Tuyết đã rơi vào tối qua, cả khu vườn nhuốm màu trắng xóa khi bà thức dậy. Buck chạy loanh quanh như phát cuồng trên bãi cỏ, cu cậu nhảy cẫng lên, sủa inh ỏi và ngậm mấy cành cây khô rồi quẳng vào không trung. Một lát sau thì cô Razman tới thăm, cả hai chúng ta cùng ngồi uống cà phê và cô ấy mời bà sang nhà cô vào đêm Giáng Sinh. “Bà đã làm gì cả ngày nay vậy?”, cô ấy hỏi trước khi rời khỏi nhà. Bà nhún vai: “Cũng chẳng có gì. Tôi chỉ xem tivi một chút rồi suy nghĩ này nọ thôi.”
Cô ấy không bao giờ hỏi về cháu và rất cẩn trọng để tránh nhắc đến chuyện này. Nhưng nghe giọng điệu thì bà có thể nói là cô ấy coi cháu là một người vô ơn. Khi đang trò chuyện về một vấn đề nào đó, cô ấy thường nói rằng: “Bọn trẻ thật là nhẫn tâm, chúng chẳng biết tôn trọng ai cả.” Bà gật đầu và hy vọng rằng cô ấy sẽ thôi nói nữa, nhưng bà âm thầm tin rằng trái tim của chúng ta không bao giờ thay đổi; đơn giản là thói đạo đức giả đã ít đi. Bản chất thanh niên thường ích kỷ còn người già thì thông thái. Tuổi tác của ta không quyết định ta là người sâu sắc hay hời hợt, mà vấn đề là ở con đường ta chọn để đi. Bà không nhớ từ đâu, nhưng đã lâu rồi bà có đọc một câu của người da đỏ nói rằng: “Đừng nhận xét một con người cho tới khi đi suốt ba con trăng trong đôi giày của người ấy.” Bà thích câu nói ấy đến nỗi đã viết lên một mẩu giấy cạnh điện thoại để không quên mất. Nếu chỉ nhìn thoáng qua thì dường như nhiều cuộc đời chỉ có toàn sai lầm, trục trặc và đầy dẫy phi lý. Thật dễ dàng để hiểu lầm người khác nếu ta chỉ đứng bên ngoài quan sát. Chỉ khi nhìn thật sâu, chỉ khi đi hết ba con trăng bằng đôi giày của ai đó thì chúng ta mới hiểu được động cơ, cảm giác và điều gì đã khiến họ làm thế này mà không phải thế kia. Sự hiểu biết xuất phát từ lòng khiêm tốn chứ không phải từ niềm kiêu hãnh về kiến thức.
Có lẽ cháu sẽ mang đôi dép của bà sau khi đọc chuyện này chứ? Bà hy vọng thế đấy, bà hy vọng cháu sẽ dành thời gian để đi từ phòng này sang phòng khác, bà hy vọng cháu sẽ rẽ vào khu vườn, đi từ cây óc chó đến cây anh đào, rồi từ cây anh đào sang cây hoa hồng, và từ cây hoa hồng đến những cây thông đen đúa, xù xì ở cuối bãi cỏ. Bà hy vọng cháu làm điều này không phải là vì van xin lòng trắc ẩn hay tìm kiếm sự tha thứ sau khi chết, mà bởi vì nó cần thiết cho cháu và tương lai của cháu. Nếu cháu muốn tiến lên phía trước mà không bị trở ngại bởi những điều giả dối, điều đầu tiên cháu cần làm là hãy biết mình đến từ đâu và những gì đã xảy ra trước đó.
