Trái Tim Mách Bảo

Con chim hét vẫn còn ở trên bàn trước mặt bà. Mấy ngày nay nó không ăn uống ngon lành nữa mà cứ nằm yên trong hộp và không kêu chiêm chiếp liên tục với bà, thậm chí còn chẳng chui đầu ra khỏi lỗ – bà chỉ thấy loáng thoáng chùm lông trên đỉnh đầu của nó thôi. Sáng nay, mặc cơn giá rét, bà đi tới vườn ươm cùng với vợ chồng chú Walter. Bà đã chần chừ cho tới phút cuối cùng vì nhiệt độ thấp tới nỗi một con gấu cũng phải chùn chân. Bên cạnh đó còn có một giọng nói vang lên từ một nơi tối đen trong trái tim bà: “Tại sao mình lại quan tâm đến việc trồng thêm hoa chứ?” Nhưng khi bấm nút gọi cho cô Razman để từ chối, bà liếc ra ngoài cửa sổ và thấy khu vườn trông mới tàn úa làm sao, thế là bà cảm thấy hối tiếc cho thói ích kỷ của mình. Có lẽ bà sẽ không được thấy một mùa xuân nữa, nhưng chắc chắn cháu sẽ còn thấy rất nhiều.

Bà có cảm giác bồn chồn không yên suốt mấy ngày nay! Khi không viết, bà thơ thẩn từ phòng này sang phòng khác, nhưng chẳng có nơi nào khiến lòng bà dịu lại. Bà chẳng làm được gì nhiều, và những gì cố gắng làm cũng không mang đến được sự thanh thản hay giúp bà đưa những suy nghĩ của mình thoát ra khỏi các ký ức đau buồn. Nỗi đau từ lâu lắm trong quá khứ đã quay trở lại và vẫn mãnh liệt, day dứt như lúc nó vừa mới xảy ra.

Bà đã kể cho cháu nghe về bản thân và bí mật của bà. Nhưng câu chuyện cần phải được bắt đầu từ lúc mở đầu, và đó là những ngày bà mới trở thành thiếu nữ. Bà vẫn sống trong nỗi cô đơn khác thường như lúc bà lớn lên. Vào thời đó, thông minh không được đánh giá quá cao trong tất cả các đặc điểm của một phụ nữ để có thể lấy chồng; theo tập quán thì một người vợ chỉ như một con ngựa cái chậm chạp, dễ bảo chứ không là một thứ gì hơn. Một phụ nữ biết hỏi những câu hỏi, một người vợ hay tò mò, năng động là điều cuối cùng mà một người đàn ông muốn, và chính vì vậy mà khi còn trẻ, bà đã thực sự cô đơn. Nói thật là lúc mười tám, đôi mươi, nhìn thấy bà xinh đẹp và gia đình cũng khá giả nên bà cũng có một đám người tán tỉnh vây quanh. Nhưng khi bà cho thấy rằng mình biết cách trò chuyện cũng như mở rộng trái tim và nói ra những suy nghĩ của mình thì xung quanh bà chỉ còn là khoảng trống. Tất nhiên là bà có thể im lặng và giả vờ trở thành một người khác, nhưng thật đáng tiếc – hay may mắn cũng nên – phần chân thật nhất của bản thân bà vẫn còn sống sót qua bao năm tháng đã cự tuyệt việc bị chối từ.

Cháu đã biết là bà không thể tiếp tục học sau trung học vì cha bà ngăn cấm. Những hy vọng của bà đã chết tức tưởi, và chúng để lại trong bà niềm khát khao kiến thức tột độ. Nếu một anh chàng nào đó nói rằng mình đang học ngành y là bà liền đưa ra hàng loạt câu hỏi, bà muốn biết tất cả mọi thứ, và bà cũng hỏi như vậy với những kỹ sư và luật sư tương lai. Chính cách cư xử của bà đã làm nhiều người khiếp vía, dường như bà quan tâm đến học vấn của người đó hơn là chính bản thân anh ta. Khi trò chuyện với các bạn gái ở trường, bà có cảm giác mình thuộc về một thế giới cách xa nơi họ sống rất nhiều năm ánh sáng. Khoảng cách lớn nhất giữa bà và họ chính là những mưu mẹo của phụ nữ. Khi bà còn chẳng biết gì thì họ đã thành thạo và tận dụng chúng đến mức tối đa. Đằng sau vẻ ngoài kiêu căng, tự phụ, những người đàn ông cực kỳ mong manh và ngây thơ; chẳng qua là họ đã tự khoác lên những lớp vỏ cứng cỏi bên ngoài, tất cả những gì ta cần làm là kéo một lớp xuống, và thế là họ tự tụt những lớp còn lại như thể một con cá đã sẵn sàng lao vào chảo. Bà nhận thức về điều này khá trễ, trong khi những cô bạn gái đã biết từ lúc mới mười lăm, mười sáu tuổi. Họ tỏ ra là những thiên tài trong việc chấp nhận hay từ chối những mẩu tin nhắn nhỏ xíu được gửi tới, rồi sau đó trả lời một cách rất khôn khéo và đầy tính toán. Họ hẹn hò rồi không xuất hiện, hay xuất hiện trễ một cách thái quá. Tại các buổi khiêu vũ, họ vuốt ve vài phần cơ thể, và trong lúc vuốt ve, họ nhìn chằm chằm vào mắt của đàn ông với dáng vẻ của một con nai vàng ngơ ngác. Đó chính là mưu mẹo của phụ nữ như bà đã nói - những mánh nhỏ giúp họ chinh phục đàn ông. Nhưng hãy nhớ là vào lúc đó, bà như một củ khoai tây và chẳng hiểu bất cứ thứ gì đang diễn ra xung quanh mình. Có vẻ là lạ lẫm đối với cháu, nhưng bà ý thức rất rõ về luật chơi công bằng, bà không bao giờ làm việc gì giấu giếm để lừa dối một người đàn ông. Bà nghĩ rằng rồi sẽ tới một ngày bà có thể tìm thấy một chàng trai mà bà có thể trò chuyện thâu đêm suốt sáng mà không hề mệt mỏi, và lúc đó, bà và người ấy sẽ nhận ra rằng cả hai có chung những cảm giác và nhìn mọi thứ thật giống nhau. Tình yêu sẽ bắt đầu nảy nở giữa hai người, một tình yêu dựa trên tình bạn và sự quý trọng lẫn nhau chứ không phải là những mánh khóe rẻ tiền.

