Trái Tim Mách Bảo

Một tiếng ồn đột ngột đánh thức bà vào đêm hôm qua, mãi một lúc sau bà mới nhận ra đó là chuông điện thoại. Chuông đã reo nhiều lần trước khi bà có thể lê cái thân già này ra khỏi giường, và khi vừa tới thì tiếng chuông đã tắt. Dù sao thì bà cũng cầm ống nghe lên và nói a lô hai, ba lần bằng cái giọng vô cùng ngái ngủ. Thay vì trở về giường, bà ngồi trên ghế bành kế bên chiếc điện thoại. Có phải là cháu không? Có thể là ai được nhỉ? Tiếng chuông phá vỡ màn đêm tĩnh lặng đã thực sự làm bà bực mình. Bà nhớ đến câu chuyện một người bạn đã kể vài năm trước đây. Chồng bà ấy nằm trong bệnh viện từ rất lâu nhưng luật lệ thăm bệnh nhân rất nghiêm ngặt nên bà ấy đã không có mặt khi ông ấy ra đi. Bị dằn vặt với nỗi thất vọng và buồn đau, đêm đó bà ấy không thể ngủ và cứ nằm yên trong bóng tối cho tới khi chuông điện thoại bất ngờ reo. Thật ngạc nhiên, bà ấy không thể tin ai đó có thể gọi đến để chia buồn vào giờ này. Khi cầm ống nghe, bà ấy nhận ra có điều gì đó thật khác lạ đập vào mắt: có một vầng sáng lung linh xung quanh chiếc điện thoại, nhưng khi vừa nói a lô, từ ngạc nhiên bà ấy chuyển sang khiếp sợ. Giọng nói ở đầu dây bên kia dường như đến từ một nơi rất xa và nghe có vẻ rất khó khăn. “Marta,” giọng nói được phát ra với tiếng ồn rè rè, “anh muốn chào tạm biệt trước khi ra đi...” Đó là giọng nói của chồng bà ấy. Ông ấy ngưng lại và rồi hình như có tiếng gió mạnh thổi qua, sau đó điện thoại mất tín hiệu và chỉ còn bầu âm thanh lặng lẽ bao trùm.

Lúc ấy bà trấn an bạn của mình rằng chẳng qua là vì bà ấy đang mệt mỏi quá thôi, nhưng việc người chết sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại như vậy thật quả là kỳ lạ. Dẫu sao đi nữa thì câu chuyện ấy cũng để lại một dấu ấn trong tâm trí bà. Từ sâu thẳm tận đáy lòng, nơi một phần nào đó trong bà vẫn rất hồn nhiên và tin vào những điều kỳ diệu, đôi khi bà muốn nhận được một cú điện thoại vào lúc nửa đêm như thế từ Thế Giới Bên Kia, từ con gái mình, chồng mình và cả người đàn ông mình yêu hơn tất cả mọi thứ trên thế giới này.

Họ đã chết, họ không còn ở đây nữa, riêng bà vẫn tiếp tục hành động như thể vừa sống sót sau một vụ đắm tàu. Bà vẫn an toàn vì được thủy triều đẩy dạt lên một hòn đảo trong khi không biết điều gì đã xảy ra với những người thân thiết của mình. Họ đã biến mất khỏi tầm mắt của bà khi chiếc thuyền lật úp, có lẽ họ đã chìm rồi – có vẻ là vậy – nhưng cũng có thể là chưa. Dẫu sao thì năm tháng trôi qua và bà vẫn dò tìm ở những hòn đảo xung quanh, chờ đợi một luồng khói bốc lên, một tín hiệu hay bất kỳ điều gì đó để khẳng định niềm tin mơ hồ của bà rằng họ vẫn còn sống trên cõi đời này.

Một tiếng động lớn đã đánh thức bà vào đêm Ernesto mất. Augusto bật đèn và la lớn “Ai đó?” Không có ai trong phòng cả, mọi thứ vẫn còn ở nguyên vị trí cũ. Chỉ đến sáng hôm sau, khi mở tủ quần áo bà mới thấy các ngăn đựng đều rơi xuống cả, tất cả vớ, khăn choàng và đồ lót nằm chất đống dưới đáy tủ.