Ước gì bà đã viết lá thư này cho mẹ của cháu, nhưng thôi thì bà viết cho cháu vậy. Nếu bà không viết thì sự tồn tại của bà trên cuộc đời này coi như là một thất bại. Ai cũng mắc sai lầm, nhưng nếu đã chết đi mà không biết sai lầm đó là gì thì trước đây ta chỉ sống trong vô vọng. Những việc đã xảy ra với chúng ta không phải là vô cớ, mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi sự kiện nhỏ đều có ý nghĩa của nó, sự hiểu biết về chính bản thân chúng ta xuất phát từ việc sẵn sàng chấp nhận những tình huống mới và khả năng tùy cơ ứng biến như những con kỳ nhông lột xác rồi để lại lớp da khô trong những lúc chuyển mùa.
Nếu bà đã không nhớ tới dòng chữ Hy Lạp trong cuốn tập khi đã gần bốn mươi tuổi, nếu bà đã không dừng lại và bắt đầu mọi thứ lại từ đầu thì có lẽ bà sẽ tiếp tục mắc sai lầm như trước đó. Có lẽ bà sẽ yêu một ai đó để tống khứ hình ảnh Ernesto ra khỏi tâm trí, và rồi yêu một người khác, lại thêm một người khác nữa; để tìm kiếm một bản sao của ông ấy và cố gắng thoát khỏi quá khứ thì có lẽ bà đã có đến hàng tá người yêu. Nhưng chẳng có ai trong số đó giống như nguyên mẫu cả, bởi vậy bà lại tiếp tục tìm và càng ngày càng cảm thấy không thỏa mãn, có lẽ đến một ngày nào đó bà sẽ trở thành một bà lão ngốc nghếch được vây quanh bởi những tình nhân trẻ cũng nên. Hay bà cũng có thể cố ghét Augusto bởi vì xét cho cùng thì chính ông ấy là một phần nguyên nhân khiến bà không thể đưa ra những quyết định quyết liệt hơn. Cháu thấy không? Việc làm dễ dàng nhất khi không muốn nhìn nhận chính bản thân mình là đi tìm lối thoát. Chúng ta luôn có thể đổ lỗi cho người khác, phải dũng cảm lắm thì ta mới thừa nhận đó là lỗi – hay chính xác là trách nhiệm – của chỉ một mình ta. Và chưa hết, như bà đã nói, đây chính là cách duy nhất để cho ta tiến lên phía trước. Nếu cuộc đời là một con đường thì chắc chắn nó sẽ có lắm dốc, nhiều đèo cháu ạ.
Đến năm bốn mươi tuổi bà mới biết phải bắt đầu từ đâu. Còn để biết mình sẽ đi tới đâu thì đó là một quá trình dài với hàng loạt những trở ngại mà cũng mê hoặc không kém. Cháu biết là báo đài gần đây có nói đến việc gia tăng đến chóng mặt số lượng các thể loại guru [5] và đầy dẫy những câu chuyện về nhiều người bỗng nhiên bỏ lại hết tất cả mọi thứ sau lưng để đi theo một bậc thánh nhân nào đó. Bà cảm thấy thật khiếp đảm khi nghĩ về những kẻ tự xưng mình là bậc thầy cứ mọc lên như nấm sau mưa và ra rả giáo điều làm thế nào để tìm thấy sự bình thản trong tâm hồn và hài hòa của vũ trụ. Bọn họ là những dấu hiệu thật nguy hiểm về sự hoang mang, tuyệt vọng của con người. Đằng sau tất cả những chuyện này là một thực tế rằng chúng ta đã gần kết thúc một thiên niên kỷ; ngày tháng chẳng qua chỉ là quy ước nhưng sự kiện này quả thật là đáng sợ; ai cũng chờ đợi một điều gì đó thật khủng khiếp xảy ra, và tất cả đều muốn chuẩn bị sẵn sàng. Chính vì vậy mà họ vây quanh các guru, đăng ký các khóa học để tìm kiếm chính bản thân mình, và sau chừng một tháng là họ dương dương tự đắc rằng mình có thể tiên đoán tương lai – những tiên đoán sai be bét. Ôi lại thêm một điều giả dối đáng kinh tởm biết bao!