Bà mong muốn một tình bạn đầy yêu thương với một người đàn ông, cũng giống như mối quan hệ bình đẳng giữa những người đàn ông với nhau vậy. Mà chính vì cách cư xử đầy nam tính như thế đã làm cho những người để ý bà e ngại. Và bởi thế mà bà dần dần thu mình lại như những cô gái bị cho là vô duyên. Bà có rất nhiều bạn, nhưng những tình bạn này đều xuất phát từ một phía: tất cả những gì bạn bè bà muốn là kể về chuyện tình cảm yêu đương của họ. Rồi những bạn cùng lớp ngày xưa từng người một đi lấy chồng. Có một khoảng thời gian mà dường như bà không biết làm gì ngoài việc đi dự tiệc đám cưới. Những cô gái đồng trang lứa lúc này đã có con trong khi mình vẫn còn là một bà cô ế. Bà vẫn sống cùng với cha mẹ, và đến lúc đó thì hầu như đã chấp nhận rằng mình sẽ mãi mãi không cưới xin gì cả. “Con đang nghĩ gì thế hả?” mẹ bà hỏi. “Sao con lại không thích Tom, Dick, hay thậm chí cả Harry?” Rõ ràng đối với họ, sự khó khăn của bà với người khác giới bắt nguồn từ tính cách kỳ quặc của bà. Bà có nuối tiếc về điều đó không? Bà cũng không biết nữa.

Thành thực mà nói, bà chẳng hề có chút khao khát nào về việc lập gia đình. Ý niệm về sinh con lại càng làm bà khó chịu. Bà đã chịu đựng quá nhiều khi còn nhỏ cho nên sợ rằng mình sẽ bắt một sinh linh bé bỏng khác phải chịu đựng giống như thế. Bên cạnh đó, mặc dù sống cùng cha mẹ nhưng bà hoàn toàn độc lập, mỗi giờ phút của từng ngày hoàn toàn là của riêng bà. Bà kiếm được một ít tiền bằng cách làm gia sư tiếng Hy Lạp và tiếng La Tinh, những môn bà yêu thích nhất. Ngoài ra thì bà không có nhiệm vụ gì nữa cả, bà có thể dành cả các buổi chiều trong thư viện mà chẳng cần giải thích với ai, bà cũng có thể đi đến những vùng núi bất cứ khi nào mình thích.

Thật sự là so với những phụ nữ khác, bà đang sống một cuộc sống tự do, và chỉ cần nghĩ đến việc mất đi sự tự do ấy cũng đã làm bà phát khiếp. Thế nhưng khi thời gian thấm thoát trôi qua, tất cả sự tự do, tất cả niềm hạnh phúc bên ngoài bắt đầu trở nên giả dối và gượng ép. Nỗi cô đơn mà lúc đầu bà cho là một đặc ân bỗng đè nặng trong tim. Cha mẹ bà ngày càng già yếu và cha bà không thể đi đứng bình thường nữa sau một cơn đột quỵ. Mỗi ngày bà dìu ông ấy đi mua báo – lúc ấy bà đã hai mươi bảy, hai mươi tám rồi. Khi nhìn vào hình ảnh phản chiếu của hai cha con trên cửa sổ ở cửa hàng, bỗng dưng bà thấy mình cũng già đi ghê gớm, ngay lập tức bà nhận ra hướng đi của cuộc đời mình: cha bà sẽ sớm ra đi, và không lâu sau mẹ bà cũng đi theo ông ấy, thế là chỉ còn lại một mình bà trong căn nhà đầy sách. Có lẽ bà sẽ thêu thùa hay vẽ màu nước cho qua ngày đoạn tháng, và thời gian sẽ trôi đi, năm này qua năm khác. Cuối cùng, vào một buổi sáng nọ, ai đó không nhìn thấy bà trong vài ngày sẽ cảm thấy lo lắng và gọi cho phòng cứu hỏa, thế là những anh lính cứu hỏa sẽ đập cửa vào nhà và phát hiện ra thân thể của bà nằm ở trên sàn. Bà đã chết, những gì còn lại chẳng khác gì so với mấy cái xác khô queo mà những con bọ để lại trên mặt đất khi chúng chết.