Giờ đây bà mới có thể nói “đêm Ernesto mất” chứ lúc đó bà chưa biết được. Bà vừa mới nhận một lá thư của ông ấy nên suy nghĩ về chuyện gì đó xảy ra với ông ấy không hề có trong đầu. Bà cứ cho rằng không khí ẩm ướt đã làm rỉ sét các thanh chống và sức nặng của đồ đạc đã làm cho chúng đổ sập. Lúc này Ilaria đã bốn tuổi và đi nhà trẻ, cuộc sống của bà với con bé và Augusto vẫn ổn định và êm đềm. Buổi chiều hôm ấy, sau cuộc họp với câu lạc bộ tiếng La Tinh, bà đến một quán cà phê và viết thư cho Ernesto. Câu lạc bộ đã lên kế hoạch cho một hội nghị ở Mantua vào hai tháng tới, đây hẳn là cơ hội chờ đợi bấy lâu nay để hai người có thể gặp lại nhau. Bà gửi lá thư đi và bắt đầu mong chờ thư trả lời của ông ấy. Nhưng chẳng có tin tức gì trong tuần kế tiếp, và cả những tuần sau đó nữa. Lúc đầu bà nghĩ dịch vụ bưu điện đã bị trục trặc gì đó, rồi bà lại tưởng tượng là ông ấy đang bị ốm nên không thể đến văn phòng để nhận thư. Sau một tháng nữa thì bà viết thêm một mẩu tin nhắn khác, nhưng vẫn bặt vô âm tín. Mỗi ngày trôi qua, bà cảm thấy mình như một ngôi nhà bị nước thấm dần qua móng. Lúc đầu nó chỉ là những tia nước nhỏ âm ỉ mơn man những trụ bê tông, nhưng rồi thời gian trôi qua, nó trở thành những dòng chảy to lớn, mạnh mẽ, và áp lực của nó biến xi măng trở thành đất cát; ngôi nhà vẫn đứng đó, mọi thứ trông có vẻ bình thường, nhưng bà biết thực chất không phải thế, chỉ cần một cú xô nhẹ thì bề mặt và tất cả nền móng của nó sẽ bị sụp đổ tan tành như thể một ngôi nhà xếp hình của trẻ con vậy.

Trước khi đi dự hội nghị, bà thui thủi như một cái bóng. Sau khi có mặt chớp nhoáng ở Mantua, bà đi thẳng đến Ferrara và cố gắng khám phá điều gì đã xảy ra. Chẳng có ai trong văn phòng của Ernesto, bà đi qua đó mấy lần nhưng những cánh cửa lúc nào cũng đóng im ỉm. Ngày hôm sau bà đi đến một thư viện và hỏi xem các tờ báo từ mấy tháng trước, nhờ một đoạn thông báo ngắn mà bà biết được toàn bộ câu chuyện đã xảy ra. Trên đường trở về nhà sau khi đến thăm một bệnh nhân, ông ấy đã mất tay lái và đâm vào một cây tiêu huyền rất lớn. Ông ấy chết gần như ngay lập tức. Thời gian và ngày tháng trùng lặp chính xác với thời điểm các giá đựng đồ trong tủ quần áo của bà sụp xuống.

Trong mục bói toán của các tờ tạp chí lá cải mà cô Razman thỉnh thoảng mang tới có nói rằng những người thuộc chòm sao Hổ Cáp ứng với cung thứ tám thường bị chết bất đắc kỳ tử. Theo chuyên mục đó thì không ai sinh ra dưới cung hoàng đạo này sẽ được ra đi thanh thản. Bà tự hỏi không biết có phải Ilaria và Ernesto đều ra đời khi những chòm sao này tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời hay không. Cách nhau hơn hai mươi năm, cả hai cha con đều giã biệt cõi đời trong tình huống chính xác như nhau: đâm xe vào một thân cây.

Bà đắm chìm trong cơn tuyệt vọng khôn nguôi sau cái chết của Ernesto. Bà đã tỏa sáng rực rỡ trong những năm qua và đột nhiên nhận ra rằng ánh sáng ấy không phải ở bên trong bà mà chỉ là một hình ảnh phản chiếu. Niềm hạnh phúc và tình yêu cuộc sống bấy lâu nay chưa bao giờ thuộc về bà, hóa ra bà chỉ có vai trò là một tấm gương. Chính Ernesto là người phát ra nguồn sáng ấy, còn bà chỉ phản chiếu lại thôi. Khi ông ấy biến mất, mọi thứ bỗng tối sầm trở lại. Sự hiện diện của Ilaria chẳng những không còn làm bà vui nữa mà trở nên khó chịu, tinh thần bà lung lay đến nỗi nghi ngờ rằng liệu con bé có thật là con của Ernesto hay không. Sự thay đổi này không thể thoát khỏi nhận thức của con bé, nó nhận ngay tín hiệu chối bỏ của bà bằng chiếc ăng-ten nhạy cảm của trẻ con và trở nên thật hống hách, cứng đầu. Kể từ đó, nó là sợi dây leo căng tràn nhựa sống còn bà là thân cây già đang chờ đợi bị phủ kín bởi sợi dây leo. Nó đánh hơi mùi tội lỗi của bà như một con chó săn và lợi dụng điều đó để leo cao hơn nữa. Ngôi nhà lúc này giống như một địa ngục với toàn những tiếng la hét và cãi vã.