Chỉ có duy nhất một bậc thầy chân chính và đáng tin cậy tồn tại – đó là lương tâm của chúng ta. Để tìm thấy nó, ta phải đứng trong yên lặng – một mình trong yên lặng – ta phải đứng trên trái đất trần trụi, trần trụi với chính mình và mọi thứ xung quanh như thể ta đã chết rồi. Lúc đầu ta không nghe gì hết và chỉ có cảm giác sợ hãi, nhưng rồi sau đó ta bắt đầu nghe thấy một giọng nói từ xa vẳng lại, sao tầm thường thế nhỉ. Lạ thật, khi ta kỳ vọng những điều to tát nhất thì những thứ nhỏ bé này lại xuất hiện. Rõ ràng là quá nhỏ đến nỗi ta muốn hét lên: “Hãy đợi đã, chỉ thế thôi à?” Nếu cuộc sống này có chút ý nghĩa thì giọng nói ấy sẽ nói cho ta biết rằng ý nghĩa của cuộc sống là cái chết; nó là trung tâm và vạn vật cứ thế xoay quanh nó. Ôi, một khám phá thật quý báu, ta sẽ nhớ mãi điều này, nhưng đến một kẻ khờ dại nhất cũng biết rằng một mai mình sẽ chết cơ mà. Đúng thế, chúng ta đều biết sự thật này bằng lý trí của mình, nhưng biết bằng lý trí là một chuyện, bằng trái tim mới là cả một vấn đề. Lúc mẹ cháu ở trong trạng thái luôn muốn tấn công người khác, bà đã bảo nó rằng: “Con đang làm tổn thương trái tim mẹ đấy.” Nó bật cười đáp lại: “Mẹ buồn cười quá. Trái tim cũng là cơ thôi, nếu mẹ không kéo căng ra thì làm sao nó bị tổn thương được chứ.”
Đợi đến khi con bé đủ trưởng thành để thấu hiểu mọi chuyện, bà mới cố gắng giải thích lý do nào đã dẫn đến việc bà không chú ý nhiều đến nó. Bà nói, “Đúng thế, có những thời điểm lúc con còn nhỏ, mẹ đã bỏ bê con bởi vì mẹ ốm nặng lắm. Nếu mẹ cố chăm sóc con lúc đang đau ốm thì e rằng mọi chuyện sẽ tồi tệ hơn. Nhưng giờ thì mẹ đã khỏe, hai mẹ con mình lại có thể trò chuyện, bàn luận và bắt đầu lại từ đầu rồi.” Con bé chẳng thèm quan tâm. “Giờ thì con phát ốm lên đây,” nó nói thế rồi im bặt. Rốt cuộc thì bà đã lấy lại bình tâm trong khi con bé lại căm ghét điều này, nó làm mọi thứ có thể để phá hỏng và đẩy bà vào địa ngục trần gian. Nó lựa chọn bất hạnh để trở thành bản chất tự nhiên của nó. Nó thai nghén trong mình một ý tưởng khác biệt về cuộc sống và rồi giam mình đằng sau những song chắn để không ai có thể làm mai một ý tưởng đó đi. Tất nhiên con bé nói rằng nó muốn hạnh phúc; thế nhưng từ sâu thẳm trong lòng, nó đã chặn đứng tất cả những cơ hội để thay đổi khi mới mười sáu, mười bảy tuổi. Khi bà dần dần rộng mở bản thân và chuyển động theo một chiều hướng mới thì nó vẫn đứng yên bất động với hai tay giơ lên trời chờ đợi thứ gì đó rơi xuống. Sự thanh thản đầy mới mẻ này của bà đã làm nó tức tối. Khi nhìn thấy cuốn Kinh Tân Ước trên bàn kế bên giường ngủ, nó nói rằng: “Mẹ cần được an ủi để làm gì chứ?”