Thân thể của bà đang héo mòn đi mà chưa bao giờ được sống, điều này làm bà cảm thấy buồn kinh khủng, và dĩ nhiên là rất đỗi cô đơn. Chưa bao giờ trong đời bà có một ai đó để trò chuyện, ý của bà là trò chuyện thật sự. Tất nhiên là bà rất thông minh, bà đã đọc rất nhiều mà; cuối cùng cha bà đã nói với một niềm tự hào rằng: “Olga sẽ không bao giờ lấy chồng, nó là một đứa rất có đầu óc.” Nhưng trí thông minh ấy chẳng được tích sự gì, bà không thể đi đâu đó thật xa hay học hành đến nơi đến chốn. Bà cảm thấy nhụt chí khi không được học đại học, nhưng nguyên nhân chính gây ra sự bất lực và không có khả năng sử dụng tài năng của mình không hề dính dáng đến giáo dục. Xét cho cùng thì Schliemann là người tự học, thế mà ông ấy đã sáng tác ra Troy đấy thôi. Điều níu bà thối lui hoàn toàn khác: cái chết ở ngay trong lòng bà, cháu vẫn còn nhớ chứ? Nó là thứ cản trở, là nguyên nhân không cho bà tiến lên phía trước. Bà chỉ đứng yên và chờ đợi. Chờ điều gì ư? Bà hoàn toàn mù tịt.

Tuyết đã rơi vào cái ngày Augusto đến nhà bà lần đầu tiên. Bà còn nhớ là vì tuyết hiếm khi rơi ở những vùng này, và bởi vì tuyết mà vị khách của chúng ta đã đến trễ sau giờ ăn trưa. Cũng như cha bà, Augusto là một nhà nhập khẩu cà phê và đến Trieste để bàn bạc chuyện làm ăn. Vì cha bà không có con trai nối dõi nên sau cơn đột quỵ, ông ấy quyết định bán công ty để sống thanh thản trong những năm cuối đời.

Ấn tượng đầu tiên về Augusto là bà chẳng hề quan tâm đến ông ấy. Augusto đến từ Ý, và như mọi người ở vùng này thường nói, tất cả những người Ý đều có vẻ giả tạo đến mức khó chịu. Thật kỳ lạ, nhưng thường thì những người có vai trò rất quan trọng trong cuộc đời của chúng ta lại để ấn tượng không hay chút nào vào lúc ban đầu. Sau giờ ăn, cha bà đi nghỉ trưa và chỉ còn lại một mình bà ngồi với khách trong phòng cho đến giờ tàu hỏa chạy. Bà bực mình không tả xiết. Mỗi lần ông ấy hỏi một câu, bà chỉ trả lời với một từ duy nhất, và nếu ông ấy im lặng, bà cũng chỉ lặng im. Lúc ra đi, ông ấy nói: “Thôi, chào tạm biệt cô nhé,” và bà đưa tay ra như một quý cô hợm hĩnh hạ mình chiếu cố cho một kẻ hạ cấp.

“Với một người Ý thì Augusto rất được đấy,” mẹ bà nói lúc ăn tối. “Anh ta là một người đàn ông chính trực,” cha bà trả lời, “và còn là một doanh nhân tài giỏi nữa.” Hãy đoán thử điều gì đã xảy ra? Bà đã nhanh nhảu buột miệng: “Và không có một chiếc nhẫn cưới trên ngón tay!” “Đúng vậy, thật tội nghiệp, anh ta là người góa vợ,” cha bà nói trong khi bà ngượng đỏ chín cả mặt.

Hai ngày sau đó, lúc đi dạy về, bà thấy một gói nhỏ được bọc bằng giấy bạc đặt ở bên cạnh cửa ra vào. Trong cuộc đời mình bà chưa bao giờ nhận được thứ gì như vậy nên không thể tưởng tượng ra ai đã gửi cho mình. Bên trong gói quà có một tờ giấy nhỏ: Có lẽ cô chưa bao giờ nếm những món này? với chữ ký của Augusto.

Đêm hôm đó, bà chẳng thể nào ngủ được với những viên kẹo hạnh nhân trên bàn. Bà tự nhủ chắc là ông ấy gửi chỉ vì tỏ ra lịch thiệp với cha bà, và trong lúc ấy bà ăn ngấu nghiến hết viên này đến viên khác. Ba tuần sau đó, Augusto trở lại Trieste trong một chuyến “làm ăn” như ông ấy nói lúc ăn trưa, nhưng lần này thì ở lại thành phố lâu hơn chứ không đi ngay như thường lệ. Trước khi nói lời tạm biệt, ông ấy xin phép cha bà để đưa bà đi dạo, thế là cha bà đồng ý ngay lập tức mà chẳng hề hỏi ý kiến bà. Hai chúng ta đã đi dọc các con đường trong thành phố suốt buổi chiều; ông ấy nói rất ít, thỉnh thoảng chỉ hỏi về các tượng đài và rồi yên lặng lắng nghe bà giải thích. Ông ấy lắng nghe bà nói! Đối với bà thì đó thực sự là một điều kỳ diệu.

