảy ra, nhưng khi làm như thế này, những suy nghĩ của hai ta sẽ gặp nhau trên đó, ít nhất là chúng cũng sẽ được đến thật gần nhau.” Hai ông bà bước ra ngoài ban công của khách sạn và Ernesto chỉ cho bà chòm sao Lạp Hộ cùng ngôi sao sáng Betelgeuse. Rồi sau đó ông ấy chỉ đến Thiên Lang, ngôi sao sáng nhất trong chòm.