Khi Augusto mất, nó thậm chí chẳng muốn dự đám tang. Ông ấy đã bị chứng xơ cứng động mạch hành hạ suốt những năm cuối đời và đi quanh quẩn trong nhà, miệng lẩm bẩm như một đứa trẻ - điều này làm nó không thể chịu đựng nổi. “Ông muốn gì cơ chứ?” nó hét toáng lên khi ông ấy vừa bước chân vào phòng nó. Con bé lên mười sáu tuổi thì ông ấy ra đi; nó không gọi ông ấy là “Cha” kể từ lúc mười bốn tuổi. Ông ấy mất trong bệnh viện vào một buổi chiều tháng Mười Một. Hôm trước đó ông ấy phải nhập viện vì lên cơn đau tim. Bà đã ngồi trong phòng cùng ông ấy, thay vì mặc áo ngủ, ông ấy khoác trên mình chiếc áo choàng bệnh viện có dây buộc phía sau. Các bác sĩ còn nói với bà rằng tình trạng tồi tệ nhất đã qua rồi.
Khi cô y tá mang bữa tối vào, bất thình lình ông ấy đứng dậy khỏi giường và bước vài bước về hướng cửa sổ cứ như thể đã nhìn thấy điều gì đó. “Bàn tay của Ilaria,” ông ấy nói với đôi mắt vô hồn, “Trong nhà này không có tay ai giống như nó cả.” Thế rồi ông ấy trở về giường và ra đi. Bà nhìn ra cửa sổ. Một cơn mưa rào lất phất. Bà vuốt tóc ông ấy.
Đã mười sáu năm nay ông ấy không hề hé môi về điều này, ông ấy đã giữ bí mật đó cho riêng mình.
* * *
Đã trưa rồi, mặt trời vừa ló dạng và tuyết đang tan chảy. Bà có thể nhìn thấy những khoảng cỏ vàng úa trước nhà và từng giọt nước tí tách rơi từ những cành cây. Lạ thật, khi Augusto mất, bà nhận ra rằng cái chết không phải lúc nào cũng mang đến những nỗi đau như nhau. Đột nhiên ta thấy trống rỗng – cảm giác trống rỗng thì lúc nào mà chẳng giống nhau – nhưng chính xác thì trong khoảng trống đó có những nỗi đau khác nhau được hình thành. Những gì ta chưa kịp nói sẽ dồn lại và cứ thế sẽ ngày càng phình to ra. Đó là một khoảng trống bít bùng không hề có cửa ra vào hay cửa sổ; bất cứ thứ gì lơ lửng trong đó sẽ bị nhốt vĩnh viễn, chúng ở trên đầu ta, bên cạnh ta, xung quanh ta, bao phủ và mờ mịt như một làn sương dày đặc. Việc Augusto biết bí mật về Ilaria đã làm bà đau buồn tột độ. Lúc đó bà muốn nói hết với ông ấy về Ernesto, về việc ông ấy có ý nghĩa như thế nào đối với bà, và cả về Ilaria nữa; có biết bao nhiêu chuyện bà muốn nói cho ông ấy nhưng giờ đã muộn mất rồi.
Giờ thì có lẽ cháu đã hiểu những gì bà nói lúc đầu: sự thiếu vắng của người đã khuất không dày vò chúng ta bằng những lời chưa kịp nói trước khi họ mất.
Tương tự như những gì đã làm lúc Ernesto mất, sau cái chết của Augusto bà cũng tìm niềm an ủi từ tôn giáo. Lúc đó bà thường gặp một giáo sĩ Dòng Tên lớn hơn mình vài tuổi. Nhận thấy những lễ nghi tôn giáo làm bà không thoải mái, sau vài lần gặp mặt Cha đã đề nghị cả hai nên gặp nhau ở đâu đó ngoài nhà thờ.
