Trái Tim Mách Bảo

Cơn bão hôm qua đã gây ra bao nhiêu là thiệt hại: Sáng nay bà tìm thấy một nạn nhân lúc đi dạo trong vườn. Dường như được thúc giục bởi thiên thần hộ mệnh, thay vì chỉ đi vòng quanh căn nhà như thường lệ, hôm nay bà đã bước thẳng tới cuối khu vườn – nơi từng đặt chiếc chuồng gà và giờ là chỗ của đống phân ủ. Khi đi dọc theo bức tường bé tí ngăn giữa vườn nhà mình và vườn nhà chú Walter, bà phát hiện ra một vật gì đó tôi tối nằm trên mặt đất. Lúc đầu trông nó có vẻ như là một quả thông, nhưng chốc chốc lại chuyển động được một quãng ngắn. Bà không mang theo kiếng nên phải đến sát mới có thể nhận ra đó là một con chim hét vẫn còn non nớt, mà lại là một con chim mái. Suýt tí nữa thì bà đã bị gãy xương đùi khi cố bắt nó. Cứ mỗi lần bà gần chụp được thì nó lại nhảy ra xa hơn. Nếu bà còn trẻ thì chuyện này dễ như trở bàn tay, thế nhưng giờ bà chậm chạp quá rồi cháu ạ. Cuối cùng thì bà cũng nảy ra được một ý kiến thiên tài. Bà tháo chiếc khăn trùm đầu và chụp lên người nó, sau đó bọc lại rồi mang vào nhà. Giờ thì cô nàng đang ở trong hộp đựng giày cũ đây này – bà đã chèn vào một ít vải vụn và đục vài cái lỗ trên hộp, trong đó có một lỗ đủ to để nó có thể chui đầu ra.

Lúc bà viết thì cô nàng đang nằm trên bàn ngay trước mặt bà. Bà chưa cho nó ăn gì bởi vì nó vẫn còn quá kích động. Nhìn nó bị kích động mà bà cũng bối rối theo, cái vẻ khiếp đảm của nó làm bà bực mình kinh khủng. Giả sử nếu có một nàng tiên giáng trần – đầu tiên là một luồng ánh sáng chói lóa xuất hiện, sau đó nàng tiên đứng giữa tủ lạnh và lò nướng – thì cháu biết bà sẽ ước gì không? Bà sẽ ước Chiếc Nhẫn Thần của Vua Solomon bởi vì phép lạ của nó sẽ giúp người đeo nhẫn có thể trò chuyện với thế giới động vật. Rồi bà sẽ nói với cô nàng chim hét rằng: “Đừng lo, chim yêu quý của ta, ta là người nhưng rất có thiện chí. Ta sẽ chăm sóc cho ngươi, cho ngươi ăn, và rồi khi ngươi khỏe trở lại thì ta sẽ thả ngươi bay đi.”

Nhưng quay trở lại với chuyện của chúng ta đã. Hôm trước, bà cháu mình đã chia tay ở nhà bếp sau câu chuyện ví von về việc làm bánh kếp, mà có lẽ nó đã làm cho cháu bực hết cả mình nhỉ. Những người trẻ như cháu luôn nghĩ rằng những vấn đề nghiêm túc thì cần phải bàn luận với giọng điệu nghiêm trọng và hùng hồn. Một thời gian ngắn trước khi cháu ra đi, bà thấy lá thư của cháu đặt dưới gối bà, trong đó cố gắng giải thích tại sao cháu không vui. Giờ cháu đang ở thật xa nên bà mới có thể nói là những gì cháu viết đã thể hiện rất rõ rằng cháu thực sự không vui, nhưng ngoài ra thì bà không hiểu gì nữa cả. Tất cả đều rối rắm và mờ mịt. Bà là một người đơn giản và thuộc thế hệ khác xa bọn cháu: nếu thứ gì đó màu trắng, bà sẽ nói là màu trắng; còn nếu nó màu đen, bà sẽ nói là màu đen. Khả năng giải quyết vấn đề của bà bắt nguồn từ kinh nghiệm tích lũy mỗi ngày, từ việc nhìn nhận mọi thứ với bản chất vốn có của nó, chứ không phải theo cách ai đó mong muốn nó xảy ra như ý họ. Sau khi gạn đục khơi trong, loại bỏ tất cả những gì không thuộc về chúng ta – những yếu tố bên ngoài – thì ta mới chắc chắn rằng mình đang đi đúng hướng. Không dưới một lần bà có cảm giác những cuốn sách cháu đọc chỉ làm cháu hoang mang thay vì giúp ích một điều gì – chúng cũng như một con mực khi thoát khỏi kẻ thù sẽ để lại một đám mây đen.

