Buck dẫn bà đi lên gác xép vào sáng hôm nay. Đã bao nhiêu năm rồi bà chưa mở cửa lên căn phòng đó nhỉ? Bụi phủ khắp nơi và nhện chăng tơ đầy các góc nhà. Lúc bê mấy chiếc thùng và hộp giấy, bà phát hiện ra hai hay ba ổ chuột sóc, chúng nó ngủ say đến nỗi chẳng biết gì. Khi còn nhỏ, việc lên gác xép là một niềm vui, nhưng lúc già rồi thì chẳng còn vui mấy nữa. Tất cả những gì vốn từng là bí ẩn, phiêu lưu, khám phá giờ đã trở thành những ký ức đau lòng.
Bà muốn tìm chiếc máng cỏ và phải mở mấy chiếc hộp cùng hai chiếc rương to mới thấy. Bà cũng nhìn thấy đồ chơi của Ilaria và con búp bê yêu quý nhất của nó, tất cả đều được gói lại bằng giấy báo và vải cũ.
Dưới đáy rương bà tìm thấy những con côn trùng của Augusto, chúng vẫn còn được bảo quản hoàn hảo và sáng bóng, ngoài ra là chiếc kính lúp cùng những thiết bị sưu tập côn trùng khác. Cạnh đó là một chiếc hộp kẹo caramen đựng những lá thư của Ernesto, tất cả đều được cuộn lại bằng một sợi dây ruy băng đỏ. Không có đồ đạc gì của cháu cả, cháu còn trẻ nên gác xép chưa phải là nơi của cháu đâu.
Bà tiếp tục mở mấy gói nhỏ từ một chiếc rương và tìm thấy vài thứ đã gắn liền với tuổi thơ của mình còn sót lại sau vụ sập nhà. Chúng đã bị cháy xém, đen nhẻm và bà mở ra cứ như thể là những di vật vậy. Phần lớn là những vật dụng trong nhà bếp – một chiếc chậu tráng men, một chiếc bát đựng đường bằng sứ màu xanh pha trắng, vài bộ muỗng nĩa bằng bạc, một chiếc chảo làm bánh, và cuối cùng là một cuốn sách không bìa với những trang giấy đã long ra. Sách gì ấy nhỉ? Bà không thể nhớ được. Chỉ đến khi bà cẩn thận cầm lên và đọc lướt qua vài dòng đầu tiên, những ký ức xưa mới quay trở lại. Bà cảm thấy rất xúc động vì nó không phải là một cuốn sách bình thường như bao cuốn sách cũ khác, đó là cuốn sách bà yêu thích nhất khi còn bé, và nhờ nó mà bà đã ấp ủ bao nhiêu ước mơ thời thơ ấu. Cuốn sách có tên Những Kỳ Quan Của Thế Kỷ Hai Mươi Mốt – một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Cốt truyện tuy rất đơn giản nhưng lại tràn ngập trí tưởng tượng. Vào cuối thế kỷ thứ mười chín, có hai nhà khoa học nọ vì tò mò muốn biết liệu những lời tiên tri về sự tiến bộ vượt bậc có thật sự xảy ra trong tương lai hay không nên đã biến mình vào trạng thái “ngủ đông” cho đến tận năm 2000. Chính xác sau một thế kỷ, cháu của một đồng nghiệp trước đây đã đánh thức họ dậy và đưa họ đi tham quan vòng quanh thế giới trên một vật thể bay. Câu chuyện không hề có những người ngoài hành tinh hay các đĩa bay, mọi thứ xảy ra chỉ liên quan đến số phận của loài người theo cách tưởng tượng riêng của tác giả. Và theo lời kể của ông ấy thì trong vòng một trăm năm, nhân loại đã làm được biết bao điều vĩ đại, và tất cả chúng đều hết sức phi thường. Thế giới này không còn sự hiện diện của đói nghèo bởi khoa học và kỹ thuật đã giúp tất cả mọi nơi đều trở nên trù phú – và quan trọng hơn nữa là hoa thơm quả ngọt sinh ra được chia đều cho mọi người dân.
