Tối qua trời trở, gió Đông nổi lên và quét bay những đám mây chỉ trong vài tiếng đồng hồ. Trước khi ngồi viết, bà đi tản bộ trong vườn. Gió vẫn thổi mạnh nên áo quần bà bay phần phật. Buck phấn khích vô cùng, cu cậu muốn đùa giỡn và chạy lon ton sau bà, mồm ngậm một quả thông. Với chút sức lực ít ỏi, bà chỉ có thể quẳng quả thông được một lần và nó bay chẳng được xa mấy, thế nhưng cu cậu đã tỏ ra rất thỏa mãn. Sau khi kiểm tra sức khỏe cây hoa hồng, bà đến chào cây óc chó và cây anh đào, hai cái cây bà yêu thích nhất.
Cháu còn nhớ đã trêu bà như thế nào mỗi khi thấy bà vuốt ve một trong những bụi cây của chúng ta không? “Bà làm gì thế?” cháu hỏi, “Nó có phải là ngựa đâu chứ.” Khi bà giải thích rằng vuốt ve một cái cây không có gì khác với việc vuốt ve bất kỳ sinh vật sống nào, mà thậm chí là còn thích hơn, cháu chỉ nhún vai bước đi và tỏ vẻ không vừa lòng. Tại sao lại thích hơn chứ? Bởi vì mỗi lần gãi gãi đầu Buck, bà thực sự cảm nhận có một thứ gì đó rất ấm áp và sôi nổi, nhưng ẩn sâu bên dưới luôn thường trực một sự kích động dữ dội. Có lẽ là vì giờ ăn tối sắp đến rồi, hay là lâu quá mà chưa đến; cũng có thể là cậu ta đang mong chờ cháu, hoặc chỉ vì cu cậu đang nhớ lại một cơn ác mộng. Cháu thấy không? Chó, cũng như người, có quá nhiều suy nghĩ và đòi hỏi. Cả chó lẫn người đều không thể tự mình đạt được sự bình tâm và những niềm vui.
Cây cối thì lại khác. Từ lúc đâm chồi cho đến ngày tàn úa, một cái cây luôn đứng yên ở một vị trí nhất định. Chẳng như bất cứ một thứ nào khác, rễ cây cứ lầm lụi tiến sâu hơn vào lòng đất, còn tán lá lại cứ vươn mãi đến bầu trời. Những dòng nhựa chảy từ rễ tới ngọn và từ ngọn tới rễ. Cây vươn cao hay khép lại những tán lá là tùy thuộc vào ánh sáng mặt trời. Cây đợi chờ mưa, đợi chờ nắng, đợi chờ mùa luân phiên thay đổi, và đợi chờ cái chết. Cây không thể sống được bằng ý chí của chính mình. Nó tồn tại và chấm hết. Giờ cháu đã thấy vì sao vuốt ve cây thật là thích chưa? Bởi vì cây đứng rất hiên ngang, bởi vì hơi thở của cây thật chậm rãi, bình thản và trầm sâu vô cùng. Ở đâu đó trong Kinh thánh viết rằng Chúa có hai lỗ mũi rất to. Điều này có lẽ là hơi bất kính, nhưng cứ mỗi lần cố gắng tưởng tượng về hình ảnh của Đấng Tạo Hóa, trong đầu bà lại có hình ảnh một cây sồi.
Lúc còn bé, nhà bà có một cây sồi, thân của nó to đến nỗi phải có hai người ôm mới xuể. Khi lên bốn hay năm tuổi, bà rất thích đến bên nó. Bà ngồi đấy, cảm nhận bãi cỏ ẩm ướt bên dưới, cơn gió mát rượi trên mặt và luồn trong mái tóc. Bà hít thật sâu và biết rằng có một trật tự của tất cả mọi thứ đang ở đâu đấy trên cao, và bà cũng như những thứ xung quanh đều thuộc vào trật tự ấy. Dù chẳng biết tí gì về âm nhạc nhưng lòng bà rộn tiếng ca vang. Bà không thể nói cho cháu biết đó là giai điệu gì, thực ra chẳng có giai điệu hay điệp khúc cụ thể nào, nó giống như nhịp điệu mạnh mẽ và đều đặn của hơi thở ở gần trái tim vậy; hơi thở ấy lan tỏa khắp trong bà, cả cơ thể và tâm trí, nó tỏa sáng như ánh mặt trời và ngân vang như âm nhạc. Bà cảm thấy vui sướng biết bao khi được sống và chẳng còn nhận thức điều gì khác ngoài niềm hạnh phúc của chính mình.