Trước khi quyết định ra đi, cháu đã đưa ra hai lựa chọn: hoặc là đi nước ngoài trong một năm, hoặc là bắt đầu gặp một bác sĩ tâm lý. Bà đã phản ứng một cách dữ dội, cháu còn nhớ chứ? Bà nói rằng cháu có thể đi đến ba năm nếu cháu muốn chứ đừng bao giờ đến gặp một bác sĩ tâm lý dù chỉ một lần, cho dù cháu tự trả tiền đi chăng nữa. Cháu đã rất sửng sốt trước thái độ quá khích như vậy bởi vì cháu thực sự nghĩ rằng trong hai lựa chọn quái ác ấy, việc đi gặp bác sĩ tâm lý rõ ràng là nhẹ nhàng hơn. Tuy cháu không phản ứng gì nhưng bà cũng tưởng tượng được rằng lúc đó cháu nghĩ bà đã quá già và lạc hậu nên chẳng thể hiểu những điều như vậy. Nếu đúng thế thì cháu nhầm rồi. Ngay từ bé bà đã nghe nói đến Freud. Một trong những người bác của bà là một bác sĩ được học hành ở Vienna và sớm tiếp xúc với những lý thuyết của Freud. Bác ấy say mê đến nỗi lúc nào cũng cố gắng cảm hóa cha mẹ bà mỗi lần đến nhà ăn tối. “Anh sẽ không bao giờ thuyết phục được tôi rằng nếu tôi mơ về mì sợi spaghetti thì có nghĩa là tôi sợ chết,” mẹ bà tuyên bố. “Nếu tôi mơ về spaghetti thì nó chỉ có một ý nghĩa thôi: Tôi đang đói bụng.” Bác của bà cố gắng trong tuyệt vọng để giải thích rằng tính ngoan cố của mẹ là do sự kiềm nén của bản thân, và nỗi sợ về cái chết của mẹ chắc chắn là bởi vì mì sợi spaghetti và những con giun trông rất giống nhau, mà ai trong chúng ta lại không trở thành giun một ngày nào đó chứ. Hãy thử đoán mẹ của bà đã trả lời như thế nào? Sau một vài giây yên lặng, bà ấy hét lên the thé: “Được rồi, thế tôi mơ về mì ống macaroni thì sao nào?”

Sự tiếp xúc của bà với những nhà tâm lý học không chỉ dừng lại ở những câu chuyện thời thơ ấu. Mẹ của cháu đã được chăm sóc bởi một bác sĩ tâm lý – hay chẳng qua chỉ tự xưng là bác sĩ tâm lý – tới gần mười năm; nó vẫn gặp anh ta cho đến lúc qua đời đấy. Chính vì vậy, bà đã có cơ hội theo dõi toàn bộ sự phát triển của mối quan hệ này, ngày nọ nối ngày kia, cho dù chỉ là gián tiếp. Nói thật là lúc đầu bà chẳng buồn nói nửa lời về chuyện này – cháu biết là những vấn đề như thế thuộc về bí mật chuyên ngành tâm lý phải không? Nhưng ngay lập tức mẹ cháu có cảm giác bị phụ thuộc hoàn toàn vào gã bác sĩ ấy, và điều này đã làm bà rất sốc. Suốt cả một tháng, cuộc sống của nó chỉ quẩn quanh với các cuộc hẹn và những buổi điều trị kéo dài hàng giờ. Chắc cháu sẽ nói là bà đang ghen tỵ phải không? Cũng có thể đúng, nhưng đó không phải là vấn đề chính; điều làm bà lo âu là nhìn thấy con gái mình trở thành nô lệ và bị phụ thuộc, lúc đầu là quan điểm chính trị, rồi sau đó là quan hệ tình cảm. Ilaria gặp gỡ gã ấy trong năm cuối ở Padua, và Padua đã trở thành nơi nó hò hẹn mỗi tuần. Khi nó nói với bà về điều này, bà cảm thấy thật lúng túng và hỏi rằng, “Con nghĩ thật sự cần thiết phải đi xa đến thế để tìm một bác sĩ giỏi sao?”