Máy móc đã giải thoát con người khỏi lao động cực nhọc để dành nhiều thời gian cho việc trau dồi những hoạt động cao quý hơn, cả thế giới ngập tràn âm nhạc, thơ ca và những cuộc bàn luận triết lý tao nhã, uyên thâm. Chưa hết, vật thể bay ấy còn có thể chuyên chở mọi người từ lục địa này sang lục địa khác trong chưa đầy một tiếng đồng hồ. Hai nhà khoa học già có vẻ như rất thỏa mãn: những giả thuyết và niềm tin lý tưởng vào sự tiến bộ của thế giới nay đã trở thành hiện thực. Bà cũng tìm được những hình ảnh yêu thích nhất trong cuốn sách này: hai nhà khoa học phốp pháp mặc áo ghi lê ca rô với chòm râu dài như Darwin thích thú nhìn xuống mặt đất từ vật thể bay của mình.
Để xua tan những nghi ngờ còn sót lại, một trong hai nhà khoa học mạnh dạn đặt một câu hỏi vốn lúc nào cũng thường trực trong tim: “Còn những người nổi loạn và những kẻ hiếu chiến thì sao? Họ vẫn còn tồn tại chứ?” “Ồ, dĩ nhiên là còn,” chàng trai trẻ dẫn đường cười và trả lời. “Họ sống trong những thành phố riêng được xây dựng bằng những tảng băng, vì vậy mà họ không thể nào làm tổn hại đến người khác cho dù có muốn đi chăng nữa.”
“Còn quân đội thì sao?” nhà khoa học còn lại nhanh chóng hỏi tiếp. “Sao chúng ta không thấy một người lính nào cả?”
“Quân đội không còn tồn tại nữa,” chàng trai trả lời.
Tới lúc này thì cả hai thở phào nhẹ nhõm: rốt cuộc thì loài người cũng đã trở lại với bản chất tốt lành của thuở ban đầu! Nhưng họ nhẹ nhõm chẳng được bao lâu thì chàng trai dẫn đường tiếp tục nói: “À không, đó không phải là lý do. Con người vẫn không mất đi đam mê hủy diệt của mình, chẳng qua là họ đã học được cách kiềm chế bản thân mà thôi. Binh lính, súng ống, giáo gươm và tất cả những thứ như thế đã lỗi thời rồi. Giờ đây con người đã phát minh ra một loại vũ khí nhỏ nhưng có sức mạnh siêu việt, đó chính là lý do tại sao không còn chiến tranh nữa. Tất cả những gì ta cần làm là leo lên một đỉnh núi và quẳng loại vũ khí ấy từ trên cao, thế là cả thế giới sẽ bị tan tành thành từng mảnh vụn.”
Nổi loạn! Cách mạng! Bao cơn ác mộng từ thời thơ ấu của bà bỗng dưng bật dậy bởi vì hai từ này. Khi đọc cuốn sách kia, bà đã làm những phép tính phức tạp để xem liệu mình có được nhìn thấy bóng dáng của năm 2000 hay không. Tuổi chín mươi có vẻ là một khoảng thời gian xa vời vợi nhưng không hẳn là không thể đạt tới. Ý tưởng này làm bà lâng lâng và cảm thấy có chút gì đó vượt trội hơn so với những ai không thể sống nổi cho đến thế kỷ hai mươi mốt.