Có lẽ cháu sẽ nghĩ rằng thật kỳ lạ hoặc bất thường khi một đứa trẻ lại sớm có những trực giác như vậy. Tiếc là chúng ta hay cho rằng tuổi ấu thơ là giai đoạn mù quáng và thiếu sót chứ không phải là thời điểm phong phú nhất của cuộc đời. Và để chứng minh điều này là không đúng, tất cả những gì cháu cần làm là hãy nhìn thật kỹ vào đôi mắt của một đứa bé sơ sinh. Hãy thử làm khi cháu có cơ hội, và nhớ là phải quên đi tất cả mọi định kiến trước đó để quan sát đứa bé ấy thật gần. Đôi mắt ấy nói lên điều gì với cháu? Trống rỗng, vô thức? Hay già dặn, xa xăm, thông thái? Những đứa bé biết cách thở thật sâu một cách tự nhiên trong khi người lớn chúng ta lại mất đi khả năng này. Lúc lên bốn hay năm tuổi, bà chưa học được điều gì về Chúa hay tôn giáo, lại càng chưa biết được rằng những rắc rối là do chính con người tạo nên.
Cháu biết đấy, khi đến lúc phải cân nhắc có nên cho cháu học các lớp tôn giáo ở trường hay không, bà đã không thể đưa ra quyết định. Một mặt bà nhớ đến thảm họa của chính mình về những xung đột với những dạy dỗ giáo điều, nhưng mặt khác bà hoàn toàn tin rằng giáo dục không chỉ nhằm trau dồi kiến thức mà còn để tu dưỡng tinh thần. Rốt cuộc vấn đề đã tự giải quyết vào ngày con chuột hamster đầu tiên của cháu chết đi. Cháu nâng nó trên tay và nhìn bà bối rối. “Cậu ấy đang ở đâu hở bà?” cháu hỏi. Bà trả lời bằng cách lặp lại câu hỏi của cháu: “Thế cháu nghĩ cậu ấy đang ở đâu?” Cháu còn nhớ đã trả lời thế nào không? “Cậu ta ở tại hai nơi. Một phần ở đây, còn phần kia thì ở tít trên những đám mây.” Hai bà cháu mình đã chôn cậu ta và thực hiện một lễ tang nho nhỏ vào buổi chiều hôm ấy. Cháu quỳ trước mô đất bé tí xíu và rì rầm cầu nguyện: “Hãy vui vẻ nhé, Tony. Rồi chúng ta sẽ gặp lại nhau một ngày nào đó.”
Có lẽ điều này bà chưa bao giờ nhắc đến, nhưng thực tế là bà đã học năm năm đầu tiên với các xơ ở Học viện Tâm Thánh. Hãy tin là khi kể lại điều này, đầu óc bà vốn đã quay cuồng nay lại càng thêm choáng váng. Các xơ đã dựng một máng cỏ khổng lồ đặt ở lối ra vào trường học suốt cả năm. Có Chúa Hài Đồng trong máng cỏ cùng Đức Cha, Đức Mẹ, con bò, con lừa, và bao bọc xung quanh là những dãy núi và vách đá bằng giấy bồi với một bầy cừu nhỏ. Mỗi con cừu đại diện cho một học sinh, và chúng sẽ được dịch chuyển gần hơn hay xa hơn máng cỏ của Chúa Hài Đồng tùy thuộc vào hạnh kiểm của mỗi người trong ngày hôm ấy. Mỗi buổi sáng tất cả học sinh đều đi ngang qua máng cỏ trước khi vào lớp học, vì vậy mà ai cũng buộc phải nhìn xem vị trí của mình đang ở đâu. Phía đối diện máng cỏ là một vực thẳm, nơi tất cả những con cừu tệ nhất bị treo trên miệng vực với đôi chân nhỏ xíu lủng lẳng trong không trung. Từ năm sáu tuổi cho đến mười tuổi, những bước chân của con cừu kia đã quyết định tình trạng của cuộc đời bà. Và không cần nói thì cháu cũng biết con cừu của bà hầu như chẳng di chuyển ra khỏi bờ vực thẳm.