Ở một khía cạnh nào đó thì quyết định của mẹ cháu trong việc tham khảo ý kiến bác sĩ về tình trạng khủng hoảng liên tục của nó đã làm bà cảm thấy nhẹ nhõm. Bà thầm nhủ rốt cuộc thì Ilaria cũng quyết định nhờ ai đó giúp đỡ, và như vậy đã là một bước tiến trên con đường đúng đắn của nó rồi. Tuy nhiên, ở một phương diện khác, bà biết rằng mẹ cháu rất mong manh dễ vỡ nên cảm thấy hồi hộp không biết liệu nó có chọn được một người thật sự đáng tin cậy hay không.

Việc bước vào thế giới tinh thần của người khác luôn đòi hỏi một sự tinh tế tột độ. “Làm sao con tìm được anh ta?” bà hỏi. “Có ai giới thiệu anh ta với con không?” Câu trả lời duy nhất của nó chỉ là những cái nhún vai. Thế rồi nó cũng mở miệng, “Làm sao mẹ hiểu được chứ?” và sau đó im lặng đầy tự mãn.

Tuy mẹ cháu có một căn hộ riêng ở Trieste, hai mẹ con vẫn có thói quen ăn trưa cùng nhau ít nhất mỗi lần một tuần. Sau khi việc điều trị tâm lý bắt đầu thì những cuộc trò chuyện ở các buổi ăn trưa trở nên vô vị một cách cố tình. Bà và mẹ cháu chỉ nói về những gì xảy ra trong thành phố, hoặc là về thời tiết; nếu thời tiết tốt và chẳng có gì xảy ra trong thành phố thì hai mẹ con hầu như ăn trong im lặng.

Nhưng đến lần thứ ba hoặc thứ tư Ilaria tới Padua, bà nhận ra nó có sự thay đổi. Thay vì yên lặng như trước, mẹ cháu bắt đầu đặt ra nhiều câu hỏi: nó muốn biết tất cả mọi thứ về quá khứ, về bà, về cha của nó, về mối quan hệ của hai mẹ con. Thế nhưng không hề có chút cảm xúc hay tò mò nào trong nghi vấn của con bé: nó tra hỏi như một thẩm vấn viên, lặp đi lặp lại một vài câu hỏi và chú trọng đến từng chi tiết cũng như làm rõ ngay những nghi ngờ trong vài tình huống nó còn nhớ, bởi vì nó cũng đã từng ở đó. Những lúc ấy bà không còn trò chuyện với con gái của mình nữa mà là đang trả lời một cảnh sát điều tra vốn rắp tâm bắt mình thú tội bằng mọi giá. Một ngày nọ, khi đã mất hết kiên nhẫn, bà đã nói với nó: “Con không thẳng thắn được sao? Cứ nói trắng ra điều con muốn đi.” Nó nhìn bà với thoáng chút mỉa mai rồi cầm một chiếc nĩa gõ vào ly nước, và khi chiếc ly phát ra một tiếng ping thì nó trả lời: “Điều duy nhất con muốn là đi tìm sự thật. Con muốn biết khi nào và tại sao mẹ cùng chồng của mẹ đã bẻ gãy đôi cánh của con.”