Buổi sáng cái ngày rời thành phố, Augusto gửi cho bà một bó hoa hồng đỏ. Mẹ bà sung sướng lắm, còn bà thì giả vờ như không và đợi đến mấy giờ đồng hồ mới mở tờ giấy để đọc tin nhắn. Trong một thời gian ngắn, ông ấy đến thăm nhà bà hàng tuần; ông ấy đến Trieste mỗi thứ Bảy và trở về nhà vào ngày Chủ Nhật. Cháu còn nhớ Hoàng Tử Bé đã thuần phục con cáo thế nào không? Mỗi ngày cậu ta đều đến hang và đợi cho con cáo đi ra. Vì vậy, dần dần con cáo quen với cậu ta và vượt qua nỗi sợ. Không chỉ thế; con cáo đã quen đến mức mà mỗi lần chỉ cần nhìn thấy điều gì đó gợi nhớ tới người bạn nhỏ của mình, nó đều trở nên hào hứng vô cùng. Cũng bị lôi cuốn bởi những chiến thuật như vậy, bà cảm thấy mình đã bắt đầu hào hứng vào mỗi thứ Năm: quá trình thuần phục bà đã được khởi động rồi đấy. Một tháng trôi qua, cuộc sống của bà chỉ quanh quẩn ở mỗi việc chờ cho đến ngày cuối tuần. Không cần đợi lâu thì tình cảm yêu thương đã nảy nở giữa hai người. Rốt cuộc thì bà đã có một người để trò chuyện, một người biết trân trọng trí thông minh và niềm khát khao kiến thức của bà; còn về phần bà, bà rất ngưỡng mộ thái độ điềm đạm, sự sẵn sàng lắng nghe cũng như cảm giác rất an tâm và được bảo vệ mà một người đàn ông lớn tuổi dành cho những phụ nữ trẻ hơn như bà.

Hai ông bà tổ chức một lễ cưới đơn giản vào ngày 1 tháng 6 năm 1940. Mười ngày sau đó chiến tranh bùng nổ ở Ý. Để an toàn, mẹ bà đến sống ở một ngôi làng nhỏ ở vùng núi Veneto còn hai vợ chồng bà về quê của Augusto ở L’Aquila.

Cháu chỉ đọc sách lịch sử về những năm tháng này chứ không nếm trải trong cuộc sống, vì vậy mà chắc cháu cảm thấy rất lạ khi tất cả những sự kiện bi thương kia chẳng để lại nhiều ấn tượng với bà. Quân Phát xít đã thống lĩnh đất nước, các bộ luật về sắc tộc được thực thi, chiến tranh nổ ra khắp nơi, riêng bà thì chỉ tiếp tục lo lắng cho những khó khăn riêng tư vặt vãnh và tinh thần mình lên xuống ra sao. Đừng nghĩ thái độ của bà là khác thường, thực tế là hoàn toàn ngược lại đấy. Ngoài một nhóm nhỏ dính dáng đến chính trị, tất cả mọi người trong thành phố đều cư xử như vậy hết. Cha bà chẳng hạn, lúc nào cũng xem chủ nghĩa Phát xít như một trò hề. Ở nhà ông ấy gọi Thủ tướng là “gã buôn dưa hấu lề đường”. Ấy thế mà khi đi ăn tối với các quan chức của Đảng, ông ấy ở lại nói chuyện với họ đến tận khuya. Tương tự như thế, bà thấy “Những ngày Chủ nhật nước Ý” hoàn toàn vớ vẩn và chán ngắt, tất cả chỉ là đi diễu hành, hát hò và phải mặc đồ đen như góa phụ, thế nhưng bà cũng tham gia như mọi người. Thật khó chịu nhưng ai cũng phải làm, nếu muốn sống trong hòa bình. Đó không phải là thái độ anh hùng nhưng đã trở nên vô cùng phổ biến. Cuộc sống hòa bình là một trong những tham vọng vĩ đại nhất của loài người, ít nhất là vào thời điểm đó, và có lẽ bây giờ vẫn vậy.

Tại L’Aquila, hai vợ chồng bà sống ở nhà Augusto, một căn hộ lớn trong khu biệt thự đồ sộ ở trung tâm thành phố. Tất cả đồ đạc trong nhà đều nặng nề và buồn bã, ánh sáng thì lờ mờ, toàn bộ khung cảnh nhuốm một màu u ám. Trái tim bà bỗng chùng lại khi vừa bước vào bên trong. Đây là nơi mình phải sống ư, bà tự hỏi, với một người đàn ông mình chỉ mới biết được sáu tháng và trong một thành phố không có lấy một người bạn? Augusto nhận ra ngay sự thất vọng của bà và suốt hai tuần đầu, ông ấy làm hết tất cả mọi thứ có thể để làm bà khuây khỏa. Cứ cách một ngày là ông ấy lấy xe và chở bà đi đến những vùng núi xung quanh. Cả hai vợ chồng đều thích những chuyến đi như thế. Phong cảnh tuyệt đẹp của các ngọn núi và những ngôi làng cheo leo trên đỉnh cao trông như bối cảnh lúc Chúa được hạ sanh đã làm bà dịu đi chút ít, cứ như thể là bà chưa bao giờ rời xa ngôi nhà ở phương Bắc của mình vậy. Hai vợ chồng vẫn trò chuyện rất nhiều. Augusto yêu thiên nhiên, đặc biệt là côn trùng, và trong những chuyến leo núi, ông ấy đã giải thích rất nhiều điều cho bà. Phần lớn những gì bà biết về lịch sử tự nhiên đều nhờ vào ông ấy.