Với tất cả ý chí trong trái tim mình, bà đã cố gắng tôn trọng mọi lời răn dạy. Bà làm điều đó bởi vì đứa trẻ nào cũng có một mong muốn tự nhiên là biết vâng lời, nhưng không chỉ có vậy: Bà thực sự tin rằng mỗi người cần phải sống tốt, không dối trá và tự phụ. Vậy mà bà vẫn luôn ở trên bờ vực thẳm. Vì sao? Vì những điều ngốc nghếch. Khi bà nước mắt ngắn dài tìm đến gặp xơ trưởng để hỏi lý do tại sao mình không được di chuyển đến lần thứ không biết bao nhiêu thì bà ấy trả lời rằng, “Bởi vì cái nơ cháu đeo hôm qua to quá... Bởi vì có bạn nghe cháu hát một mình khi tan học... Bởi vì cháu không rửa tay trước khi ngồi vào bàn ăn.” Cháu hiểu rồi chứ? Những tội lỗi của bà một lần nữa lại là những điều vụn vặt y như cái cách mà mẹ của bà đã buộc tội bà. Tất cả những giáo viên của bà không quan tâm đến những cố gắng bên trong mà chỉ chú ý đến sự vâng lời ở bề ngoài. Một ngày nọ khi bị đẩy tới sát bờ vực, bà òa khóc nức nở và nói, “Nhưng cháu yêu Chúa Hài Đồng.” Cháu có biết bà xơ đứng đó nói gì không? “Thế là cháu không những bừa bộn mà còn nói dối như cuội. Nếu thực sự yêu Chúa Hài Đồng thì cháu đã biết để tập vở ngay ngắn hơn rồi.” Và tạch, bà ta búng ngón tay và đẩy con cừu nhỏ bé của bà chúi đầu vào vực thẳm.
Bà cam đoan rằng mình đã không ngủ suốt hai tháng sau đó. Cứ mỗi khi nhắm mắt là bà có cảm giác tấm nệm dưới lưng bốc cháy và những giọng nói ghê rợn cất lên, “Hãy đợi đấy, bọn ta đến bắt ngươi đây!” Dĩ nhiên là bà không hề nói nửa lời với cha mẹ của mình. Khi thấy bà tái mét và lo âu sợ sệt, mẹ của bà chỉ nói rằng, “Con bé bị kiệt sức đấy,” và thế là bà phải nín thở nuốt thuốc bổ hết muỗng này đến muỗng khác.
Có ai biết được bao nhiêu người nhạy cảm và thông thái đã phải quay lưng mãi mãi với các vấn đề tâm linh chỉ vì những tình huống như vậy không? Mỗi lần nghe ai đó nói thời học trò của họ tuyệt vời biết bao nhiêu, và họ cảm thấy nuối tiếc khi quãng thời gian ấy đã trôi qua như thế nào thì bà chỉ biết câm lặng. Với bà thì đó là một trong những thời điểm tồi tệ nhất của cuộc đời mình, mà có lẽ là tồi tệ đến vô cùng tận bởi vì lúc nào bà cũng có cảm giác bất lực. Suốt thời tiểu học, trong bà lúc nào cũng có một trận chiến ác liệt giữa khao khát luôn trung thành với cảm giác thực sự bên trong mình và mong ước sẽ chấp nhận tất cả những gì người khác tin tưởng, cho dù bản năng mách bảo rằng đó là một điều sai trái.