Để bà bớt gánh nặng, Augusto thuê một người giúp việc để chăm sóc con bé. Ông ấy cố gắng lôi kéo nó đến với những con côn trùng của mình, thế nhưng chỉ sau ba, bốn lần, mọi nỗ lực đều tan tành mây khói khi nó thét lên: “Gớm quá đi!”, và thế là ông ấy đành từ bỏ. Bỗng nhiên tuổi già của ông ấy đến thật nhanh, trông ông ấy cứ như là ông ngoại của con bé chứ không phải là cha, hơn nữa ông ấy còn giữ khoảng cách với nó lắm. Khi nhìn mình trong gương, bà cũng thấy tuổi tác đang đè nặng lên mình, những nét cơ thể đã trở nên thô ráp, nặng nề mà trước kia chưa bao giờ có. Thờ ơ với bản thân cũng đã nói lên sự coi thường chính mình. Giữa khoảng thời gian khi Ilaria đến trường cho tới lúc người giúp việc trông nom nó, bà có rất nhiều thời gian rỗi. Cảm giác bồn chồn không yên cứ thúc đẩy bà phải hoạt động không ngừng, thế là bà lái xe lên xuống các ngọn đồi ở Carso như một kẻ u mê.

Bà giở lại những cuốn sách tôn giáo đã đọc khi còn ở L’Aquila. Bà hy vọng sẽ tìm được câu trả lời nào đó trong những trang giấy ấy. Bà đi lang thang và lẩm bẩm không biết bao nhiêu lần câu nói của St. Augustine về cái chết của mẹ ông: “Hãy đừng đau khổ vì mất mẹ mà hãy biết ơn vì ta đã từng có mẹ.”

Một chị bạn đã dẫn bà tới gặp một linh mục để xưng tội hai, ba lần gì đó nhưng bà không thể tiếp tục vì cảm thấy càng đau buồn hơn trước. Ông ấy dùng những lời lẽ ngọt ngào đến phát ngấy để ca tụng sức mạnh của niềm tin, cứ như thể niềm tin là thứ gì đó ta có thể mua ở bất kỳ tiệm tạp hóa nào. Bà không thể chấp nhận việc mất mát Ernesto; ánh sáng của bà đã tắt đi và giờ bà không thể tìm thấy được lý do tại sao lại như thế. Cháu thấy đấy, khi gặp gỡ ông ấy, khi cả hai chìm đắm trong tình yêu, ngay lập tức bà thuyết phục chính bản thân mình rằng mọi thứ đã được giải quyết, bà hạnh phúc sống, hạnh phúc với mọi thứ xung quanh mình; bà cảm thấy mình đã đạt tới đỉnh cao của cuộc đời, một đỉnh cao vô cùng vững chãi; bà đoan chắc rằng không ai và không gì có thể đẩy bà ra khỏi vị trí của mình được. Trong lòng bà tràn ngập niềm tự tin kiêu hãnh vốn có của những người cho rằng mình đã hiểu hết mọi thứ trên đời. Qua nhiều năm, bà vẫn tin chắc là mình đã đi đến điểm này bằng sức mạnh của chính mình, thế nhưng thực tế là bà chưa hề cất bước nào mà không cần ai giúp đỡ. Bà cố gắng đi trên đôi chân của mình, nhưng những bước chân của bà loạng choạng như của một đứa bé hay một cụ già vậy. Có lúc bà nghĩ cần phải dựa vào một thứ gì đó để hỗ trợ: có lẽ là tín ngưỡng hay công việc. Nhưng ý tưởng này không tồn tại được lâu. Ngay lập tức bà hiểu rằng nó chỉ mang đến thêm một sai lầm nữa. Đã đến tuổi bốn mươi rồi thì không còn chỗ cho những sai lầm. Nếu một lúc nào đó bỗng dưng ta cảm thấy mình hoàn toàn trần trụi, ta cần phải can đảm nhìn vào gương để thấy rõ chính mình. Bà phải bắt đầu trở lại. Từ chính mình. Nhưng bà đang ở đâu? Bà là ai? Khi nào là lần cuối bà được là chính mình?