Khi hai tuần được xem là khoảng thời gian trăng mật của hai vợ chồng kết thúc, ông ấy trở lại với công việc còn bà bắt đầu cuộc sống mới của mình một cách đầy cô đơn trong căn hộ to lớn ấy. Ở với bà còn có một người giúp việc và bà ấy chăm lo hầu hết các công việc nhà. Như tất cả những người vợ trung lưu khác, nhiệm vụ của bà là chuẩn bị thực đơn cho bữa trưa và bữa tối, ngoài ra bà không còn gì để làm nữa cả. Thế là bà đi bộ một mình thật xa mỗi ngày. Bà hết đi lên lại đi xuống các con đường với tốc độ thật dữ dội, trong đầu ngùn ngụt bao suy nghĩ, nhưng đáng tiếc là chúng chẳng giúp bà hiểu được điều gì đang xảy ra. Đột nhiên bà dừng lại và tự hỏi: Mình có yêu ông ấy không, hay đấy chỉ là một sai lầm to lớn? Khi hai vợ chồng đang ăn tối hay ngồi trong phòng khách, bà nhìn ông ấy và suy nghĩ mông lung: Mình đang cảm thấy thế nào? Mình cảm thấy sự quý mến, chắc chắn là vậy, và ông ấy cũng có cảm giác giống như mình. Nhưng đó có phải là tình yêu không? Tình yêu là vậy ư? Vì bà không bao giờ cảm thấy điều gì khác nên không thể trả lời được.

Sau một tháng thì lời đồn đại đầu tiên cũng đã đến tai Augusto. Những người ẩn danh đã gọi báo rằng: “Ngày nào người đàn bà Đức ấy cũng một mình dạo phố suốt nhiều giờ liền.” Bà chết lặng cả người. Tập quán ở đây khác với nơi bà đã lớn lên, bà không bao giờ có thể tưởng tượng được những cuộc đi bộ vô tư lại có thể gây ra chuyện sốc như thế. Augusto không hài lòng, ông ấy hiểu rằng đó không phải là lỗi tại bà, nhưng để cho cộng đồng xung quanh được yên ổn và vì thanh danh của mình, ông ấy đề nghị bà nên kiềm chế để không làm ảnh hưởng tới mọi người. Sáu tháng sống như vậy đã làm bà kiệt sức. Cái chết bên trong bà giờ đã trở thành khổng lồ, bà di chuyển như một người máy với ánh mắt đờ đẫn. Khi nói chuyện, những lời nói của bà thật xa xăm như thể chúng phát ra từ miệng của người khác.

Trong thời gian đó, bà đã gặp các bà vợ của những người đồng nghiệp với Augusto, và cứ mỗi thứ Năm, bọn bà hẹn nhau ở quán cà phê tại trung tâm thành phố. Mặc dù tuổi của mọi người xấp xỉ nhau nhưng bà có rất ít chuyện để nói với họ. Chỉ có một điểm chung duy nhất là mọi người nói cùng một thứ ngôn ngữ mà thôi.

Augusto đã trở về với con người thực của mình, không cần đợi lâu thì ông ấy bắt đầu cư xử như những gã đàn ông ở đất nước này. Hai vợ chồng ăn uống trong yên lặng và ông ấy chỉ đáp lại nỗ lực trò chuyện của bà bằng từ duy nhất là “có” hoặc “không”. Sau những buổi ăn tối, Augusto thường đi đến câu lạc bộ của ông ấy, còn nếu ở nhà thì lại nhốt mình trong phòng để nghiên cứu và sắp xếp những bộ sưu tập bọ cánh cứng. Ước mơ to lớn của ông ấy là khám phá ra một loại côn trùng mới lạ chưa ai tìm được để tên tuổi của mình sẽ được lưu danh mãi mãi trong các cuốn sách và tạp chí khoa học. Nhưng bà lại muốn ông ấy được lưu danh theo cách khác, đó là có một đứa con; giờ bà đã ba mươi tuổi và cảm thấy thời gian đang vùn vụt trôi qua. Nhưng trong chuyện này, mọi thứ cũng thật tồi tệ: đêm đầu tiên của hai vợ chồng thật đáng thất vọng, và từ đó trở đi cũng chẳng khá hơn. Bà có cảm giác rằng điều Augusto mong muốn hết thảy chỉ là một người nào đó ở nhà để ăn uống cùng, một ai đó để ông ấy khoe niềm hãnh diện tại nhà thờ vào các ngày Chủ nhật; đằng sau vẻ ngoài êm đềm ấy là một con người rất lãnh đạm, thờ ơ. Điều gì đã xảy ra với người đàn ông vui tươi, nhiệt tình đã tán tỉnh bà ngày trước? Tình yêu lại có thể đi đến hồi kết như thế sao? Augusto từng nói với bà rằng những con chim trống sẽ hót to hơn vào mùa xuân để rồi một cô chim mái nào đó bị lôi cuốn, thuyết phục và sẽ cùng về xây nên tổ ấm. Ông ấy cũng đã làm như vậy đấy, nhưng khi đã có bà trong tổ, ông ấy chẳng còn quan tâm đến sự tồn tại của bà nữa. Bà ở đó sưởi ấm cho ông ấy, và chỉ vậy mà thôi.

Bà có ghét ông ấy không? Không, có thể cháu nghĩ rằng thật kỳ lạ, nhưng bà không thể ghét ông ấy cháu ạ. Để ghét ai thì người đó phải làm ta tổn thương, phải làm điều gì sai trái với ta. Nhưng Augusto chưa bao giờ làm như vậy với bà, đó mới là vấn đề. Ta thậm chí muốn chết vì một điều hư vô hơn là chết vì nỗi đau; ta có thể phản kháng lại nỗi đau nhưng không thể phản kháng lại hư vô.