Thật kỳ lạ, nhưng giờ sống lại với những cảm giác xưa cũ, bà có cảm giác rằng khủng hoảng lớn nhất của cuộc đời mình không xảy ra trong lứa tuổi thiếu niên như tất cả mọi người mà lại là những năm tháng ấu thơ. Ở lứa tuổi mười hai, mười ba hay mười bốn, bà đã sở hữu cho riêng mình cảm giác u sầu, ủ dột triền miên. Những câu hỏi siêu hình lớn lao đã dần dần lui về phía sau, và thay vào đó là những tưởng tượng vô hại mới mẻ. Bà đi lễ với mẹ vào các ngày Chủ Nhật và ngày lễ Thánh. Bà quỳ xuống thành tâm hối lỗi với mong muốn được lắng nghe, thế nhưng khi làm vậy, bà lại nghĩ về những chuyện khác: đây là một trong những hành động nhỏ bé bà làm chỉ hòng để đổi lấy một cuộc sống tĩnh lặng. Đó là nguyên do tại sao bà chưa bao giờ đăng ký cho cháu học các lớp giáo lý và bà cũng chưa bao giờ thấy hối tiếc về quyết định của mình. Khi trí tò mò trẻ con của cháu nảy ra những câu hỏi về một vấn đề nào đó, bà cố gắng trả lời một cách trực tiếp, khách quan chứ không để lại bất cứ cảm giác kỳ bí nào cả. Và khi cháu không hỏi thêm, bà lẳng lặng tránh bàn đến vấn đề đó nữa. Đó là một trong những lĩnh vực mà chúng ta không thể lôi kéo hay thúc đẩy quá sức, nếu không thì chuyện sẽ xảy ra với ta như xảy ra với những người bán hàng rong vậy: khi càng thúc ép người khác mua hàng thì họ càng có vẻ đang lừa gạt. Với cháu, bà luôn cố gắng tránh làm tiêu tan mọi thứ cháu đang sở hữu. Và bà vẫn đang chờ đợi những điều khác sẽ xảy ra.
Nhưng đừng nghĩ con đường của bà lúc nào cũng phẳng lặng nhé. Dù chỉ mới bốn tuổi nhưng bà đã nghe nhịp thở truyền cảm hứng cho vạn vật, và đến lúc bảy tuổi thì quên bẵng hết mất rồi. Đúng là lúc đầu bà vẫn còn nghe thấy tiếng nhạc, âm thanh ấy ở đâu đó rất mơ hồ từ phía sau. Nó như một dòng suối len lỏi qua các hẻm núi, nếu bà đứng ở mỏm đá và cố gắng thì sẽ nghe được. Nhưng cuối cùng thì tiếng suối bỗng chuyển thành tiếng đài radio cũ xưa chỉ trong chớp mắt. Vào phút đầu tiếng nhạc vẫn còn inh ỏi, nhưng đến phút sau là bà không thể nghe thấy nữa rồi.
Cha mẹ bà không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để mắng mỏ bà vì thói quen ca hát. Trong một buổi ăn tối nọ, bà đã bị tát – cái tát đầu tiên trong đời – bởi vì đã líu lo một cách vô thức. “Không được hát tại bàn ăn!” cha bà nạt nộ. “Không được hát khi con không phải là ca sĩ,” mẹ bà chêm vào. Thế là bà khóc và nói trong nước mắt, “Nhưng con nghe thấy tiếng hát bên trong con đây này.” Đối với cha mẹ bà, tất cả những gì không thuộc về thế giới vật chất cứng nhắc đều hoàn toàn vô nghĩa.
Thứ âm nhạc ấy đã biến mất một cách chậm rãi nhưng chắc chắn, và niềm hạnh phúc tột độ đã ở bên bà trong suốt những năm tháng đầu đời cũng biến mất theo. Cháu biết đấy, đó là thứ bà nuối tiếc nhất. Dĩ nhiên là sau đó có những lúc bà cảm thấy vui, nhưng niềm vui đối với hạnh phúc chỉ như một bóng đèn điện so với mặt trời. Niềm vui luôn cần có đối tượng, ta vui bởi vì một điều gì đó, nó là một điều kiện chỉ tồn tại được khi phụ thuộc vào thế giới bên ngoài. Còn hạnh phúc thì lại khác, nó không có đối tượng. Nó bao phủ lấy ta không vì một lý do cụ thể nào, và cũng như mặt trời, nó bừng cháy nhờ vào nhiên liệu từ chính trái tim mình.