Đó là lần cuối cùng bà cho phép mình trả lời hàng loạt những câu hỏi như vậy. Tuần sau đó bà gọi điện mời mẹ cháu ăn trưa nhưng với một điều kiện: Hai mẹ con chỉ nên trò chuyện, chứ không phải là thẩm vấn.

Liệu bà có cảm thấy cắn rứt lương tâm không? Dĩ nhiên là có. Có quá nhiều thứ bà muốn nói với Ilaria nhưng việc lột trần những suy nghĩ trong thâm tâm dưới áp lực của một cuộc điều tra thực sự rất sai lầm và có hại. Nếu bà đã tham gia vào trò chơi của mẹ cháu thì hai mẹ con cũng không thể tạo ra được một mối quan hệ mới tốt hơn; rồi bà sẽ buộc phải đóng vai tội phạm vĩnh viễn, còn mẹ cháu sẽ mãi mãi là một nạn nhân không bao giờ tìm ra lối thoát.

Bà lại nói chuyện với mẹ cháu về việc điều trị tâm lý của nó vào nhiều tháng sau đó. Lúc này nó được điều trị tách biệt với bác sĩ trong suốt tất cả các ngày cuối tuần và nó ốm đi trông thấy. Trong những câu nói của nó có những lời nguyền rủa mà trước giờ bà chưa nghe thấy. Bà kể cho nó nghe về chuyện ông trẻ của nó đã tìm gặp bác sĩ tâm lý như thế nào, và rồi tình cờ hỏi nó: “Bác sĩ tâm lý của con đã học ở trường nào?” “Không trường nào cả,” nó trả lời, “hay chính là trường mà anh ấy đã tự lập ra đấy.”

Trước đó bà chỉ có cảm giác bồn chồn, nhưng kể từ thời điểm ấy bà đã trở nên thật sự lo lắng không yên. Bà cố gắng tìm ra tên của gã bác sĩ ấy, và sau một cuộc điều tra ngắn, bà phát hiện ra rằng gã chẳng phải là một bác sĩ. Mọi hy vọng ấp ủ ngay từ đầu về những hiệu quả tốt của việc điều trị tâm lý đã tan biến chỉ trong chớp mắt. Dĩ nhiên chẳng phải việc không có bằng cấp làm bà nghi ngờ, mà việc không có bằng cấp đã trở thành nỗi lo khi tình trạng của Ilaria ngày càng trở nên tồi tệ. Bà nghĩ nếu việc điều trị có tác dụng thì có thể lúc đầu mẹ cháu sẽ cảm thấy khó chịu, nhưng sau đó sẽ khá hơn; và rồi vượt qua mọi nghi ngờ cũng như những lần tái phát, những điều mới mẻ cũng sẽ dần dần đến với nó. Thế nhưng Ilaria trở nên không còn thích thú với bất cứ điều gì nữa. Nó đã tốt nghiệp nhiều năm rồi nhưng vẫn không làm gì và cũng chẳng còn liên lạc với vài người bạn cũ, hoạt động duy nhất của nó là dõi theo những chuyển động tinh thần của chính mình với sự ám ảnh của một nhà nghiên cứu sâu bọ. Thế giới xung quanh nó chỉ là những giấc mơ của đêm hôm qua, hay những lời nói của bà và cha nó từ hai mươi năm trước. Bà nhìn cuộc đời nó đang lụi tàn dần mà cảm thấy bất lực vô cùng.

Mãi ba năm sau đó mới có một tia hy vọng lóe lên, dù chỉ tồn tại được một vài tuần. Không lâu sau lễ Phục Sinh, bà đề nghị mẹ cháu cùng đi du lịch. Ilaria đã làm bà ngạc nhiên tột độ khi không hề từ chối ý định này mà ngược lại còn ngẩng mặt lên khỏi đĩa thức ăn và hỏi: “Chúng ta có thể đi đâu?” “Mẹ không biết,” bà trả lời. “Bất cứ nơi nào con thích, bất cứ nơi nào chúng ta nghĩ ra.”