Tất nhiên là khi trò chuyện với cha mẹ, bà nói rằng mọi thứ đều ổn, bà đặc biệt cố gắng tỏ ra mình là một cô dâu mới cưới tràn đầy hạnh phúc. Họ cảm thấy tự hào đã đưa bà đến một bến đỗ bình yên, còn bà thì không muốn làm sụp đổ niềm tự tin của họ. Mẹ bà vẫn ẩn náu ở vùng núi còn cha bà vẫn ở trong căn nhà cũ một mình, thỉnh thoảng lại có một người em họ xa đến trông nom. Cứ mỗi tháng cả gia đình lại họp mặt một lần. “Có tin gì chưa?” cha bà hỏi, và bà trả lời chưa có ạ. Ông ấy khao khát một đứa cháu, tuổi tác đã mang đến sự nhạy cảm mà ông ấy chưa từng có bao giờ. Lúc bấy giờ bà cảm thấy gần gũi hơn khi cha bà thay đổi, và bà không muốn làm cho ông ấy thất vọng. Hơn nữa, khi đó bà không có đủ dũng cảm để nói ra lý do của sự chậm trễ về đường con cái của mình. Mẹ bà thì viết những lá thư dài dằng dặc với bao lời lẽ thuyết phục. Con gái yêu của mẹ, bà ấy bắt đầu thư như thế đấy, rồi sau đó là một danh sách tỉ mỉ những việc lặt vặt xảy ra trong ngày. Và đến lúc kết thư, bà ấy không tránh khỏi việc thông báo rằng mình vừa mới đan xong một bộ quần áo khác cho đứa bé sắp chào đời. Bà như chết dần chết mòn đi, cứ mỗi sáng nhìn vào gương, bà lại thấy mình xấu xí hơn ngày hôm trước. Thỉnh thoảng vào những buổi tối, bà hỏi Augusto, “Sao mình không nói chuyện?” “Chuyện gì?” ông ấy trả lời, mắt vẫn không liếc khỏi chiếc kính lúp dùng để nghiên cứu côn trùng. “Em không biết,” bà nói. “Có thể là chúng ta kể chuyện của mỗi người cho nhau nghe.” Đúng lúc đó, ông ấy lắc đầu: “Olga, trí tưởng tượng của em đang hoạt động quá mức đấy.”

Nếu sống cùng nhau trong một thời gian dài, đến một lúc nào đó chó và chủ của nó sẽ dần dần trở nên giống nhau. Bà có cảm giác rằng điều tương tự cũng đang xảy ra đối với chồng bà, mỗi ngày trôi qua ông ấy lại càng giống như một con bọ. Trên tất cả mọi khía cạnh. Chuyển động của ông ấy không còn như của con người nữa, chúng thật cứng nhắc chứ không hề uyển chuyển, mỗi cử chỉ là một chuỗi các động tác co giật. Và giọng nói của ông ấy không có chút âm điệu nào, đó chỉ là những tiếng rít như kim loại phát ra từ một nơi nào không rõ trong cổ họng. Ông ấy say mê tới mức bị ám ảnh về những con côn trùng và nghiên cứu của mình, ngoài hai thứ này thì chẳng còn điều gì làm cho ông ấy động lòng. Có lần Augusto bắt được một con bọ thật kinh tởm và đưa cho bà xem, hình như ông ấy gọi nó là một con dế trũi. “Em nhìn hàm dưới của nó này,” ông ấy nói. “Với cái này thì nó có thể ăn tất tần tật mọi thứ.” Đêm hôm đó bà mơ thấy ông ấy với hình thù như vậy, nhưng to khủng khiếp và đang nhai ngấu nghiến chiếc váy cưới của bà như thể đó là một mảnh giấy bồi.

Sau một năm thì hai vợ chồng bà bắt đầu ngủ riêng ở hai phòng, ông ấy thích thức khuya cùng với những con bọ và không muốn làm phiền bà, ít nhất là ông ấy đã nói như vậy. Khi được miêu tả như thế này, cuộc hôn nhân của bà đối với cháu tồi tệ đến mức kỳ quặc phải không, nhưng thực tế là chẳng có gì lạ kỳ trong chuyện này cả đâu cháu ạ. Vào thời đó, hầu hết các cuộc hôn nhân đều thế đấy, cứ như thể là một địa ngục dành cho hai người vậy, và một trong hai sớm muộn gì cũng không thể chịu đựng được nữa.

Thế tại sao bà không chống đối, tại sao bà không cuốn gói về lại Trieste?

Bởi vì chẳng có cái gọi là chia tay hay ly hôn vào thời đó. Sợi dây ràng buộc hôn nhân chỉ có thể bị cắt đứt trong các trường hợp bị ngược đãi tàn bạo, và người vợ cần phải kháng cự đủ quyết liệt mới có thể thoát ra để rồi sống những ngày tháng còn lại như một kẻ phù du. Nhưng cháu biết rồi đấy, phản kháng không phải là một phần trong tính cách của bà, và Augusto thậm chí còn chưa bao giờ lên giọng, nói chi là thượng cẳng tay, hạ cẳng chân với bà. Ông ấy luôn đảm bảo là bà không bao giờ thiếu thốn bất cứ thứ gì. Sau khi đi lễ vào các ngày Chủ nhật, hai vợ chồng ghé qua tiệm bánh và ông ấy cho bà mua bất cứ món gì bà thích. Thật không khó cho cháu để tưởng tượng là bà cảm thấy như thế nào khi thức dậy vào mỗi buổi sáng. Sau ba năm làm vợ, suy nghĩ duy nhất trong đầu bà là suy nghĩ về cái chết.