Trong những năm tháng ấy, bà đã chối bỏ chính mình, chối bỏ phần sâu sắc nhất của bản thân để trở thành một người khác - người mà cha mẹ mong muốn bà trở thành. Bà đánh mất cả bản chất để vơ vào cho mình một tính cách hoàn toàn xa lạ. Cháu sẽ không mảy may nghi ngờ rằng thế giới này đánh giá cao tính cách hơn là bản chất của mỗi con người.
Trái ngược với ý kiến của đại số đông, tính cách và bản chất không bao giờ đi cùng nhau; thực tế là tính cách quyết định luôn cả bản chất. Một ví dụ điển hình là mẹ của bà có tính cách rất mạnh mẽ. Bà ấy luôn chắc chắn về tất cả những gì mình làm và không có gì, tuyệt đối không có gì, có thể phá hỏng sự vững chắc ấy. Bà thì trái ngược hoàn toàn. Không có lấy một khía cạnh nào của cuộc sống này có thể làm cho bà say mê. Bà luôn do dự trước mỗi lựa chọn, và vì trì hoãn quá lâu mà tất cả mọi thứ xung quanh đều mất hết kiên nhẫn để rồi từ đó quyết định thay cho bà.
Cháu đừng nghĩ là việc từ bỏ bản chất của mình để khoác lên một tính cách nào đó là một quá trình tự nhiên đối với bà. Trong thâm tâm, bà vẫn cố gắng phản kháng; một phần của bà luôn khao khát được là chính mình, nhưng phần khác – phần lúc nào cũng mong muốn được yêu thương – lại cố gắng tuân theo những đòi hỏi của thế giới bên ngoài. Bà ghét cay ghét đắng mẹ cùng những cử chỉ thiển cận, rỗng tuếch của bà ấy. Và bởi vì sự căm hận đó mà dần dần, trái ngược với ý chí của mình, bà đã trở nên giống hệt bà ấy. Đó chính là mối đe dọa khủng khiếp trong việc dưỡng dục con người mà bất kỳ ai cũng không thể thoát khỏi. Không đứa trẻ nào có thể sống thiếu tình thương. Chính vì vậy mà chúng ta luôn đi theo hình mẫu đã được định sẵn ở đó, ngay cả khi không hề mong muốn và nghĩ rằng nó sai trái hoàn toàn. Những ảnh hưởng của việc này kéo dài mãi đến lúc ta trưởng thành. Khi trở thành một người mẹ, nó lại xuất hiện dù ta muốn hay không, và thậm chí ta còn không hề hay biết, nhưng nó khiến ta lặp lại các hành động như trước đây. Bởi thế mà khi mẹ cháu ra đời, bà tuyệt đối tin rằng mình đã đối xử một cách khác biệt. Và thật sự là bà đã làm thế, nhưng sự khác biệt ấy hóa ra cũng thiển cận và hoàn toàn sai lầm. Để tránh sự áp đặt lên mẹ cháu như bà đã từng bị trong những năm tháng đầu đời, bà luôn để mẹ cháu tự do lựa chọn. Bà muốn mẹ cháu cảm thấy rằng luôn có sự chấp thuận của bà trong mọi việc mà nó làm và liên tục nói rằng, “Chúng ta là hai con người khác nhau, mỗi chúng ta phải tôn trọng sự khác biệt của người còn lại.”
Đó là một sai lầm, sai lầm rất nghiêm trọng. Cháu có biết là gì không? Bà thiếu cá tính. Dù lúc đó đã trưởng thành nhưng bà không chắc chắn về tất cả mọi thứ. Bà không thể yêu thương bản thân và tôn trọng chính mình. Đứa trẻ nào cũng tinh nhạy và biết chớp lấy thời cơ nên mẹ cháu ngay lập tức hiểu ra mọi chuyện: nó cảm thấy bà yếu đuối, mong manh và dễ dàng bị khuất phục. Hình ảnh mà bà nhìn thấy trong đầu về mối quan hệ của hai mẹ con là một thân cây bị tàn phá bởi một dây leo. Cái cây ấy già hơn, cao hơn và nó đã tồn tại ở đó từ rất lâu nên rễ đâm sâu vào lòng đất.