Như đã nói, bà lái xe tới lui trên các ngọn đồi suốt cả các buổi chiều. Đôi khi cảm thấy nỗi cô đơn càng làm mình tồi tệ hơn, bà đi xuống thành phố và hòa lẫn vào đám đông, đi lên xuống các con đường đông đúc và tìm kiếm chút khuây khỏa. Cứ như thể là bà đã có một công việc rồi vậy, bà ra ngoài khi Augusto đi làm và trở về trước khi ông ấy về nhà. Bác sĩ của bà nói với ông ấy rằng trong những trường hợp mệt mỏi tinh thần thì niềm mong muốn di chuyển liên tục không phải là hiếm. Vì bà không có ý định tự vẫn nên lái xe đây đó không có gì nguy hiểm. Theo ông ấy thì càng di chuyển, bà càng cảm thấy bình tĩnh hơn. Augusto nghe theo lời giải thích này, bà không biết có phải vì ông ấy thực sự tin vào bác sĩ hay chỉ vì lười nhác và muốn có một cuộc sống yên bình. Dù sao đi nữa thì bà cũng cảm thấy biết ơn ông ấy vì đã không chõ mũi vào cũng như không tạo ra những cản trở khác trong những hành động của bà.

Bác sĩ đã nói đúng một điều: dù tinh thần sụp đổ nhưng bà không hề có ý định tự vẫn. Lạ thật, nhưng đúng là vậy đấy, không có bất cứ giây phút nào bà nghĩ đến việc tự giết mình sau khi Ernesto chết, và cháu có tin không khi Ilaria chính là người giữ bà lại đấy? Bà đã nói với cháu rằng con bé chẳng có ý nghĩa chút nào với bà trong thời điểm đó. Tận sâu trong tâm can bà có cảm giác rằng sự mất mát bất ngờ của mình không phải – hay không thể – là một dấu chấm hết. Điều này xảy ra hẳn phải có ý nghĩa nào đó, nhưng tìm được ý nghĩa này cũng khó như leo lên một bức tường khổng lồ vậy. Nhưng có thật là có bức tường ấy để bà leo qua không? Có lẽ là có, nhưng bà không thể tưởng tượng điều gì đang chờ đợi ở phía bên kia cũng như bà sẽ thấy được gì khi đã leo lên tới đỉnh.

Một ngày nọ bà đã lái xe tới một nơi mình chưa bao giờ đặt chân đến. Có một nhà thờ nhỏ xíu được bao quanh bởi một nghĩa trang be bé, bốn bề xung quanh là những ngọn đồi với rất nhiều cây, trên đỉnh của một ngọn đồi có một thứ gì đó màu trắng trông như là phần còn lại của một pháo đài cổ. Qua khỏi nhà thờ một chút có hai hay ba ngôi nhà của những người nông dân, mấy con gà đang chạy rông và bươi rác trên đường, còn có cả một con chó mực đang sủa vang nữa chứ. Trên con đường ấy có một bảng chỉ dẫn ghi là Samatorza. Samatorza, cái tên nghe cô độc đến lạ, cứ như là một nơi để ai đó tập hợp mọi suy nghĩ lại. Bà đứng cạnh một con đường trải đá và rồi bắt đầu đi tới mà chẳng cần biết nó sẽ dẫn tới đâu. Mặt trời đã bắt đầu lặn nhưng càng đi xa, bà càng không muốn dừng, thỉnh thoảng một con chim giẻ cùi la thất thanh làm bà giật mình thon thót. Có điều gì đó kêu gọi bà tiếp tục đi, bà không nhận ra nó là gì cho đến khi tới một khoảng đất trống và nhìn thấy một cây sồi khổng lồ, oai nghiêm và điềm tĩnh đứng giữa trời với cành lá vươn ra như những cánh tay đang sẵn sàng ôm chầm lấy bà.

Nghe có vẻ thật ngớ ngẩn nhưng ngay khi thấy nó, trái tim bà đập một cách khác thường, dường như không phải đập nữa mà là quay vù vù; có vẻ nó như là một con thú nhỏ đang rất toại nguyện vì điều gì đó, nó chỉ đập như vậy khi bà nhìn thấy Ernesto. Bà ngồi xuống, vuốt ve cây sồi rồi tựa đầu và lưng vào thân của nó.

Gnõthi seauton – bà đã viết như vậy lên trang đầu tiên của vở bài tập môn tiếng Hy Lạp khi còn trẻ. Dòng chữ này đã bị chôn vùi trong ký ức và bất thình lình quay trở lại khi bà đứng dưới tán cây sồi này: Biết chính ta . Không khí, và hơi thở.