Augusto không bao giờ nói với bà về người vợ đầu tiên, trong những lần hiếm hoi bà dè dặt hỏi về chuyện này thì ông ấy liền đánh trống lảng. Thời gian trôi qua, khi đi quanh quẩn trong các căn phòng ma quái vào những buổi chiều mùa đông, bà tin chắc rằng Ada (tên của người ấy) không phải chết vì bệnh tật hay tai nạn mà chính là tự hại. Khi người giúp việc đi ra ngoài, bà tháo tung những miếng ván, lục lọi những ngăn kéo và nóng lòng tìm ra bằng chứng và dấu hiệu để chứng minh cho những nghi ngờ của mình. Vào một buổi chiều mưa, bà tìm thấy vài bộ quần áo phụ nữ ở đáy tủ – chính là của Ada. Bà lấy ra một chiếc váy tối màu và mặc thử; hóa ra cả hai mặc cùng một cỡ. Khi nhìn mình trong gương, bà bắt đầu khóc. Bà khóc trong yên lặng, không hề phát ra một tiếng nấc như tất cả những ai đã biết trước số phận của mình sẽ được an bài như thế nào. Bà còn tìm thấy một chiếc ghế gỗ cầu kinh nặng nề của mẹ Augusto, một phụ nữ sùng đạo trong một căn phòng tối tăm ở cuối nhà. Bất cứ khi nào không biết phải làm gì, bà nhốt mình trong căn phòng đó và quỳ gối suốt hàng giờ với hai tay siết chặt vào nhau. Bà cầu nguyện ư? Bà không biết. Bà chỉ trò chuyện, hay cố gắng nói với Ai đó mà bà nghĩ là đang ở trên đầu mình. Bà nói: lạy Đấng Tối Cao, hãy cho con tìm thấy con đường của mình, nếu đây là con đường của con thì hãy giúp con chịu đựng. Thói quen đi lễ ở nhà thờ - một thói quen bắt buộc của những người đã lập gia đình – đã làm sống lại những câu hỏi vốn bị chôn vùi trong tâm trí bà từ thời thơ ấu. Mùi hương trầm làm bà mê muội, và tiếng đàn organ cũng vậy. Khi lắng nghe Kinh Thánh, có điều gì đó trong lòng bà rung động nhẹ nhàng. Thế nhưng khi gặp cha xứ ở ngoài đường lúc không mặc lễ phục, khi nhìn vào chiếc mũi rỗ cùng đôi mắt lợn, khi lắng nghe những câu hỏi sáo rỗng và giả dối hết sức của ông ta, tất cả những rung động trong bà tắt hẳn. Và bà tự nhủ thầm: Thấy chưa, chẳng qua chỉ là trò lừa bịp, đó là một cách để giúp những kẻ yếu đuối chịu đựng sự bức bối trong cuộc sống hàng ngày mà thôi. Ấy vậy mà bà vẫn thích đọc sách Phúc âm trong ngôi nhà tĩnh lặng. Những lời dạy của Chúa quá đỗi phi thường, chúng làm cho cảm xúc trong bà mạnh mẽ trào dâng, và thế là bà lặp đi lặp lại thật to.

Gia đình bà không hề theo tôn giáo nào, cha bà tự xem mình là một người tự do về tín ngưỡng, còn mẹ bà và cả gia đình bên ngoại đã cải đạo từ hai đời trước như bà từng nhắc tới – à, việc bà ấy đi lễ là vì trách nhiệm xã hội, chỉ đơn giản thế thôi. Trong một số lần hiếm hoi khi bà hỏi về vấn đề tôn giáo, bà ấy trả lời: “Mẹ không biết, gia đình mình không có tôn giáo nào cả.” Câu nói ấy như một tảng đá lớn đè nặng lên giai đoạn nhạy cảm nhất trong thời thơ ấu của bà, khi bà bắt đầu biết hỏi những câu hỏi lớn nhất của đời mình...

Vì vậy mà vài câu chuyện nghe từ các xơ đã trở thành nguồn kiến thức tôn giáo của bà cho đến năm ba mươi tuổi. Thế giới của Chúa nằm ở trong ta – bà đã lặp đi lặp lại thế khi quanh quẩn trong ngôi nhà trống vắng của mình. Bà cố gắng tưởng tượng xem thế giới ấy chính xác ở đâu: mắt bà nhìn ngược vào trong như một chiếc kính tiềm vọng kiểm tra mọi ngóc ngách ở tận đáy lòng và những nơi sâu thẳm, huyền bí nhất trong tâm trí. Thế giới của Chúa ở đâu? Bà không thể thấy gì, chỉ có một màn sương dày bao phủ trái tim chứ chẳng có những đồi cỏ xanh rực rỡ như bà tưởng tượng ở thiên đàng. Trong những lúc tỉnh táo, bà thầm nhủ rằng rồi mình sẽ quẫn trí mất thôi, cứ như những người hầu hay các bà quả phụ già nua ấy. Rồi mình sẽ rơi thật chậm đến nỗi không hề nhận biết cho đến lúc đi vào những cơn mê huyền bí. Sau bốn năm thì bà cảm thấy càng khó khăn hơn để phân biệt đâu là thật, đâu là mê. Tiếng chuông ở nhà thờ kế bên điểm bốn lần mỗi giờ và bà phải nhét bông vào tai để không nghe, hoặc là nghe bớt rõ.