Còn dây leo kia chỉ mới đâm chồi dưới gốc cây vào một mùa nọ, với vô số ngạnh và tua thay vì những cái rễ. Trên mỗi chiếc tua là hàng loạt những mấu nhỏ xíu để hút chất dinh dưỡng và leo lên thân cây. Sau một, hai năm thì nó đã chễm chệ tít trên ngọn cây cao. Khi cái cây bắt đầu rụng lá thì sợi dây leo kí sinh kia vẫn còn tươi xanh mơn mởn. Nó không ngừng sinh sôi nảy nở và cắm những chiếc tua vào thân cây, rồi cuối cùng bao phủ toàn bộ cây để tự mình đón lấy nắng mưa. Cuối cùng cái cây héo dần và chết đi, chỉ để lại thân cây bất hạnh suốt đời phục vụ cho sợi dây leo ích kỷ.
Sau cái chết bi thảm của mẹ cháu, bà đã chẳng nghĩ gì về nó trong nhiều năm liền. Đôi khi bà nhận ra rằng mình đã quên con gái và chỉ trích bản thân thật tàn nhẫn. Bởi vì bà đã có cháu để tiếp tục sống, đúng vậy, nhưng bà không nghĩ đó là lý do thật sự, hay có thể chỉ là một phần của lý do ấy thôi. Cảm giác về sự thất bại ở trong bà quá lớn cho nên bà không dám chấp nhận. Chỉ đến những năm tháng gần đây, khi cháu đã bắt đầu tách biệt khỏi bà và cố gắng mò mẫm con đường cho riêng mình thì bà lại nghĩ về mẹ cháu, nghĩ nhiều đến nỗi nó đã trở thành nỗi ám ảnh không nguôi. Bà hối tiếc vô hạn vì đã không bao giờ đủ dũng cảm để đối đầu với mẹ cháu, để nói ra những điều mình chưa nói, rằng “Con sai đến chết đi được, những thứ con làm thật ngốc nghếch.” Bà biết những khẩu hiệu nó sử dụng cực kỳ nguy hiểm, và bà cũng biết là mình cần phải ngay lập tức chấm dứt những việc như thế để bảo vệ nó, thế nhưng bà đã chần chừ không can thiệp vào. Không phải là bà thờ ơ, bà hiểu việc hai mẹ con cần phải bàn luận với nhau là tuyệt đối cần thiết. Lý do tại sao bà đã hành động – hay chính xác hơn là không hành động – chính là cách cư xử mà mẹ bà đã dạy cho bà. Để được yêu thương, bà phải tránh tranh cãi và giả vờ trở thành một con người khác. Ilaria vốn dĩ rất tự phụ và có tính cách mạnh mẽ hơn bà, cho nên bà sợ phải đối đầu trực tiếp cũng như ngại mâu thuẫn với nó. Nếu bà thật sự yêu thương con gái mình thì có lẽ bà đã phản ứng mạnh mẽ hơn và phải cứng rắn hơn với nó; lẽ ra bà phải buộc nó nên làm gì và tuyệt đối không nên làm gì nữa. Có lẽ đó chính là điều nó cần và mong muốn từ bà.