Buổi chiều hôm đó, hai mẹ con đã kiên nhẫn chờ đợi các công ty du lịch mở cửa và quấy rầy họ suốt mấy tuần liền để chọn một chuyến đi yêu thích. Rốt cuộc bà đã chọn Hy Lạp – Crete và Santorini – vào cuối tháng Năm. Những công việc bà và mẹ cháu làm cùng nhau trước chuyến đi đã kết nối hai mẹ con theo một cách hoàn toàn mới mẻ. Mẹ cháu suốt ngày bị ám ảnh với đống hành lý của mình và cứ lo sợ chẳng may sẽ bỏ quên một vật gì đó tuyệt đối cần thiết. Bà đã mua cho mẹ cháu một quyển sổ nhỏ để trấn tĩnh nó. “Hãy lập một danh sách những thứ con cần,” bà bảo nó. “Sau đó gạch bỏ mỗi thứ khi con đã bỏ vào va li.”

Lúc đi ngủ vào đêm hôm đó, bà tiếc nuối sao mình không nghĩ sớm hơn rằng đi du lịch cùng nhau chính là một giải pháp tuyệt vời để hàn gắn mối quan hệ của hai mẹ con. Ngày thứ Sáu trước chuyến đi, Ilaria bỗng gọi điện cho bà bằng cái giọng lạnh lùng của nó. Bà chắc chắn là nó gọi từ một trạm điện thoại công cộng. “Con phải tới Padua,” nó nói. “Con sẽ về, trễ nhất là tối thứ Ba.” “Có thật sự cần thiết không con?” bà hỏi nhưng nó đã cúp máy rồi.

Bà chẳng có tin tức gì mãi đến ngày thứ Năm tuần sau đó. Chuông điện thoại reng vào lúc hai giờ sáng và giọng con bé chập chờn, vừa nhẫn tâm lại vừa tỏ ra ân hận. “Con xin lỗi, nhưng con sẽ không đi Hy Lạp.” Nói rồi nó chờ đợi phản ứng của bà, và bà cũng vậy. Sau một vài giây, bà trả lời: “Mẹ cũng rất tiếc. Nhưng mẹ vẫn sẽ đi.” Nó biết bà đã thất vọng đến mức nào nên cố biện hộ cho quyết định của mình. “Nếu con đi thì con sẽ chạy khỏi chính bản thân mình,” nó thều thào.

Cháu có thể tưởng tượng là chuyến đi ấy thảm hại đến mức nào. Bà ép mình đi theo các hướng dẫn và giả vờ quan tâm đến các phong cảnh hay những công trình khảo cổ học, nhưng thực chất tất cả những gì bà suy nghĩ là về mẹ cháu và tương lai của nó sẽ trôi dạt về đâu.

Bà tự nhủ rằng Ilaria cũng như một người làm vườn, hễ thấy những chồi non mới nhú lên là lo sốt vó rằng sẽ có cái gì đó làm hại đến chúng. Vì vậy mà anh ta tống hàng tá thuốc trừ sâu để phòng tránh rệp và sâu bướm, rồi sau đó mua một tấm màn nhựa chống nước và chắn gió thật tốt để phủ lên. Anh ta chẳng có lấy một phút nghỉ ngơi, suốt ngày đêm cứ trằn trọc về khu vườn và làm thế nào để bảo vệ nó tốt nhất. Thế rồi vào một buổi sáng nọ, anh ta giở tấm màn nhựa lên và hỡi ôi, toàn bộ những bụi cây đã thối rữa và chết hết. Nếu anh ta cứ để cho chúng mọc tự nhiên thì một vài cây sẽ chết như vậy, nhưng những cây khác chắc chắn sẽ còn sống. Cháu hiểu ý bà chứ? Đó là cách mà mọi thứ vận hành, và cuộc sống luôn đòi hỏi lòng rộng lượng: nhắm mắt làm ngơ mọi thứ xung quanh trong lúc miệt mài chăm bẵm bản thân mình chẳng khác gì bạn đã chết rồi nhưng vẫn còn thoi thóp thở...