Vì hai người đều thích đi bộ nên đã quyết định sẽ đi bộ cùng nhau. Cha đến đón bà mỗi chiều thứ Tư, chân mang giày leo núi và lưng đeo một chiếc ba lô cũ kỹ; bà rất thích khuôn mặt của Cha – đôi gò má hõm đúng kiểu người đã được sinh ra và lớn lên ở miền núi. Lúc đầu bà cảm thấy xấu hổ vì người ấy là một tu sĩ nên chỉ kể những câu chuyện dở dang và e ngại rằng sẽ làm xúc phạm đến Cha, hay sợ phải đối diện với những lời khiển trách và chỉ trích nghiêm khắc. Đến một ngày nọ, khi cả hai đang ngồi nghỉ ngơi trên một tảng đá, Cha nói rằng: “Con đang làm tổn thương con đấy có biết không. Chỉ một mình con thôi.” Từ lúc đó bà không nói dối nữa, bà mở rộng trái tim vốn đã đóng kín kể từ khi Ernesto mất. Bà nói hết chuyện này đến chuyện kia; chẳng mấy chốc bà quên bẵng đi người ngồi trước mặt mình là một tu sĩ. Không như những tu sĩ khác bà từng gặp, dường như Cha không biết đến những lời lẽ kết tội hay an ủi; Cha không hề dùng những lời đường mật để giải quyết vấn đề. Tính cách của cha cứng rắn đến nỗi có thể làm người khác khó chịu lúc đầu. “Chỉ có nỗi đau làm cho ta lớn mạnh,” Cha nói. “Nhưng ta phải đối diện với nỗi đau đó, ai trốn tránh hay cảm thấy hối tiếc thì đã chấp nhận chịu thua.”
Thắng và thua, những thuật ngữ đầy tính chiến đấu này đã giúp gợi lên hình ảnh về một cuộc đấu tranh nội tâm hoàn toàn tĩnh lặng. Theo Cha thì trái tim con người cũng như trái đất vậy, một nửa được soi sáng bởi mặt trời và nửa kia chìm trong bóng tối. Ngay cả những vị thánh không phải lúc nào cũng được soi sáng. “Lý do đơn giản là vì chúng ta có thể xác,” Cha nói, “một phần chúng ta ở trong bóng tối, chúng ta là những sinh vật lưỡng cư như ếch vậy, một phần chúng ta sống ở dưới này và phần kia thì luôn khao khát hướng lên. Sống là nhận thức, là biết rõ điều này để đấu tranh ngăn ngừa không cho bóng đêm che khuất đi ánh sáng. Đừng tin vào những ai hoàn hảo, những ai lúc nào cũng có sẵn câu trả lời. Đừng tin bất kỳ điều gì ngoại trừ những lời trái tim mách bảo chúng ta.” Những lời nói của cha cuốn hút bà ghê gớm, bà chưa từng gặp ai có thể diễn tả hết những cảm giác sục sôi nhưng không thể tìm ra lối thoát trong bà suốt mấy năm qua. Những suy nghĩ của bà được hình thành khi Cha nói chuyện, bỗng dưng bà có thể nhìn thấy con đường trải ra trước mắt mình; việc đi trên con đường đó không còn là một điều bất khả thi nữa.
Đôi khi Cha mang theo trong ba lô những cuốn sách yêu quý nhất, và trong những lúc nghỉ chân, Cha đọc cho bà nghe vài đoạn bằng giọng nói hào sảng và nghiêm nghị của mình. Nhờ Cha mà bà khám phá ra những lời cầu nguyện của các tu sĩ Nga, những câu nói xuất phát từ trái tim, rồi bà còn hiểu được phần lớn sách Phúc Âm cũng như Kinh Cựu Ước vốn có vẻ rất mịt mờ đối với bà trước đó. Suốt những năm tháng kể từ ngày Ernesto mất, bà đã thực hiện một cuộc hành trình nội tâm, nhưng sự thật là hành trình ấy chỉ giới hạn trong những kiến thức của chính mình. Có những lúc bà thấy mình đang đứng trước một bức tường cao, bà biết rằng con đường phía bên kia bức tường sẽ rộng hơn và tươi sáng hơn nhưng loay hoay không biết làm thế nào để leo qua nó. Vào ngày nọ, khi một cơn mưa rào đột ngột đổ xuống, hai người trú mưa trước một cửa hang và bà đã hỏi Cha rằng: “Một người cần làm thế nào để có được niềm tin ạ?”