Ai có thể giải thích được vì sao chân lý cơ bản chính là những gì khó lĩnh hội nhất? Nếu vào thời điểm ấy bà có thể nhận ra rằng giá trị cốt lõi của tình yêu thương chính là sức mạnh thì có lẽ sự việc đã xảy ra khác rồi. Nhưng để được mạnh mẽ thì ta phải biết yêu thương chính mình; và để yêu thương chính mình thì ta cần biết rõ tất cả mọi thứ về bản thân, kể cả những bí mật được chôn vùi kỹ nhất và những thứ khó chấp nhận nhất trên đời. Làm sao ta có thể thực hiện được tất cả những điều này khi cuộc sống ầm ĩ cứ lôi kéo ta đi theo nó? Nếu là thiên tài xuất chúng thì ta đã có thể làm được ngay từ đầu. Còn những người tầm thường như bà và mẹ cháu phải chấp nhận phó mặc cho số phận như những cành cây khô héo hay những hộp nhựa bị quẳng đi. Ai đó, hay là một cơn gió sẽ quẳng ta xuống sông; và bởi vì ta nhẹ bẫng nên sẽ nổi chứ không chìm; đối với ta, điều này có vẻ như là một chiến thắng nên ngay lập tức ta bắt đầu trôi hết tốc độ; ta lao nhanh theo dòng nước để đến bất cứ nơi đâu; đôi khi rễ cây hay những hòn đá buộc ta phải dừng lại; ta bị mắc kẹt một lúc khi dòng nước đổ mạnh xuống, sau đó nước dâng lên và giải thoát ta để rồi ta lại tiếp tục trôi đi; ta nổi trên mặt nước khi dòng sông trôi êm ả, còn khi nước chảy xiết thì ta lại vật lộn dưới dòng; ta không biết rồi mình sẽ đi đâu, và thậm chí cũng chẳng bao giờ tự hỏi; dọc theo những quãng sông yên tĩnh, ta có thể thấy phong cảnh xung quanh, những bờ bãi, những bụi cây; và chi tiết hơn, ta thấy nhiều hình dạng và màu sắc, rồi sau đó ta chẳng thấy gì nữa bởi trôi quá nhanh; thời gian trôi qua, muôn vạn dặm trôi qua, những bờ bãi hạ thấp dần và con sông mở rộng ra, lúc này ta vẫn còn trôi trong lòng sông nhưng chẳng mấy chốc nữa đâu. “Ta đang đi đâu thế này?” ta tự hỏi, và đúng khoảnh khắc ấy ta đã ra tận biển khơi.
Phần lớn cuộc đời bà cũng giống như thế đấy. Bà không bơi mà chỉ biết thì thụp giữa dòng. Những động tác của bà rất lúng túng và không chắc chắn, bà cũng chẳng có chút niềm vui hay hạnh phúc nào cho nên bà hầu như không thể trôi nổi được.
Vì sao bà viết tất cả những thứ này cho cháu? Những thứ quá dài dòng, ủy mị này liệu có ý nghĩa gì cơ chứ? Có lẽ cháu đang chán ngấy và lật nhanh qua các trang một cách đầy giận dỗi. Bà muốn gì thế, có lẽ cháu đang tự hỏi, bà đang dẫn cháu đi đâu? Cháu đúng đấy, bà lạc đề quá, thường thì bà cố ý rời đường chính để rẽ vào một lối nhỏ nào đó. Bà cố ra vẻ mình bị lạc đường, mà có lẽ không phải là ra vẻ nữa – bà đã thực sự lạc lối mất rồi. Nhưng đó là con đường duy nhất để đến nơi ta vất vả tìm kiếm bấy lâu: trọng tâm.
Cháu còn nhớ lúc bà dạy cháu làm bánh kếp không? Bà đã dặn cháu là khi trở bánh thì nghĩ về bất cứ điều gì ngoại trừ việc phải hứng nó sao cho đúng cách. Nếu cháu cứ chăm chăm suy nghĩ về điều đó khi chiếc bánh đang bay giữa không trung thì chắc chắn nó sẽ rơi vỡ nát trong chảo hay thậm chí là nằm bẹp dí trên lò nướng. Buồn cười thật, nhưng sự xao lãng quả thật là cần thiết khi ta muốn đi đến trọng tâm và trái tim của mọi sự việc.
Nhưng lúc này không phải trái tim của bà đang nói với cháu đâu, đó là dạ dày đấy. Bụng bà đang sôi cả lên bởi vì bữa tối đã xuất hiện giữa câu chuyện về dòng sông và những chiếc bánh kếp rồi. Giờ bà phải tạm biệt cháu thôi, nhưng trước khi đi, bà sẽ lại gửi cho cháu thêm một nụ hôn mà cháu rất ghét.