Vì áp đặt một cách quá cứng nhắc lên lý trí mình, Ilaria đã kiềm nén những tiếng nói xuất phát từ trái tim của nó. Những cuộc tranh cãi của hai mẹ con đã làm bà sợ phát khiếp khi chỉ cần nghĩ đến từ này. Lúc mẹ cháu bước qua tuổi thiếu niên, bà đã nói với con bé rằng: “Trái tim là trung tâm của tinh thần.” Buổi sáng hôm sau bà thấy cuốn từ điển trên bàn trong nhà bếp đang mở ra ở từ “tinh thần” với nét bút chì đỏ gạch dưới định nghĩa của nó: “Một chất lỏng không màu dùng để bảo quản hoa quả.”

Ngày nay, từ “trái tim” lúc nào nghe cũng có vẻ thật ngờ nghệch và tầm thường. Khi bà còn trẻ, từ này được nói ra không một chút ngại ngùng, thế mà giờ đây chẳng ai còn dùng nó nữa. Vào những dịp hiếm hoi được nhắc tới như trong các trường hợp bị thiếu máu do tắc động mạch hay tâm nhĩ có vấn đề thì ý nghĩa của nó cũng không toàn vẹn; đâu còn chút liên quan nào tới trái tim là trung tâm, là bản chất của con người. Bà thường băn khoăn tại sao nó lại bị tẩy chay như thế? “Chỉ một gã khờ mới đặt trọn niềm tin vào trái tim mình.” – Augusto rất hay dùng câu nói được trích từ Kinh Thánh này. Nhưng tại sao người như vậy lại là một gã khờ? Có phải bởi vì trái tim giống như một căn phòng phát cháy? Bởi vì nó tối đen, chỉ có bóng tối và ánh lửa? Lý trí là thời thượng còn trái tim đã quá lỗi thời. Giờ này ai đi theo tiếng gọi của trái tim đều bị xem là trở về với thế giới động vật, với thiên nhiên tự do, còn ai đi theo lý trí mới thuộc vào xã hội bậc cao. Nhưng giả sử mọi thứ không như thế, và tất cả đều trái ngược thì sao? Có phải lý trí quá mức sẽ làm tâm hồn ta khô héo?

Sau khi trở về từ Hy Lạp, bà có thói quen dành một khoảng thời gian mỗi buổi sáng ở gần cây cầu. Bà thích ghé mắt vào trong để nhìn hệ thống ra-đa và các thiết bị phức tạp chỉ dẫn nơi ta đi đến. Vào một ngày nọ khi đứng xem những sợi dây ăng-ten rung động trong không trung, bà chợt nghĩ con người ngày càng trở nên giống với những chiếc radio chỉ có thể bắt sóng được một đài duy nhất. Cũng như chiếc radio khuyến mãi nhỏ xíu trong các hộp bột giặt ấy: cho dù toàn bộ tầng sóng đã được ghi rõ trên nút dò thì ta cũng không thể bắt được nhiều hơn một hay hai đài; và tất cả những đài còn lại chỉ rè rè không rõ. À, bà có cảm giác là nếu sử dụng lý trí quá mức thì kết quả cũng như vậy đấy: ta chỉ thành công trong việc nắm bắt một phần nhỏ bé của thực tế rộng lớn xung quanh. Thông thường sự hoang mang hay ngự trị trong cái phần nhỏ bé ấy bởi vì nó chỉ ngồn ngộn toàn lời nói, mà lời nói chỉ tổ làm ta đi lòng vòng thay vì dẫn ta đến một vị trí cao hơn.