Thế mà giờ đây, khi chúng ta đã đến gần nó thì bà biết rằng mình không thể sống tới ngày ấy được. Nhưng bà không cảm thấy hối hận hay tiếc nuối gì đâu, bà chỉ rất mệt mỏi, trong tất cả những điều kỳ diệu được hứa hẹn trong cuốn sách thì bà chỉ nhìn thấy một: loại vũ khí nhỏ bé nhưng có sức mạnh kinh hoàng. Bà không biết liệu mọi người khi đã đến lúc chuẩn bị từ giã cõi đời có bỗng nhiên cảm thấy mình sống sao mà lâu quá, nhìn nhiều quá và cảm cũng nhiều quá hay không. Khi nghĩ về quãng đời trải dài gần một thế kỷ của mình, cảm giác lớn nhất của bà là thời gian dường như bắt đầu trôi qua nhanh hơn. Bà không biết rõ, nhưng có lẽ những người sống trong thời kỳ Đồ Đá cũng có cảm giác về thời gian tương tự như chúng ta ngày nay. Ngày vẫn là ngày, đêm vẫn dài hay ngắn hơn đôi chút so với ngày, và khoảng thời gian của mỗi ngày trôi qua tùy thuộc theo mùa. Tất cả vẫn đều giống hệt như thời kỳ Đồ Đá vậy. Mặt trời vẫn đều đặn lặn rồi lại mọc. Nói như những nhà thiên văn học thì nếu có sự khác biệt thì sự khác biệt ấy nhỏ bé vô cùng.
Vậy mà bà có cảm giác mọi thứ đang diễn ra nhanh hơn. Thời gian trôi qua và có quá nhiều thứ xảy ra, lịch sử mang đến cho ta không biết bao nhiêu là sự kiện. Ta sẽ cảm thấy càng mệt mỏi hơn khi mỗi ngày kết thúc; và đến cuối đời, ta kiệt sức hoàn toàn.
Và rồi đột nhiên, vào một ngày như bao ngày khác, bà mở tivi và phát hiện ra rằng tất cả những điều này đã kết thúc, người ta đã phá vỡ những bức tường, dỡ bỏ những hàng rào kẽm gai và các tượng đài: một xã hội không tưởng của thế kỷ đã trở thành dĩ vãng trong chưa đầy một tháng. Giờ thì những ký ức này chỉ còn trong viện bảo tàng, vô hại và bất động giữa một căn phòng rộng lớn. Ai đó đi qua sẽ thốt lên: “Ồ, sao mà lớn thế, sao mà kinh khủng thế!”
Có quá nhiều thứ đã lướt qua trước mắt bà nhưng không có chút gì đọng lại. Giờ thì cháu đã hiểu tại sao bà nói thời gian bắt đầu trôi nhanh hơn rồi chứ? Điều gì đã xảy ra trong một đời người vào thời kỳ Đồ Đá nhỉ? Hết mùa mưa thì tuyết lại rơi, rồi mùa hè đến với lũ châu chấu phá hoại, sau đó là vài cuộc giao tranh với bộ tộc láng giềng đáng ghét, mà cũng có thể là một thiên thạch sẽ rơi xuống trái đất và để lại một hố sâu bốc khói. Bên ngoài cánh đồng hay phía bên kia sông đều không có gì tồn tại, và bởi vì ta không biết thế giới sẽ được mở rộng tới đâu nên thời gian trôi qua chậm chạp hơn.
Người Trung Hoa thường nói: “Chúc anh luôn sống an nhàn” [6] . Đó có phải là một lời chúc tốt lành hay một hy vọng đầy độ lượng hay không? Bà không nghĩ thế, đối với bà nó nghe như là một lời miệt thị vậy. Thời buổi thái bình thật ra cũng là hỗn loạn, bởi vì có quá nhiều thứ xảy ra. Bà đã sống qua những thời buổi thái bình như thế, nhưng có lẽ cháu sẽ còn được trải nghiệm nhiều hơn. Việc chuyển giao thiên niên kỷ có lẽ không có gì to tát mà chỉ đơn thuần là một sự kiện thiên văn học, nhưng dường như nó sẽ mang đến những điều làm cả thế giới này đảo lộn.