“Ta không phải làm gì cả, nó tự đến với ta,” Cha trả lời. “Ta đã có nó đấy thôi, nhưng chính niềm kiêu hãnh của ta không thừa nhận điều này, ta thắc mắc quá nhiều, ta khiến những điều đơn giản trở nên thật phức tạp. Sự thật là ta đang sợ hãi vô cùng. Hãy quên bản thân đi và điều gì tới sẽ tới.”
Sau những cuộc đi bộ, bà luôn trở về nhà với tâm trạng mơ hồ và bối rối hơn trước. Như bà đã nói, Cha rất nghiêm khắc và những lời lẽ của Cha làm bà đau nhói. Có đôi lần bà quyết định sẽ không bao giờ gặp Cha nữa, mỗi tối thứ Ba bà thầm nhủ: “Giờ mình phải gọi cho ông ấy và nói rằng ngày mai mình sẽ không đi vì cảm thấy mệt,” thế nhưng bà không thể nào nhấc máy. Thế là chiều thứ Tư bà lại đứng chờ trước cửa đúng giờ, chân mang giày leo núi và lưng đeo một chiếc ba lô.
Những chuyến đi của bà kéo dài hơn một năm thì bỗng dưng Cha được lệnh bề trên chuyển sang nơi khác.
Những điều bà vừa kể có thể khiến cháu nghĩ rằng Cha Thomas là một người kiêu căng với những lời lẽ và cách nhìn thế giới thật bạo liệt và cuồng tín. Nhưng sự thật không phải thế, Cha là người trầm tĩnh và hòa nhã nhất mà bà từng biết tới, rõ ràng Cha không phải là một trong những chiến binh của Chúa. Nếu có điều gì thần bí trong tính cách của Cha thì đó là một điều thần bí rất thực tế và gắn chặt với cuộc sống hàng ngày.
Có lần Cha đã trao cho bà một chiếc phong bì khi cả hai đứng ở bậc cửa. Bên trong là một tấm bưu thiếp có cảnh một đồng cỏ xanh mơn mởn trên núi. Trên tấm ảnh có ghi một câu tiếng Đức: “Vương quốc của Chúa nằm ở trong ta” và đằng sau là dòng chữ của Cha: Khi ngồi dưới gốc cây sồi, hãy đừng là chính mình mà là một cây sồi, ngồi trên cỏ hãy là những ngọn cỏ, đứng giữa loài người hãy là một con người.
Vương quốc của Chúa nằm ở trong ta, cháu nhớ không? Bà đã hoang mang với câu nói này khi còn là cô dâu mới cưới ở L’Aquila. Vào lúc ấy, khi nhắm mắt lại và nhìn ngược vào trong, bà chẳng thấy thứ gì. Sau khi gặp Cha Thomas thì có điều gì đó đã thay đổi, dù vẫn chẳng nhìn thấy gì nhưng bà không còn hoàn toàn mù quáng nữa, đã có một tia sáng bắt đầu le lói ở những phần tối tăm, sâu thẳm nhất, và đôi khi bà cũng cố gắng để quên đi chính bản thân trong chốc lát. Đó chỉ là một tia sáng nhỏ bé, yếu ớt, một ngọn lửa leo lét mà chẳng cần phải tốn nhiều sức để thổi tắt đi. Tuy nhiên, sự hiện diện của nó cũng đủ làm bà nhẹ bẫng đến lạ kỳ; điều bà cảm thấy không chỉ là niềm vui mà chính là hạnh phúc. Đó hoàn toàn không phải là một sự phấn khích quá trớn, và bà cũng chẳng thấy thông thái hay được tâng bốc một cách quá đáng. Đơn giản là ý thức về sự tồn tại thật yên bình đang lớn dần bên trong bà.
Là cỏ trên cỏ, là sồi dưới cây sồi, là người giữa muôn người khác.