Bà bắt đầu bị ám ảnh với ý nghĩ rằng những con côn trùng của Augusto vẫn còn chưa chết; mỗi đêm bà nghe tiếng những đôi chân lí tí của chúng vội vã chạy khắp nhà, chúng lúc nhúc ở khắp nơi, bò khắp giấy dán tường, rúc rích trên những viên gạch ở phòng bếp và sột soạt trên thảm ở phòng khách. Bà nằm trên giường và nín thở chờ những con quái vật ấy bò dưới cánh cửa để chui vào phòng ngủ. Tuy vậy, bà giấu biến tình trạng của mình với Augusto. Mỗi buổi sáng, bà thông báo cho ông ấy biết hai vợ chồng sẽ ăn gì cho bữa trưa với một nụ cười nở trên môi, và bà vẫn cười tươi cho đến khi ông ấy đi ra khỏi cửa. Lúc ông ấy trở về nhà, bà lại tiếp tục chào đón với nụ cười đầy máy móc ấy.

Cuộc chiến cũng như cuộc hôn nhân của bà đã kéo dài sang năm thứ năm, và bom đã rơi xuống Trieste vào tháng Hai năm ấy. Trong cảnh bom rơi đạn nổ, ngôi nhà gắn bó với thời thơ ấu của bà đã bị phá hủy hoàn toàn. Nạn nhân duy nhất của thảm họa này là con ngựa chở hàng của cha bà – người ta tìm thấy nó trong vườn với hai cẳng chân nổ toét.

Lúc ấy không còn tivi và tin tức được truyền đi một cách chậm chạp hơn nhiều. Mãi đến ngày hôm sau bà mới biết mình đã bị mất ngôi nhà lúc cha bà gọi điện. Mới nghe giọng của ông ấy, bà biết ngay là đã có chuyện hệ trọng xảy ra. Ông ấy nói như thể một người đã chết từ lâu rồi. Bà cảm thấy mình đang lạc lối bởi không còn chốn nào để trở về. Thế rồi bà nửa tỉnh nửa mê đi vòng quanh nhà suốt hai, ba ngày. Không ai có thể đẩy bà ra khỏi trạng thái u mê này, bà thấy những năm tháng của đời mình trải ra trước mắt với một chuỗi ngày nối nhau thật buồn tẻ, vô vị, rập khuôn cho đến khi giã biệt cõi đời.

Cháu có biết chúng ta luôn mắc phải sai lầm gì không? Đó là tin rằng cuộc đời mình không có cách nào thay đổi được, một khi đã chọn lối nào thì phải đi cho đến tận cùng. Thế nhưng hóa ra số phận con người lại vượt ngoài trí tưởng tượng của chúng ta. Những lúc ta nghĩ rằng mình đang ở trong một tình huống không thể thoát ra, hay những lúc ta đã chạm đến đáy sâu của nỗi tuyệt vọng khốn cùng, bỗng dưng mọi thứ thay đổi nhanh như chớp mắt, tất cả bỗng đảo ngược, và chỉ trong giây lát, ta lại thấy mình đang sống một cuộc đời hoàn toàn mới lạ.

Hai tháng sau khi ngôi nhà bị bom phá hủy thì chiến tranh kết thúc. Bà về lại Trieste ngay lập tức, lúc ấy cha mẹ bà đã dọn vào một căn hộ tạm thời cùng với vài người khác. Có quá nhiều thứ cần phải làm nên chỉ sau một tuần là bà hầu như quên hết chuỗi ngày sống ở L’Aquila. Một tháng sau đó Augusto cũng đến. Ông ấy phải quản lý cơ sở kinh doanh đã mua lại từ cha bà mà ông ấy đã xao lãng và giao việc trông nom cho người khác trong những năm chiến tranh. Lúc này cha mẹ bà đã thực sự già yếu và không còn nơi nào để ở. Thật ngạc nhiên là Augusto đã nhanh chóng quyết định rời khỏi quê mình và chuyển đến Trieste; thế rồi ông ấy mua ngôi nhà cùng khu vườn nhỏ trên ngọn đồi cao ở thành phố này, và đến mùa thu là cả nhà lại đoàn tụ cùng nhau.

Trái ngược với mọi dự đoán, mẹ bà là người ra đi đầu tiên, bà ấy mất vào đầu mùa hè năm sau đó. Những năm tháng cô đơn và sợ hãi ở ngôi làng miền núi kia đã làm thui chột dần vẻ cứng cỏi của bà ấy. Cái chết của mẹ đã làm sống dậy niềm khao khát có một đứa con trong bà. Bà đã lại ngủ chung với Augusto nhưng hầu như chẳng có chuyện gì xảy ra giữa hai vợ chồng. Hàng ngày bà dành thật nhiều thời gian ngồi với cha ở ngoài vườn. Và một chiều nọ, chính ông ấy đã nói với bà rằng: “Suối nước nóng có thể mang lại điều kỳ diệu cho gan – và cho cả phụ nữ nữa đấy.”

Hai tuần sau Augusto tiễn bà lên tàu đi Venice. Tiếp đó bà bắt một chuyến tàu khác đi Bologna, rồi một chuyến nữa đến Porretta Terme vào đêm hôm đó. Thành thật mà nói, bà không tin lắm vào mấy dòng suối nước nóng, bà quyết định đi đến đấy là vì quá khát khao sự yên tĩnh. Bà cảm thấy cần được ở một mình, nhưng không giống như những năm tháng trước đây. Bà đã phải chịu đựng quá nhiều rồi. Hầu hết mọi thứ bên trong bà đều đã chết, cứ như thể một cánh đồng bị cháy trụi chỉ còn trơ lại muội than đen. Chỉ có nắng, mưa và không khí trong lành mới mong có thể mang đến nguồn năng lượng cho một phần nhỏ xíu vẫn còn sống sót trong bà được tiếp tục lớn lên.