Hiểu biết đòi hỏi ta phải tĩnh lặng. Bà không biết điều này khi còn trẻ. Nhưng giờ thì bà đã lĩnh hội được rồi, vì ngày ngày cô đơn và câm lặng đi quanh quẩn trong nhà như một con cá bơi trong hồ kiếng. Lời nói giam hãm lý trí ta; nếu có một nhịp điệu nào tự nhiên đến với tâm trí thì đó cũng chỉ là sự lệch nhịp của những dòng suy nghĩ; còn trái tim ta lại có thể hít thở được, nó là cơ quan duy nhất có thể đập rộn ràng, và nhịp đập này kích thích những nhịp đập khác mạnh mẽ hơn. Đôi khi cũng chỉ vì tính đãng trí mà bà để TV mở suốt cả buổi chiều. Dù không xem nhưng âm thanh của nó cứ theo bà đi đến hết các căn phòng, thế rồi buổi tối khi lên giường bà cảm thấy lo lắng hơn mọi khi và khó lòng chợp mắt. Tiếng ồn ào và huyên náo liên tục cũng là một loại thuốc gây nghiện, một khi ta đã quen thì không thể nào sống thiếu nó được.

Bà không muốn đi xa hơn nữa ngay lúc này. Những trang viết hôm nay có vẻ như một chiếc bánh được làm từ nhiều công thức khác nhau, và tất cả các thành phần hỗn tạp được trộn lẫn giống như những thứ kỳ dị mà cháu bắt bà nếm vào ngày nọ rồi bảo rằng nó được gọi là “món ăn tân thời”. Có lẽ bà đã làm rối tung rối mù hết cả lên. Nếu một nhà triết học đọc được những dòng này thì bà có thể tưởng tượng rằng ông ta không thể nào kiềm chế khỏi việc ghi chú dày đặc với một cây bút chì đỏ như cách mà những thầy giáo già của bà đã từng làm. Ông ta sẽ viết thế này: “Không nhất quán. Không đúng trọng tâm. Thiếu cơ sở logic.”

Còn nếu một nhà tâm lý học đọc được thì sao nhỉ? Ông ta sẽ viết một bài luận dài lê thê về mối quan hệ đổ vỡ của bà với mẹ cháu, và về mọi thứ bà đang kiềm nén trong lòng. Nhưng cho dù bà đã kiềm nén thì bây giờ có gì khác đâu chứ? Bà có một đứa con gái và đã đánh mất nó. Con bé chết trong một tai nạn giao thông vào đúng cái ngày bà tiết lộ rằng người cha bấy lâu nay gây ra bao nhiêu phiền toái cho nó – theo lời nó nói – không phải là cha ruột của nó. Cái ngày ấy vẫn còn hiển hiện trong tâm trí bà như thể đang xem một bộ phim, chỉ có điều là nó không được phát từ một máy chiếu mà mọi hình ảnh đã được cố định trên tường. Bà thuộc nằm lòng thứ tự các phân cảnh và biết rõ mọi chi tiết trong từng cảnh ấy. Không có gì biến mất, tất cả vẫn còn bên trong bà, nó đập trong mạch máu và len lỏi trong mọi suy nghĩ, bất kể lúc bà thức hay đã ngủ. Nó vẫn sẽ còn đập ngay cả sau khi bà chết.

Con chim hét đã tỉnh dậy rồi, cô nàng đang thò đầu ra khỏi cái lỗ trên hộp và kêu chiêm chiếp rành mạch, đều đều. Có vẻ như cô nàng đang nói: “Tôi đói rồi, sao lâu quá mà bà chưa cho tôi ăn?” Bà đứng dậy và tìm thứ gì đó trong tủ lạnh để cho nó ăn. Vì chẳng còn gì cả nên bà gọi điện cho chú Walter để hỏi chú ấy có còn giun không. Lúc bấm số, bà nói với nó rằng: “Mày may mắn lắm biết không, vì mày được sinh ra từ một quả trứng. Mới cất cánh lần đầu tiên thì mày đã quên tuốt cha mẹ mày trông như thế nào rồi.”