Vào ngày 1, tháng Một, năm 2000, những con chim trên cành cây vẫn tỉnh giấc đúng giờ như chúng đã làm vào ngày 31, tháng Mười Hai, năm 1999; chúng vẫn hót như thường lệ, và khi hót xong, chúng lại đi tìm thức ăn: một ngày vẫn như mọi ngày. Thế nhưng đối với con người, mọi việc lại khác. Nếu những điều khủng khiếp mà nhiều người từng mong đợi không xảy ra thì có lẽ con người sẽ xây dựng một thế giới mới tốt đẹp hơn bằng thiện chí của mình. Liệu có thể như thế không nhỉ? Cũng có thể lắm, nhưng mà cũng có thể không. Những gì bà cảm thấy đều khác biệt và mâu thuẫn. Đối với bà, có lúc con người chỉ là loài vượn vốn làm nô lệ cho thú tính của mình, và bất hạnh thay khi chúng có khả năng điều khiển những máy móc tinh vi và nguy hiểm vô cùng; nhưng cũng có lúc bà cảm giác rằng những điều tồi tệ nhất đã qua, và những khía cạnh tốt đẹp hơn trong tinh thần con người cuối cùng đã thắng thế. Giả thuyết nào là đúng? Ai biết được, có thể không có giả thuyết nào đúng cả, cũng có thể điều thực sự sẽ xảy ra vào ngày đầu tiên của thế kỷ hai mươi mốt là Thượng Đế sẽ dội lên trái đất một trận mưa lửa và lưu huỳnh để trừng phạt loài người bởi sự khờ dại và xuẩn ngốc đã làm phí phạm tiềm năng của chính họ.
Vào năm 2000, cháu sẽ xấp xỉ hai mươi bốn tuổi và được chứng kiến những gì sẽ xảy ra, còn bà đã ra đi và mang theo xuống mồ những tò mò chưa có lời giải đáp. Cháu đã sẵn sàng và chuẩn bị để đối mặt với thời kỳ mới này chưa? Nếu bây giờ có một cô tiên giáng trần và cho bà ba điều ước thì cháu có biết bà ước gì không? Bà sẽ xin cô tiên biến mình thành một con chuột sóc, một con chim, một con nhện, hay bất cứ con gì có thể sống ngay bên cạnh mà cháu không thể phát hiện ra. Bà không biết, và lại càng không thể tưởng tượng tương lai của cháu sẽ như thế nào, nhưng bởi vì bà yêu thương cháu nên điều này làm bà rất đau lòng. Trong một vài lần bà cháu mình nói chuyện về tương lai của cháu, có vẻ như mọi việc chẳng có chút lạc quan nào: với tính cứng đầu của tuổi trẻ, cháu tin rằng nỗi bất hạnh đang dày vò cháu sẽ dày vò cháu mãi mãi. Nhưng bà hoàn toàn tin vào điều ngược lại. Có lẽ cháu băn khoăn tại sao bà lại có thể có ý nghĩ điên rồ như vậy phải không? Là vì Buck, cháu yêu ạ, vẫn luôn chỉ là Buck mà thôi. Khi cháu chọn cậu ta ở trại thú nuôi ấy, cháu nghĩ đơn giản là mình chỉ chọn một con trong bầy chó. Nhưng thực ra trong suốt ba ngày ấy, một cuộc đấu tranh nội tâm rất dữ dội đã diễn ra bên trong cháu: một mặt thì tiếng gọi của vẻ bề ngoài đang hấp dẫn cháu, nhưng mặt khác thì cháu cũng đã nghe thấy tiếng gọi của trái tim, và không chút mảy may nghi ngờ hay chần chừ, cháu đã chọn trái tim.
Ở tuổi của cháu có lẽ bà đã chọn một con chó thật mượt mà, duyên dáng, một con quý giá và thơm tho nhất, một con để mọi người phát ghen khi dắt đi dạo cùng. Chính sự thiếu tự tin và môi trường sống của mình đã buộc bà phải chọn vẻ bề ngoài như thế đấy.